NĂM NAY 2015 KHÔNG CÓ MÙA NƯỚC NỔI

Ngô Thế Vinh

Cửu Long giang mở chín lần cửa rộng
Dòng sông dài dữ dội bản trường ca
Nguyên Sa

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
Ngô Thế Vinh

MÙA NƯỚC NỔI NƠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Như nhịp điệu ngàn năm của con sông Mekong, hệ sinh thái vùng châu thổ sông Cửu Long được cân bằng một cách tự nhiên với "mùa nước nổi" và "mùa nước giựt". Theo anh Dohamide Đỗ Hải Minh, một học giả gốc người Chăm, một cây bút quen thuộc của báo Bách Khoa trước 1975, sinh ra và lớn lên ở miệt Hậu Giang Châu Đốc rất am tường về hệ sinh thái của Đồng Bằng Sông Cửu Long, thì trong bao thập niên qua, người dân Miền Tây đã quen sống với nạn ngập lụt hàng năm, hay còn gọi là mùa nước nổi, như là một hiện tượng thiên nhiên đến đều đặn theo chu kỳ. [1]
Ngày xưa, cũng chỉ cách đây hơn 300 năm thôi, các thế hệ tiền nhân thời kỳ Nam Tiến, khi mới đến khai phá vùng ĐBSCL thường chọn sống lập nghiệp trên các khu đất cao hay còn gọi là “đất giồng” nên đến mùa nước nổi, cho dù những cánh đồng thẳng cánh cò bay biến thành biển nước mênh mông, nhưng các khu đất giồng này vẫn là vùng cư trú an toàn cho người dân và cả vô số các loài rắn. Sau này do dân số gia tăng, không còn đủ các khu "đất giồng" nên những di dân mới tới phải chọn định cư ngay trên những vùng đất mà họ có thể canh tác. Và để thích nghi, nhà cửa dọc hai bên sông rạch được cất theo kiểu nhà sàn, với chiều cao của các cây cột sàn được tính toán sao cho đến Mùa Nước Nổi, con nước đổ về không ngập lụt đến sàn nhà.

Mùa Nước Nổi hay còn gọi là Mùa Nước Lên thường rất hiền hoà khác hẳn với các mùa lũ lụt tàn phá dữ dội như ở miền Bắc hoặc miền Trung. Dấu hiệu "mùa nước nổi" tại vùng ĐBSCL chủ yếu là vào khoảng tháng tám Âm lịch [tháng 9 tháng 10 Dương lịch], thường được báo trước bằng những "giề" hay bè lục bình từ các cánh đồng trên đất Cam Bốt bị nước ngập, cuốn bật rễ nối đuôi nhau trôi theo dòng xuống đến phần đất Nam Việt Nam. [1]
Mực nước hai con sông Tiền sông Hậu trong "mùa nước nổi" có đặc tính dâng cao lên từ từ rồi tràn qua các bờ sông rạch, làm ngập các cánh đồng. Nước lũ có công dụng không chỉ rửa đất rửa phèn mà còn thêm lượng phù sa như một thứ phân bón thiên nhiên "trời cho" khiến đất đai thêm phần màu mỡ, biến ĐBSCL thành vựa lúa của cả nước và Việt Nam đã từng đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng lúa gạo chỉ đứng sau Thái Lan. Trước đây vùng ĐBSCL còn có một loại lúa thiên nhiên có tên là lúa mù/ lúa sạ hay người Pháp gọi là lúa nổi/ riz flottant, có đặc tính "phóng ống" mọc rất nhanh theo mực nước dâng cao có khi đến 7, 8 mét, và khi đến mùa nước giựt thì thân cây lúa nằm rạp mình trên đất chờ gặt. Từ ngày có giống lúa Thần Nông/ HYV với năng xuất cao, lúa nổi không còn được nông dân quan tâm tới nữa.
Thông thường, đến "mùa nước nổi", người dân Miền Tây vẫn phải canh chừng đo mực nước lên từng giờ để phản ứng kịp thời trong trường hợp con nước vượt cao quá mức bình thường hơn các năm trước. Khi áp lực nước từ thượng nguồn bớt đi, thì mực nước liền đứng lại và rồi hạ xuống rất nhanh và giới bình dân gọi là “nước giựt”. Người ta nói nước giựt, vì mực nước hạ xuống trông thấy rõ từng giờ.
Cũng vẫn theo anh Dohamide thì hiện tượng nước nổi và nước giựt không diễn ra đồng đều cùng một lúc trên toàn vùng sông nước Cửu Long. Trên dòng nước cuồn cuộn chảy ra các cửa biển, hễ ở vùng Tân Châu, Châu Đốc nước giựt xuống thì vùng Cần Thơ, Vĩnh Long ở hạ lưu nước lại bắt đầu dâng lên, ngập tràn bờ, tràn đồng, rồi cũng lại hạ xuống, giống như hiện tượng xảy ra trong bình thông nhau. [1]
Cùng với con nước đỏ ngầu mang đẫm phù sa, là các loại cá lội theo vào ruộng đồng đẻ trứng, cho đến thời kỳ nước giựt thì loại nước cỏ vàng xậm từ trong các đồng ruộng chảy ra, cùng với vô số cá lúc nhúc từng đàn, nhất là loại cá linh, ùa theo nhau tràn vào các kinh rạch để ra sông lớn. Cho nên đến mùa nước giựt, chưa bận mùa cấy trồng, người nông dân đóng đáy bắt cá suốt dọc theo các kinh rạch này, có thời điểm trong mấy thập niên trước đây cá nhiều tới mức lưới không chịu nổi phải giở lên thả cá cho đi bớt; bằng không thì sẽ bị rách lưới. [Hình I]


