Bắc thuộc lần thứ 5

 

Trung cộng thiết lập hệ thống

căn cứ hải quân trong vùng Trường Sa

Gs Nguyễn Văn Canh

 

Tuyên bố của

UỶ BAN BẢO VỆ SỰ VẸN TOÀN LÃNH THỔ VIỆT NAM

về MỘT HỆ THỐNG CĂN CỨ HẢI QUÂN MỚI TẠI

QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA & ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

 Bản dịch  từ Anh Ngữ của Trung Tâm Nghiên Cứu Việt Nam

Trong các thập niên qua, Trung Cộng đã dần dần khẳng định chủ quyền của chúng trên Biển Đông (Eastern Sea) của Việt Nam.  Trong năm 1988, Trung Cộng đã phái các lực lượng hải quân của chúng đến xâm chiếm sáu rạng san hô tại Quần Đảo Trường Sa.  Sau đó, Trung Cộng đã xây dựng các cấu trúc kiên cố trên đó để xác định chủ quyền của chúng.  Trong Tháng Sáu 2007, Trung Cộng đã vẽ một bản đồ chữ U bao trùm 80% diện tích Biển Đông, tuyên bố rằng vùng đó thuộc chủ quyền của chúng. Trong Tháng Mười Một 2007, Trung Cộng đà thiết lập Huyện Hoàng Sa tại Đảo Phú Lâm (Woody) thuộc Quần Đảo Hoàng Sa (Paracels) để quản trị các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đây là một hành vi sát nhập một cách chính thức các quần đảo này vào lãnh thổ của Trung Cộng.

Trước sự vi phạm trắng trợn vào lãnh hải của Việt Nam bởi Trung Cộng, các lãnh đạo ĐCSVN (VC) đã tỏ ra không mấy quan tâm đến sự bảo vệ lãnh thổ quốc gia của họ.  Không hành động tích cực nào đã được đưa ra để phòng vệ lãnh thổ.  Ngược lại, họ đã động viên toàn thể guồng máy chính quyền [bao gồm cảnh sát, tòa án, nhà tù, nhân viên quân sự, với sự hỗ trợ của các chi bộ đảng địa phương] để đàn áp các sự phản đối của các sinh viên đã biểu tình trên các đường phố Hà Nội và Sàigòn để chống lại sự xâm lăng của Trung Cộng.

can cu truong sa

Nguồn: Ảnh của Dũng Đô Thị's blog. (Trà Mi, RFA, 16  June, 08). Khoảng 50,000 sinh viên tại  Hà Nội phản đối cuộc xâm lăng.

 Lãnh đạo VC càng nhượng bộ  nhiều đối với lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc (TC) , thì Trung Cộng lại càng gia tăng nhiều hơn nữa các hoạt động để khẳng định các yêu sách về chủ quyền của chúng trên Biển Đông. Trong Tháng Năm 2014 vừa qua, Hệ Thống Căn Cứ Hải Quân Trung Cộng (HTCCHQTC) đã được thiết lập như một bước tiến hơn nữa nhằm đạt được mục đích của của chúng: làm chủ thực sự và duy nhất toàn thể  vùng biển này.

I. ÂM MƯU BÀNH TRƯỚNG CỦA TRUNG CỘNG

Đầu Tháng Năm 2014, truyền thông quốc tế loan truyền tin tức cảnh báo rằng Trung Cộng đang xây cất một hòn đảo nhân tạo khổng lồ trên Rạng Đá Ngầm Gạc Ma (Johnson South Reef: JSR) để biến cải toàn thể khu vực thành một căn cứ hải quân, nhằm kiểm soát hải phận Á Châu.

Đảo Đá Ngầm Gạc Ma là của Việt Nam.  Trong Tháng Ba 1988, Trung Cộng đã phái bốn khu trục hạm thuộc lực lượng hải quân của chúng tại đảo Hải Nam đến chiếm đoạt đảo này, hạ sát khoảng 64 binh sĩ cộng sản Việt Nam không vũ trang trong khi đang bơi và chuyển vận đồ tiếp tế cho các chiến hữu của họ đồn trú tại đó để phòng thủ rạng đá ngầm này.  Điều đáng nói là sau khi sử dụng các vũ khí hạng nặng để tấn công các người đang bơi lội, lính Trung Cộng đã đến nơi trên các tàu PT, tìm kiếm các người vẫn còn sống sót để giết họ bằng súng nhỏ.

 can cu truong sacan cu truong sa

Rạng Gạc Ma cấu thành bởi san hô, nằm ở chóp đỉnh của chuỗi Sinh Tồn về phía Tây Nam, và là một trong sáu đảo đá ngầm mà Trung Cộng đã cướp đoạt của Việt Nam hôm 14 Tháng Ba.
Khu vực này tọa lạc phía nam của Quần Đảo Trường Sa.

Vào ngày 5 Tháng Năm 2014, Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) của Trung Cộng. tiết lộ (một cách nửa bí mật) rằng “Trung Cộng đã tạo lập một hòn đảo nhân tạo “có thể là Đảo Gạc Ma” thuộc Quần Đảo Trường Sa, trên đó có một phi trường hải quân và một hải cảng để tiếp nhận các tàu của Trung Cộng sẽ được sử dụng để “đáp ứng mau lẹ trong trường hợp chiến tranh”.  Sau đó, một cơ quan truyền thông khác tại Trung Cộng có nói rằng đảo Gạc Ma là một trạm cung cấp đồ tiếp liệu cho các ngư phủ không thôi.  Các văn phòng, nhà nghỉ, và các nông trại cùng một hải cảng đủ lớn để phục vụ cho các tàu có trọng tải đến 5,000 tấn cũng sẽ được xây dựng.

Vào ngày 7 Tháng Sáu, 2014, từ South China Morning Post (SCMP) có tường thuật rằng Trung Cộng đã biến đảo Gạc Ma thành một đảo nhân tạo vĩ đại.  Trên đó, phi trường hải quân, các hải cảng riêng biệt cho các tàu quân sự và dân sự sẽ được xây dựng.  Các nhà ở cho thường dân, các cơ sở du lịch cũng được dự trù.  Các tàu nạo vét đang hút cát từ đáy biển cho mục đích đó.

Vào ngày 13 Tháng Năm, 2014, Bộ Ngoại Giao Phi Luật Tân đã tố giác rằng Trung Cộng đang xây cất một đảo nhân tạo mang tên JSR, gồm cả một phi trường quân sự.

Trả lời sự tố giác của Phi Luật Tân, vào ngày 15 Tháng Năm 2014, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng, Hoa Xuân Oánh tại Bắc Kinh đã tuyên bố rằng “Trung Cộng có chủ quyền không tranh cãi trên vùng này, kể cả Rạng San Hô Gạc Ma; vì thế, Trung Cộng có quyền xây dựng bất kỳ điều gì mà TC muốn làm”.

***

Trung Cộng đã xây dựng một đảo nhân tạo khác tại khu vực Rạng San Hô Chữ Thập (Fiery Cross Reef: FCR).  Rạng San Hô Chữ Thập ở phía Tây của Đảo Gạc Ma.  Vào ngày 6 Tháng Một 2015, Tướng Gregorio Catapang Jr., Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Phi Luật Tân tuyên bố: “Khoảng 50% hòn đảo nhân tạo đã được hoàn tất … Nó được xây cất trên rạng san hô [FCR] mà Trung Cộng đã chiếm đoạt của Việt Nam hồi năm 1988 … Đây là một điều quan ngại nghiêm trọng, bởi nó có thể được sử dụng cho một mục đích khác hơn hòa bình …”

Một trang mạng Phi Luật tân có tên Rappler hôm 6 Tháng Một, 2015 đã trích dân một nguồn tin từ quân đội Phi Luật Tân nói rằng phi đạo được xây dựng trên đảo Chữ Thập dài 2000 mét và sẽ được hoàn tất vào cuối năm.

Trong Tháng Mười Một 2014, Tạp Chí HIS Jane Review có công bố một hình chụp bằng vệ tinh cho thấy một phi đạo và một hải cảng trên hòn đảo đang khai hoang có chiều dài 3 cây số và chiều ngang 300 mét.

Đối với một chuyên viên quân sự Phi Luật Tân, không còn gì để nghi ngờ rằng phi đạo sẽ được sử dụng cho các máy bay phản lực quân sự Trung Cộng trợ giúp vào việc đặt toàn vùng dưới sự kiểm soát của Trung Cộng, trong khi hải cảng sẽ để tiếp nhận các tàu tiếp tế và các tàu khác giúp Trung Cộng thực hiện các kế hoạch bành trướng của chúng.

Các đảo nhân tạo JSR và FCR trong HTCCHQ đã được thành hình để đáp ứng các nhu cầu của Trung Cộng muốn bành trướng lãnh thổ xuống phía Nam.

Vì căn cứ hải quân Trung Cộng đã được thiết lập trên đảo Phú Lâm thuộc Quần Đảo Hoàng Sa  dùng làm bộ chỉ huy cho toàn vùng có các hạn chế và không thể đảm đương trách vụ như Trung Cộng nhắm đến, nên  Trung Cộng cần xây dựng các căn cứ hải quân xa hơn về phía nam.

can cu truong sa
Căn cứ Phú Lâm    

can cu truong sa 
Văn phòng Bộ Chỉ huy, Căn cứ Phú Lâm

Kết quả, sáu rạng đá ngầm mà Trung Cộng chiếm đoạt của Việt Nam năm 1988 là sự lựa chọn của chúng.

Hạn Chế 1: Khoảng cách từ đảo Phú Lâm đến JSR là 800 cây số.  Và khoảng cách giữa đảo Phú Lâm và Barque Canada (đảo Thuyền Chài) nằm ở điểm cực nam của Quần Đảo Trường Sa tại vĩ tuyến thứ 3 là 1,780 cây số.  Do đó, Trung Cộng không thể kiểm soát hải phận khối ASEAN và xa hơn về phía Nam.

can cu truong saHạn Chế 2; Kích thước của đảo Phú Lâm thì quá nhỏ để sử dụng làm một căn cứ hải quân. Diện tích đảo Phú Lâm từ 1.3 đến 2 cây số vuông, trong khi căn cứ JSR vĩ đại sau khi hoàn tất sẽ lớn hơn căn cứ hải quân Hoa Kỳ Diego Marcia tại Ấn Độ Dương.

Hạn Chế 3: Các tham vọng của Trung Cộng rất lớn.  Ý đồ của chúng là muốn sáp nhập toàn thể Á Châu vào lãnh thổ của nó.  Chinh phục Á Châu chỉ là một bước tiến trước khi di chuyển đến Phi Châu và các châu lục khác.  Vì thế cần đến một căn cứ lớn hơn.

Sau khi căn cứ JSR được nối liền với Đảo Chữ Thập đang được xây cất và với các đảo khác, hệ thống căn cứ sẽ trở thành một chuỗi các tiền đồn kiên cố trải dài trên 44 cây số.

Vào lúc này, 3 hay 4 cấu trúc kiên cố đã được xây dựng  từ trước trên Rạng Vành Khăn (Mischiefs) ở về phíacan cu truong sa Đông của JSR, nằm ngoài chu vi của HTCCHQ.  Trong số đó, một số cấu trúc được nhìn thấy lớn như một khách sạn đồ sộ được dựng lên từ mặt biển.  Chuỗi các tiền đồn kiên cố sẽ hỗ trợ cho các cấu trúc trên Rạng đá ngầm Vành Khăn để kiểm soát các tuyến hàng hải, đặc biệt để theo dõi các tàu quân sự thuộc Hạm Đội số 7 của Hoa Kỳ di chuyển từ Ấn Độ Dương xuyên qua Eo Biển Malacca đến vùng Đông Á dọc theo bờ biển phía Tây của Phi Luật Tân (Xem các hình tại Phần III bên dười đây).

