Đừng chậm trễ nữa

17/10/2013
TT - Đó là cụm từ GS Hoàng Tụy lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc trò chuyện với Tuổi Trẻ về đổi mới giáo dục.
GS Hoàng Tụy - Ảnh: Việt Dũng

Là người chủ trì tập hợp 24 học giả, trí thức xây dựng kiến nghị cho công cuộc chấn hưng giáo dục từ gần 10 năm trước, GS Hoàng Tụy cho rằng giáo dục không thể tiếp tục kiểu đổi mới “nửa vời, vụn vặt, chắp vá, không có hệ thống” đã kéo dài nhiều năm. Ông chia sẻ:

- Phải thẳng thắn nhìn nhận sau mấy chục năm giáo dục chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc cứng nhắc, đã đến lúc chúng ta phải lựa chọn: hoặc tiếp tục con đường cũ, tiếp tục giam hãm đất nước trong nền giáo dục ngày càng tụt hậu so với thế giới hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặt cơ bản, mở đường cho giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.

* Chương trình, sách giáo khoa, thi cử lâu nay vẫn được xem là vấn đề hệ trọng, nên lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho rằng không thể vội vã vì đây là sự thay đổi ảnh hưởng đến cả hệ thống. Có lẽ ngành giáo dục cần thêm thời gian...

- Việc đặt ra sự cần thiết đổi mới đã nói từ lâu, vậy kế hoạch đưa ra sau năm 2015 thì sẽ là năm nào? Đổi mới giáo dục cần thận trọng, nhưng không phải mất nhiều thời gian chờ đợi đến thế. Còn nhớ năm 1955, khi hòa bình lập lại, lúc đó chương trình phổ thông vùng bị Pháp chiếm học 12 năm, vùng kháng chiến chương trình chỉ có 9 năm và cần phải hợp nhất lại thành chương trình giáo dục phổ thông chung 10 năm. Khi đó tôi 27 tuổi, là giáo viên sư phạm trung cấp, được giao làm trưởng ban trù bị cải cách giáo dục. Tôi lên danh sách 70 người trên cả nước cùng tham gia, trong đó có cả những người là thầy giáo của mình, những người rất nổi tiếng. Dù điều kiện khó khăn, giao thông không thuận lợi, nhưng vì sự cấp thiết cải cách giáo dục, sau khi tôi đưa danh sách để bộ báo về địa phương, chỉ một tuần sau là tập hợp đủ. Riêng việc viết sách giáo khoa, in sách do ban tu thư đảm nhiệm hoàn tất cũng chỉ vỏn vẹn trong bảy tháng. Kết quả, chúng tôi đã có bộ sách giáo khoa thống nhất và bộ sách này dùng được ít nhất là 10 năm.

* GS từng khẳng định phải “xóa bỏ khổ dịch thi cử nặng nề, tốn kém mà kém hiệu quả”. Như vậy, nên có hình thức thi mới mẻ nào để thay thế?

- Không nên trì hoãn sự đổi mới khi đã thấy rõ nó quá cần thiết. Với đổi mới thi cử, cần bắt tay vào thực hiện ngay cho năm 2014, chứ đừng chôn chân đợi 2-3 năm nữa. Xin làm một phép so sánh: ở Pháp, kinh phí tổ chức một kỳ thi tú tài (cũng như thi THPT của ta) tốn kém đến 1,5 tỉ euro. Ở VN, có đến hai kỳ thi liên tiếp, số thí sinh đông hơn rất nhiều, dù chi phí của ta tiết kiệm hơn thì mức tốn phí cũng lên đến mấy chục nghìn tỉ đồng. Việc dồn tất cả sự kiểm tra vào một kỳ thi chỉ để loại vài phần trăm thí sinh là những em quá kém không cần thi cũng có thể loại được theo học bạ giống như một kiểu “thi vờ”.