Hình I: Sinh hoạt trong Mùa Nước Nổi 2000 [nguồn: photo by Ngô Thế Vinh]

Nhưng rồi hiện tượng cân bằng sinh thái tự nhiên đó hầu như không còn nữa. Và "mùa nước nổi" nếu chưa hoàn toàn biến mất thì cũng đã giảm rất nhiều cả về tần suất lẫn cường độ. Hiện tượng đó không phải do thiên tai mà là "nhân tai" một thứ thảm hoạ môi sinh/ ecological disaster do chính con người gây ra.

NĂM NAY KHÔNG CÓ MÙA NƯỚC NỔI
Mới đây thôi, từ email một người bạn gửi cho, khi anh ấy đọc thấy trên facebook của nhà văn Nguyễn Đình Bổn, ghi nhận năm nay không có "mùa nước nổi" khiến những ai từng theo dõi con sông Mekong không thể không quan tâm. Nguyễn Đình Bổn không phải gốc gác dân ĐBSCL mà sinh quán tại Quảng Nam, sau 1975 từ tuổi nhỏ 13 theo gia đình vào sống tại một vùng quê của Miền Tây ngót 20 năm và đã nảy sinh bao nhiêu tình cảm gắn bó với vùng đất mới này. Mới đây trên trang facebook cá nhân anh viết:
"Gần hết tháng 8 âm lịch, cậu em vợ lên chơi, hỏi nước có ngập không, lắc đầu. Vậy là năm nay miền Tây không có mùa nước nổi! Mưa giữa chiều. Nhớ một nơi không phải là quê hương nhưng thương như thương người thân thiết. Nhớ gần 40 năm trước, lần đầu biết mùa nước nổi là gì. Nước phù sa miệt Hậu Giang bỗng trong xanh, dòng chảy trên các kinh lững lờ, không có nước ròng. Và đủ loại cá tràn về, cá linh, cá thiểu, cá vồ... và đặc biệt là cá trê trắng, nấu canh chua bông súng hay bông so đũa ngon lạ lùng...Miền Tây còn đó nhưng môi trường đã quá nhiều thay đổi theo chiều hướng xấu. Hết Tàu đến Thái Lan, Lào, Miên thay nhau xây đập trên dòng Mekong. Và thực tế nghiệt ngã mất mùa nước nổi đã hiện tiền. Không có mùa nước nổi, miền Tây mất phân nửa bản sắc của mình, đáng sợ hơn không có lũ tràn về, ruộng đồng sẽ nhanh chóng bị nước biển xâm nhập, và vựa lúa sẽ còn không? " Hết trích dẫn.
Ngày hôm sau, người viết nhận được thêm một email của một bạn trẻ từ vùng Thất Sơn Châu Đốc cho biết: "mùa nước năm nay nhỏ đến thất thường", rồi anh ấy tự hỏi: "phải chăng các con đập thượng nguồn sông Mekong đang tích nước?"