  

BẢN ĐỒ CHỈ HỆ THỐNG CĂN CỨ HẢI QUÂN MỚI CỦA TRUNG CỘNG

HTCCHQ được hợp thành bởi 5 hòn đảo nhân tạo dặt trên các rạng dđá ngầm kể sau: 1) Gaven (Bãi Đá Ngầm Gaven); Bãi Đá Collins (Johnson North); Bãi Đá Gạc-Ma (Johnson South Reef); 4) Bãi Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) và 5) Bãi Đá Châu Viên (Cuarteron).

 can cu truong sa

CÁC HOẠT ĐỘNG CẢI TẠO CỦA TRUNG CỘNG TRÊN NĂM BÃI ĐÁ CHIẾM ĐOẠT CỦA VIỆT NAM

Ít nhất, tàu nạo vét Tian Jiang Hao, Nina Hai Tao và một tàu vét thư ba đã hoạt động từ Tháng Chín 2013 đến Tháng Sáu 2014 giữa 5 rạng dá ngầm kể trên, được hộ tống bởi tàu chiến thuộc hạng Miên Dương, có trang bị các hỏa tiễn và các khí giới khác kể cả một tàu đổ bộ để bảo vệ.

can cu truong sa

Cuateron Reef: 9-28 Tháng Chín 2013; 4-8 Tháng Ba 2014; 10 Tháng Tư đến 22 Tháng Năm 2014; Union Reefs South: 17 Tháng Mười Hai 2013 đến 3 Tháng Ba 2014; Union Reefs North: 20 Tháng Ba đến 3 Tháng Tư 2014; Fiery Cross Reef: 7-14 Tháng Mười Hai 2013 và 9-17 Tháng Ba 2014; Gaven Reefs: 24 Tháng Năm đến 15 Tháng Sáu 2014

can cu truong sa
Tian Jiang Hao, tàu nạo vét khổng lồ của Trung Cộng, dài 127 mét.  Nó có khả năng thực hiện việc hút cát từ biển nước sâu.  Nó có thể hút 4,500 tấn cát mỗi giờ.  Tian Jiang Hao là chiếc lớn nhất trong ba chiếc tàu nạo vét hoạt động trong khu vực.

 can cu truong sa
Hình một tàu khác, hạng Giang Vệ, được trang bị các hỏa tiễn để bảo vệ cho sự xây cất, với các tàu đổ bộ để tiếp tế có hiện diện tại các địa điểm xây cất.

CÁC ĐE DỌA ĐẶT RA BỞI HTCCHQ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ASEAN VÀ THẾ GIỚI

Rolio Golez, nguyên Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Phi Luật Tân đã cảnh cáo rằng căn cứ quân sự mà Trung Cộng đang xây dựng trên đảo JSR sẽ là một mối đe dọa lớn lao đối với các nước Á Châu và Thái Bình Dương.  Vào hôm 6 Tháng Mười 2014, Băng Tần ANC của Truyền Hình Phi Luật Tân cho thấy rằng toàn thể Đông Nam Á sẽ gặp nguy hiểm sau khi Chính Quyền Cộng Sản Trung Quốc hoàn tất sự xây dựng trái phép căn cứ quân sự trên đảo JSR tại Quần Đảo Trường Sa với một phi đạo.  Đảo JSR thuộc về Việt Nam.

Ông Golez đã xác nhận rằng Chính Quyền Trung Cộng muốn thay đổi cán cân quyền lực tại Đông Nam Á xuyên qua sự xây dựng căn cứ hải quân mới.  “Chính Quyền Trung Cộng muốn củng cố quyền lực của chúng tại Biển Nam Trung Hoa và biến nó thành hồ nước của riêng chúng.  Chúng khẳng định rằng chúng sở hữu lãnh hải hình chữ U mà chúng tự đã vẽ ra trong năm 2007.  Chúng muốn sự thay đổi quyền lực, bởi vì Hoa Kỳ đang đóng một vai trò chế ngự ở đó.  Trung Cộng bắt đầu thách đố vị thế của Hoa Kỳ …

“Căn cứ quân sự JSR sẽ được dùng để tái tiếp tế và hỗ trợ cho các khu trục hạm của chúng.  Ngoài ra, người ta có thể nhìn thấy một phi đạo với chiều dài 1.6 cây số.  Điều này rất nguy hiểm bởi đây là một căn cứ cho các máy bay quân sự, chẳng hạn như máy bay J-11 của Trung Cộng có tầm hoạt động xa tới 3,200 cây số.  Đảo JSR là một trung tâm điểm và đường kính của khu vực lớn hơn 1,600 cây số.  Chính vì thế các nước láng giêng tại Á Châu đều nằm trong tầm hoạt động của chúng.  Do đó, tất cả các căn cứ quân sự của chúng tôi sẽ bị đe dọa”.

Cựu Đại Sứ của Phi Luật Tân, Paranaque, đã ghi nhận rằng khi căn cứ quân sự  ấy được hoàn tất, các máy bay phản lực của Trung Cộng sẽ dễ dàng tiếp cận đến Phi Luật Tân, Việt Nam và một phần của Mã Lai nằm trong phạm vi 1000 dặm.

Về đảo nhân tạo FCR, phi đạo của nó sẽ giúp cho các phản lực cơ Trung Cộng kiểm soát toàn vùng trong khi hải cảng của chúng sẽ trở thành bến đỗ cho các tàu tiếp vận và các tàu khác.

II. CHÍNH SÁCH BÀNH TRƯỚNG CỦA TRUNG CỘNG VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trong vài thập niên qua, yêu sách của Trung Cộng tại khu vực tranh chấp ngày càng khẳng quyết hơn: từ chối không cho các ngư phủ Việt Nam sinh hoạt tại các biển truyền thống của họ bằng cách “hạ sát, bắt giữ và cầm tù vì  lý do vi phạm vào hải phận Trung Cộng”; các tàu hải quân Trung Quốc đánh đắm thuyền của họ; các tàu hải giám Trung Cộng cắt đứt dây cáp của các tàu khảo sát địa chấn trên thềm lục địa Việt Nam; tạo áp lực trên nhà chức trách Việt Nam phải bắt giữ và giam cầm các sinh viên kêu gọi bảo vệ các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay những người phản đối lại các hoạt động của Trung Cộng trong sự khẳng định chủ quyền trên các đảo …; đe dọa và đòi hỏi các tổ hợp dầu hỏa ngoại quốc đang khai thác dầu hỏa tại hải phận Việt Nam phải rời đi….

Vào hôm 1 Tháng Năm 2014, Trung Cộng đã đi đến việc có một hành động mạnh bạo hơn: bất ngờ hạ đặt dàn khoan dầu khổng lồ HD 981 trên thềm lục địa của Việt Nam để thăm dò.  Dàn Khoan Dầu được hộ tống bởi một ham đội ban đầu vào khoảng 90 tàu mọi loại kể cả các chiến thuyền được trang bị các hỏa tiễn, một số tàu hải giám, tàu tuần cảnh biển … và về sau số lượng các tàu gia tăng lên tới 135 chiếc.  Khi dàn khoan xâm nhập, phía Trung Cộng đã đưa ra các cảnh cáo cho cảnh sát biển Việt Nam phải rời khỏi khu vực và giới hạn là 3 dậm tính từ dàn khoan.  Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Quốc Phòng tức thời đáp ứng các yêu cầu của Trung Cộng, đã ra lệnh cho các đơn vị cảnh sát biển triệt thoái khỏi địa điểm.  Các tàu cảnh sát Việt Nam khi đó hoạt độ cách xa dàn khoan và canh chừng.  Tuy nhiên một số tàu của họ bị đánh đắm bởi các tàu Trung Cộng mặc dù họ đã ở cách xa khoảng 10 dặm.  Các tàu khác đã bị tổn hại khi bị đâm húc bởi các tàu Trung Cộng.  Tổng số tổn thất là 24 chiếc tàu.  Một số nhân viên của lục lượng cảnh sát biển bị giết chết, và các người khác bị thương.
Trung Cộng tuyên bố rằng dàn khoan hoạt động trong hải phận của chúng.

Đây là một sự khiêu khích và xâm lăng thực sự bằng vũ lực.

Về phía Việt Nam, không biện pháp cụ thể tích cục nào được thực hiện để phòng vệ lãnh thổ.  Phẫn nộ trước sự bất động của chính phủ chống lại quân ngoại xâm, và cũng lo sợ về các sự nhượng bộ lãnh thổ hơn nữa được trao cho Trung Cộng như đã xảy ra trong quá khứ, vào khoảng năm mươi nghìn người Việt Nam đã tụ tập tại Bình Dương trong một vụ phản đối chống quân xâm lược.  Một số cơ xưởng sở hữu bởi Trung Cộng bị đốt cháy và hủy hoại.  Tại Hà Tĩnh, các người phản đối trở nên bạo động.  Hai công nhân Trung Cộng đã bị giết chết, và bốn người bị thương.

Sự kiện Trung Cộng di chuyển dàn khoan vào hải phận Việt Nam đã đặt giới lãnh đạo ĐCSVN vào một vị thế khó xử: một mặt, họ không thể đối kháng lại đòi hỏi của nhân dân Việt Nam nhằm bảo vệ lãnh thổ quốc gia chống lại quân xâm lược; mặt khác, họ nằm dưới áp lực nặng nề từ Trung Quốc để đưa ra các sự nhượng bộ hơn nữa bằng việc chấp nhận sự kiện rằng dàn khoan HD 981 hoạt động tại hải phận mà Trung Cộng tuyên bố là của chúng.  Dưới tình huống này, điều quan trọng nhất cho các lãnh đạo ĐCSVN là phải tìm cách để làm giảm bớt tình hình sôi sục bên trong Việt Nam.

Vào ngày 11 Tháng Năm, tại một phiên họp của khối ASEAN ở Miến Điện, Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng đã tố cáo rằng hành động của Trung Cộng cấu thành một mối nguy hiểm to lớn cho sự an toàn và quyền tự do lưu thông hàng hải xuyên qua Biển Nam Trung Hoa.  Vào ngày 21 Tháng Năm, 2014, ông ta đến Manila.  Ông đã nói về một biện pháp pháp lý với Tổng Thống Phi Luật Tân Aquino là kẻ đã nạp đơn kiện Trung Cộng vì các sự vi phạm đến hải phận của Phi Luật Tân.  Cuộc thảo luận được phổ biến sâu rộng bởi truyền thông Việt Nam khiến cho dân chúng nghĩ rằng ông Dũng đang cứu xét đến một hành động pháp lý nhằm chặn đứng sự xâm lăng của Trung Cộng.  Nhưng thực sự không phải như vậỵ.  Đây chỉ là một loại chiến thuật cũ kỷ mà ông ta đã sử dụng để tạm thời xoa dịu căng thẳng bên trong nước.

Tại sao các lãnh đạo ĐCSVN lại chấp nhận một chính sách thỏa hiệp trước đòi hỏi của Trung Cộng về lãnh thổ, thay vì tìm cách để phòng vệ?  Tại sao họ đã giữ im lặng và giả vờ không hay biết bất kỳ điều gì về sự kiện rằng từ năm 2013, Trung Cộng đã công khai xây dựng một đảo nhân tạo trên Rạng Đá Ngầm JSR với các tàu nạo vét khổng lồ di chuyển qua lại trong một thời khoảng lâu dài ở Quần Đảo Trường Sa, trong khi chính phủ Phi Luật Tân đã lên tiếng chống lại chính sách bành trướng của Trung Cộng nhân danh họ?

Câu trả lời sẽ như sau:

Trở lùi về Tháng Tư 2011, Tướng Quách Bá Hùng, phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Cộng (ĐCSTC), đến Hà Nội và gặp gỡ các lành đạo ĐCSVN: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ Tịch Nước Nguyễn minh Triết … Các lãnh đạo hai đảng đã đồng ý trên một số nguyên tắc theo đó hai bên sử dụng để “giải quyết các vấn đề tranh chấp”liên quan đến Biển Nam Trung Hoa;

1) Tham khảo thân hữu và song phương để tìm một giải pháp cho sự xung đột;

2) Không để bất kỳ nước thứ ba nào can thiệp vào việc giải quyết các vấn đề Quần Đảo Trường Sa;

 3) Hướng dẫn công luận và cảnh giác không đưa ra những lời phát biểu hay có bất kỳ hành động nào có thể dẫn đến việc làm tổn hại tình hữu nghị hay làm mất lòng tín nhiệm của dân chúng hai nước.

Trong Tháng Mười cùng năm, các điểm này đã được phê chuẩn một cách chính thức vào một Hiệp Ước có tên là “Thỏa Thuận Hổ Tương Về Giải Pháp Cho Các Sự Tranh Chấp Tại Biển Nam Trung Hoa” được ký kết bởi Hồ Xuân Sơn, Thứ Trưởng Ngoại Giao Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đối nhiệm Trung Cộng là Cui Tiankhai (Thôi Thiên Khải) dưới sự “giám sát” của Đới Bỉnh Quốc, Phó Thủ Tướng Trung Cộng phụ trách ngoại giao.

Tinh thần của Bản Thỏa Thuận cho thấy rằng ĐCSVN và ĐCSTC không ở thế bình đẳng với nhau. Nó trông giống như một mối quan hệ giữa một “ông chủ” và một “đầy tớ”, hay mối quan hệ giữa một Đế Triều và một nước chư hầu thời phong kiến.

