Bài viết sau đây được trích từ blog của tác giả Lương Thư Trung
Blog Thất Sơn Châu đốc (http://thatsonchaudoc.com)http://thatsonchaudoc.com

 

Lấp Vò ngày 27 tháng 02 năm 2008

Kính chào Thầy,

Tình cờ, qua “Thất Sơn Châu Đốc”, tôi đọc được thư của Thầy gởi cho học trò cũ của trường trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) làm tôi cảm động và lần mò đi tìm gom góp lại những vần thơ của Thầy trước kia cũng như bây giờ và mạo muội ghi lại những cảm nhận qua bài “Thơ Cao Thoại Châu, tình yêu và một góc nhìn đời”. Và nay xin viết lá thư này chia sẻ cùng Thầy về một đoạn đời mà cái bến bờ đầu tiên Thầy đã ghé lại cách nay có lẽ gần 47 năm…

Vào những năm tháng đó, dù là học trò các năm cuối cùng bậc trung học đệ nhị cấp nơi trường Trung học Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên (khoảng năm 1961-1962), nhưng tôi nhận ra những bước chân vào đời của một vị giáo sư trẻ mới ngoài hai mươi tuổi, phải xa Sài Gòn để về một tỉnh lẻ vùng biên giới Việt-Miên như Châu Đốc để nhân nhiệm sở, tôi nghĩ lòng Thầy vừa âu lo, vừa chán nản lắm. Rồi lại còn gặp phải những điều bất như ý nơi nhà trường như Thầy tâm sự, quả là những ngày tháng gập ghềnh vô cùng của một vị giáo sư còn quá trẻ...
Thế nhưng, như Thầy kể, dù qua nhiều nơi, nhiều trường về sau này, nhưng Thầy lại thương và nhớ học trò Thủ Khoa Nghĩa nhiều nhất… Dù tôi không là bạn học của các anh chị ấy, nhưng tôi biết chắc một điều là học trò ở tỉnh mà nhất là học trò ở các tình vùng sông nước miền tây Nam Phần đất Việt này là dễ thương nhất, mà nhất là miệt Long Xuyên- Châu Đốc, vì nơi đây ngoài những cánh đồng lúa mênh mông bát ngát, cây trái bốn mùa, nước ngọt quanh năm, dân tình chơn chất, lòng người hiền hòa mà trong dân gian thường gọi vùng đất Long Xuyên – Châu Đốc là vùng đất PHẬT…
Vâng, thưa Thầy, điều đó, qua ba năm Thầy dạy nơi này với những mái ngói tường rêu của lớp học ngày nào, với biết bao tâm hồn trong trắng của các bạn nam nữ học sinh vùng tỉnh lẻ đã để lại trong lòng Thầy biết bao cảm hoài thương mến khi Thầy lang bạt lên vùng Pleiku đất đỏ mây mù … Tôi chỉ đáng làm học trò của Thầy nhưng tôi hiểu được tâm trạng của Thầy vì những nơi chốn Thầy dừng chân tôi cũng có cái may mắn là ghé lại đôi lần. Pleiku buồn bao nhiêu thì Châu Đốc lại trìu mến bấy nhiêu. Nơi đó có dòng sông, có bến đò ngang chở đầy những tà áo dài trắng từ bên kia sông đến trường vào buổi sáng hoặc tan trường vào buổi chiều. Những chàng trai cô gái ấy đã có một thời là học trò cũ của Thầy thế mà rồi hơn bốn mươi năm sau, họ vẫn còn nhớ Thầy, quả là Thầy còn có được một niềm hạnh phúc vô tận .