NHỮNG GỐC RỄ "NHÂN TAI"
Từ nạn phá rừng:
Những khu rừng mưa / rainforest từ xa xưa vẫn mang chức năng điều hợp, giữ lại trong lòng đất một lượng nước mưa quan trọng từ thượng nguồn thì nay không còn nữa, khi cơn mưa đổ xuống thì không những nước mưa sói mòn làm trơ đất và nước mưa thì cứ thẳng chảy ra ngoài dòng sông, tức thời làm tăng khối lượng nước và trong ngắn hạn mực nước sông đột ngột dâng cao khi có mưa nhiều ở thượng nguồn.
Những năm gần đây do ảnh hưởng nạn phá rừng tự sát –suicidal deforestation, của các quốc gia lưu vực sông Mekong: của người Tàu trên Vân Nam, của người Lào người Cam Bốt ở vùng Hạ Lưu Sông Mekong với hai đồng lõa dấu mặt là Thái Lan và Việt Nam, khiến cho người dân Việt nơi ĐBSCL càng thêm khốn khổ: tới mùa mưa lũ đổ về sớm hơn, nhanh hơn lại lớn hơn khiến nhà nông trở tay không kịp gây tổn hại nặng mùa màng và cả về nhân mạng. Và tiếp đến mùa khô do không còn những khu rừng mưa như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước nên hậu quả tất yếu là hạn hán.
Tin Reuters gửi đi từ Nam Vang, “Nhóm Môi Sinh Anh – Global Witness tố cáo các nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam đã dính líu đến vụ đốn rừng lậu đại quy mô, đe dọa hủy hoại các khu rừng cấm của Cam Bốt. Những cây gỗ quý bị đốn bừa bãi ấy được đưa qua ngả Gia Lai, Sông Bé để chuyển xuống cảng Quy Nhơn hay Sài Gòn trước khi xuất cảng.” Bản tin ấy viết tiếp, “Một vụ làm ăn buôn bán lớn lao như thế, bất chấp luật pháp phải là kết quả của sự tham ô và đồng lõa ở cấp chánh quyền cao nhất của hai nước.” Một tình huống tương tự không kém nguy hại cũng đã diễn ra trong các khu rừng mưa trên đất nước Lào. [2]
Đồng lõa phá rừng mưa, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã và đang trực tiếp “tự gây ra một thảm họa môi sinh – self-inflicted ecological disaster,” với hậu quả lâu dài không chỉ ở đồng bằng châu thổ mà trên khắp ngả sông rạch và nguồn nước của cả một quốc gia.

Đến những hồ chứa đập thuỷ điện:
Với những hồ chứa khổng lồ từ chuỗi các con đập bậc thềm Vân Nam / Mekong Cascades mà Tàu đã và đang xây trên thượng nguồn sông MK, cộng thêm những con đập Lào và Cam Bốt đang xây thì "mùa nước nổi" ở ĐBSCL có thể rồi ra sẽ hoàn toàn biến mất.
Chức năng của những hồ chứa thủy điện khổng lồ -- trên lý thuyết là tích trữ nước trong mùa mưa lũ để xử dụng trong mùa khô. Nhưng khi các hồ chứa ở thượng lưu tích nước thì lưu lượng lũ đổ về hạ nguồn sẽ ít hơn. Không còn lũ đổ về có nghĩa là không còn "mùa nước nổi". Với hậu quả là Biển Hồ Tonle Sap trên Cam Bốt sẽ không được làm đầy, và vào mùa khô nước từ Biển Hồ chảy về ĐBSCL ít đi và đồng thời với mực nước biển ngày một dâng cao/ Sea Level Rise thì nạn nhiễm mặn ngày càng gia tăng trầm trọng.

Hình II: Diện tích Biển Hồ Tonle Sap co giãn với hai mùa Mưa Nắng
IIa (trái) Mùa Khô; IIb (phải) Mùa Mưa [nguồn: Tom Fawthrop]

Để tự bào chữa cho các con đập thuỷ điện Vân Nam, các công trình sư thuỷ điện Tàu đã lý luận rằng các hồ chứa đập thuỷ điện ở thượng lưu mang chức năng điều hoà dòng chảy con sông Mekong: giữ nước trong Mùa Lũ làm giảm lũ lụt hạ nguồn và rồi trong mùa khô cũng vẫn những con đập ấy xả nước xuống hạ lưu nhiều hơn lưu lượng tự nhiên do có sẵn lượng nước ở những hồ chứa tích từ mùa lũ năm trước, nhưng hiện thực thì không đơn giản như vậy.
Bởi vì chính những con đập thuỷ điện thượng nguồn đã phá huỷ chu kỳ điều hợp thiên nhiên vô cùng kỳ diệu của con sông Mekong. Khi mà các hồ thuỷ điện ngăn chặn nguồn nước lũ trong Mùa Mưa từ thượng nguồn cũng chính là nguyên nhân triệt tiêu "mùa nước nổi" nơi ĐBSCL. Để rồi sang Mùa Khô, nguồn nước ấy lại bị chính Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Cam Bốt cùng chuyển dòng/ diversion lấy nước từ con sông Mekong cho nhu cầu nông nghiệp nên Cửu Long càng thêm cạn dòng. Nhà nông học Võ Tòng Xuân đã từng ghi nhận:
"Chúng tôi đã chứng kiến những cánh đồng lúa lan rộng trong mùa khô trên khắp các vùng Đông Bắc Thái, Nam Lào và Cam Bốt, đã rút đi một lượng nước sông rất đáng kể trong vùng. Nhiều năm qua, nguồn nước cung cấp cho các vụ lúa mùa khô nơi ĐBSCL đã bị sút giảm nghiêm trọng, hậu quả là nạn nhiễm mặn tiến sâu vào đất liền xa tới 80 km và gây tổn hại cho mùa màng.” [26-10-2013]