Trong bản Thỏa Thuận, chỉ có mệnh lệnh một chiều từ Trung Cộng, và Việt Cộng phải thi hành nó, mà không có cả quyền được phàn nàn hay khiếu nại.

Trung Cộng đã hạ đặt dàn khoan HD 981 trong hải phận Việt Nam ngoài khơi Quảng Ngãi, nhưng lại tuyên bố nó nằm trên hải phận của Trung Cộng.  Dĩ nhiên, Việt Cộng đã không được tham khảo về việc đó.  Cũng thế, sau khi dàn khoan đã được hạ đặt và dưới áp lực của dân chúng Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng đã xin gặp Tập Cận Bình, lời yêu cầu của ông ta bị cự tuyệt.  Sự xây dựng 14 dự án trên năm rạng đá ngầm tại Quần Đảo Trường Sa chiếm đoạt từ Việt Nam đã diễn tiến trong hơn hai năm, có lẽ không có sự ưng thuận của ĐCSVN, và lãnh đạo Đảng này không dám lên tiếng phản đối.  Theo Bản Thỏa Thuận, phía Trung Cộng có mọi đặc ưu quyền và quyền hạn, mà không có bổn phận nào trong khi Việt Nam không được phép, hay bị cấm khiếu nại: “Việt Nam không thể đưa ra các lời tuyên bố có thể làm mất sự tin cậy của Trung Cộng”.

Trung Cộng đã nghĩ rằng các lãnh đạo ĐCSVN bị ràng buộc chặt chẽ bởi bản thỏa thuận, và rằng trong những năm trước, họ đã hăng hái thực hiện những gì mà tự họ đã cam kết và rằng họ có thể kiểm soát một cách thành công tình hình bên trong cùng như bên ngoài Việt Nam.

Trong thực tế, bên trong nước, công luận đã bị kiểm soát một cách chặt chẽ bởi ĐCSVN để thỏa mãn các đòi hỏi của Bắc Kinh. Các kỳ thuật Leninit đã được sử dụng trọn vẹn để đập tan sự chống đối Trung Cộng. Các người phản đối tích cực và mạnh mẽ chống lại Trung Cộng trong động tác khẳng định chủ quyền của nó đã bị hoặc cô lập hay giam cầm.  Phần lớn họ bị đối xử một cách thô bạo hay dữ tợn.

can cu truong sa 
Hình một sinh viên phản đối xâm lược Trung Cộng tại Sàigòn bị trấn áp theo kỹ thuật Leninist bởi một cảnh sát mặc thường phục

can cu truong saCác tiếng nói kêu gọi sự bảo vệ các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa bị bóp nghẹt.  Ngay cả các kẻ cầm một bích chươing với khẩu hiệu “Hoàng Sa & Trường Là Của Việt Nam” cũng bị bỏ tù.  Việt Khang, một nhạc sĩ trẻ, người chỉ sáng tác một bài ca ngắn chống Trung Cộng đã bị bắt 3 năm trước đây và cho đến nay không ai hay biết nơi giam giữ anh ta ở đâu.

Các lãnh đạo ĐCSVN đã huy động thành công toàn thể guồng máy chính quyền với sự hỗ trợ của các tổ đảng địa phương (cảnh sát, tòa án, nhà tù, tổ đảng địa phương, nhân viên quân sự) trong việc duy trì “trật tự công cộng” như được quy định trong bản Thỏa Thuận.

Trên bình diện quốc tế, các lãnh đạo ĐCSVN đã không đưa ra bất kỳ lời tuyên bố nào hay có bất kỳ hành động nào có thể “làm tổn hại đến tình hữu nghị với Trung Cộng”: không bình luận/ý kiến/hành động nào có thể gây tổn hại cho nó. Các ngư phủ của Việt Nam liên tục bị quấy phá một cách thô bạo. Một số trong họ bị giết chết.  Nhiều người khác bị bắt giữ và giam cầm vì các sự vi phạm vào hải phận Trung Cộng mặc dù họ đang hoạt động trong hải phận Việt Nam. Trong nhiều trường hợp, tàu của họ bị đâm húc và đánh đắm vởi tàu Hải Quân Trung Cộng. Truyền thông đại chúng chính thức của ĐCSVN chỉ dám nói rằng “tàu lạ” đã gây ra việc đó. Họ không dám chỉ danh các tàu hải quân Trung Cộng, mặc dù các nạn nhân đều hay biết căn cước của các tàu ấy. Tất cả “các tàu lạ” rời bỏ hiện trường mà không hề cứu vớt các nạn nhân trên tàu. Vì thế, không nước nào có thể quy trách Trung Cộng về các hành vi bất hợp pháp và vô nhân đạo của họ. Cũng vậy, tuân hành bản Thỏa Thuận, CHXHCNVN đã không có hành động pháp lý chống lại dàn khoan HD 981 “mặc dù nó hoạt động một cách bất hợp pháp trong hải phận Việt Nam”.  Hay, ĐCSVN giữ im lặng trong khi Hải Quân ĐCSTC xây dựng các đảo nhân tạo tại Quần Đảo Trường Sa.

 Trung Cộng cảm thấy thỏa mãn với những gì ĐCSVN đã làm.

 Tin tưởng nơi các kết quả thỏa đáng mà các lãnh đạo ĐCSVN đã làm trong việc thi hành các bổn phận được quy định trong bản Thỏa Thuận Hổ Tương, Trung Cộng đã bước một bước tiến bạo dạn hơn đến việc khẳng định chủ quyền của nó trên Biển Đông: hạ đặt dàn khoan HD 981 trong hải phận Việt Nam hồi Tháng Năm 2014.  Nếu việc này thành công, toàn thể Biển Nam Trung Hoa mau chóng trở thành lãnh thổ Trung Cộng.

***

Sự kiện các lời tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng tại Miến Điện và Manila trái ngược với Bản Thỏa Thuận Tháng Mười 2011, khiến ĐCSTC nghĩ rằng các lãnh đạo ĐCSVN đã cố gắng tìm cách thoát khỏi sự kiểm soát của chúng. Hậu quả, Trung Cộng đã phái Dương Khiết Trì, Phó Thủ Tướng phụ trách ngoại giao đến Việt Nam hôm 16 Tháng Tám, 2014.

Những gì mà họ Dương nói với Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn minh Triết không được tiết lộ.  Tuy nhiên, hai ngày sau đó khi ông ta trở về Bắc Kinh, truyền thông TC tường thuật rằng ông đã chỉ trích một cách thẳng thừng các lãnh đạo ĐCSVN về việc không tuân thủ các nguyên tắc trong bản thỏa thuận mà cả hai bộ ngoại giao đã ký kết hồi Tháng Mười 2011.

Điều cùng được tường thuật rằng họ Dương có nói với truyền thông Trung Cộng rằng ông ta đã đến Hà Nội để mang “các đứa con hoang đàng trở về với cha mẹ đang khổ đau”, và rằng các lãnh đạo ĐCSVN phải thi hành đầy đủ bốn KHÔNG:

 1) Không được đánh giá thấp sự quyết tâm vững chắc của Trung Cộng và các khả năng của TC để bảo vệ chủ quyền trên Quần Đảo Trường Sa (dĩ nhiên bằng vũ lực).

 2) Không sử dụng các tài liệu hay dữ kiện mà Việt Nam tuyên bố là các tài liệu lịch sử để khẳng định chủ quyền “lịch sứ” trên Quần Đảo Trường Sa.  Nếu làm như thế, nó sẽ tạo ra một sự hiểu lầm đối với cộng đồng thế giới cũng như đối với nhân dân Việt Nam về vấn đề này.

 3) Không mang bất kỳ nước thứ ba nào can thiệp vào vấn đề này.

 4) Không đi chệch hướng khỏi một tình hữu nghị mãi mãi tốt đẹp với Trung Cộng.

 Thật là một sự sỉ nhục!

Một cách đáng ngạc nghiên, bốn KHÔNG mà họ Dương đã nói với các lãnh đạo ĐCSVN phải làm đã được tôn trọng nghiêm ngặt.  Kể từ đó, mục đích của Trung Cộng là các lãnh đạo ĐCSVN cố gắng kéo dài vấn đề càng lâu càng tốt, sao cho Trung Cộng có đủ thời gian để hoàn thành các dự án xây dựng Hệ Thống Căn Cứ Hải Quân của họ một cách êm thắm và thành công.

***

can cu truong saTóm lại, không có gì gây ngạc nhiên rằng các lãnh đạo ĐCSVN đã cố gắng tuân hành các cam kết nêu trên mà họ đã đưa ra theo Bản Thỏa Thuận Tháng Mười 2011. Đây là một hành vi thông đồng về phía các nhà lãnh đạo ĐCSVN trong ý đồ bành trướng của Trung Cộng tại Biển Nam Trung Hoa. Là chủ Biển Đông mà họ giữ im lặng, hay không có bất kỳ hành động nào, chẳng hạn như kêu gọi sự giúp đỡ của quốc tế trong khi quân xâm lược hùng mạnh đang vội vã đẩy nhanh sự xây dựng hệ thống căn cứ, vì thế không nước nào có thể can thiệp.  Khi căn cứ trở thành một “sự đã rồi”, không ai có thể đảo ngược được tình thế.

Không còn gì nghi ngờ rằng JSR, FCR và các đảo nhân tạo khác trong hệ thống HTCCHQ sẽ được hoàn tất trong ít năm. Khi đó nó trở thành cứ địa cho các tàu chiến, các phản lực cơ, kho vũ khí của Trung Cộng… Các binh sĩ Trung Cộng sẽ đến và trú đóng ở đó. Một khi các toán quân và trang thiết bị của Trung Cộng được bố trí tại đó, các lãnh đạo ĐCSVN sẽ được TC bảo hãy rút quân ra khỏi các hòn đảo và các rạng san hô và chuyển giao chúng cho Trung Cộng. Các lãnh đạo ĐCSVN sẽ không dám làm như thế bởi họ sẽ bị quy trách về tội “bán Biển Đông cho quân ngoại xâm”.  Và họ sẽ không làm gì cả, ngấm ngầm cho phép Hải Quân Trung Cộng phái các tàu chiến đến giết hại người của họ như Trung Cộng đã từng sát hại 64 binh lính Việt Nam hồi năm 1988.  Các rạng đá ngầm nằm trong phạm vi hay gần chu vi HTCCHQ là Rạng Nam Yết (Namyit Reef), Đảo Sinh Tồn (Sin Cove Island), Đảo Trường Sa (Spratly Island), Đá Tây (West Reef) sẽ là mục tiêu đầu tiên.

Đây là cách ĐCSVN chuyển giao quyền sở hữu chủ Quần Đảo Trường Sa cho Trung Cộng. Sau khi thuộc về Trung Cộng, HTCCHQ khi đó sẽ đặt ra một mối nguy hiểm nghiêm trọng cho an ninh của tất cả các nước tại Đông Nam Á và kế đó đối với mọi nước khác trên thế giới.

can cu truong saTrước tiên, âm mưu của Trung Cộng sẽ vô hiệu hóa một cách trực tiếp lời kêu gọi quyền tự do lưu thông hàng hải và hàng không được đưa ra bởi Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates 4 năm trước đây tại Shangri-La. Bộ Trưởng Gates cũng đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ bảo vệ chúng bằng vũ lực. Các tàu và máy bay của Mỹ giờ đây không thể tiến vào hay đi ngang qua Biển Đông hay Biển Nam Trung Hoa đến vùng Đông Bắc của Á Châu từ Eo Biển Malacca nếu không có sự cho phép của Trung Cộng bởi nó là “hải phận của Trung Cộng”. Và quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ tại Biển Đông được tuyên bố bởi Bộ Trưởng Ngoại Giao vào cùng lúc ở Hà Nội, sẽ bị nguy hại.

Thứ nhì, an ninh của tất cả các nước Đông Nam Á sẽ bị đe dọa một cách nghiêm trọng.

Với Hoa Kỳ, trị giá hàng hóa xuyên qua Malacca đến Biển Đông trong năm 2010 là 1,300 tỷ Mỹ Kim.  Các quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ sẽ gặp khó khăn.
Tổng trị giá của tất cả các nước cộng lại là 5,000 tỷ. Do đó, nhiều cường quốc khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

III. HÌNH ẢNH VÀ CHÚ GIẢI BẢN ĐỒ

 1)  GAVEN REEF    

 

can cu truong saTheo dữ liệu của AISLive data, một tàu nạo vét đã ở tại Geven Reef từ 24 Tháng Năm 2014.. Điều này tương hợp với sự trần thuyết căn bản bởi viên chức Phi Luật Tân, kẻ đã nói với tạp chí HIS Jane’s rằng ba tàu nạo vét – gồm Tian Jing Hao và một tàu khác có tên là Nina Hai Tuo – đã hiện diện tại Gaven Reef cùng với một tàu kéo lớn.

