Chữ nghĩa làng văn

15 tháng 02.2015

phingochung
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải.


Chữ và nghĩa

Bạt chữ Hán có hai nghĩa: rút lên, nhẩy qua.
Cũng có nghĩa là đoạn viết sau một cuốn sách.

Giá áo túi cơm
Thời Ngũ Đại, có một người tên là Mã Ân, tiếm ngôi vuạ Mã Ân nguyên trước chỉ là một vị quan võ nhỏ. Nhưng Mã Ân thật sự lại chỉ là một kẻ tầm thường, bất tài, chuyên lo hưởng thụ, người đương thời gọi Mã Ân là "Tửu nang phạn đại", ý nói rằng Mã Ân chỉ là cái túi để chứa rượu, đựng cơm mà thôi.
Về sau, người đời biến "Tửu nang phạn đại" thành thành ngữ “giá áo túi cơm”.
(Nguồn: Tìm hiểu điển tích thành ngữ)

Bẹt
Bẹt : mở ra
(ngồi chẹt bẹt, ngồi chẻ hẻ)
(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Tiếng rao hàng II
Giọng người đàn ông rao hàng rất buồn thảm:
- Chân đạp gai tét giò đây!
Hãy hiểu dùm tiếng rao ấy là:
- Bánh chưng, bánh đập, bánh gai, bánh tét, bánh giò đây.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Theo tự điển tiếng Viêt ở Hà Nội (Văn Tân Nguyễn văn Đạm):
Miệng: là một bộ phận hình lỗ ở phía dưới của mặt.

Địa danh miền Trung trong văn học sử
Xứ Quảng Nam
Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành.
Năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại Việt là Trần Nhân Tông, vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân. Người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới; người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc.
Thời Lê
Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây.
- Thời Trịnh Nguyễn
Sang thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570). Hội An được nhà chúa chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất này là "Quảng Nam Quốc". Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn này như sau: “Chúa ở trấn hơn 10 năm, (chúa Tiên Nguyễn Hoàng) chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một đô hội lớn”. Giữa thế kỷ 17, việc triều chính xứ Đàng Trong suy đồi. Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, dân Quảng Nam cũng nổi dậy. Năm 1773 khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thăng Hoa, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn. Nhà Tây Sơn tuy vậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi.
- Thời Nguyễn
Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh.
Bản đồ tỉnh Quảng Nam của nhà Nguyễn in trong Đại Nam nhất thống chí. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này.
Sau này chia làm hai là tỉnh Quảng Nam, Quảng Nghĩa rồi tới Quảng Nam, Quảng Tin (thời VNCH). Cuối cùng là Quảng Nam.

Tuổi hạc
Bạn có bao giờ ngắm kỹ một con hạc trắng chưa? Nó trông thật mảnh mai, chân dài, người mỏng, trong một bộ lông trắng muốt. Trông nó thanh cao như một người luống tuổi mà vẫn giữ được phong cách ung dung... Con hạc được coi là một con vật sống lâu cho nên người ta gọi tuổi của các cụ là…tuổi hạc.

Chữ nghĩa trong sử thi
Với danh xưng ”Lê Đại Hành”. Các nhà sử học cứ đinh ninh cho rằng đó là đế hiệu của vua. Một đời vua có hai tên “hiệu”, đó là niên hiệu và miếu hiệu.
Niên hiệu do tự vua ban ra khi lên ngôi, dùng trong chiếu chỉ, văn biểu, công văn.
Miếu hiệu là khi nào vua mất, xác còn quàn trước khi đưa vào lăng thì được gọi là “đại hành”. Nghĩa là chuyến đi lớn sang bên kia thế giới. Sau khi đưa vào lăng yên ổn, vua kế vị và quần thần đặt miếu hiệu cho vua, như Thái Tổ, Thánh Tông, Nhân Tông.
(Tên thụy là của dân thường. Còn được gọi là tên Bụt do thân nhân gọi sau khi chết để con cháu thờ cúng về sau).

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Nam vô tửu như kỳ vô phong
Nữ vô phòng…kỳ vô phong cũng phất.

