Chuyện Quê nhà

Áp lực nào khiến một luật sư phải bỏ nghề?

Mặc Lâm - RFA

Luật sư Nguyễn Thanh Lương, khuôn mặt quen thuộc bảo vệ cho nhiều tù nhân lương tâm như Tạ Phong Tần, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Đinh Đăng Định hay Lô Thanh Thảo và đặc biệt trường hợp của ông Hoàng Văn Ngài, đã quyết đinh bỏ nghề và lui về làm việc như một công chứng viên thay vì một luật sư được hàng trăm khách hàng yêu mến. Điều gì đã làm người luật sư nhân quyền này bỏ cuộc?

ls nt lương
Luật sư Nguyễn Thanh Lương, ảnh chụp trước đây

Những áp lực ngầm

Mặc Lâm: Thưa Luật sư, xin ông vui lòng cho biết việc ông thôi không hành nghề luật sư nữa là do quyết định cá nhân hay từ một văn bản pháp luật nào buộc ông thôi hành nghề?
LS Nguyễn Thanh Lương: Cái vấn đề này nó không có văn bản ông ạ. Như ông cũng thấy rõ là do nhiều áp lực phải bỏ thôi đó là sự lựa chọn để cho tồn tại và phù hợp với hoàn cảnh cá nhân. Thật tình mà nói chưa đến mức như vậy nhưng mà trong bối cảnh xã hội thì nó có nhiểu chuyện để nói.

Mặc Lâm: Vâng, có nghĩa là không có văn bản chính thức nhưng do những áp lực ngầm khiến luật sư phải chọn con đường bỏ nghề phải không ạ?
LS Nguyễn Thanh Lương: Dạ có, cái đó không thể phủ nhận được, cũng có nhiều lý do mà tôi chưa có điều kiện để nói. Trước hết để trả lời câu hỏi của ông thì tôi phải giới thiệu khẳng định bản thân tôi đã làm hành nghề luật sư, tư cách luật sư luật gia đã trên 20 năm nhưng cuối cùng tôi phải từ giã nó thì không phải là chuyện ngẫu nhiên, đơn giản.

Mặc Lâm: Chắc chắn trong khoản thời gian dài như vậy hành nghề luật sư thì ông đã bảo vệ cho những người nổi tiếng như chị Tạ Phong Tần, thầy giáo Đinh Đăng Định rồi nhất là vụ Hoàng Văn Ngài, Nguyễn Phương Uyên… tất cả những vụ đó ngoại trừ ông Hoàng Văn Ngài có tính chất hình sự số còn lại đều là những người bất đồng chính kiến, tranh đấu cho nhân quyền rất dễ bị buộc tội chính trị lắm. Ông cũng biết là tại Việt Nam thì những vụ án như vậy không thể nào bảo vệ thân chủ của mình được nhưng vẫn tiếp tục bảo vệ thân chủ mà theo nhiều người cho là rất vô ích. Lý do nào xui khiến ông vẫn theo đuổi công việc như vậy?
LS Nguyễn Thanh Lương: Lý do thì trước hết những người đó phải nói rằng họ cô thế. Một đặc thù ở Việt Nam thì những vụ án liên quan xâm phạm an ninh quốc gia thì là vụ án nhạy cảm hay vụ án chính trị thì tôi phải nhìn nhận rằng với xã hội, với nhà cầm quyền với giới luật sư họ rất ngại ngùng khi tham gia còn đối với tôi thì những người đó tôi cho là cần sự giúp đỡ, quan tâm nhiều hơn để tìm được chân lý trong những vụ án đó. Giống như thước đo văn minh, chính trị, xã hội qua những vụ án đó nó sẽ làm rõ hơn. Nhưng mà trong thực tế khi tôi tham gia các vụ án đó thì đều thất bại không thỏa đáng như những kỳ vọng của mình.