 

Các đồ án của Chinese Government Institute (CGI) cho thấy một phi đạo, các nhà ga cho các phản lực cơ bay nhanh, một hải cảng, các máy quạt gió, và các nhà kiếng. [Nguồn: (China State Shipbuilding Corporation), James Hardy, London and Krispen Atkinson & Richard Hurley, London and Michael Cohen, Manila – HIS Jane’s Defence Weekly, 20 June 2014)]

2 & 3 JOHNSON SOUTH REEF

 Một hải cảng có thể phục vụ các tàu trọng tải đến 5,000 tấn, sẽ cung cấp đồ tiếp liệu và sự hỗ trợ cho các khu trục hạm và một phi đạo dài 1.6 cây số cho các máy bay J-11 với tầm hoạt động là 3000 cây số.  Các ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy các hạ tầng cơ sở đã được xây cất: một bến tàu, các đường lộ, các ngôi nhà, các hàng cây dừa.

 can cu truong sacan cu truong sa

Diện tích của nó là 30 mẫu tây (hestares).  Khoảng cách từ JSR đến Việt Nam là 800 cây số, đến Phi Luật Tân là 850 cây số, và đến Eo Biển Malacca là 1000 cây số.

CÁC CẤU TRÚC KIÊN CỐ HIỆN HỮU ( đã có từ trước)

can cu truong sa    can cu truong sa

9° 42' 50.27" N  114° 17' 9.59" E               09 43 N  114 17 E

Các cấu trúc quân sự kiên cố đã hiện hữu từ thập niên 1990.  Trên mái của tòa nhà màu trắng, có hai antenna vệ tinh, có đường kính là 2.5 mét và cao 2.4 mét.

 can cu truong sa

09 55 N  114 29 E

 Cấu trúc Chigua không cách xa các cấu trúc được xây cất trên đảo JSR, cũng như Đảo Johnson North Reef: JNR) -- Số 2 trên bản đồ.

 

4)      FIERY CROSS REEF

Rạng đá ngầm này dài 14 dặm (gần 26 cây số), rộng 4 dặm (7.4 cây số), nằm dọc trục Đông Bắc-Tây Nam.  Khi hoàn tất, đảo nhân tạo này lớn gấp đôi Căn Cứ Diego Garcia của Hoa Kỳ tại Ấn Độ Dương.  Diện tích cả vùng rong hệ thống caa8n cứ là 44 cây số vuông.

can cu truong sacan cu truong sa 

Trong Tháng Mười Một, 2014, Tạp Chí HIS Jane Defense Magazine có phổ biến một ảnh chụp vệ tinh cho thấy một phi đạo và một hải cảng.  Nó dài 3 cây số và rộng 300 mét.

can cu truong sa

 

Ảnh chụp từ vệ tinh của Airbus Defence & Apace, chụp hôm 14 Tháng Mười Một, 2014 cho thấy rằng hòn đảo nhân tạo này tại khu vực Fiery Cross lớn hơn nhiều đảo Itu Aba hiện bị chiếm cứ bởi Đài Loan.

 

 CÁC CẤU TRÚC KIÊN CỐ HIỆN HỮU TẠI FCR

can cu truong sacan cu truong sa

---------------

Nhân danh hòa bình, Chúng Tôi, Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ:

 a) Kết án các lãnh đạo ĐCSVN về việc làm tay sai cho các lãnh đạo Trung Cộng góp phần vào ý đồ bành trướng của Trung Cộng và thông đồng với chúng trong việc chinh phục các nước Đông Nam Á kể cả Việt Nam.

 b) Đòi hỏi các lãnh đạo ĐCSVN rút lui khỏi vai trò một ngụy quyền cung cấp dịch vụ làm lợi cho kẻ thù của nhân dân Việt Nam và của các dân tộc yêu chuộng hòa bình khắp thế giới.

 c) Kết án các lãnh đạo ĐCSTC về âm mưu bành trướng của họ.  Trung Cộng nhắm vào việc chinh phục các nước khác bằng vũ lực, sáp nhập chúng vào lãnh thổ của Trung Quốc.  Các tham vọng của họ là một nguyên nhân gây bất ổn trong vùng và đối với thế giới.

 d) Kêu gọi một sự can dự quốc tế trong việc đình chỉ các hoạt động bất hợp pháp của Trung Cộng.  Để bảo vệ các nước Đông Nam Á khỏi việc bị thống trị bởi các tham vọng bành trướng, cần đến một sự ủng hộ mạnh mẽ, tích cực và khẩn cấp từ toàn thể thế giới cho chính nghĩa này.

 e) Kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ và nhân dân yêu chuộng hòa bình của Hoa Kỳ có một quyết tâm rõ rệt và mạnh dạn để đối phó với sự kiện rằng Trung Cộng đã tiến bước một cách vừng chắc đến việc nuốt gọn Á Châu và sau đó toàn thể thế giới.  Nước duy nhất trên toàn thế giới có khả năng đối phó với tình trạng này chính là Hoa Kỳ.

Chính sách của Tổng Thống Obama về việc “tăng cường các liên minh cũ và trui rèn đối tác mới để đối phó với các thử thách chung” sự tái phối trí các lực lượng quân sự tại các căn cứ khắp Á Châu và Úc Châu, cũng như kể cả đự án Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhất thiết là cần nhưng chưa đủ.  Lý do bởi sự kiện rằng Tổng Thống đang suy nghĩ về việc xây dựng sức mạnh quân sự để đối phó với các thử thách theo lối chiến tranh quy ước. Vì lý do đó BIÊN ĐÔNG NAY GẦN NHƯ NẰM TRONG TAY CỦA ĐCSTC.  Nếu điều này xảy ra, các quyền lợi chính đáng của Hoa Kỳ như được tuyên bố bởi Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates và Bộ Trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton  vào năm 2010 sẽ bị vô hiệu hóa. Và khó khăn cho Hoa Kỳ và thế giới sẽ khởi diễn từ đây. Nên nhớ rằng địch thủ tiềm ẩn của Hoa Kỳ có một đầu óc của một con cáo đang chơi một ván bài chiến tranh đa diện với mọi phương tiện khả hữu, ngay cả với các phương tiện vô đạo đức. Một “Hoa Kỳ Lịch Sự lương thiện" không thể đối phó với nó một cách hữu hiệu.
Chiến lược chúng ta cần có là một chương trình hành động tổng thể hữu hiệu để tẩy trừ triệt để căn nguyên của vấn đề.

Làm tại California,  ngày 22, tháng 01 năm 2015

Nguyễn Văn Canh, Chủ Tịch

 

Tham khảo:

Nguyễn Văn Canh, “Paracels & Spratleys and National Sovereignty”, Center for Vietnam Studies, 5th edition, 2014; và “Territorial Sovereignty and Chinese Expansionism”, Center for Vietnam Studies, 2010.

GS Nguyễn Văn Canh là cựu Giáo Sư, Đại Học Luật Khoa Sàigòn, và Học Giả Thỉnh Giảng tại Viện Nghiên Cứu Hoover về Chiến Tranh, Hòa Bình và Cách Mạng, Đại Học Stanford University.

 


40 năm sau khi Hoa Kỳ để mất Việt Nam Cộng Hòa

Vann Phan

Hoa Kỳ, quốc gia nằm ở phía Đông Thái Bình Dương - chứ không phải Cộng Sản Trung Hoa - với tiềm lực quân sự chế ngự toàn thể đại dương này, vẫn thường được coi là cường quốc Thái Bình Dương bởi lẽ Hạm Ðội Thứ 7 trực thuộc Hạm Ðội Thái Bình Dương có tổng hành dinh đóng tại Yokosuka trên đảo Honsu của Nhật Bản và có cả thảy 3 hàng không mẫu hạm, hằng nghìn máy bay cùng hằng trăm chiến hạm cũng như tiềm thủy đĩnh đủ cỡ, đủ loại, đang là lực lượng hùng mạnh vô địch trải rộng khắp miền, từ Guam tới Okinawa và từ Singapore cho tới Sydney.

Nhưng vị thế đó rồi đây sẽ không còn nữa khi Cộng Sản Trung Hoa, gọi cho gọn là Trung Cộng, đang ngày càng bành trướng thế lực trên biển (và có thể là cả trên bộ nếu một mai Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Cộng chiếu theo bản “Thỏa Thuận Thành Ðô” đầy bí ẩn được ký kết giữa hai Ðảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam hồi năm 1990), đặc biệt là tại hai Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Nam Hoa (South China Sea), nơi lực lượng hải quân Trung Cộng đang đối đầu quyết liệt với lực lượng hải quân của hai quốc gia Ðông Nam Á nhỏ bé hơn họ nhiều, là Cộng Sản Việt Nam, nước gọi Biển Nam Hoa theo cách riêng của họ là Biển Ðông, và Phi Luật Tân, nước gọi vùng biển này là Biển Tây (West Philippine Sea), căn cứ vào vị trí địa lý của vùng biển đó đối với đảo quốc này.

*Thế yếu hiện nay của các nước Việt Nam, Phi Luật Tân, Mỹ, Ấn Ðộ và Nhật Bản

Trong mấy năm trở lại đây, cả Hoa Kỳ lẫn Nhật Bản và Ấn Ðộ đều ráo riết ve vãn Cộng Sản Việt Nam, lộ liễu nhất là trong và sau cuộc khủng hoảng bang giao giữa hai nước cộng sản “anh em” kia, do việc Trung Cộng bất thình lình đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào sâu bên trong hải phận (lãnh hải) Việt Nam trên Biển Nam Hoa để dò tìm dầu khí, với ý đồ không giấu diếm là muốn đặt Cộng Sản Việt Nam vào tình thế đã rồi là toàn bộ, hay ít ra cũng là hầu hết, Biển Nam Hoa đã thuộc chủ quyền của Trung Cộng, nếu như Cộng Sản Việt Nam và thế giới không có phản ứng gì.

Thật ra, những quốc gia tự do, dân chủ đó nỗ lực ve vãn - và có khi còn tỏ ra chiều chuộng thái quá - quốc gia Cộng Sản tại Ðông Nam Á này chẳng phải vì họ yêu thương gì lắm dân tộc Việt Nam hoặc cái Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang cai trị đất nước đáng thương đó mà chẳng qua là vì Cộng Sản Việt Nam, nước có cảng nước sâu Cam Ranh tốt hơn cả Rio de Janeiro của Brazil, đang giữ một vị thế chiến lược cực kỳ quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất, tại phía Tây Thái Bình Dương, bởi vì Biển Nam Hoa ngoài khơi Việt Nam là thủy lộ huyết mạch từ Thái Bình Dương thông qua Ấn Ðộ Dương của các nước có kỹ nghệ phát triển và có nền kinh tế lớn trong vùng, như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, Ấn Ðộ và Hoa Kỳ. Nếu Biển Nam Hoa lọt vào tay một cường quốc hùng mạnh và tham tàn như Trung Cộng thì coi như không riêng gì Việt Nam và Phi Luật Tân mà tất cả các nước nêu trên, luôn cả Thái Lan, Mã Lai Á, Singapore, Indonesia, Brunei và Úc Ðại Lợi, cũng khốn đốn lây.

Bề ngoài, có vẻ như cuộc tranh chấp chủ quyền trên Biển Nam Hoa vẫn đang diễn tiến chứ chưa ngã ngũ, nghĩa là cả Trung Cộng lẫn Cộng Sản Việt Nam và Phi Luật Tân, cùng với các quốc gia ở phía Nam vùng biển này, là Mã Lai Á, Indonesia và Brunei, không ai thật sự nắm quyền kiểm soát hết Biển Nam Hoa. Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Cộng đang làm chủ vùng biển đó, cho dù Hoa Kỳ và thế giới, trong đó có Ấn Ðộ và Nhật Bản, có muốn hay không, chỉ vì một lẽ đơn giản là, trong thế giới ngày nay, khi Liên Hiệp Quốc chỉ là một tổ chức bù nhìn của các cường quốc, nguyên tắc mạnh được, yếu thua theo tiến trình đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên trong Thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin (Evolutionism/Darwinism) mới là yếu tố quyết định sự sống còn của một giống người hay của cả nhân loại - chứ không riêng gì loài động vật - đặc biệt là các nước nhược tiểu như Cộng Sản Việt Nam trước nanh vuốt của các quốc gia hùng mạnh và tham tàn như Trung Cộng. Vả lại, Cộng Sản Việt Nam, vì bị Trung Cộng kèm kẹp trong vòng ảnh hưởng của họ, chưa hề có được một cường quốc quân sự nào cam kết bảo vệ bằng một hiệp ước phòng thủ chung, như trường hợp Nhật Bản và Phi Luật Tân là hai quốc gia cũng đang đối đầu với Trung Cộng trong vấn đề chủ quyền biển đảo nhưng lại đang được Hoa Kỳ cam kết bảo vệ.

