Chữ nghĩa làng văn

15 tháng 01.2015

phingochung
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải.


Chữ nghĩa làng văn III

Cầm thử bất cứ một cuốn đặc san nào đó xuất bản ở hải ngoại mà xem. Khỏi cần coi kỹ, chỉ cần đọc tựa của mấy bài viết không thôi là cũng đủ thấy ngậm ngùi, xót dạ và buồn rầu quá cỡ: Quê xưa - chốn cũ, thầy xưa - trường cũ, chiến trường xưa - đồng đội cũ, người xưa - tình cũ, giòng sông xưa - con đò cũ, xóm làng xưa - bè bạn cũ…
Và đó mới chỉ là những nỗi buồn hạng nhẹ, chỉ tầm tầm cỡ thường dân - những kẻ mà tâm sự có thể giải bầy trong những bài thơ nhỏ, hoặc vài ba trang tùy bút. Những nhân vật quan trọng thì họ viết nguyên cả một cuốn hồi ký đàng hoàng.
Cuốn nào cũng đều mang nặng cả "trời tâm sự". Ðôi khi, tâm sự của người này lại đụng chạm đến tâm sự của người kia - nên sinh ra tùm lum xung đột, hiềm khích, oán thù, tranh chấp …rất ồn ào và (thuờng khi) rất không cần thiết!
Ðó là chưa kể đến những bài khảo cứu công phu về "chuyện xưa tích cũ" cùng với những giòng thơ văn hoài cổ…đầy nhóc trong sách báo xuất bản ở hải ngoại.
Một đám người thua cuộc, nhà tan cửa nát, hớt ha hớt hải bỏ của chạy lấy người - thoát thân, rồi nằm buồn rầu thoi thóp ở một góc trời xa lạ - và cứ ngoái trông về cố lý mà thương nhớ mãi bến nước xưa, cây cầu cũ, hay cứ tiếc nuối hoài những ngày tháng an bình (hoặc vàng son) đã mất thì (tưởng) cũng là chuyện bình thường thôi chớ? Có gì lạ đâu mà kiếm chuyện (cà khịa) nẫy giờ vậy, cha nội?

Ý Trời, đừng nói vậy chớ! Như vậy là gieo tiếng ác và mang tội chết (mẹ) à nha. Tui thiệt tình không (bao giờ) dám kiếm chuyện đâm hơi hay châm chọc gì ai. Nói tình ngay, chả qua vì sợ dĩ vãng của chúng ta quá nặng nề khiến mọi người hoá lề mề (khi xoay trở với hiện tại) và ái ngại khi nghĩ đến tương lai nên tôi thấy có hơi kỳ (và "bàn ra") chút đỉnh - vậy thôi.
(Tưởng Năng Tiến - Mùa xuân (chợt) nhớ chuyện mai sau)

Bậu
Bậu : nhân xưng ngôi thứ hai, anh chị em bạn bè (chị dâu em bậu đâu rỗi nghề - bậu bạn cùng nhau nghĩa chớ vong – mấy đứa ngư tiều bậu bạn thân)
(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Tiếng Việt vừa dễ vừa khó
Hỏi: Đàn gảy tai trâu là giống chi dzậy?
Đáp: Công Minh Nghi đàn cho trâu nghe khúc điệu “Thanh giác” cao nhã, con trâu vẫn thản nhiên cúi đầu gặm cỏ như trước. Không phải con trâu không nghe, mà vì khúc điệu đó không thích hợp cho nó nghe. Sau đó, Công Minh Nghi thay đổi cách đàn, mô phỏng tiếng muỗi, tiếng ruồi trâu, tiếng nghé con kêu tìm mẹ, lúc này con trâu lập tức ve vẫy đuôi, vểnh tai, đi đi lại lại lắng nghe.
(Nguồn ĐatViet.com)