Việt khác Tàu thế nào
Người Tàu trung với vua, người Việt yêu nước.
Tàu ăn nhiều thịt, bánh bao, Việt chủ yếu ăn cơm, rau.
Truyền thống dân gian Tàu bát quái, Việt âm dương - ngũ hành.
Tín ngưỡng Tàu thiên về nam thần, Việt thiên hẳn về nữ thần.
Truyền thống Tàu luôn coi trọng đàn ông, Việt coi trọng đàn bà.
(Trần Ngọc Thêm - Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)

Âm vần Việt và Hán Việt
Vì hệ thống âm của tiếng Trung Quốc vốn nghèo hơn hệ thống âm của tiếng Việt Nam. Chúng ta hãy đối chiếu hệ thống âm vần của tiếng Việt Nam với hệ thống âm vần của tiếng Hán Việt.
Về âm thì trong 22 phụ âm của tự mẫu tiếng Việt, có âm r và âm g là không có trong hệ thống âm của tiếng Hán Việt.
Về vần thì trong số 150 vần của tiếng Việt, chỉ có 75 vần có trong tiếng Hán Việt thôi. Trong số ấy các vần o, oe, ăn, im lại là những vần rất hiếm trong tiếng Hán Việt.
(Ðào Duy Anh - Chữ Nôm - nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Trâu thì lấy dây mà dắt, người thì lấy bòi mà lôi.
Đất lề quê thói

Sinh đẻ
Đàn bà có thai phải kiêng: Kiêng ăn cỗ cưới.
(để tránh cho đứa bé…vô duyên)
(Người Việt đất Việt – Toan Ánh)

Tiếng Huế, tiếng Chàm III
Cây đa bến cũ còn lưa
Con đò đã khác năm xưa tê rồị
Lưa: còn. Lưa mấy, còn lại mấy! Lưa (Chàm: pb-lưa).
Không những người Chàm, người Nùng, người Lào, người Thái đều có chung từ lưa. Lưa chưa phải là tiếng Huế đặc biệt, vì ngoài Huế ra, còn lưa mấy tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình. Ðộng từ lưa, làm nhớ tới tĩnh từ bưa (Chàm, bưa) có nghĩa là nhiều, đầy đủ, dư thừa.

Ăn bưa chưa ? Ăn no, ăn đủ chưa ?
Chưa bưa, chưa no, chưa đủ!
Lưa, tiếng Nghệ đặc biệt với câu: Lưa răng mấy trong bâu! Chịu khó đọc theo giọng Nghệ nặng-nặng một chút, sẽ rõ nghĩa ngay: còn lại mấy trong túi (áo)!

Ðôi ta thương chắc mần ri
Mẹ cha mần rứa, eng thì mần răng.
Thương chắc: thương nhau. Chữ chắc ni chưa chắc là tiếng Chăm. Người Champa có một từ chắc khác (chak) với nghĩa chắc chắn: ăn chắc bụng (no bụng), chuyến ni ăn chắc, nắm chắc!
Chắc: Huế-miền Trung, một mình gọi là một chắc; hai mình cũng một chắc như ví dụ: đánh chắc, cải chắc (nhau).
Quê tôi hàng năm, tháng giêng làng tổ chức vật. Hai người níu nhau, ôm nhau vật, người làng tôi gọi là vật chắc, sau này mới biết thêm, thì ra đồng bào Nghệ An ngoài nớ cũng vật chắc luôn!
(Nguyên Hương - Bên lề 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế)

Xất bất xang bang
“Xất bất xang bang” có nghĩa “mất nước (nên phải) sang xứ người (sinh sống)”. Bắt nguồn từ tiếng Hán “thất quốc tha bang”.
(Nguyễn Ngọc Phách – Chữ Nho & đời sống mới)

Xứ Quảng Nam
Thánh địa Mỹ Sơn
Từ trên đồi cao chúng ta có thể nhìn thấy được bao quát toàn bộ Thành địa Mỹ Sơn, một di tích của Quảng Nam - Đà Nẵng với những nóc tháp bên dưới ẩn hiện trong những tàn cây hay bị che lấp sau những bụi cỏ gai, điêu tàn, xơ xác.
Những ngôi tháp không còn nóc rệu rã, những pho tượng mất đầu, các di chỉ, bi ký, các tác phẩm điêu khác bằng gạch mốc meo theo thời gian, dưới chân tháp thì cỏ dại dây leo chui rúc qua kẻ hở, ngóc ngách của các pho tượng hay các khung trang trí của các mặt nạ ở chân tường gậm nhấm, xói mòn, rạn nức, sụp đổ...