Mặc Lâm: Một trong những vụ mà ông thành công là khởi kiện hai công an trong vụ án Hoàng Văn Ngài. Luật sư có thể cho biết ngắn gọn các chi tiết của vụ án này hay không?
LS Nguyễn Thanh Lương: Vụ án anh Hoàng Văn Ngài thì anh này là người dân tộc H’mông cũng là Chấp chính sự của đạo Tin Lành nó có hai đặc điểm vừa tôn giáo vừa là dân tộc ít người, anh ta bị chết tại trụ sở công an thị xã Gia Nghĩa. Theo kết luận giám định của cơ quan thì anh ta tự đưa tay vào ổ điện để tự sát nhưng theo gia đình nạn nhân thì anh bị đánh đập, mưu sát tại đồn vì trong khi giam giữ có nhiều người trong gia đình là em anh Ngài, vợ anh Ngài thì người ta đã nghe những tiếng va chạm do đánh nhau cho nên họ cho rằng đây là bị giết chết.
Từ Dak Lak người ta xuống tìm tôi người ta nhờ bảo vệ. Tôi cảm thấy họ là những người rất cô thế cần giúp đỡ do đó tôi đã tự nguyện tham gia bảo vệ cho họ nhưng rất tiếc lúc này chưa khởi tố vụ án trong khi đã bắt giam phó công an Gia Nghĩa và một đội trưởng đội điều tra. Tôi không liên lạc được gia đình của anh Ngài nữa, sau này nghe nói là gia đình đã chạy sang Thái Lan tỵ nạn. Đó là những thông tin tối thiểu mà tôi biết.

Một sự thật thảm thương

Mặc Lâm: Qua vụ án này thì chính Bộ trưởng công an Trần Đại Quang đã vào thị xã Gia Nghĩa Đắc Nông để bắt giam hai công an như ông vừa nói. Có phải vì điều này mà ông ngại bị trả thù sẽ xảy ra cho chính bản thân mình hay gia đình, nghề nghiệp mà ông đành phải nghỉ việc hay không?
LS Nguyễn Thanh Lương: Dạ thưa không. Trong vụ án này khi không liên lạc được với thân chủ thì tôi đã đứng đơn với tư cách của tổ chức văn phòng luật sư và cá nhân luật sư để yêu cầu khởi tố vụ án. Phát hiện tố giác hành vi tội phạm liên quan đến những người vi phạm pháp luật, cụ thể là những người hành sự của công an Thị xã Gia Nghĩa, tôi không ngại vấn đề đó.
Tôi rút lui không hành nghề vì nhiều lý do khác mà nãy giờ chưa trình bày hết được. Thí dụ như trong thời gian hành nghề gần đây vài năm trở lại tôi thấy hiệu quả công việc tôi làm nó quá kém, rất tồi tệ. Phải thật thà mà nói tôi cảm thấy hổ thẹn vì không bảo vệ được công lý thỏa đáng cho thân chủ tôi nhất là những dân nghèo. Hai nữa đối với những tù nhân tôi cho là tù nhân công ước, những người bị xét xử theo điều 88 hay 258 thì tôi đã không bảo vệ họ được một cách trọn vẹn liên quan đến các quyền công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Cụ thể những người này đáng ra phải được xét xứ công khai, minh bạch mặc dù ở Việt Nam phiên tòa cũng tổ chức công khai nhưng gia đình và thân nhân của họ hay những người quan tâm tới họ lại không được tham gia.