Qua bao cuộc thử thách trên thế giới từ cuối thế kỷ trước cho tới nay, đặc biệt là trong các biến cố tại Georgia, Iran, Syria và Ukraine (Crimea), Hoa Kỳ, siêu cường duy nhất của thế giới, viện cớ tiền bạc và tài nguyên đang cạn kiệt dần, đã chẳng dại gì mà hy sinh quyền lợi của mình để giúp đỡ kẻ cô thế chống lại cường quyền, mong tiếp tục giữ vững biệt danh “tay sen- đầm quốc tế” do phe Cộng Sản gán ghép cho Washington từ thời Chiến Tranh Lạnh đến nay.

Vả lại, Trung Cộng từng tuyên bố công khai và thẳng thừng rằng họ sẽ hành động một mình (vì họ quá mạnh khiến cả siêu cường Hoa Kỳ cũng chùn bước) chứ không chấp hành bất cứ phán quyết nào, dù có lợi hay có hại cho họ, của các tòa án quốc tế trong vấn đề tranh chấp tại Biển Nam Hoa, trong đó có Tòa Án Luật Biển Quốc Tế (International Tribunal for the Law of the Sea) và Tòa Án Trọng Tài Thường Trực (Permanent Court of Arbitration), đừng nói chi tới Bộ Quy Tắc Ứng Xử tại Biển Ðông (Declaration on the Conduct of Parties, DOC/South China Sea Code of Conduct) từng được các nước trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) và Cộng Sản Trung Hoa thỏa thuận.

Vì Hải Quân Trung Cộng hiện đang là lực lực mạnh nhất trên Biển Nam Hoa ngày nay, cho nên họ cứ tự tiện ra vào nơi đây như chỗ không người, muốn đưa giàn khoan dầu tới đâu thì cứ tới, muốn nới rộng đảo nào hay bãi đá nào tại Hoàng Sa và Trường Sa thì cứ làm, và muốn vẽ bản đồ lãnh thổ của họ bao trùm tới đâu trên Biển Nam Hoa thì cũng cứ tùy ý muốn của họ, như trường hợp cái bản đồ gồm 9 đoạn đứt khúc (nine - dotted line) của vùng biển này do họ công bố, mà Cộng Sản Việt Nam ưa gọi một cách nôm na là “Ðường Lưỡi Bò” sau khi Hà Nội đã thất bại trong việc ngăn chặn sức liếm láp cực kỳ khó chịu của cái lưỡi bò đó. (1)

Hoa Kỳ, và cả Ấn Ðộ cũng như Nhật Bản, các cường quốc khác của thế giới có quyền lợi hàng hải trên Biển Nam Hoa, rất bực tức và lo ngại, nhưng chẳng làm gì được Trung Cộng trong lúc này, và có thể là cả trong tương lai dài lâu nữa.

*Nguyên do khiến các cường quốc Hoa Kỳ, Ấn Ðộ và Nhật Bản đành bất lực nhìn Trung Cộng chiếm hết Biển Nam Hoa

Các lý do quân sự, chính trị và kinh tế đã đưa đẩy 2 cường quốc Hoa Kỳ và Nhật Bản ở Thái Bình Dương và cường quốc Ấn Ðộ ở Ấn Ðộ Dương bó tay nhìn Cộng Sản Trung Hoa nuốt trọn Biển Nam Hoa, chận đường các thương thuyền và tàu chiến Hoa Kỳ và Nhật Bản đi từ Thái Bình Dương qua Ấn Ðộ Dương và ngược lại, buộc Ấn Ðộ phải điều chỉnh hoặc hủy bỏ chính sách “Hướng Ðông” (“Look East”) có từ hồi 1991 qua bốn đời Thủ Tướng: P.V. Narasimha Rao, Atal Bihari Vajpayee, Manmohan Singh, và Narendra Modi.

Không hiểu Cộng Sản Việt Nam nghĩ sao chứ Hoa Kỳ khá lo buồn khi nhìn đảo Phú Lâm (Woody Island), đảo lớn nhất trong Quần Ðảo Hoàng Sa từng bị quân Trung Cộng đánh chiếm của Việt Nam Cộng Hòa hồi Tháng Giêng năm 1974, trở thành một căn cứ quân sự quy mô, với một phi trường có khả năng tiếp nhận các chiến đấu cơ phản lực và một quân cảng hoàn chỉnh, nơi trú đóng của 4,000 hải quân và thủy quân lục chiến Trung Cộng. Người Mỹ biết rằng đây chính là một “hàng không mẫu hạm không thể đánh chìm” của hải quân Trung Cộng một khi chiến tranh xảy ra tại Ðông Nam Á giữa Trung Cộng và các lực lượng muốn duy trì tự do hàng hải trên Biển Nam Hoa.

Ðến Tháng Giêng năm 2015, Hoa Kỳ lại lo lắng nhìn Bãi Ðá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) ở quần đảo Trường Sa, mà Trung Cộng từng chiếm cứ khỏi tay Cộng Sản Việt Nam hồi năm 1988, nay đã được Trung Cộng biến thành một căn cứ quân sự. Trước đó, hình ảnh từ vệ tinh do thám Mỹ chụp được cho thấy Trung Cộng đã ra sức hút cát đại dương và tô bồi thêm cho đảo Gạc Ma (Johnson South Reef), cũng từng bị Trung Cộng cướp khỏi tay Cộng Sản Việt Nam trước đây để biến thành đảo riêng của họ, rồi nối dài thêm phi đạo của một phi trường mà họ mới dựng lên nơi đây thành một sân bay quân sự có thể dùng cho các chiến đấu cơ phản lực. Nếu Hoa Kỳ không để cho Trung Cộng cưỡng chiếm Quần Ðảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa hồi năm 1974 trong thế kỷ trước thì Trung Cộng đã không có một đầu cầu thiết yếu để xua quân đánh chiếm luôn nhiều đảo và bãi đá khác trên quần đảo Trường Sa ở phía Nam của Hoàng Sa. Về lỗi lầm tày trời này thì cặp bài trùng Richard Nixon và Henry Kissinger, tổng thống và ngoại trưởng Mỹ hồi thập niên 1970, trước hơn ai hết, phải hứng chịu mọi trách nhiệm trước lịch sử. (2)

Nhật Bản cũng lo buồn không kém Hoa Kỳ khi thấy Trung Cộng bành trướng tiềm năng quân sự tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi Hải Quân Nhật Bản từng chiếm đóng và trấn giữ suốt thời gian Nhật Bản hất cẳng Pháp để nắm quyền cai trị ba nước Việt-Miên-Lào trên bán đảo Ðông Dương thuộc Pháp. Với kinh nghiệm tại Biển Hoa Ðông (East China Sea) ở phía Ðông Trung Cộng và phía Tây Nhật Bản, nơi Trung Cộng từng thiết lập một Vùng Cấm Bay (No-Fly Zone/Air Defense Identification Zone), không cho phép phi cơ dân sự và quân sự của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn và các nước khác bay qua, Nhật Bản biết rằng, rồi đây, tàu thuyền và phi cơ của họ cũng sẽ không được phép đi ngang qua Biển Nam Hoa một khi Trung Cộng quyết tâm áp đặt một Vùng Cấm Bay tương tự giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi họ đang có các căn cứ quân sự, mà bản doanh có thể được đặt trên chiếc “hàng không mẫu hạm không thể đánh chìm,” tức là trên đảo Phú Lâm trong Quần Ðảo Hoàng Sa hoặc có thể là trên một số hòn đảo và bãi đá khác tại Quần Ðảo Trưởng Sa nữa. (3)

Phần mình, Ấn Ðộ đang ưu tư, lo lắng đứng nhìn thời thế thay đổi tại Biển Nam Hoa khi Trung Cộng dần dà chiếm đóng hết đảo này tới đảo khác trên hai Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có một sức mạnh nào cản nổi, bởi vì cả Cộng Sản Việt Nam và Phi Luật Tân đều không đủ sức mạnh - hoặc thiếu quyết tâm, như trong trường hợp rất đáng nghi ngờ của Cộng Sản Việt Nam - để kiềm chế hoặc ngăn chặn sức bành trướng quân sự của Trung Cộng trong vùng, trong khi Hoa Kỳ, cho tới nay, chỉ nói mà không làm, nên Trung Cộng chẳng hề nao núng.

Là một cường quốc lớn tại Á Châu, Ấn Ðộ cảm thấy cần thiết phải có tự do lưu thông hàng hải tại Biển Nam Hoa để tàu thuyền và phi cơ của họ có thể an toàn đi lại từ Ấn Ðộ Dương sang Thái Bình Dương và ngược lại thông qua eo biển Malacca, nằm giữa bán đảo Mã Lai Á và đảo Sumatra của Indonesia. Ngay cả việc dò tìm dầu khí của các công ty dầu Ấn Ðộ tại thềm lục địa của Việt Nam cũng sẽ không thể thực hiện được một khi Trung Cộng đã chiếm trọn Biển Nam Hoa và lên tiếng đòi chủ quyền trên tất cả các giếng dầu phong phú trong vùng biển này.

Nguồn tin thông tấn xã AFP hôm 27 Tháng Giêng năm 2015 cho hay Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama và Thủ Tướng Ấn Ðộ Narendra Modi đã lên tiếng kêu gọi các quốc gia trên thế giới bảo đảm “an ninh hàng hải và hàng không trong khu vực, đặc biệt tại Biển Ðông (tức Biển Nam Hoa)” qua một thông cáo chung nhân dịp nhà lãnh đạo Mỹ kết thúc chuyến viếng thăm Ấn Ðộ. Trước đó, vào ngày 25 Tháng Giêng, cùng lên tiếng trong một bản tuyên bố nhan đề “Tầm Nhìn Chiến Lược Chung cho Vùng Á-Châu-Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương” (“Joint Strategic Vision for the Asia-Pacific and Indian Ocean”), Tổng Thống Obama đã cùng với Thủ Tướng Modi xác định rằng hai quốc gia Mỹ và Ấn rất quan ngại về “những căng thẳng chung quanh các cuộc tranh chấp lãnh hải” tại Biển Nam Hoa. Ngày 28 Tháng Giêng năm 2015, các ngoại trưởng thuộc Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) nhóm họp tại Mã Lai Á đã cùng nhau bày tỏ sự lo ngại về chuyện Trung Cộng liên tục đòi chủ quyền tại nhiều khu vực trong Biển Nam Hoa, đặt các quốc Ðông Nam Á vào thế phải đối mặt với tham vọng bá quyền nước lớn của Trung Cộng trong khi không có nước nào trong vùng đủ sức đối đầu về quân sự với nước láng giềng phương Bắc khổng lồ đó. (4)

*Vì đâu nên nỗi?

Sự thể này có nhiều nguyên do, trong đó có các nguyên do sau:

1. Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để mất quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Cộng

Việc Hoa Kỳ bỏ cuộc nửa chừng, để cho Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt (1975) và kèm theo đó là việc Hoa Kỳ, chỉ một năm trước đó, đã làm ngơ không can thiệp để cho Trung Cộng chiến mất quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa (trong trận Hải Chiến Hoàng Sa giữa Hải Quân Trung Cộng và Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 19 Tháng Giêng năm 1974), là sai lầm chiến lược lớn lao nhất của Hoa Kỳ trong thế kỷ trước, (5) mặc dù Hoa Kỳ vẫn được tiếng là kẻ đã chiến thắng cuộc Chiến Tranh Lạnh (1945-1991) trong tư cách là cường quốc lãnh đạo Thế Giới Tự Do và nghiễm nhiên trở thành siêu cường Số 1 của thế giới sau sự sụp đổ của Cộng Sản Ðông Âu và sự tan rã của Liên Xô, tức Liên Bang Xô Viết. Có điều, Trung Cộng cùng 2 chư hầu của họ tại Á Châu, là Việt Nam và Bắc Hàn, cũng như Cộng Sản Cuba thân Liên Xô ở Tây Bán Cầu, đã không sụp đổ theo đúng các đánh giá khôn ngoan nhất mà loài người có thể đưa ra trong thế kỷ trước.