Nhắc đến chút kỷ niệm này, tôi lại chợt nhớ Thầy dạy Việt Văn của tôi, giáo sư Nguyễn Cao Đàn, khi được tôi tình cờ kính gởi tăng Thầy quyển sách “Bến Bờ Còn Lại”, Thầy tôi viết : “Tám mươi lăm tuổi đời, bề ngoài tuy còn tàm- tạm, nhưng bên trong thật đã nát-bấy, nát vì nhiều duyên-căn khác hơn là vì hao-mòn của cơ thể. Nhưng ruột héo bỗng tươi lại, long nguội lại xốn-xang, tôi bỗng được chích một liều thần-dược; anh xứng đáng là một “Hoa-Đà”, “Biển-Thước”. Dầu có thể anh chưa nhìn tới một trang sách thuốc, cầm tới một ống chích, và nhất là anh hẳn không bao giờ nghĩ bỗng có một danh-hiệu như vậy, nhưng tôi thành-thực mà tuyên-dương anh như thế. Quyển-sách “Bến Bờ Còn Lại” anh gửi kèm những dòng chữ đề tặngchính là liều thần-dược ấy. Tôi không nói cái lời công- thức “xin cảm ơn”, được dùng thường quá, nhẹ mất cả nội-dung; nó không còn dung-tích để chứa cái tình-cảm nồng-nàn trong lòng ông-lão già-nua bỗng thấy bóng xưa nửa đời về trước của mình lấp-loáng trong tim một học-sinh cũ mà cuộc-đời nay đã trải nhiều mưa-nắng và đã lên hàng cha-ông, tâm tư cũng đã ngã nhiều về quá-khứ…
Bốn-mươi ba, bốn-mươi tư năm trước, ông-già cũng chẳng còn trẻ-trung gì mà hành-nghề vẫn cứ bên-lề nghi-thức; quần-áo chỉ vừa đủ không xú-xứa; cái caravate vì hiệu-trưởng nhăn-nhó quá phải đeo cho qua mắt, đến cổng trường mới quàng vào, vào qua cửa lớp lại tháo ra đúc túi quần. Dạy Việt- văn, hiếm thầy dùng đến phấn, nhưng riêng ông thì sau giờ dạy, đầu tóc, quần-áo cứ như người khuân-vác ở nhà máy xay bột vì ông dạy là ông vẽ, bôi bôi, xoá xoá; hình-dung cả những ý trừu-tượng bằng biểu-đồ.
Ông-già nhớ-lại :thời ấy, những chiều không dạy, đi xuống phố về, qua cầu Hoàng-Diệu ngược chiều với dẫy dài học-sinh trai-gái lớn có, nhỏ có, từ trường Thoại Ngọc Hầu và các trường tiểu học đang líu-ríu nườm-nượp ra về, ông dừng bước đứng nhìn, bần-thần, lòng vui-lo lẫn-lộn: “Ta làm gì cho những công-dân nụ-hoa này trước một thời-cuộc đang cuồn-cuộn sóng ngầm?”

Thưa Thầy,
Những dòng thư đó, Thầy tôi viết cho tôi ngày 19 tháng 7 năm 2000, nghĩa là cách nay 8 năm, và Thầy tôi năm nay đã 93 tuổi, tôi giữ những dòng chữ này như một báu vật. Ở đó nó chứa cả cái khoảng đời đẹp nhất của một vị giáo sư hết lòng thương học trò và nó cũng mang cả những hình bóng cũ của tôi vào những ngày còn đi học. Nói thế để Thầy thấy cái tình Thầy trò vùng Long Xuyên-Châu Đốc nó thân ái và tha thiết dữ lắm; và cũng để thấy rằng lòng tôn kính ân sư của học trò vùng sông nước Hậu Giang này là lòng tôn kính rất chân thật và mãi hoài bất tận. Đọc được mấy dòng Thầy chia sẻ với học trò cũ của Thầy ngày nào về những nổ lực mà Thầy đem ra giảng dạy học trò thuở ấy, tôi vô cùng cảm kích lắm.