Mặc Lâm: Còn quyền bào chữa cho họ từ khi điều tra cho tới ra trước tòa án theo luật sư thì nó như thế nào?
LS Nguyễn Thanh Lương: Quyền bào chữa cho họ cũng bị hạn chế cụ thể các luật sư như tôi lúc đó không tiếp xúc được họ, hay là hạn chế khi tiếp xúc chỉ có một tiếng đồng hồ, thì tôi cho nó là những hạn chế. Mà việc hạn chế đó đã hơn 16 năm rồi kể từ năm 1998 Bộ Công an với Chính phủ chỉ cho phép mỗi lần luật sư vào trại giam làm việc với thân chủ thì mỗi người chỉ có một giờ đồng hồ thì như vậy con gì để nói nữa?
Trong khi đất nước Việt Nam có trên cả vạn luật sư nhưng trước việc này thì ngậm đắng nuốt cay im lặng, rất đáng tiếc. Những vấn đề như vậy có nhiều lý do ở góc độ pháp luật, chưa kể những áp lực riêng tư, tế nhị mà tôi không tiện phát biểu làm cho tôi phải từ bỏ nghề, đó là những lý do chính và vì không có đất dụng võ.

Mặc Lâm: Luật sư vui lòng nói thêm về việc 1 tiếng đồng hồ làm việc thì mặt tiêu cực của nó xét về pháp lý thì tai hại như thế nào?
LS Nguyễn Thanh Lương: Một tiếng đồng hồ để luật sư làm việc mà Chính phủ và Bộ Công an cho phép như vậy là văn bản vi phạm Hiến pháp, vi phạm Luật lao động, vi phạm Luật luật sư nhưng vẫn tồn tại trong khi cả vạn luật sư, 3.408 tổ chức hành nghề luật sư nói chính xác như vậy. 11.284 luật sư trên toàn quốc Việt Nam tất cả đều im lặng, tôi thấy đây là một sự thật thảm thương. Không phải tôi ra khỏi nghề rồi mình quay lại để mình phủ nhận nghề nghiệp hay nói những điều tự phủ nhận chính mình, nhưng đó là một thước đo về nhân quyền, thước đo về văn minh xã hội thì Việ Nam chưa thỏa đáng mà những vấn đề này nó liên quan tới Công ước quốc tế mà Việt Nam từng ký kết.

Mặc Lâm: Xin được hỏi ông câu cuối, nếu Việt nam có cơ hội đổi thay hệ thống tư pháp, thay đổi về Hiến pháp, thay đổi về luật lệ hay thay đổi cách mà tòa án xét xử thì luật sư có sẵn lòng quay trở lại hành nghề để giúp cho người cần giúp hay không?
LS Nguyễn Thanh Lương: Tất nhiên cái điều đó là lý tưởng quá rồi! Khi có những thay đổi, cụ thể là thay đổi về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, thay đổi về độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, hay có tiến triển về cơ chế Tam quyền phân lập thì những điều ấy sẽ thúc đẩy cho xã hội phát triển thì việc hành nghề của luật sư đương nhiên thông thoáng hơn rất nhiều.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

http://www.diendantheky.net

__________________

 

"GIẢI PHÓNG": NỖI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN NAM VIỆT


 Tiến sĩ Lê Hiển Dương

 

Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Kô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế.

Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng. Chẵng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên… 
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế.
Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… 
 
Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì
Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người… 
 
 Video: "GIẢI PHÓNG": NỖI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN NAM VIỆT
 
Còn nhớ ngày 30 Tư năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “ngụy kềm, Mỹ hãm” nữa… Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi giải phóng. 
Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… 
 
Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. 
Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước… 
 
Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. 
Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…

Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị ngụy kềm, Mỹ hãm chứ đâu có được học hành gì…
 
Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!
 
Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên tư sản Thiên Lợi… 
 
Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:
Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…
 
Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:
Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”
 
Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân…mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…
 
Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng tiếng Việt của nước nhà… 
 
“Giải phóng miền Nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… 
Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa…
 Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền... và mất luôn cả tổ quốc! 
Rồi “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho một nhóm quan lại địa phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của muôn dân, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê Thị Thanh…
 
Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.
 
Đồng Tháp ngày 16 tháng 2 năm 2015 
Tiến sĩ Lê Hiển Dương Cựu Hiệu Trưởng Đại Học Đồng Tháp
 
Đăng ngày 03 tháng 03.2015