Địa danh miền Trung trong văn học sử
Hội An
Cuộc giao tranh Đàng Trong và Đàng Ngoài làm hai bên đều tổn hao rất nhiều nhân lực, tài lực. Để có thể dành được ưu thế trong cuộc chiến kéo dài nên các chúa Trịnh và chúa Nguyễn dùng các quan hệ ngoại giao và buôn bán với nước ngoài để mua vũ khí, súng đạn. Chính vì thế, trong thời gian này, có rất nhiều trung tâm giao thương phát triển như Thăng Long, Phố Hiến, Hội An.
Hội An ra đời vào khoảng thế kỷ XVI, phát triển mạnh vào thế kỷ XVII – XVIII. Vùng đất này có rất nhiều đặc điểm địa lý thích hợp cho việc phát triển một cảng biển. Trước tiên, Hội An nằm dọc hai bên bờ sông Thu Bồn, với các cửa sông thông ra biển sâu và rộng, thuận tiện cho các tàu bè ra vào buôn bán. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều dấu vết khu di tích mộ chum, các hiện vật gốm. Trong tiến trình lịch sử của Hội An có nhiều giếng Chàm cổ hình vuông, hoặc trên tròn dưới vuông, đáy thường lót gỗ thanh.
Có thể nói thương nhân Nhật Bản là những người nước ngoài đầu tiên tới Hội An và đóng góp trong sự phát triển của đô thị này bên cạnh người Trung Hoa. Ngay từ thế kỷ XVI, chúa Nguyễn đã viết nhiều thư gửi triều đình các nước nhằm tăng cường mối quan hệ thân thiện. Từ nam 1558 đến năm 1635, các chúa Nguyễn và Tướng quân Tokugawa Iêyasu đã trao đổi với nhau trên ba mươi bức thư văn bản, bày tỏ sự hợp tác, giao hảo giữa hai bên.
Theo nghiên cứu của Nhật Bản, từ năm 1604 đến 1634 có tới 86 thuyền buôn ngoại quốc đã đến Hội An. Năm 1651, theo thuyền trưởng tàu Hà Lan là Delft Haven, có khoảng 60 ngôi nhà với khoảng 300 người Nhật và người Hoa.
(Đặng Thị Hường - Mối quan hệ Việt-Nhật ở phố cổ Hội An)

Cù mộc, cây hòe
Truyện Kiều có câu “Thừa gia chẳng nết nàng Vân - Một cây cù mộc, một sân quế hòe”.
- Cù mộc thì là cây si, thuộc loại cây to, tàn rậm, lá nhỏ, nhánh có nhiều rễ mọc lòng thòng xuống tới đất. - Cây hoè tàn rậm to, ngọn tròn vỏ đen nâu sần sùi. Lá nhỏ như lá me, mọc đối nhau, trái cũng giống như trái me nhưng nhỏ và dẹp. Hoa vàng tươi nhỏ cở 1 cm, nở vào tháng tám dày đặc trên cành, mùi thơm nồng đượm ngọt ngào.
(Võ Kỳ Điền - Thảo mộc trong cổ văn Việt Nam)

Đất lề quê thói
Sinh đẻ. Đàn bà có thai phải kiêng:
Kiêng ăn thịt thỏ để tránh đứa trẻ bị sứt môi.
(Vì con thỏ trông như…môi sứt)
(Người Việt đất Việt – Toan Ánh)