Có thể lúc bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa hồi năm 1973-1975, các chính trị gia Mỹ, nhất là Quốc Hội Mỹ (là kẻ nắm hầu bao trong mọi cuộc chiến), chỉ có mục đích thiển cận là nhằm tiết kiệm mỗi năm chừng nửa triệu Mỹ kim tiền viện trợ - Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa cũng chỉ cần có thế đặng giữ vững Miền Nam Việt Nam - để dành số tiền đó lo cho phúc lợi của dân chúng Mỹ trong nước. Ðâu có ai biết rằng, vì để mất Việt Nam Cộng Hòa trong thế kỷ trước, qua thế kỷ này Hoa Kỳ đã phải chi ra mỗi năm hàng chục tỉ Mỹ kim để chống đỡ những ngón đòn của Trung Cộng trên khắp các mặt trận toàn cầu, đặc biệt là tại Biển Nam Hoa, thủy lộ sinh tử của Mỹ và các nước đồng minh từ Thái Bình Dương qua Ấn Ðộ Dương.

Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, chiếc tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do, đã trở thành sự sụp đổ của chiếc tiền đồn của Hoa Kỳ và các nước đồng minh Á Châu của Mỹ, như Nhật Bản, Ấn Ðộ, Nam Hàn và Phi Luật Tân, trước tham vọng bá quyền của Trung Cộng tại Á Châu. Một Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, với hải, lục không quân tinh nhuệ và với một đội quân được các chuyên gia quân sự đánh giá là hùng mạnh vào hàng thứ 7 trên thế giới trước năm 1975 mà còn được bảo vệ bằng một hiệp ước an ninh chung với Hoa Kỳ, sẽ làm Trung Cộng nản lòng trong bất cứ tham vọng bá quyền nào của họ, ít nhất là tại Ðông Nam Á và Biển Nam Hoa, đừng nói gì tới chuyện thách thức vị thế bá chủ của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương.

Cần phải nói thêm rằng, ngoại trừ Israel - với cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái giàu mạnh và rất có thế lực tại Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng Hòa là đồng minh tốt nhất và đáng tin cậy nhất của Hoa Kỳ trong suốt dòng lịch sử nếu đem so với các đồng minh khác trên toàn thế giới, như Afghanistan và Iraq chẳng hạn, là những kẻ sẵn sàng xả súng bắn vào người bạn đồng minh Hoa Kỳ cho dù họ chưa hề bị bỏ bỏ rơi ngang xương như trường hợp của Miền Nam Việt Nam cách nay 4 thập niên.

Với những bộ óc khá ưu việt - cỡ bộ óc của các Giáo Sư Bửu Hội và Nguyễn Xuân Vinh thuộc thế hệ trước cũng như của nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ loại bom ép nhiệt thermobaric, và Tiến Sĩ Nguyễn Ðịnh, cha đẻ loại vũ khí bắn tia Free Electron Laser, của Hoa Kỳ thuộc thế hệ hiện nay - và với tiềm năng dầu khí dồi dào tại thềm lục địa Miền Nam Việt Nam, thế giới không thể loại bỏ khả năng Việt Nam Cộng Hòa trở thành một cường quốc nguyên tử (vì lẽ sinh tồn tự nhiên của một nước nhỏ bên cạnh một nước láng giềng to lớn và hung ác), cho dù cường quốc này có thể cũng sẽ phải ẩn thân trong vòng bí mật như Israel. Ðó thật sự là cơn ác mộng của Trung Cộng, kẻ chưa hề biết sợ mà từ bỏ chủ trương bá quyền Ðại Hán. Và dĩ nhiên, hồi thế kỷ trước, một khi Trung Cộng thấy Hoa Kỳ quyết tấm giữ vững Miền Nam Tự Do để bảo vệ sườn phía Tây của Thái Bình Dương thì họ không bao giờ dám đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa như họ đã làm hồi năm 1974, chỉ 1 năm trước ngày Sái Gòn sụp đổ vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Còn chuyện đảo Gạc Ma và Bãi Ðá Chữ Thập - do Cộng Sản Việt Nam quản lý sau khi Việt Nam Cộng Hòa cáo chung - bị Trung Cộng đánh chiếm hồi năm 1988 thì chuyện đó sẽ không làm sao xảy ra được nếu Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

2. Hoa Kỳ giúp Trung Cộng phát triển kinh tế mong trục lợi từ một thị trường béo bở

Một lỗi lầm chiến lược trầm trọng vào bậc nhất khác của Hoa Kỳ trong thế kỷ trước di hại tới thế kỷ sau là Hoa Kỳ đã giúp Trung Cộng phát triển kinh tế những mong trục lợi từ một thị trường béo bở như thị trường đông cả tỉ người trên lục địa Trung Hoa, thay vì giúp Nga chấn hưng kinh tế sau khi Liên Xô tan rã.

Sự tồn tại dai dẳng và không thể nào đảo ngược lại được của chế độ độc tài Cộng Sản tại Trung Hoa - qua sự thất bại thảm thương và cay đắng của các phong trào đòi tự do, dân chủ tại Thiên An Môn (1989) và Hồng Kông (2014) - cho thấy Hoa Kỳ, với chính sách “Trợ Tàu, diệt Nga” thời Chiến Tranh Lạnh, đã tự ý tạo ra cho chính mình một kẻ thù mới hùng mạnh và nham hiểm bội phần so với kẻ thù cũ Liên Xô. Giờ đây, Trung Cộng đã trở thành đối thủ sinh tử của Hoa Kỳ, kẻ đang “tranh bá, đồ vương” với Hoa Kỳ trên khắp các mặt trận có quy mô thế giới.

Rõ ràng là nhờ sự hỗ trợ đắc lực của Hoa Kỳ, thông qua việc chuyển nhượng khoa học, kỹ thuật không chút e dè của các công ty Mỹ lúc nào cũng tối mặt trước lợi nhuận thu vào bất kể quốc gia hưng vong, nền kinh tế Trung Cộng, chẳng bao lâu nữa sẽ (thật sự) vượt qua Hoa Kỳ để tiến lên vị thế hàng đầu thế giới vẫn do Hoa Kỳ nắm giữ từ sau Thế Chiến 2 đến nay. Có thể nói rằng, khi giúp Trung Cộng mở mang kinh tế (kéo theo kỹ thuật tân tiến), Hoa Kỳ đã vô tình giúp Trung Cộng khả năng mua sắm được hàng không mẫu hạm Liêu Ninh cùng các tiềm thủy đĩnh nguyên tử và chế tạo được các chiến đấu cơ tàng hình thế hệ thứ 5 cỡ Chengdu J-20 and Shenyang J-31, chẳng thua thua kém gì các siêu máy bay chiến đấu F-22 Raptors và F-35 Joint Strike Fighters Lightning II của Hoa Kỳ. (6)

Hồi Tháng Giêng năm 2015, trong một bài viết trên tạp chí The National Interest nhan đề “The Foreign Policy Essay: Why China Will Become a Global Military Power,” tức “Luận Về Chính Sách Ngoại Giao: Vì Sao Trung Cộng Sẽ Trở Thành Cường Quốc Quân Sự Của Thế Giới,” Oriana Skylar Mastro, giáo sư môn nghiên cứu an ninh tại trường Edmund A. Walsh School of Foreign Service thuộc Ðại Học Georgetown University, cho rằng sớm muộn gì rồi quốc tế cũng phải chấp nhận sự thể Trung Cộng là một cường quốc quân sự của thế giới.

Nguồn tin Tân Hoa Xã hồi cuối Tháng Mười Một năm 2014 từng cho hay “Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khẳng định thời đại Mỹ là siêu cường duy nhất thế giới sắp kết thúc, Bắc Kinh quyết tâm cạnh tranh sánh tầm ảnh hưởng với Washington tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.” Ðiều này cho thấy việc Trung Cộng lăm le thôn tính nhược tiểu Việt Nam chỉ nằm trong mục tiêu ban đầu của họ mà thôi, trong khi mục tiêu tối hậu của quân Ðại Hán là làm sao có thể thôn tính luôn cả siêu cường Hoa Kỳ.

Theo lời tiên đoán của đại văn hào Nga Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008), tác giả The Gulag Archipelago, tức quần đảo Gulag, từng sống lưu vong tại Mỹ năm 1974 nhưng sau đó chán ngán xã hội Mỹ chỉ biết chăm chú hưởng thụ vật chất mà xao lãng mặt tinh thần nên đã quay trở lại Nga năm 1994, Hoa Kỳ sẽ sụp đổ từ bên trong chứ không cần phải bị ai đánh từ bên ngoài, bởi vỉ đây là một siêu cường đầy những lỗ hổng, với cả hai đảng chính trị lớn chỉ biết lo cho quyền lợi của đảng mình (chẳng khác gì Cộng Sản, nhưng vẫn còn khá hơn), với “lục phủ, ngũ tạng” đều rệu rã, và với lòng hận thù chủng tộc sâu sắc tới độ nền pháp trị dữ dằn kiểu Mỹ vẫn không kiềm chế nổi.

Trung Cộng có thể sẽ không đối đầu với Hoa Kỳ qua một cuộc chiến tranh nguyên tử theo kiểu Bắc Hàn từng hăm dọa Mỹ, nhưng rõ ràng là họ đang dùng ngón đòn vật chất, mà tiền bạc là chính, để “mua đứt” các cơ sở kinh tế của Mỹ và gây ảnh hưởng lên các nhà lãnh đạo siêu cường này bằng cách tài trợ các chuyến đi du lịch đầy thú vui và lắm khoái lạc để sau này bắt bí, buộc “người tiêu thụ” các thú vui đó phải điều chỉnh chính sách quốc gia sao cho có lợi cho Trung Cộng. Từ cả chục năm nay, Trung Cộng đã thực hiện không biết bao nhiêu là cuộc tấn công trên mạng (cyber attacks) trong khuôn khổ cuộc chiến tranh điện toán (cyberwarfare) vào các cơ sở kinh tế, kỹ nghệ và quân sự của Mỹ nhằm đánh cắp khoa học, kỹ thuật cùng các thông tin thương mại, đồng thời sử dụng các chiêu thức tuy cổ điển nhưng hữu hiệu, trong đó có cả khổ nhục kế và mỹ nhân kế, với mục đích làm suy yếu giới lãnh đạo Mỹ lúc nào cũng ham vui và cần tiền để vận động bầu cử, song song với việc ráo riết cạnh tranh nhằm triệt hạ ảnh hường của Hoa Kỳ trên khắp thế giới, rõ rệt nhất là tại các nước Phi Châu và Nam Mỹ.

Cần biết rằng bản chất của người Mỹ là thực tiễn và ham thich tiền bạc nên họ rất dễ sa vào các bẫy sập của Trung Cộng. Cũng nên biết rằng, từ năm 1949, lúc cộng sản chiếm quyền tại Hoa Lục, cho đến nay, chính sách ngoại giao Ðại Hán của Cộng Sản Trung Hoa rất nhất quán và hầu như không hề thay đổi, dù là dưới thời Mao Trạch Ðông hay Ðặng Tiểu Bình hay Hồ Cẩm Ðào trước kia hoặc Tập Cận Bình ngày nay. Trong khi đó, cũng trong khoảng thời gian kể trên, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đã thiếu tình liên tục và có khi còn mâu thuẫn nhau trầm trọng, dưới đời 12 vị tổng thống, là Harry Truman, Dwight Eisenhower, John Kennedy, Lyndon Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, Ronald Reagan, George W.H. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, và Barck Obama.

3. Hoa Kỳ quá tự tin vào sức thu hút của chủ nghĩa tư bản và nền tự do, dân chủ

Một lỗi lầm lớn lao nữa của Hoa Kỳ là sự thể Chú Sam quá tự tin vào sức thu hút của chủ nghĩa tư bản và nền tự do, dân chủ của thế giới bên ngoài các xã hội độc tài, đảng trị tại Cộng Sản Trung Hoa, Cộng Sản Việt Nam, Cộng Sản Bắc Hàn và Cộng Sản Cuba. Khi giới thiệu chủ nghĩa tư bản vào Trung Cộng và Việt Nam, Hoa Kỳ cứ làm như là chủ nghĩa tư bản hay ho tới độ sẽ cảm hóa được dân chúng tại đây và làm say mê Bộ Chính Trị của các đảng Cộng Sản đang cai trị tại Bắc Kinh và Hà Nội tới mức họ sẽ bỏ phăng đi đường lối cộng sản mà chạy theo chế độ tự do, dân chủ do Hoa Kỳ bày vẽ. Sự thật thì cả hai đảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam đều tương kế, tựu kế, cứ việc ngửa tay lấy tiền của từ “bọn tư bản” để rồi nỗ lực nuôi nấng và củng cố đảng cộng sản của mình cho ngày càng thêm bền vững.