Cũng có ý kiến cho rằng tuy “thi vờ” nhưng cần thiết vì tâm lý học sinh có thi thì mới học tử tế. Hóa ra là vậy, đất nước còn rất nghèo mà phải tốn kém hàng chục nghìn tỉ mỗi năm tổ chức thi chỉ để dọa và gây áp lực buộc học sinh phải học. Đổi mới giáo dục đã xác định việc chỉ còn lại một kỳ thi thì cũng nên có những bước chuyển tiếp rõ ràng, thực hiện ngay cho năm học tới. Cách làm rất đơn giản: phải tăng cường giám sát các trường kiểm tra học kỳ thật nghiêm túc, cuối năm thi cử giảm bớt căng thẳng, ít môn hơn, không đòi hỏi quá mức việc học thuộc lòng. Cứ duy trì thi cử nặng nề sẽ chỉ tạo áp lực tâm lý và tinh thần lớn, đặt thí sinh trước những thử thách vượt quá khả năng chịu đựng của các em. Điều quan trọng không kém: thi cử nhẹ nhàng sẽ giúp ngành giáo dục tiết kiệm hàng chục nghìn tỉ đồng mỗi năm. Số tiền đó có thể dùng để cải thiện đồng lương giáo viên bao lâu nay chỉ hứa mà chưa làm được.

* Để cải cách thi cử, hẳn không chỉ dựa vào việc thay đổi cách thi, thưa GS?

- Việc đổi mới thi cử sẽ có hiệu quả tốt khi tích hợp được với sự thay đổi của hệ thống giáo dục. Ở TP.HCM đã có trường nhận học sinh không đỗ THPT vào học nghề, và song song dạy các em chương trình bổ túc văn hóa. Như vậy sau ba năm, các em có thể vào đời bằng một nghề cụ thể, đồng thời vẫn mở đường nếu các em muốn học lên nữa vì có tấm bằng tốt nghiệp giáo dục thường xuyên. Mô hình này cần mở rộng để đạt mục tiêu 60-70% tốt nghiệp THCS là vào học nghề. Số còn lại vào THPT là những em định hướng vào ĐH.

Phân luồng ngay từ đầu như thế, hệ thống ĐH, CĐ sẽ đủ chỗ tiếp nhận, không để tồn tại việc học xong lớp 12 mà không có chỗ học. Còn về mặt cốt lõi, phải chấm dứt cách giáo dục đồng loạt, quá nặng với số đông và lại quá nhẹ với số có khả năng. Giáo dục phải đề cao tính nhân văn, rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng như mọi nhà trường tiên tiến trên thế giới, tuyệt giao với lối dạy học chỉ chăm chăm đào tạo con người theo khuôn mẫu đúc sẵn...

Người ta sẽ không còn tin giáo dục nữa, nếu...

Khi đề án được thông qua, bộ trưởng Bộ GD-ĐT có gửi email báo kết quả và cảm ơn những góp ý của tôi. Tôi cũng nói với bộ trưởng vấn đề quan trọng là phải thực hiện, có một nghị quyết tốt chưa bảo đảm công cuộc chấn hưng giáo dục sẽ được thực hiện thắng lợi. Lấy ví dụ Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII đặt giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng cuối cùng nhiều anh em khoa học nói vui là “quốc sách đầu hàng”. Nếu lần này giáo dục không đổi mới được thì có lẽ không bao giờ người ta còn tin tưởng nền giáo dục này nữa...

Bài học về gia đình sẽ nhớ lâu, nhớ mãi

Xem lại sách giáo khoa từ thời Pháp thuộc, các sách luân lý, sách quốc văn, giáo khoa thư cũng đã bắt đầu giáo dục trẻ con phải biết yêu thương bố mẹ, ông bà, anh em trong gia đình, yêu quê hương, rồi dần dần mới nói chuyện đất nước. Thời tiểu học của chúng tôi đã có những bài nói về gắn bó gia đình. Bây giờ tôi vẫn nhớ bài học cậu bé phải rời gia đình trong tâm trạng: “Ôi, nay tôi mới biết cảnh biệt ly là một” hay bài về một người được ngao du mọi nơi nhưng khi được hỏi vẫn nói quê hương là nơi đẹp hơn cả. Thời chiến tranh, giáo dục yêu cầu không được đặt gia đình, làng mạc lên trên vì sợ người ta quên đi cái lớn hơn là đất nước. Nhưng nay đã hòa bình lâu rồi, mỗi người cần phải nghĩ đến gia đình mình, cá nhân mình, yêu quý, trân trọng những cái gần gũi với mình mới có thể chung tay xây dựng đất nước phát triển...