Cây mai của Kiều là cây mơ
Bằng chứng là định nghĩa của từ điển: Từ điển Truyện Kiều Ðào Duy Anh: Mai: cây mai, giống cây mơ, nhưng cành có vẻ khẳng khiu cứng cáp hơn. Từ điển tiếng Việt Văn Tân: Mai: cây mơ. Từ điển tiếng Việt Nguyễn Văn Ðạm: Mai: họ cùng với mơ.
Bằng chứng là những dòng thơ vịnh mai trong thi ca Hán Nôm; chẳng hạn trong Hồng Ðức quốc âm thi tập: Bài "Mai thụ" (Cây mai): Nhà truyền thanh bạch dăng từng khối (hoa mai thanh nhã, trắng trẻo nở đầy cành). Bài "Tảo mai" (Hoa mai đầu mùa): Hoa bạc phau phau xâm khí tuyết. Bài "Lại vịnh hoa mai vẽ": Sương chẳng phau tung, tuyết chẳng dời. Bài "Lão mai" (Cây mai già): Tuyết giúp tinh thần ngọc hãy còn.
Hoặc trong thơ Trương Duyệt đời Ðường, bài "U Châu tân tuế" (Năm mới ở U Châu): Khứ tuế Kinh Nam mai tự tuyết, Kim niên Kế Bắc tuyết như mai (Năm ngoái ở Kinh Nam mai trắng tựa tuyết, Năm nay ở Kế Bắc tuyết trắng như mai). Và trong từ Dương Vạn Lý đời Tống, điệu Ức Tần Nga: Lạc mai như tuyết, Dã đào hồng tiểu (Hoa mai rụng như tuyết, Hoa đào rừng đỏ, nhỏ). Như vậy cây mai nở hoa màu trắng, không phải màu vàng.
Hoa mai trong thơ Hán Nôm có hương thơm. Như qua thơ Nôm Nguyễn Trãi: Ngày tuy gió chẳng bay hương ("Lão mai"); Lịm đưa hương một nguyệt hay ("Mai thi"); hay thơ đời Hồng Ðức: Xuân thêm cốt cách hương càng bội ("Lão mai"); Mùi hương ngậm thế khôn hay ("Lại vịnh hoa mai vẽ"); và thơ Nhị độ mai: Hương đâu phưng phức tứ bề, Hoa đâu san sát đầy khê một vườn.
Tất cả những đặc tính vừa trình bày chứng tỏ cây mai trong thơ Ðường, thơ ta như cây mai trong Kiều, trong Cung oán, trong Nhị độ mai v.v... và trong thơ không phải là cây mai của miền Trung và nhất là của miền Nam nước ta, cây mai được chưng làm cảnh trong ngày Tết. Nó là cây mơ. Nó chỉ mọc và trồng được ở miền Bắc và Bắc Trung phần, nhiều nhất ở vùng chùa Hương. Tóm lại, tất cả những hoa mai, cành mai, dáng mai, thân mai v.v… trong thi ca Hán Nôm đều không dính dáng gì đến cây mai chúng ta quen mua tại các chợ hoa Sài Gòn để chưng ngày Tết.
(Mai không phải là mai, liên không hẳn là sen – Trần Văn Tích)

Bạt
Bạt : lau, chùi (bèn bạt nước mắt)
(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Tiếng Huế, tiếng Chàm IV
Liên hệ Chàm-Việt, mình nói ni mô tê, người Chàm cũng mô tê rứa ni! Vì hai ngôn ngữ này cận kề nhau, có thể nói rằng cả hai cùng chung huyết thống ngôn ngữ (genetics).
Nói rộng hơn, có thể cả hai cùng là ngôn ngữ nguyên sinh (proto-languages) trong ngữ hệ Austro-Asiatic. Và nếu như vậy, tiếng Việt hay tiếng Chàm, tiếng nào là ngôn ngữ mẹ (mother language), tiếng nào ngôn ngữ con (daughter language) đây?
Những tiếng hai xứ Thuận-Quảng ngày trước nói sao thì người Chàm cũng phát âm tương tự hay gần gần như rứa.
Nam Ổ nổ om
Cẩm Phô nổ nồi.
Om: nồi nhỏ bằng đất nung để nấu ăn. Người Thuận, Quảng và Chàm đều là gọi om.
Trai Cù Ðê, gái Thanh Hà
Chồng cái đó, vợ cái hom.
Ðó (Chàm: k-no-k, kr-o), vật dụng làm bằng tre để bắt cá. Hom, cũng tiếng Chàm luôn (hom) nhưng nghĩa khác; ốm yếu hom hem. Hom trong câu ca dao, một bộ phận của đó. Ðó cần hom. Hom không có đó cũng như không!
Ngày xưa trong xóm, trẻ con thường hát bài cái đó, thuộc làu cả bài mà chẳng hiểu chi câu ca dao xứ Quảng, bây chừ đọc lại mới thấm nghĩa, than ôi quá muộn vì không còn nhớ hết bài:
Trời mưa trời gió, vác đó ra đơm (đơm, bắt cá)
Chạy vô ăn cơm, chạy ra bắt đó
Kể từ ngày đó, đó bỏ đó đi ...
Bạn đọc ai còn nhớ, bài hát con nít có đầu có đuôi:
Trăng lên lu lú đầu non
Số em là số sớm con muộn chồng.
Câu ca dao đọc tới đọc lui, đúng là cái dí dỏm của người xứ Quảng! Lú (Chàm: chj-lu, k-lu): bốc lên, lú lên. Lú, tiếng Việt, cũng gần gần đồng nghĩa: nhô lên, mọc lên, lồi lên. Lú, đồng âm khác nghĩa: trí nhớ kém, mau quên (Chàm: lu-k). Tiếng Việt nhiều lú lắm: lú lẫn, lú ruột lú gan, ăn cháo lú, cha lú có chú khôn.
(Nguyên Hương - Bên lề 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Thành ngữ cải cách hôm nay:
“Cu ai nấy đái”