Một ví dụ sống động là tấm gương do cựu đại sứ Mỹ tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Michael W. Michalak (2007-2011) để lại. Ông Michalak rất hãnh diện về nhiệm kỳ của ông ở Việt Nam, bởi lẽ chính trong thời gian này mà số du học sinh Việt Nam sang Mỹ du học đạt tới một đỉnh cao mới, với số lượng du học sinh Việt Nam tại Mỹ vào cuối nhiệm kỳ của ông tăng gấp đôi so với lúc ông vừa mới nhậm chức cách đó 4 năm. Cũng như bao chiến lược gia tài ba trên đất Mỹ, vị đại sứ cứ tin rằng hễ giáo dục được càng nhiều con em các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bao nhiêu theo lối Mỹ thì triển vọng các nhà lãnh đạo tương lai của Việt Nam từ bỏ chế độ độc tài, đảng trị hiện nay để chuyển sang chế độ tự do, dân chủ kiểu Mỹ càng tươi sáng hơn bấy nhiêu. Sự thật thì kết quả đã trái ngược hoàn toàn, bởi vì con cháu các lãnh tụ cộng sản được gởi đi du học tại Mỹ, khi nối ngôi cha ông của họ, đã không đưa đất nước đi theo chế độ tự do, dân chủ kiểu Mỹ - để chỉ có thể cai trị tối đa là 8 hay 10 năm giữa những lời phê phán và chỉ trích gay gắt trong một xã hội có tự do ngôn luận - mà họ đã ra sức trói buộc Việt Nam trong chế độ cộng sản độc tài để họ được quyền cai trị suốt đời mà không ai dám hé môi phản đối, cho dù đất nước đang có nguy cơ mất vào tay Trung Cộng nếu Việt Nam không chịu thay đổi thể chế chính trị. (7)

Tương tự như thế, đã có hằng nghìn trí thức và chuyên gia Trung Cộng, một số không nhỏ là con cháu các đảng viên gạo cội trong Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, từng du học Hoa Kỳ từ cuối thập niên 1970 tới nay, nhưng chưa hề có ai, khi leo lên tới vị trí lãnh đạo trong guồng máy cai trị của Bắc Kinh, nghĩ tới chuyện từ bỏ chế độ độc tài, độc đảng do phe cộng sản nắm giữ mà đi theo con đường đa nguyên, đa đảng để tạo cơ hội cho các đảng phái khác thay họ mà lên cầm quyền. (8)

*Thay lời kết

Trong những ngày tháng này, những người Quốc Gia của Việt Nam Cộng Hòa cũ còn ở trong nước hoặc đang ở hải ngoại sắp sửa tưởng niệm 40 năm ngày mất nước, tức tưởng niệm 40 năm biến cố Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975, một biến cố mà mới đầu ai cũng tưởng như chỉ là nỗi bất hạnh riêng của 20 triệu đồng bào Miền Nam Việt Nam nhưng không ngờ lại là nỗi đau chung của cả một dân tộc gồm 90 triệu người đang phải sống dưới một chế độ chính trị bất công, bạo tàn và tồi tệ chưa từng thấy mà đành bất lực, không có cách nào dứt bỏ đi được, cứ y như là một thứ nghiệp báo phải mang vào thân mãi tới khi nào ông Trời ngó lại và cho thoát đi thì mới dứt được kiếp lầm than, hay nói như Nguyễn Du: “Ðã mang lấy nghiệp vào thân/Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa...”

Sau bao nhiêu tháng, năm sống cuộc đời lưu vong trên “đất khách” mà nay đã là quê hương mới của mình, người Việt tha hương có thể đã thấm thía với sự thật là hầu như cái ác đang thắng cái thiện trên khắp thế giới, chứ không riêng gì ở Việt Nam. Ðối với những ai còn vọng tưởng tới một tương lai xán lạn cho tổ quốc Việt Nam về sau, những người đó cần lưu ý ít nhất là 2 điều này:

1. Khác với trường hợp nước Nga của ông Vladimir Putin qua vụ Ukraine, đối tượng mà Hoa Kỳ và các quốc gia Liên Âu tha hồ cấm vận kinh tế và chính trị, thế giới không thể nào cấm vận hoặc trừng phạt kinh tế và chính trị để ngăn chặn tham vọng bành trướng Ðại Hán của Cộng Sản Trung Hoa, cho dù nước này có hung ác đối với các nước nhược tiểu (cỡ Tây Tạng, Tân Cương hoặc Việt Nam) đến cách mấy đi nữa và lại còn đang rình rập để chờ cơ hội thâu tóm cả Hoa Kỳ, bởi vì quyền lợi kinh tế, tức là quyền lợi vật chất, của các nước tự do, dân chủ trên thế giới - nhất là Mỹ - tại Cộng Sản Trung Hoa đã quá chằng chịt và quá lớn lao tới độ không thể dứt ra được nếu họ không muốn chính mình cũng bị “hụt ăn.” Hơn nữa, thật khó cho các nền kinh tế hạng nhì, hạng ba của thế giới lại đi cấm vận nền kinh tế hàng đầu thế giới, một vị thế mà, chẳng sớm thì muộn, Trung Cộng sẽ giành được, bởi vì các công ty tại Mỹ và Âu Châu, vì thiếu tiền, vẫn cứ tiếp tục “bán mình” cho các nhà đầu tư Trung Cộng mà không hề biết lo cho tương lai của “tổ quốc” mình khi các kỹ thuật tân tiến do họ nắm giữ lọt vào tay một đối thủ nham hiểm. (9) Mà chừng nào Ðảng Cộng Sản Trung Hoa còn thì các Ðảng Cộng Sản Việt Nam và Bắc Hàn vẫn tồn tại, và đó là chân lý bất di, bất dịch, cho dù sông có thể cạn, núi có thể mòn. Phải biết rằng, trong cuộc giằng co, nếu có, giữa Trung Cộng và Cộng Sản Việt Nam, thời gian luôn đứng về phía Trung Cộng chứ không phải về phía Cộng Sản Việt Nam, hay nói nôm na là “hễ ai dài hơi hơn thì người đó sống.” Mà rõ ràng là Trung Cộng lúc nào cũng dài hơi hơn. (10)

2. Căn cứ vào quyết tâm không chịu rời bỏ chủ nghĩa Cộng Sản của các nhà lãnh đạo tại Hà Nội để Việt Nam có thể tách rời khỏi ảnh hưởng của Ðảng Cộng Sản Trung Quốc cùng những lời tuyên bố và hành động của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam trong và sau biến cố giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm lãnh hải Việt Nam hồi Tháng Năm năm 2014 khi họ chỉ coi đây là “chuyện nhỏ,” nên hiểu rằng Cộng Sản Việt Nam sẽ không bao giờ ngã về phía Mỹ, Nhật Bản và Ấn Ðộ để hy vọng có thể giữ gìn độc lập và toàn vẹn lãnh thổ như mọi người ngày đêm vẫn cứ tơ tưởng. (11) Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Ðộ cũng không cần phải cho tiền, tặng vũ khí cho Cộng Sản Việt Nam chống đánh Cộng Sản Trung Hoa làm chi cho uổng công và hao của.

Các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam lúc nào cũng ỡm ờ và lập lờ trong vấn đề chống hay theo Trung Cộng - phần thì nhằm đánh lừa cộng đồng quốc tế để được o bế và cho không món này, món nọ, phần thì để xoa dịu đồng bào trong nước cho bớt đi sức đòi hỏi và chống đối - dù trong bối cảnh cảnh tổ quốc lâm nguy, làm cho các nhà lãnh đạo thế giới từ Barack Obama (cùng John Kerry) cho đến Shinzo Abe và Narendra Modi phải lăng xăng, lính quýnh, và làm cho toàn thể dân tộc Việt Nam bị trị cứ phải mừng hụt hoài. Thật là: “Người khôn ăn nói nửa chừng...” đúng y như câu ca dao thâm thúy của Việt Nam tự nghìn xưa từng nói vậy.


Ghi chú:

(1) Hoa Kỳ, và cả Nhật Bản cũng như Ấn Ðộ, đang ở trong một vị thế rất lúng túng khi muốn ngăn chặn Trung Cộng xâm chiếm toàn bộ Biển Nam Hoa, bởi vì nếu muốn làm như thế thì hai nước ở phía Tây và phía Ðông quay mặt vào vùng biển này, tức Cộng Sản Việt Nam và Phi Luật Tân, phải ở cùng chiến tuyến với họ. Trong khi đó, trên thục tế, Mỹ, Nhật và Ấn chỉ có được Phi Luật Tân, nước có một quân đội chẳng mạnh mẽ gì, là đồng minh quân sự trong khi Cộng Sản Việt Nam, từ trước tới nay, chưa hề là đồng minh của Mỹ, Nhật hay Ấn, ngoài điều may mắn duy nhất là Cộng Sản Việt Nam ngày nay đã thôi không còn coi Hoa Kỳ là “kẻ thù của nhân dân ta” nữa, mặc dù Hoa Kỳ từ trước tới nay vẫn vậy, chứ có khác gì đâu. Tình trạng này càng làm tăng thêm giá trị vô song của Việt Nam Cộng Hòa xưa cũ đối với Hoa Kỳ và các đồng minh Á Châu-Thái Bình Dương của họ. Nhưng chính Hoa Kỳ, chứ chẳng ai khác, đã tự mình để mất đi “quân cờ” Việt Nam Cộng Hòa từ hồi 1975 đến nay rồi, giờ đây Hoa Kỳ lấy cái gì mà đánh đấm nữa trên ván bài “chuyển trục về Á Châu” (“Pivot/Rebalancing to Asia”) của mình?

(2) Không gì trớ trêu hơn là sự thể, chỉ sau hơn 2 thập niên khi Liên Bang Xô Viết và Cộng Sản Ðông Âu sụp đổ - kéo theo sự sụp đổ của “liên minh ma quỷ Nga-Hoa” và nước Nga dân chủ dưới quyền Tổng Thống Boris Yeltsin đang trên đường trở thành một “đồng minh” của Mỹ và các nước dân chủ, tự do khác, nước Nga ngày nay của Tổng Thống Vladimir Putin, với lề lối cai trị chẳng khác gì của một tổng bí thư đảng cộng sản, đang biến Hoa Kỳ trở lại thành kẻ thù của mình, đồng thời còn quyết tâm phục hồi cái “liên minh ma quỷ Nga-Hoa” trước đây - qua việc Nga chấp nhận bán khí đốt và vũ khí tối tấn - cỡ máy bay chiến đấu SU-35 và hỏa tiễn phòng không S-400 cho Trung Cộng mà không còn sợ sệt gì cho an ninh biên giới của mình nữa- để chống lại Hoa Kỳ và Âu Châu. Chiến lược “Trợ Tàu, diệt Nga” của Tổng Thống Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger nhằm đánh sụp cái “liên minh ma quỷ Nga- Hoa” nay đã trở thành công dã tràng xe cát.