Và như vậy, theo kỹ sư thuỷ học Đỗ Văn Tùng từ Canada thì ĐBSCL đã và đang chịu "tai họa kép" thiếu nước cả trong mùa lũ lẫn mùa khô! Cũng vẫn theo anh, thì bắt đầu từ giữa tháng 8/2015 mực nước ở Biển Hồ trụt khoảng 1.3 mét trong vòng 10 ngày là một điều bất thường. Đối với một Biển Hồ lớn như Tonle Sap thì ngay cả khi không có nước chảy vào hồ thì mực nước hồ cũng thay đổi rất ít vì chỉ bị mất nước do bốc hơi, nên phải kể thêm yếu tố chuyển dòng/ diversion, lấy nước ra khỏi hồ tiêu tưới cho những cánh đồng lúa lan rộng trong mùa khô trên Cam Bốt, như vậy đã rút đi một lượng nước sông rất đáng kể nơi cuối nguồn là ĐBSCL.

Theo KS Phạm Phan Long Viet Ecology Foundation, tình trạng mực nước Biển Hồ Tonle Sap, theo đồ biểu của Uỷ Hội Sông Mekong / MRC, thì hai tháng nay mực nước xuống thấp dưới cả mức thấp kỷ lục năm hạn hán 1992. Mưa ngày càng ít đi, mà hồ chứa đập thuỷ điện với trữ lượng ngày càng lớn hơn và nhiều thêm, hậu quả là Biển Hồ Tonle Sap tránh sao cho khỏi trơ đáy và ĐBSCL làm sao còn "mùa nước nổi". Tình trạng tai họa kép đã xảy ra vào cả hai Mùa Mưa lẫn Mùa Khô, và còn là "tai họa kép" của nhân tai lẫn thiên tai. [3]

http://ffw.mrcmekong.org/stations/pre.htm
Hình III: mực nước Biển Hồ Tonle Sap, theo đồ biểu của Uỷ Hội Sông Mekong thì hai tháng nay [9 & 10] mực nước xuống thấp dưới cả mức thấp kỷ lục năm hạn hán 1992 [nguồn: MRC]

ĐBSCL VÀ HỘI CHỨNG LUỘC ẾCH
Trên báo chí truyền thông, người ta hay dùng "giai thoại luộc ếch" như một ẩn dụ/ metaphor. Đó là nếu ta bỏ một con ếch vào nồi nước nóng, thì con ếch sẽ có phản ứng và nhẩy ngay ra khỏi nồi nước. Nhưng nếu ta đặt ếch vào một nồi nước lạnh, để ếch ngồi trong đó, rồi từ từ nâng nhiệt độ lên, một cách rất chậm thì con ếch vẫn thoải mái ngồi trong đó và không nhúc nhích, cho đến khi con ếch bị luộc chín từ lúc nào mà chính nó cũng không biết.
Trên thực tế, thì con ếch sẽ nhẩy ra khi nước bắt đầu nóng. Nhưng không sao, "Hội chứng Luộc ếch/ Boiling Frog Syndrome" vẫn có một ý nghĩa ẩn dụ rất hữu ích khi muốn nói tới nói tới tình trạng con người bị "mất khả năng phản ứng" đối với những mối hiểm nguy đến rất từ từ / gradual threats.
Al Gore nguyên Phó Tổng Thống Mỹ, đồng chia giải Nobel Hoà Bình 2007 do nỗ lực phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu do con người gây ra/ man-made climate change và xây dựng nền móng cho những biện pháp chống lại sự biến đổi ấy. Trong cuốn phim An Inconvenient Truth (2006) Al Gore cũng đã dùng ẩn dụ "con ếch luộc" để nói tới sự "vô minh" của con người trước hiện tượng "hâm nóng toàn cầu/ global warming" nhưng trong cuốn phim ấy, con ếch đã được cứu sống. [4]
Cũng không phải là quá đáng nếu đem ví Đồng Bằng Sông Cửu Long đang trở thành một "con ếch luộc", đang đi dần vào một "Cái Chết Tiệm Tiến của Thế Kỷ" với hơn 20 triệu cư dân thì vẫn cứ đang sống lặng lẽ trong đó, không có phản ứng gì trước một thảm hoạ đến rất từ từ và không thể thấy ngay một cách "nhãn tiền" cho đến khi tất cả một Vùng Châu Thổ cùng với một Nền Văn Minh Miệt Vườn đã bị chìm sâu trong một biển mặn.

NGÔ THẾ VINH
California, Oct 12, 2015

Tham Khảo:
1/ Đọc tác phẩm Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng. Đỗ Hải Minh, Tập san Thế Kỷ 21, Số 139, 11/ 2000.
2/ Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng, Ngô Thế Vinh, Nxb Văn Nghệ 2000.
3/ Prek Kdam (Tonle Sap), Water Level. Mekong River Commission
http://ffw.mrcmekong.org/stations/pre.htm
4/ An Inconvemient Truth: The Crisis of Global Warming. Al Gore. Viking Books, 1st Edition, April 2007.