NGỌC HÀ

Trích đăng:   http://tuoitre.vn/Giao-duc/

 


Khi giáo viên phải làm tới 24 loại sổ sách

 
 Năm học mới, rất nhiều giáo viên ở các tỉnh ĐBSCL lại than phiền về việc phải làm một đống sổ sách, đến mức không còn thời gian đầu tư nghiên cứu chuyên môn. Điều đáng nói là trong đó nhiều loại sổ có nội dung trùng nhau. Thậm chí có nhiều giáo viên còn phải làm riêng một cuốn có tên gọi là “sổ của các loại... sổ”.

Cô N.M.P. - giáo viên Trường THPT Tứ Kiệt, huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) - cho biết chỉ tính riêng công tác chuyên môn cô có tổng cộng 14 loại sổ sách phải hoàn thành gồm: giáo án lớp 10, giáo án lớp 11, giáo án hướng nghiệp, giáo án hoạt động ngoài giờ lên lớp, kế hoạch cá nhân, sổ báo giảng, sổ tự nghiên cứu, sổ điểm, sổ dự giờ, sổ lưu đề kiểm tra, sổ học nghị quyết, sổ họp chuyên môn, sổ họp hội đồng sư phạm, sổ học tập bồi dưỡng chuyên đề. Đó là chưa tính công tác chủ nhiệm có hàng loạt các loại hồ sơ, sổ sách phải làm. “Còn một loại sổ nữa là sổ ghi các loại sổ. Bây giờ muốn liệt kê hết các loại sổ này phải lật quyển sổ của các loại sổ ra xem chứ không ai nhớ hết được. Nếu không có đủ các loại sổ này, khi thanh tra đột xuất sẽ bị trừ điểm thi đua” - cô P. chia sẻ.

Còn theo cô N.N.T. - một giáo viên ở huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, ngoài các loại sổ sách về chuyên môn thì công tác chủ nhiệm cũng có hàng chục loại sổ sách liệt vào hàng “khủng” phải mất nhiều thời gian để làm. Tổng cộng có 10 loại sổ sách, hồ sơ học sinh gồm: kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch phối hợp với phụ huynh học sinh, kế hoạch theo dõi học sinh cá biệt, sổ chủ nhiệm, sổ điểm lớn, sổ theo dõi học sinh, sổ lưu hồ sơ, sổ kê khai đóng học phí, sổ điểm cá nhân, học bạ.

Nếu cộng luôn với các sổ thuộc công tác chuyên môn thì số lượng sổ sách lên đến con số 24. “Đi dạy về là cứ mở sổ ra ghi ghi chép chép nhức cả đầu. Cực nhất là mỗi lần có thanh tra của Sở GD-ĐT đến, hầu hết giáo viên phải thức trắng vài đêm hoàn thành tất cả sổ sách này rồi khệ nệ khiêng vào trường. Tuy nhiên, thực chất của giáo dục là quản lý con người chứ đâu phải quản lý sổ sách” - cô T. chia sẻ. Riêng giáo viên phụ trách thanh niên cũng có hơn 17 loại sổ sách khác nhau.

Trong các loại sổ thì làm sổ điểm lớn là giáo viên sợ nhất. Sổ này bao gồm sơ yếu lý lịch của tất cả học sinh. Từ trang 2 đến trang 10 là phần điểm danh của chín tháng trong năm. Mỗi trang tương ứng với số ngày trong tháng và phải chép lại danh sách lớp. Các trang còn lại là điểm bộ môn (13 môn), điểm học kỳ I, học kỳ II và cả năm. Chỉ tính riêng danh sách lớp phải sao chép tổng cộng 25 lần và phải viết tay, không được phép đánh máy. Đây là loại sổ chuẩn do Bộ GD-ĐT ban hành. Không riêng gì giáo viên bậc trung học phổ thông, các bậc trung học cơ sở và tiểu học giáo viên cũng phải gồng gánh rất nhiều loại sổ như thế.