(3) Hơn bất cứ nước nào khác trên thế giới, Nhật Bản, chứ không phải Cộng Sản Việt Nam, rất có nguy cơ bị Trung Cộng đánh trước nay mai vì mối thù truyền kiếp giữa 2 cường quốc Á Châu này, nhất là vì cái nhục mà nước Trung Hoa vào thời trước khi cộng sản nắm quyền tại lục địa (1949) phải hứng chịu dưới bàn tay quân phiệt Nhật, từ vụ Quân Ðội Thiên Hoàng Nhật tấn công vào Lư Cầu Kiều cho tới vụ tàn sát hằng chục nghìn dân Trung Hoa ở Nam Kinh (The Nanking Massacre) - mà thế giới vẫn ưa gọi là Vụ Cưỡng Hiếp Nam Kinh (The Rape of Nanking)- trong 2 năm 1937 và 1938. Giới lãnh đạo Trung Cộng đã không giấu giếm ý đồ muốn rửa hận bằng một trận huyết chiến máu chảy thành sông, xương chất thành núi với Nhật Bản, chỉ ngặt một điều là Chú Sam hiện vẫn còn hùng mạnh và đang có hiệp ước an ninh chung với xứ Phù Tang nên Trung Cộng đành nghiến răng kèn kẹt mà nuốt giận. Nếu một mai Hoa Kỳ suy yếu và co cụm lại thì Nhật Bản sẽ biết tay Trung Cộng ngay. Ngày 22 Tháng Chạp năm 2014, thông tấn xã Kyodo của Nhật loan tin Trung Cộng đang ráo riết xây dựng một căn cứ quân sự lớn ngoài khơi tỉnh Chiết Giang gần quần đảo Diaoyu Dao (Ðiếu Ngư) - mà Nhật gọi là quần đảo Senkaku- nơi Trung Cộng và Nhật Bản vẫn tranh chấp chủ quyền dằng dai. Nguồn tin thông tấn xã AFP hôm 29 Tháng Giêng năm 2015 cho hay Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc đã khởi đầu một loạt các cuộc tập tận trên bộ, trên không và trên biển nhằm “cải thiện khả năng chiến đấu” của các lực lượng võ trang của họ để giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh cục bộ (local wars).” Rõ ràng là Trung Cộng đang ráo riết chuẩn bị cho một cuộc đối đầu quân sự quyết liệt với Nhật Bản trong vùng Biển Hoa Ðông, chưa cần tính tới các nước nhỏ trong vùng Biển Nam Hoa.

(4) Một bài báo của Michelle FlorCruz trên tờ International Business Times, ngày 29 Tháng Giêng năm 2015, cho biết Hoa Kỳ tuyên bố cần đến sự trợ giúp của các máy bay tuần thám Nhật trên Biển Nam Hoa nhằm theo dõi cuộc tranh chấp lãnh hải đang gây căng thẳng giữa Trung Cộng và các quốc gia Ðông Nam Á. Hoa Kỳ, Ấn Ðộ, Nhật Bản và các quốc gia Ðông Nam Á ngày nay càng lo lắng về chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Trung Cộng tại Biển Nam Hoa chừng nào thì việc Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay cộng sản hồi thập niên 1970 trong thế kỷ trước càng trở nên một lỗi lầm chiến lược tày trời của Quốc Hội Hoa Kỳ thời đó.

(5) Theo tài liệu “Hải Chiến Hoàng Sa” của Wikipedia tiếng Việt, hồi năm 1970, Ðô Ðốc Elmo Zumwalt, tham mưu trưởng Hải Quân Hoa Kỳ, đã họp báo tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược triển khai các hải đảo tiền đồn của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ. Theo nhận định của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thì đây là sự kiện trao đổi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và là nguy cơ cho Việt Nam Cộng Hòa trong việc bảo vệ Hoàng Sa. Nếu vậy, việc Hoa Kỳ làm ngơ cho Trung Cộng chiếm Hoàng Sa là chủ trương đã có từ lâu (1970) của (Hải Quân) Hoa Kỳ - nhằm tránh những cuộc đụng độ không cần thiết giữa lực lượng Mỹ và lực lượng các quốc gia đang lăm le tranh đoạt những hòn đảo và bãi đá thuộc Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó, ngoài Việt Nam Cộng Hòa, còn có Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) và Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) trong số các nước khác - chứ không phải là cuộc trao đổi quyền lợi giữa Nixon và Chu Ân Lai sau này, bởi vì chính sách “ngoại giao bóng bàn” giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng chỉ khởi sự từ hồi Tháng Tư năm 1971, và 1 năm sau đó, tức Tháng Hai năm 1972, mới diễn ra cuộc viếng thăm lịch sử (nhưng tai hại) của Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon đến Bắc Kinh.

(6) Theo Thông Tấn Xã Australian Associated Press, Edward Snowden, cựu nhân viên Cơ Quan NSA của Mỹ, đã tiết lộ với tạp chí Ðức Der Spiegel rằng Trung Cộng đã đánh cắp được bản vẽ máy bay F-35 Lightning II từ công ty Lockheed Martin, nhà thầu chế tạo phi cơ này, hồi năm 2007, rồi dùng các chi tiết lấy được đó để chế tạo ra các chiếc Chengdu J-20 và Shenyang J-31.

(7) Tại cuộc hội thảo về “Quan Hệ Việt Nam-Hoa Kỳ: 20 năm thành công hơn nữa” (“Vietnam-United States: 20 more successful years”) do Học Viện Ngoại Giao Việt Nam, Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị Quốc Tế của Hoa Kỳ và Ðại Học Portland của Hoa Kỳ phối hợp tổ chức ở Hà Nội vào ngày 26 Tháng Giêng năm 2015, Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Cộng Sản Việt Nam, ông Ted Osius, có tuyên bố rằng “Hoa Kỳ mong muốn giúp Việt Nam trở thành một quốc gia lớn mạnh, giàu có và độc lập.” Hai nhân vật khác cũng lạc quan không kém về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là Murray Hiabert và Phương Nguyễn thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị Quốc Tế, đồng tác giả bài báo nhan đề “An Assertive China Opens the Door to Closer US-Vietnam Naval Ties,” tức “Một Nước Trung Hoa Hùng Hổ Ðưa Ðến Mối Quan Hệ Hải Quân Mỹ-Việt,” cho rằng nhờ Trung Cộng quá hung dữ nên Cộng Sản Việt Nam phải hợp tác quân sự với Hoa Kỳ. Cũng nhờ lạc quan, hồi năm ngoái, Hoa Kỳ đã bãi bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, mở đường cho các nhà buôn vũ khí Mỹ bán ra các máy bay, chiến hạm và súng ống tân tiến cho kẻ thù cũ của mình tại Ðông Nam Á mà không chút e dè rằng đây có thể là một con dao 2 lưỡi nếu nghĩ tới các bí mật về vũ khí của Hoa Kỳ từng được sang tay cho Trung Cộng qua ngã 2 đồng minh thân thiết của Mỹ (thời Chiến Tranh Lạnh) nhưng cũng có quan hệ này nọ với Trung Cộng, là Pakistan và Ðài Loan (Trung Hoa Dân Quốc xưa).

(8) Trái với tính toán của các chiến lược gia lỗi lạc của Hoa Kỳ trong mưu đồ cung cấp một nền giáo dục siêu đẳng để thâu tóm tinh hoa quốc tế, một số không nhỏ các khoa học gia ưu hạng gốc Trung Hoa, từng được đào tạo chuyên môn hoàn hảo tại các học viện kỹ thuật lừng lẫy của Hoa Kỳ, đã chọn con đường về nước cũ để phục vụ nhằm sớm đưa đất nước họ tiến lên địa vị siêu cường trên thế giới, bởi vì, bên trong mỗi một người Trung Hoa, luôn tiềm ẩn giấc mộng Ðại Hán, coi Trung Hoa là trung tâm hội tụ những gì là tinh hoa của thế giới. Việc các khoa học gia Mỹ gốc Trung Quốc ưa đánh cắp các bí mật của Mỹ trong lãnh vực kinh tế (trường hợp ông Kexue Huang hồi năm 2011) và quân sự (trường hợp của kỹ sư Chi Mak hồi năm 2005) để trao cho Trung Cộng và sự thể một số tướng lãnh đồng minh Ðài Loan của Mỹ đánh cắp bí mật quân sự và vũ khí rồi giao cho Trung Cộng (trường hợp các Tướng La Hiền Triết hồi năm 2011 và Hứa Nãi Quyền hồi năm 2015) đã chứng minh rằng người Trung Hoa có tinh thần dân tộc (Ðại Hán) cao hơn bất cứ giống người nào khác trên thế giới.

(9) Từ đầu thế kỷ 21 tới nay, Hoa Kỳ luôn tránh né chuyện đụng độ với Trung Cộng vì quyền lợi kinh tế chằng chịt của các tập đoàn tư bản Mỹ (chuyên giật dây các nhà lãnh đạo ở Washington) cũng có mà vì tâm lý “dại gì lại đem chén kiểu đổi chén sành” cũng có. Hồi Tháng Tư năm 2001, lúc Tổng Thống George W. Bush mới lên cầm quyền, vị tổng thống thuộc loại “cao-bồi Texas” này cũng không dám dùng hải và không quân phong tỏa đảo Hải Nam (như người ta cứ tưởng thế) để lấy lại chiếc máy bay thám thính đã bị Trung Cộng cưỡng ép hạ cánh xuống đảo này vì bị coi là đã xâm phạm không phận Trung Cộng trong một chuyến bay do thám. Trung Cộng bắt được chiếc phi cơ đó, một chiếc EP-3E ARIES II, và đã lấy đi nhiều bí mật quân sự cũng như tháo gỡ một số máy móc kỹ thuật trên chiếc phi cơ trước khi đem trả “cái xác không hồn” này về cho Mỹ. Cũng thế, trong vụ Iran tịch thu chiếc máy bay drone của Hoa Kỳ, một chiếc RQ-170 Sentinel, lạc đường bay qua biên giới nước này, hồi Tháng Chạp năm 2011, thời Tổng Thống Barack Obama, Mỹ đâu có dám hành quân lấy lại chiếc máy bay này. Iran đã kéo chiếc máy bay đó về một nơi thanh vắng và mời các chuyên gia quân sự háo hức của Nga và Trung Cộng đến phanh thây, xẻ thịt chiếc máy bay để ăn cắp kỹ thuật, rồi mỗi nước từ đó chế tạo ra những chiếc drone giống hệt như chiếc máy bay đáng thương đó của Mỹ. Giới lãnh đạo đa mưu, túc trí Bắc Kinh, chứ không phải Mạc Tư Khoa, đã ngồi quan sát rất kỹ phản ứng của Hoa Kỳ qua 2 vụ này để có thể đi các nước cờ kế tiếp. Các quốc gia Trung Cộng, Nga và Iran - không chừng còn có cả Bắc Hàn nữa - những kẻ ưa thách thức Hoa Kỳ, đều bắt mạch thấy Hoa Kỳ bây giờ cũng vẫn chỉ là một “con cọp giấy,” coi bộ còn tệ hơn thời Chiến Tranh Lạnh ngày nào nữa, bởi vì ngày nay quyền lợi to lớn của các đại công ty Mỹ luôn trói tay các chính quyền liên tiếp ở Washington không cho đụng tới Trung Cộng, trong khi các khoản chiến phí khổng lồ lại làm cho Mỹ phải nghĩ đi, nghĩ lại, nếu không nói là ngán ngẩm, trước viễn tượng phải lâm chiến với các nước khác như Nga hoặc Iran hoặc Bắc Hàn.

(10) Ðiều mỉa mai là sự tồn tại của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam chỉ dựa vào cái “không biết” và cái “biết” của chính người dân Việt Nam. Trước năm 1975, vì “không biết” chủ nghĩa Cộng Sản là tồi tệ, đa số dân chúng ở Việt Nam - kéo theo giới phản chiến tại Mỹ và các nước Âu Châu - đã đi theo hoặc hùa theo Cộng Sản để dẫn đến chiến thắng cuối cùng của họ tại Miền Nam Tự Do vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Sau năm 1975, chính vì “biết” rằng Cộng Sản Việt Nam sẽ tồn tại lâu dài nếu họ cứ bám riết theo đàn anh Trung Cộng, một số người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, bằng cách này hay cách khác, vẫn tiếp tục ủng hộ chính quyền Hà Nội. Tuy nhiên, điều này sẽ không còn đứng vững được nữa một khi nền kinh tế Trung Cộng sụp đổ - kéo theo xuống vực sâu giấc mộng tranh bá, đồ vương của Trung Cộng - theo như sự tính toán của một số kinh tế gia quốc tế hiện nay.

(11) Nếu Cộng Sản Việt Nam chịu từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản để đi theo con đường dân chủ đa nguyên, đa đảng thì Việt Nam sẽ không cần gì đến Trung Cộng. Nhưng nếu Cộng Sản Việt Nam vẫn cứ khư khư giữ lấy chế độ độc tài, đảng trị Cộng Sản (như họ đang làm hiện nay) thì đương nhiên là họ phải bám riết theo Trung Cộng để được che chở mà sống còn, thay vì chạy theo Mỹ để rồi cứ bị siêu cường này áp lực phải chuyển sang con đường tự do, dân chủ phóng khoáng mà họ cho là hay nhất (như họ đã từng làm đối với Miền Nam Việt Nam thời Ðệ Nhất Cộng Hòa dưới quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, để rồi Việt Nam Cộng Hòa suy yếu rồi mất luôn vào tay Cộng Sản).

http://www.nguoi-viet.com