Một kết luận nguy hiểm về những con đập trên sông MeKong

TT - Những con đập trên sông MeKong tác hại không đáng kể là một kết luận nguy hiểm vì nó liên quan đến môi trường, sản xuất nông nghiệp, thủy sản, đời sống của gần 18 triệu người dân.


mekong
Trang bìa của báo cáo dự án do Bộ TN&MT cùng VNMC thực hiện đang gây bức xúc cho nhiều nhà khoa học

“Tác động của 11 đập thủy điện trên sông Mekong lên đồng bằng sông Cửu Long là không đáng kể”! Đó là kết luận của báo cáo dự án “Nghiên cứu tác động của các đập thủy điện trên dòng chính hạ lưu sông Mekong lên châu thổ sông Mekong, trong đó có đồng bằng sông Cửu Long (MDS, Mekong Delta Study)” mà Ủy ban sông Mekong Việt Nam (VNMC) cùng với tư vấn là Viện Thủy lợi Đan Mạch (DHI) dự kiến trình bày tại một hội nghị quốc tế.
Cụ thể, trong báo cáo dự án này nêu một số điều như sau: “Tác động dự kiến của 11 đập trên dòng chính lên mực nước ở phần lãnh thổ Việt Nam của châu thổ (đồng bằng sông Cửu Long, người viết chú thích) là tương đối nhỏ, trung bình thấp hơn 2cm” (slide 18/51); “Các thay đổi về độ mặn (g/l) là tương đối nhỏ ở châu thổ, khoảng dưới 1g/l cho năm 2007 với chế độ vận hành hằng ngày của đập” (slide 44/51); “Đỉnh lũ do vỡ đập tại Sambor vào khoảng 8m. Tại Phnom Penh vào khoảng 0,6m. Tại châu thổ, dưới 0,4m” (slide 49/51); “11 đập dự kiến trên dòng chính không tác động một cách có ý nghĩa sự xói lở bờ sông trên phần lãnh thổ Việt Nam của châu thổ” (slide 50/51)...

Các kết luận trên đây là vô cùng nguy hiểm vì nó liên quan đến môi trường, sản xuất nông nghiệp và thủy sản, đời sống của gần 18 triệu người dân ở đồng bằng.
Nguy hiểm còn bởi dự án là một dự án của Chính phủ Việt Nam được giao cho Bộ Tài nguyên và môi trường thay mặt Chính phủ là chủ đầu tư quản lý và VNMC điều hành. Dự án lên tới 3,5 triệu USD (gần 80 tỉ đồng, được quốc tế tài trợ), và công ty tư vấn là DHI. Kết luận của dự án báo cáo ra quốc tế hàm nghĩa đã được sự cho phép của Chính phủ Việt Nam và gián tiếp có thể được hiểu là Việt Nam đồng tình với việc xây dựng cả 11 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong.

Phải nói rằng cách làm của những người trực tiếp thực hiện dự án này là thiếu trách nhiệm.
Bởi vào tháng 12-2014, sau khi có được và nghiên cứu báo cáo nền của dự án, bản thân tôi và một số nhà khoa học đã lưu ý ba nội dung: (1) phương pháp luận không ổn vì còn nhiều lỗ hổng; (2) số liệu không được cập nhật, chuyên gia tư vấn cần hiểu kỹ hơn thực tế thay vì chỉ sử dụng các kết quả đã có, được cung cấp; (3) mô hình số mô phỏng các tác động phải minh bạch, Việt Nam có thể kiểm tra việc mô phỏng; nên yêu cầu tư vấn sử dụng và cung cấp phần mềm mã nguồn mở.
Các góp ý trên đây đã thông qua một hội nghị tại Ban chỉ đạo Tây Nam bộ ngày 30-12-2014, có sự tham dự của 13 tỉnh thành đồng bằng sông Cửu Long, và ngay sau đó đã được trình lên Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Tài nguyên và môi trường, VNMC.
Chưa hết, đến tháng 6-2015, thay mặt nhóm chuyên gia, tôi đã trình bày với các nhà tài trợ những góp ý trên đây trong một cuộc họp tại Hà Nội và yêu cầu phải hoàn thiện phương pháp luận. Rất tiếc, VNMC không có mặt.
Sau hơn 10 tháng VNMC viện đủ lý do để khất hẹn với nhóm chuyên gia trong khi đó vẫn cùng DHI tiếp tục thực hiện dự án, và đã đi đến các kết luận trên đây mà VNMC định báo cáo với quốc tế trước khi báo cáo với trong nước, trình bày với các chuyên gia, các nhà khoa học trong nước am hiểu về đồng bằng sông Cửu Long.
Vì tầm quan trọng của vấn đề, chúng tôi có một số kiến nghị như sau: 1. Bộ Tài nguyên và môi trường cùng VNMC phải báo cáo với Thủ tướng kết quả nghiên cứu của dự án, có sự tham dự của các nhà khoa học và cho ý kiến chỉ đạo về các bước tiếp theo.
Trong khi chờ đợi, Bộ Tài nguyên và môi trường, VNMC không công bố ra quốc tế các kết quả nói trên. 2. Quốc hội theo dõi và giám sát kịp thời dự án quan trọng này. Trước mắt, yêu cầu Bộ Tài nguyên và môi trường, VNMC giải trình dự án trước Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội và các ủy ban khác có liên quan.
31/10/2015
GS.TSKH NGUYỄN NGỌC TRÂN (*)
(*) Nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và kỹ thuật nhà nước, nguyên chủ nhiệm Chương trình nhà nước điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1983 - 1990), đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI, nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.