Thưa Thầy,
Không biết qua bốn mươi năm hơn, Thầy có dịp nào về ngang trường Thủ Khoa Nghĩa ghé thăm? Thầy còn nhớ những gốc phượng già nua nơi sân trườg đang chờ mùa hè khoe sắc màu kỷ niệm một đoạn đời? Thầy có qua dòng sông Châu Đốc lần nào sau ba năm Thầy rời xa nơi chốn ấy? Tết năm rồi, tôi có trở lại thăm bến đò xưa. Nơi chốn ấy giờ bến sông không còn tươi mát như những ngày tôi còn trẻ. Về qua Châu Giang, Châu Phong, sao lòng tôi nghe tê tái bước chân già! Có những điều mình tưởng như không lấy gì làm qúi báu như một bến sông Châu Giang, nhưng có những lúc chợt dưng nhớ về làm mắt mình như cay cay ít nhiều. Kỷ niệm, đúng rồi, thưa Thầy, nó làm men đời tươi mãi nhưng nó cũng làm lòng mình rưng rức mỗi lúc nghĩ về !

Qua những vần thơ của Thầy tôi nghe ra tâm tư của Thầy cũng chìm vào những kỷ niệm cả một quãng đời. Nó triền miên như không ngừng làm Thầy mãi hoài băn khoăn với nó. Nó làm Thầy có lúc vui, có lúc tưởng chừng hạnh phúc nhưng đa phần dường như trong hồn thơ của Thầy nó bát ngát nỗi quạnh hiu… Thầy rất sợ tiễn đưa ai và rồi có lần cũng đành phải đưa tiễn! Thầy sợ những bến sông, nhũng sân ga, những con tàu và rồi Thầy cũng đã phải chờ đợi ở bến sông, ở sân ga và những con tàu chở khách đi xa.
Tôi cũng nhận ra ở Thầy nhiều lúc tự nhìn bóng mình trên tường vách. Thầy thấy mấy mươi năm lăn lóc giữa đường đời nhiều bận muốn trở về tâm tình cùng chiếc bóng hắt hiu. Tôi nghĩ thầm như vậy vì trong thơ Thầy ẩn giấu bao niềm riêng mà người cảm thơ Thầy nhận ra như vậy. Và dĩ nhiên làm sao ai biết được lòng mình bằng chính mình, phải không, thưa Thầy?

Ngày nay Thầy có còn nhớ con đường Châu Đốc –Sài Gòn của hơn bốn mươi năm trước? Những chuyến xe Công Tạo, Tam Hữu của một thời đưa rước khách Châu Đốc-Sài Gòn, giờ cũng chẳng còn nhưng người lữ hành năm xưa chắc vẫn còn nhớ nó như không sao quên được. Nhớ có lần tôi về Châu Đốc cách nay bốn năm mươi năm, đi ngang bờ sông trước Tòa Hành Chánh tỉnh, ngọn gió mát từ mặt sông đầy làm mát một buổi chiều và nhớ hoài những tà áo trắng … Về Châu Đốc, từ dưới chuyến đò ngang nhìn lên bờ sông cao vòi vòi với kè đá làm thêm dốc đứng bờ sông cao thêm, tôi mới hiểu vì sao “đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc.” Đèn Châu Đốc cao nhưng dân Châu Đốc hiền, học trò ngoan và tình người chan chứa, chừng ấy đã làm tôi nhớ hoài một bến sông xưa có lần tôi ghé lại ngày nào !

Kính Thầy,
Viết lá thư cho Thầy vậy mà cũng khá dài với lòng kính trọng một vị ân sư của các bạn Châu Đốc mà cũng của tôi nữa. Vì nếu không có thơ của Thầy, tôi làm sao biết Thầy nơi đâu mà có ít lời để gọi là chia sẻ. Và viết thơ kính thăm Thầy cũng chính là dịp gợi lại cho tôi nhớ lại những ngày còn đi học. Biết Thầy còn mạnh khỏe là học trò Thầy và cá nhân tôi chắc là mừng lắm. Mừng là còn Thầy và còn thơ của Thầy để đọc nữa.
Kính chúc Thầy và qúy quyến nhiều sức khỏe, vạn an, hạnh phúc.

Kính thư,

Lương thư Trung