Chém
Ta học qua về động từ Chém. Quan thoại nói Chàl, Quảng-đông nói Chàm, tiếng Hán Việt là Tràm. Vậy động từ Chém, chắc chắn là ta mượn của Tàu vì bốn giọng giống nhau quá.
Ta không có Dao hay sao?
Xem qua kho vũ khí của ta khai quật được ở Đông Sơn thì quả ta không có món gì để mà chém hết, mà chỉ có những vũ khí để đâm mà thôi: lưỡi lao bằng đồng để phóng, lưỡi đoản kiếm, lưỡi rìu. Nhưng nhà bác học V. Gouloubew nói rằng lưỡi rìu ấy để ném chứ không phải để chặt (arme de jet).
Ta không có vũ khí, không có dụng cụ để chém thì dĩ nhiên ta không có động từ chém, phải mượn của tiếng Tàu. Có một lưỡi kiếm bén ở hai bên, mà đó là lưỡi kiếm của nhà Hán. Người chết trong những cái mồ chứa đựng vũ khí ở Đông Sơn là quí tộc Lạc Việt vì người ấy có tư trang bằng ngọc. Chỉ có quí tộc là có chém, nhờ lưỡi kiếm vay mượn ấy, còn đại đa số dân chúng thì không mà ngôn ngữ thì lại từ dân chúng mà ra.
(Bình Nguyên lộc - Dân Lạc Việt qua ngôn ngữ Việt Nam)
Khi các cụ ta xưa... xổ nho
Thầy Mạnh? Cụ Mạnh sinh ra
Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày

Phố Nhật và Lai viễn kiều
Chúa Phước Nguyên đã nhận một người Nhật tên là Araki Sataro (Mộc Thôn Tông Thái Lang) làm con rể của mình và đặt cho người này tên Việt là Nguyễn Hiển Hùng, người này thay mặt nhà chúa buôn bán giao thương. Để tiện cho việc buôn bán, các thương nhân Nhật được được mua đất đai để làm nhà, lập phố. Người Nhật mua 20 mẫu ruộng ở làng Hoài Phô cạnh sông Thu Bồn để xây dựng nhà phố với kiến trúc đặc sắc khác như chùa “Tùng Bổn tự”, và chiếc cầu gỗ “Nhật Bản kiều”.
Phố người Nhật ở phía Đông nằm ở vị trí làng Hoài Phô, phố người Hoa ở phía Tây, hai phố cách nhau một khe nước lớn mà sau này người Nhật đã xây một cây cần bắc qua mà ngày nay vẫn còn (Trong “Hải ngoại ký sự”, năm 1695, nhà sư Thích Đại Sán gọi nó là “Nhật Bản kiều”. Tên Lai Viễn Kiều – chiếc cầu của những người từ phương xa tới – do Chúa Nguyễn Phước Chu đặt ra vào năm 1719, trong chuyến đi ngang qua Hội An.). Cầu có thể khẳng định là xây trước năm 1617, được xây theo kiểu “thượng gia hạ kiều”, hai đầu cầu có hai cặp tượng khỉ và chó tạc bằng gỗ với tư thế ngồi chầu, trước mặt có bát nhang. Vì có thể là do cầu được xây dựng vào từ năm Tuất đến năm Thân.
(Hội An là một trong 4 phố mà người Nhật dựng lên ở Mania, Phnompenh, Ayuthya. Thị trường Hội An đầu tiên (1618) là Furamoto Yashishiro, tiếp đó là Simonosera. Giai đoạn này có nhiều dòng họ thương nhân Nhật nổi tiếng đến Hội An, như dòng họ Chaya, Yashishiro, Simonosera…)
(Đặng Thị Hường - Mối quan hệ Việt-Nhật ở phố cổ Hội An)

(còn tiếp)