Tham vấn và chia sẻ ý kiến của người dân địa phương bị ảnh hưởng bởi các đập thủy điện tại khu vực sông Mê Công
Trong hai ngày 24 và 25 tháng 09 năm 2015, đại diện các cộng đồng từ lưu vực sông Mê Công thuộc các nước Campuchia, Thái Lan và Việt Nam đã họp mặt tại Thái Lan để bày tỏ quan ngại về các dự án thủy điện dòng chính Mê Kông trong bối cảnh Chính phủ Lào vừa thông báo quyết định sẽ xây dựng đập thủy điện Don Sahong vào cuối năm 2015. Tại cuộc họp, đại diện cộng đồng các nước đã đưa ra Tuyên bố chung gửi đến Chính phủ các nước thuộc lưu vực sông Mê Công. Thay mặt cộng đồng người dân lưu vực Mê Công, Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam xin được chia sẻ bản Tuyên bố này và kêu gọi sự ủng hộ của Quý vị bằng cách ký tên, góp thêm một tiếng nói cho Bản tuyên bố nêu trên.

Toàn văn Bản tuyên bố

Kính gửi Chính phủ các nước thuộc lưu vực sông Mê Công:
Hãy lắng nghe tiếng nói của người dân!

Bản tuyên bố của Người dân địa phương về ảnh hưởng của các đập thủy điện tại lưu vực Mê Công


Chúng tôi là những người dân thuộc vùng hạ lưu vực sông Mê Công sống phụ thuộc vào hệ sinh thái được kiến tạo bởi sông Mê Công và nhiều sông, hồ khác trong lưu vực. Đặc biệt, Biển Hồ Tonle Sap, sông Sê San và đồng bằng sông Cửu Long lâu nay đã là nguồn cung cấp thực phẩm, đem lại sức khỏe, sinh kế, văn hóa và nguồn thu nhập cho chúng tôi. Nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác của lưu vực sông Mê Công đã đảm bảo cuộc sống và nền kinh tế của chúng tôi từ bao đời nay.
Các đập được xây dựng trên dòng chính sông Mê Công và các dòng sông khác trong khu vực đã gây ra những thay đổi tới hệ sinh thái, đe dọa cuộc sống, sinh kế và kinh tế tại lưu vực sông Mê Công .Những người dân tộc thiểu số, phụ nữ và trẻ em là những người bị tác động và ảnh hưởng nhiều nhất bởi những thay đổi đó. Các đập thủy điện cũng là tác nhân khiến biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng hơn. Những đập thủy điện gây tác động ảnh hưởng bao gồm Pak Mun, Yali, Nam Theun 2, Theun-Hinboun, Xayaburi và một số đập khác trên sông Lan Thương, thượng nguồn sông Mê Công thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Chúng tôi đã chứng kiến và gánh chịu những tác động nghiêm trọng do đập thủy điện gây nên. Đối với chúng tôi, những cộng đồng sống ven sông, những người trải nghiệm từng thay đổi nhỏ của mực nước sông thì không có nghi ngờ gì về việc những con đập đó sẽ gây tác hại nghiêm trọng tới các thế hệ hiện tại và tương lai. Chính vì vậy, không nên xây dựng những con đập này.

Chúng tôi thực sự lo lắng về đập thủy điện Don Sahong tại Lào khi nó dự kiến xây dựng tại khu vực được coi là tối quan trọng cho cá di cư từ thượng nguồn tới hạ nguồn của sông Mê Công. Việc xây dựng đập sẽ gây giảm sụt nghiêm trọng về loài cá và lượng cá tại toàn lưu vực sông. Vị trí hiện tại của con đập đặc biệt nguy hiểm đối với các loài cá khổng lồ sinh sống tại sông Mê Công và cá heo Irrawaddy. Ngoài ra, đập thủy điện Don Sahong sẽ tác động tiêu cực tới ngành nông nghiệp và ngành thủy sản tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bất chấp những mối nguy hại con đập này có thể gây ra, Chính phủ Lào vẫn tiếp tục ủng hộ việc xây dựng con đập này mà không lắng nghe ý kiến từ những người dân địa phương trong khu vực.

