Thư Việt Nam


CẦN BÌNH LẠI MỘT BÀI THƠ ĐỂ ĐỜI CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU

Đó là bài thơ “Đời đời nhớ Ông” mà chắc là trong nổi xúc cảm thật hay giả thời trung niên của mình nhà thơ đã “lỡ” làm ra. Chỉ tiếc đã làm ra rồi, đã công bố lên rồi, thì không còn rút lại được nữa. Nó trở thành chứng tích muôn đời, mà chính tác giả khi còn sống có muốn sửa đổi hay đính chính lại, đều không thể được nữa. Thật đáng tiếc lắm thay.

Trước hết, ngay trong đoạn đầu : Bữa trước mẹ cho con xem ảnh/ Ông Xít Ta Lin bên cạnh nhi đồng/ Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười/ Trên đồng xanh mênh mông. Thật sự những câu văn này rất ngô nghê, vụng về, tuy là thơ tự do, nhưng nó giống như các câu văn, có quá ít cảm xúc, thiếu nghệ thuật, lại không vần điệu gì cả.

Đoạn tiếp theo sau : Ông đứng với em nhỏ/ Cổ em quàng khăn đỏ/ Hướng thẳng về tương lai/ Hai Ông cháu cùng nhìn. Quả thật, còn ngô nghê không kém đoạn trước là mấy. Điều này, chứng tỏ Tố Hữu mới chỉ có khả năng làm thơ, nhưng không thật sự có chân tài, không phải tầm cỡ của nhà thơ đúng nghĩa, chưa nói là nhà thơ lớn. Nói thẳng ra, nó chỉ giống như một thợ thơ.

Đoạn sau đó : Xít Ta Lin! Xít Ta Lin!/ Yêu biết mấy nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin/ Mồm còn thơm sữa xinh xinh/ Như con chim của hòa bình trắng trong. Đúng là quái lạ. Nó chỉ giống như cách ghép chữ một cách cẩu thả. Hình tượng diễn đạt hoàn toàn vô lý, tức rõ ràng là không có thật, giả dối, hay giả tạo. Vần điệu quả nhiên là vô cùng ngượng nghịu. Có nghĩa, tác giả đã cố rặn cho ra thơ, một cách khổ nhọc, khó khăn, và miễn cưỡng. Vì nếu có thi hứng thật, có cảm xúc thật, có thi pháp thật, không ai lại quá vụng về, kệch kỡm, phản mỹ cảm, và quá kỳ khôi như thế.

Đoạn kế nữa : Hôm qua loa gọi ngoài đồng/ Tiếng loa xé ruột, xé lòng/ biết bao/ Làng trên xóm dưới xôn xao/ Làm sao Ông đã, làm sao mất rồi. Hơi thơ ở đây đúng là thơ lục bát. Nhưng vẫn là thứ lục bát còn nôm na, không thoát, thiếu trau chuốt, nói đúng là còn nặng, trúc trắc, và vụng về. Nhất là ý thơ rõ ràng giả tạo, muốn nói lên cái gì thực sự nó không có, trong lòng mình không có, nên không hề thật sự cảm xúc. Có nghĩa, nó chỉ như khẩu hiệu, hay ngôn ngữ tuyên truyền bề ngoài để cho có, không cho thấy có cái gì là thành khẩn thật với lòng.

Đến đoạn chót : “Ông Xít Ta Lin ơi! Ông Xít Ta Lin ơi! / Hỡi ôi Ông mất đất trời có không/ Thương cha thương mẹ thương chồng/ Thương mình thương một, thương Ông thương mười…”. Đến đây, quả thật là hết ý. Đây là đoạn có nghệ thuật trội nhất trong cả bài thơ. Thi tứ trôi chảy, ý thơ lưu loát. Nó giống như dòng chảy vốn bị tắt tị nhiều chỗ, chỉ đến đây mới được xả ra, được tuôn ra thoãi mái. Tuy nhiên, ý tứ lại thật sự quá đáng. Làm gì mà có chuyện trời long, đất lở giống như thế. Tố Hữu tự mình sụp hố, hay giả vờ đóng kịch sụp hố, đọc qua chắc ai cũng có thể thấy. Nhưng hai câu kết mới thật quá sức tưởng tượng. Thương một người nước ngoài, cho dầu tự mình thần thánh hóa, tôn kính hóa bao nhiêu, lại hơn cả cha mẹ, hơn cả bản thân, thì thật là điều khó có trên đời. Cho nên như thế, chỉ quả là giả dối, đóng kịch, giống như một màn kịch thơ, không hơn không kém. Phải chăng tác giả đã tự đóng kịch với mình, hay đóng kịch với mọi người. Có lẽ vế sau mới đúng. Vì đóng kịch trước mọi người để nhằm được chiêm bái, hoan hô, được quan tâm, đánh giá đến. Còn nếu chỉ đóng kịch với chính mình, thì phỏng có cần thiết hay ích lợi gì.

Nói chung lại, văn chương là nghệ thuật. Thi ca là nghệ thuật cấp cao, và trội vượt nhất. Do đó, điều chính yếu là thơ phải có hồn thơ, có bút pháp thơ phong phú, già giặn, đó mới là nhà thơ có thật tài, và còn để lại được gì cho đời. Đằng này, Tố Hữu thật sự chẳng có thực tài, chỉ giống như một người làm thơ ở cái mức loàng xoàng, giống như một người thợ thơ, hay nói đúng hơn, là một người thợ chính trị biết làm thơ, tức là có thể sản xuất ra thơ, theo cái nghĩa là loại văn vần hãy còn nghèo nàn, và ở mức thấp nhất. Đây thật sự là một điều rất đáng tiếc cho Tố Hữu, cũng như thật đáng tiếc cho một giai đoạn văn học của đất nước, nếu quả sau này nó vẫn còn được ghi dấu, và tồn tại, để các thế hệ sau biết đến.  

Võ Hưng Thanh
14/03/2011