Nếu bỏ qua các loại giáo án, sổ điểm, sổ dự giờ (là những loại hồ sơ bắt buộc giáo viên đứng lớp phải có) thì những loại sổ khác chỉ mang tính chất đối phó. Cùng một nội dung là kế hoạch giảng dạy (tuần đó dạy tiết nào, nội dung gì, lớp nào) nhưng phải ghi vào hai loại sổ là sổ kế hoạch cá nhân và sổ báo giảng. Sổ theo dõi học sinh lại có phần trùng lắp với kế hoạch theo dõi học sinh cá biệt, kế hoạch phụ đạo học sinh yếu kém. Trong khi đó cả ba loại sổ sách này lại nằm trong kế hoạch cá nhân của giáo viên. Trong sổ điểm lớn, phần theo dõi học sinh vắng thay vì phải sao chép chín lần danh sách lớp và phân chia số ngày trong tháng thành các cột, tương ứng với các thứ trong tuần thì chỉ cần quản lý theo kiểu học sinh này nghỉ bao nhiêu ngày trên tháng, đó là những ngày nào.

Cũng không thể phủ nhận việc ghi chép đầy đủ hoạt động trong giảng dạy là điều cần thiết. Vấn đề đặt ra là nếu giáo viên phải hoàn thành nhiều loại sổ sách thế này thì thời gian đâu để nghiên cứu chuyên môn và có những hoạt động thực tế giúp học sinh hiểu sâu bài. “Bây giờ phụ huynh, xã hội cứ phàn nàn giáo viên chỉ dạy mà không dỗ, nhưng việc có thời gian dạy và nghiên cứu chuyên môn là đã quý lắm rồi trong thời buổi hành chính hóa bộ máy giáo dục như thế này” - cô P. tâm sự.

NGỌC TÀI

Trích đăng:   http://tuoitre.vn/Giao-duc/
 
_____________________________
 

Thực trạng sinh viên ra trường

Đầu đường Xây dựng bơm xe
Cuối đường Kinh tế bán chè đậu đen
Ngoại thương mời khách ăn kem
... Các anh Nhạc viện thổi kèn đám ma
Ngân hàng ngồi dập đô la
In giấy vàng mã, sống qua từng ngày
Sư phạm trước tính làm thày
Giờ thay kế toán, hàng ngày tính lô.
Điện lực chẳng dám bô bô,
Giờ đang lầm lũi phụ hồ trên cao.
Lập trình chả hiểu thế nào,
Mở hàng trà đá, thuốc lào...cho vui
Nông nghiệp hỏi đến ngậm ngùi
"Số em chắc chỉ tiến lùi theo trâu"
Nhìn quanh, Thương mại đi đâu?
Hóa ra là đã nhảy tàu đi buôn.....
Ngoại ngữ vẻ mặt thoáng buồn
Đang ngồi viết sớ, kiêm luôn bói bài.
Báo chí buôn bán ve chai
Giao thông đi chở thuê ngoài Đồng Xuân.
Bách khoa cũng gặp đôi lần
Buôn đồ điện hỏng, kiếm cân dây đồng
Mỹ thuật thì đang chổng mông
Đục khắc bia mộ, cũng mong lên đời
Mỏ địa chất mới hỡi ôi
Sáng thồ hai sọt, chào mời mua than
Thuỷ sản công việc an nhàn
Sáng cân mớ cá, cuối làng ngồi rao...!
Hàng hải ngồi gác chân cao
Bao giờ trúng số mua tàu ra khơi
Bác sĩ, y tá có thời
Học xong về huyện được mời chích heo...

___________________________

 

Sinh viên : tốt nghiệp và thất nghiệp

“Chưa kịp mừng vui vì dứt được gánh nặng học hành, bước vào vòng xoay cơm áo gạo tiền, nhiều cựu sinh viên lại phải đối mặt với nỗi lo mới : thất nghiệp…”

Những năm gần đây các trường ĐH, CĐ trong cả nước mọc lên như nấm. Do không có một cơ quan nhà nước nào quy định việc tuyển sinh, nên tình trạng tuyển sinh ồ ạt - vô tội vạ diễn ra ở hầu hết các trường. Số lượng sinh viên tăng một cách chóng mặt, dẫn đến một loạt các vấn đề bất cập như: cơ sở vật chất, số lượng giảng viên không đủ đáp ứng cho nhu cầu giảng dạy, chất lượng giáo dục càng thấp… Kéo theo một hệ lụy đáng buồn là tình trạng sinh viên thất nghiệp sau khi tốt nghiệp ngày càng đông.

“Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 cựu sinh viên thuộc năm khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006-2010) của ba đại học: ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM và ĐH Huế, đã cho thấy những con số báo động. Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việc làm, dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo.

Trong số này, 46,5% cho biết đã đi xin việc nhưng không thành công. 42% lựa chọn một giải pháp an toàn là... tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác. Thậm chí, có 27% cử nhân được hỏi cho biết, họ rất khó kiếm việc làm do ngành học của mình không phù hợp với thị trường. Số người rơi vào cảnh nhà tuyển dụng không hiểu về ngành học cũng chiếm tới 18%.”

Bi đát vì thất nghiệp

Thực tế không ít sinh viên phải chấp nhận làm các công việc không liên quan gì đến ngành mình học, một số khác lại chấp nhận làm các công viêc phổ thông vì không xin được việc làm. Theo chân Bích Vân(*) trong một buổi “chạy chợ” cho một nhãn hàng mì gói, chúng tôi mới cảm nhận hết sự nhọc nhằn hằn trên khuôn mặt đen sạm vì nắng của cô. Nước mắt chực trào, Vân tâm sự “ hy vọng bao nhiêu thì thất vọng bấy nhiêu thôi anh . Em tốt nghiệp loại giỏi trường CĐ Du Lịch SG, chạy vạy xin việc khắp nơi nhưng tất cả đều từ chối, xin vào làm quản lý cho nhà hàng thì họ nhận vào làm bồi bàn, công sức bao năm học…sao mà làm được hả anh? ” tạm biệt Vân ra về chúng tôi cứ ám ảnh mãi câu hỏi của em…

Tương tự là trường hợp của Dũng(*) : tốt nghiệp ngành xây dựng của một trường đại học có tiếng nhưng Dũng phải ngậm ngùi “thực tập không lương” lấy kinh nghiệm vì BĐS đóng băng, công ty nợ ngập đầu không còn khả năng trả lương cho nhân viên. Dũng đang tính chuyện nghỉ việc vì không cầm cự được bao lâu nữa.

Bi đát hơn là Hiền(*) cô sinh ra trong một gia đình nghèo ở miền Trung, những tưởng sau khi tốt nghiệp ĐH Ngân Hàng sẽ tìm được một công việc như ý nhưng mãi vẫn chưa xin được việc, hơn năm nay Hiền học thêm nghề làm tóc để trang trải cuộc sống qua ngày và phần nào phụ giúp gia đình… “em còn khoản nợ vay ngân hàng trong 4 năm ĐH không biết khi nào mới trả xong” Hiền bộc bạch.

Nguyên nhân do đâu ?

Cung vượt quá cầu: khủng hoảng kinh tế Thế Giới kéo theo khủng hoảng tài chính do ”bong bóng” BĐS vỡ làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng suy kiệt. Doanh nghiệp không đầu tư sản xuất mà làm giàu bằng giá trị ảo lâm vào khủng hoảng, phá sản. Ngân Hàng tái cơ cấu, người dân thắt chặt chi tiêu, hoàng loạt việc làm bị cắt giảm ảnh hưởng lớn đến tầng lớp lao động trẻ chưa có kinh nghiệm.

Chất lượng giáo dục: có một thực tế đáng buồn là chất lượng giáo dục trong những năm gần đây thấp đến mức báo động, “giữa nhà trường và thế giới việc làm bên ngoài đang có một khoảng cách quá lớn”… Nhà trường giảng dạy theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa quá chú trọng lý thiết, không trang bị cho sinh viên đủ các kiến thức thực sự cần thiết trong quá trình học tập.

Sinh viên thiếu năng lực, kỹ năng mềm: “có thể nói 90% sinh viên khi ra trường đều thiếu kỹ năng mềm, bằng cấp là quan trong nhưng năng lực thật sự và kinh nghiệm của các bạn mới là yếu tố quyết định”Anh Trần Trọng Thành, chủ tịch HĐQT công ty VINAPO nhấn mạnh điều này trong buổi trao đổi với sinh viên trong tại cuộc tọa đàm “Tự tin nghề marketing”...

....................................

(*) Tên nhân vật trong bài viết đã được thay đổi.

Minh Châu - CareerLink.vn