Chúng tôi chưa bao giờ nhận được các thông tin liên quan đến các đập thủy điện một cách đầy đủ, chưa bao giờ được tham vấn một cách cẩn trọng và chúng tôi cũng không có cơ hội được tham gia vào quá trình ra quyết định với các dự án này. Chúng tôi đã bị buộc phải đối mặt với các tác động không ngừng tăng lên của các dự án thủy điện. Đã đến lúc, Chính phủ các nước cần lắng nghe tiếng nói và tôn trọng quyền quyết định đối với tương lai của các dòng sông và cuộc sống của chúng tôi.

Chúng tôi yêu cầu:

  • Tổ chức đối thoại trực tiếp giữa Chính phủ các nước thuộc lưu vực Mê Công và đại diện các cộng đồng thông qua các diễn đàn nhân dân: các Chính phủ cần tham gia diễn đàn công khai để lắng nghe và hiểu thêm về các tác động của các đập thủy điện tới người dân. Diễn đàn này sẽ sớm được tổ chức và có sự tham gia của đại diện các cộng người dân sinh sống ở vùng hạ lưu sông Mê Công.
  • Cần tiếp tục có các nghiên cứu để các bên liên quan hiểu một cách đầy đủ về giá trị của các dòng sông, những tác động xã hội và môi trường do các dự án thủy điện gây ra. Các nghiên cứu này cần được các nhà nghiên cứu độc lập thực hiện, có sự tham gia đầy đủ của tất cả các cộng đồng bị ảnh hưởng và cần có đủ thời gian để thu thập thông tin nhằm đưa ra quyết định phù hợp về các dự án này. Nếu các nghiên cứu này đưa ra các bằng chứng về tác động tiêu cực ảnh hưởng tới các nguồn lợi của người dân, các dự án thủy điện phải ngừng xây dựng.
  • Cần có các nghiên cứu và hành động khẩn cấp đối với đập thủy điện Don Sahong vì nó nằm ở vị trí rất nhạy cảm đối với nguồn cá sông Mê Công. Tổn thất và tác động của dự án này cần phải được công bố đầy đủ và rộng rãi, đồng thời được các chính phủ thuộc vùng hạ lưu sông Mê Công thừa nhận.

Một lần nữa chúng tôi muốn nhắc lại với các Chính phủ rằng: Chúng tôi, những người dân từ lưu vực sông Mê Công muốn bảo vệ các dòng sông cho các thế hệ con cháu mai sau. Chính vì vậy, chúng tôi cần được tham gia vào quá trình ra quyết định ảnh hưởng tới các dòng sông này.
Trân trọng,


Thác Khone Phapeng tại Nam Lào (nguồn được chụp bởi Tom Pawthrop)

Các đại diện cộng đồng tham gia soạn thảo bản Tuyên bố:

Campuchia
Ông Long Sochet, Mạng lưới Thủy sản Campuchia (CFF), tỉnh Pursat
Bà Phoem Sokun, Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBO), tỉnh Kampong Chhnang
Bà Chheng Kimheng, Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBO), tỉnh Kampong Thom
Ông Eang Eangnaim, Cộng đồng thủy sản Campuchai, tỉnh Kampong Cham
Ông Dam Samnang, Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBO), tỉnh Stung Treng
Bà Saron Sokhom, Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBO), tỉnh Stung Treng

Thái Lan
Ông Nichon Pholchan, dân làng,tỉnh Bungkarn
Ông Veera Wongsuwan, dân làng, Tỉnh Amnart Charoen
Ông Amnart Trichak, dân làng, tỉnh Nakhonpanom
Ông Channarong Wongla, Nhóm tại huyện Chaingkhan, tỉnh Loei

Việt Nam
Ông Võ Thành Trang, dân làng, tỉnh An Giang
Ông Trương Văn Khôi, dân làng, tỉnh An Giang
Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên,dân làng, tỉnh An Giang
Bà Huỳnh Kim Duyên, dân làng, tỉnh Cà Mau
Ông Nguyễn Hoàng Cầu, dân làng, tỉnh Cà Mau

Các tổ chức hỗ trợ
Trung tâm Tài nguyên Cộng đồng (CRC), Thái Lan
Mạng lưới Hành động thủy sản (FACT), Campuchia
Tập trung vào các vấn đề phía Nam Toàn cầu, Thái Lan & Campuchia
Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (Green ID), Việt Nam
Tổ chức Sông ngòi Quốc tế (IR)
Làng tôi (Mvi), Campuchia
Tổ chức Rachna Satrei, Campuchia
Hướng tới phục hồi sinh thái và Liên minh khu vực (TERRA)
Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN)
Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên Nước (WARECOD) Việt Nam.
* * *

Hình lưu vực sông Mekong trích trong Ủy Ban Mekong VN





Số phận sông Mekong: chỉ mành treo chuông!