Ngôi tháp cao nhất và tượng thờ Youni
Thánh địa Mỹ Sơn, vẫn còn thấy di tích nền móng của sáu ngôi tháp nhỏ bao bọc ngôi tháp cao nhất (24m), tháp có 2 cửa ra vào hướng đông và tây, tạo thành toàn thể kiến trúc tăng thêm phần uy nghi của ngôi tháp chính. Các vật trang trí xưa kia là các tượng điêu khắc bằng sa thạch hình Makara, hình vũ nữ Apsara, sư tử, voi, chim thần Garuda...Trong tháp thờ một bộ Linga - Youni lớn và đơn độc là một tượng đá đã bị mất phần trên nhìn kỹ hóa ra đó là hình của Youni trong tổng thể của một bộ Linga - Youni, phần Youni còn lại nằm trơ vơ vững chắc trên một bệ đá.
Ngôi tháp chính mà chỉ còn sót lại một bệ đá Youni cô đơn buồn hiu trong buổi chiều nắng quái đỏ rực trên thánh địa Mỹ Sơn hoang vu đầy gió, nắng, cỏ tranh và hoa dại, một vùng đất thánh, một nơi linh thiêng một thời của dân tộc và vương quốc Chàm.

Khi các cụ ta xưa...xổ nho
Đéo mẹ nhân tình đã biết rồi
Nhạt như nước ốc bạc như vôi
(Nguyễn Công Trứ)

Bến
Bến : nhà xí
(đi bến, đi cầu)
(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Tên Bách Việt
Chúng ta đã biết rằng hơn trăm năm sau Câu Tiễn, nước Việt bị nước Sở diệt. Sở chiếm đất Ngô Việt đến miền Chiết Giang. Từ đó người Việt xuống miền nam, giữ miền bờ biển ở Giang Nam mà thần phục nước Sở. Sử sách gọi chung những nhóm Việt tộc ở Giang Nam và Lĩnh Nam là Bách Việt, không rõ số các nhóm Việt tộc ấy là bao nhiêu.
Từ thời Chu về trước, người Việt tộc ở rải rác khắp trong miền lưu vực sông Dương Tử từ Tứ Xuyên đến biển, trước áp lực của người Hán tộc người Việt tộc phải tràn xuống miền Giang Nam và Lĩnh Nam. Tên Bách Việt được người Hán tộc dùng để chỉ những bộ lạc Việt tộc ấy từ thời Chiến Quốc. Sử ký chép rằng đời Chu An vương, Sở Ðiệu vương sai Ngô Khởi đánh dẹp Bách Việt ở miền nam. Ðến sau khi nước Việt bị nước Sở diệt, thì người nước Việt ly tán xuống miền nam, họ đã gặp ở đó những người Việt tộc chiếm ở miền ấy từ xưa.
Trong các thị tộc của nước Việt, có những thị tộc dùng thuyền mà xuống miền Phúc Kiến, Quảng Ðông và Bắc bộ, hoặc (đi đường bộ) qua dãy núi Nam Lĩnh mà sang Quảng Ðông, Quảng Tây. Ở miền nam, các tù trưởng gặp được những người Việt tộc cũ. Một số tù trưởng tập hợp người mới và người cũ thành từng bộ lạc tự xưng vương. Một số bộ lạc ở lại miền Chiết Giang hẳn là phải thần phục nước Sở, song những bộ lạc ở xa tại miền Phúc Kiến, Quảng Ðông, Quảng Tây và Bắc bộ thì hẳn là không có quan hệ với nước Sở. Mặc dầu từ đầu thế kỷ thứ IV nước Sở đã sai Ngô Khởi đi bình Bách Việt, phạm vi thống trị của Sở chỉ đến phía nam các đất Hồ Nam và Giang Tây mà thôi.
Chúng ta biết rằng các nước Việt tộc ở lưu vực sông Dương Tử là Sở, Ngô, Việt đã dần dần đồng hóa theo văn hóa Hán tộc. Ở phía Tứ Xuyên thì sau khi nước Tần chinh phục được nước Thục và nước Ba, người Việt tộc ở miền ấy cũng bị hấp thu vào văn hóa Trung Nguyên. Ðến thời Chiến Quốc thì chỉ đất Bách Việt còn ở ngoài phạm vi ảnh hưởng của Hán tộc.
(Ðào Duy Anh - Lịch sử cổ đại Việt Nam)

Chữ nghĩa làng văn (III)
“Thơ thật là khó nói…Bàn về thơ, tuy phải nắm vững kỹ thuật, chữ viết; nhưng làm thơ, gốc ở tâm tình thi sĩ.” (Phù thi chi nan ngôn dã phù luận thi tuy thủ kỳ cách pháp, tác thi, tất bản chư tính tình).
Đó là câu Cao Bá Quát viết trong bài tựa tập thơ Thương Sơn của Tùng Thiện Vương.
(Tường Vũ Anh Thy - Cao Bá Quát : Tim vẫn say…)  

(còn tiếp)