Không còn nhiều thời gian để dừng xây dựng 2 con đập thủy điện của Lào. Nếu được xây dựng, chúng sẽ gây ra những tổn thất không thể phục hồi đối với an ninh lương thực khu vực, đe dọa nghiêm trọng sự sống còn của loài cá heo quý hiếm đang sinh sống tại con sông.
Nội dung trên được Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) nhấn mạnh trong thông cáo báo chí phát đi từ Bangkok, Thái Lan ngày 19.6.2014.
WWF cho biết, Lào đã thông báo về quyết định tiếp tục xây dựng đập Don Sahong vào tháng 9.2013, bỏ qua quy trình tham vấn của Ủy ban sông Mekong. Dự án chịu nhiều chỉ trích này sẽ là một trong những nội dung thảo luận tại cuộc họp cấp Bộ trưởng của Ủy ban sông Mekong từ ngày 25-27.6. Đây là một tổ chức liên chính phủ, với sự tham gia của các đại biểu đến từ 4 quốc gia vùng hạ lưu sông Mekong gồm: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan.
Hồi tháng 1.2014, Ban chấp hành Ủy ban sông Mekong đã không thể thống nhất việc có nên yêu cầu dự án Don Sahong trải qua quá trình xét duyệt cấp khu vực hay không, cho nên vấn đề được đưa lên cuộc họp cấp bộ trưởng sắp tới.
“Sự bế tắc trong giải quyết vấn đề đập Don Sahong cho thấy tình trạng hợp tác thiếu chặt chẽ trong khu vực”, ông Marc Goichot, chuyên gia về Thủy điện Bền vững của WWF - Greater Mekong nhận xét.
“Mekong là dòng sông chung và 4 quốc gia phải cùng tôn trọng những thỏa thuận của Ủy ban khi đưa ra những quyết định về đập làm ảnh hưởng tới các nước láng giềng. Nếu không có sự hợp tác hiệu quả trong khu vực, an ninh lương thực sẽ bị đe dọa”
Đập Don Sahong sẽ đe dọa sự sống còn của loài cá heo cực kỳ nguy cấp Irrawaddy trên sông Mekong và chặn đường di cư duy nhất của cá vào mùa khô, tăng rủi ro cho nguồn cung cấp thủy sản nội địa lớn nhất thế giới.
Tính đến nay, đã có hơn 150.000 người ký tên vào đơn thỉnh nguyện của WWF yêu cầu chủ thầu của dự án, công ty Mega First, rút khỏi công trình. Việc xây dựng dự kiến sẽ được tiến hành vào cuối năm 2014.
Ông Chhith Sam Ath, Giám đốc Quốc gia của WWF - Campuchia phát biểu: “Đồng hồ đã điểm để dừng dự án Don Sahong. Lào nên ngừng dự án và chờ cho đến khi các nghiên cứu độc lập về tác động của dự án cũng như quá trình tham vấn hoàn tất".
Nếu Don Sahong vẫn được xây dựng thì đây sẽ là con đập thứ hai trên dòng chính của vùng hạ lưu sông Mekong, sau con đập Xayaburi mà Lào đã khởi công bất chấp sự không đồng thuận từ 2 nước láng giềng Campuchia và Việt Nam.
Đầu năm nay, 40 tổ chức phi chính phủ đã ra tuyên bố chung để phản đối dự án Xayaburi và kêu gọi Thái Lan hủy bỏ hợp đồng mua điện liên quan đến con đập này.
Khi đánh giá kế hoạch xây đập Xayaburi, các chuyên gia đã tìm ra những thiếu hụt nghiêm trọng về dữ liệu và nhiều điểm yếu trong phương án đường di cư, được thiết kế cho cá và khẳng định rằng con đập sẽ chặn một phần dòng chảy phù sa, làm suy yếu hệ sinh thái của con sông.
Lào đã đồng ý chi thêm 100 triệu USD để chỉnh sửa thiết kế con đập nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đối với con sông, nhưng cho tới nay, Lào chưa đưa ra được phương án nào như đã hứa hẹn vào năm 2012.
“Quyết định xây dựng đập, Lào hy vọng các nước láng giềng tin rằng những rủi ro của dự án này sẽ tự nhiên được hóa giải khi công trình được khởi công. Vì vậy, cuộc họp tại Bangkok sẽ là thời điểm quan trọng quyết định số phận con sông Mekong. Vẫn chưa phải là quá muộn để đình chỉ dự án Xayaburi trước khi nó gây ra những tác hại không thể cứu vãn vào đầu năm sau", ông Goichot nói.
WWF kêu gọi bộ trưởng các nước trong khu vực sông Mekong hoãn ra quyết định xây dựng các con đập trên dòng chảy chính trong vòng 10 năm để thu thập những dữ liệu quan trọng, đưa ra quyết định dựa vào bằng chứng khoa học và phân tích sâu.

 

Đăng ngày 09 tháng 11.2015