Ngày xửa, ngày xưa

Nguyễn Trần Trác

Ngày xửa, ngày xưa,…vâng, những ngày đó xa quá rồi  nên bây giờ nhắc lại thì phải …”ngày xửa ,ngày xưa”. Thời đó, các cậu cử,  cô cử, các nhà “ bác vật” trẻ của Sài Gòn, hay các bác sĩ, dược sĩ,… khi vừa tốt nghiệp ai cũng muốn được làm việc ở Sài Gòn. So với việc đi công tác ở các tỉnh lẻ xa xôi thì cái lợi, cái hại quả đã nhãn tiền.

Đi làm ở tỉnh nhỏ xa nhà có nghĩa là nhà thì ở trọ, cơm thì ra quán, buồn! Nhưng thôi, chuyện nhỏ, có gì mà làm cho quan trọng. Hai là, điều này quan trọng hơn, ở Sài Gòn bạn có cơ hội học thêm, thí dụ học lên cao học chẳng hạn. Ở tỉnh nhỏ thì thiên nan vạn nan, hoặc giả, bạn chẳng thiết học lên mà chỉ muốn kiếm thêm ít tiền còm để bù vào mức lương thiếu trước hụt sau của thời kiệm ước thì ở Sài Gòn sẽ đắc địa hơn rất nhiều. Chưa nói đến Sài Gòn là một đô thị phồn hoa với những nam thanh nữ tú, với những buổi chiều cuối tuần dắt tay ai dạo phố trên đường Tự Do, trên đường Lê Lợi “ ngựa xe như nước,áo quần như nêm”,…

Nhưng đó là các bạn thích thôi vì trừ những năm đầu của những năm 60 còn có nhiệm sở ở Sài Gòn, từ các năm 66 hay 67 trở đi ( thế kỷ trước ấy) thì chẳng làm gì có nhiệm sở ở Sài Gòn nữa (không kể những trường hơp “ chạy chọt”). Tốt nghiệp đại học xong các cô cậu tân khoa phải sẵn sàng đi nhận công tác tại bất cứ đâu, từ Quảng Trị cho tới Cà Mâu, kể cả những huyện lỵ xa xôi ở các vùng “xôi đậu”, ban ngày quốc gia, ban đêm VC. Ấy thế mà mọi người đều vui vẻ lên đường.

Tôi và một số bạn cùng khóa tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn năm 1967 cũng thế. Nhiệm sở gần nhất là Trường Trung học Trịnh Hoài Đức, Bình Dương (khi đó là một tỉnh nhỏ, buồn, èo uột chứ chưa lớn và hoạt động như bây giờ), xa nhất là Long Xuyên. Có những nơi đô hội nhưng cũng có những huyện lỵ xa xôi vùng xôi đậu buồn hiu hắt, như huyện Giồng Trôm, Bến Tre. Tôi thì chẳng biết nhân duyên ra sao mà lại về dạy ở Mỹ Tho suốt bảy niên học, một thành phố xinh xắn, duyên dáng, nằm bên bờ sông Tiền, với biết bao kỷ niệm buồn vui.

Khi chưa ra trường thì muốn được dạy ở Sài Gòn, sau khi ra trường thì được bổ nhiệm về dạy ở trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho. Sau nhiều năm gắn bó với thành phố xinh xắn này cùng biết bao niềm vui với nhiều thế hệ học trò, từ những em học trò nhỏ các lớp đệ nhất cấp “ học trò xinh xắn hồn như gương” tới những học trò các lớp lớn hơn ở bậc đệ nhị cấp mà tình cảm luôn đằm thắm, tế nhị, hồn nhiên , tôi “ngộ” ra một điều là không hẳn dạy học ở Sài Gòn là một niềm để mình mơ ước. Những năm tháng dạy học ở Mỹ Tho đã để lại cho tôi rất nhiều kỷ niệm không quên, dù có thể vui hay buồn, mà tôi cho rằng sẽ không thể có nếu tôi, sau khi ra trường, được giữ lại Sài Gòn giảng dạy. Suốt một thời Trung học, rồi đại học, chỉ loanh quanh trong vùng Sài Gòn, Gia Định, sau khi ra trường lại đi dạy quanh quẩn trong Sài Gòn, cuộc đời cứ trôi theo một dòng không có nhiều thay đổi, tại sao lại nhiều người mơ ước?

Nữ sinh thời đó,ở trường công, đồng phục bắt buộc là áo dài trắng, từ lớp Đệ Thất bé tí teo (lớp Sáu bây giờ) tới lớp Đệ Nhất (lớp 12). Chỉ có một hay hai trường tư ở Sài Gòn có đồng phục hơi khác, như trường Thiên Phước ở Tân Định, các em nữ sinh mặc đồng phục màu hồng. Ở Mỹ Tho các nữ sinh, trường công hay trường tư, đều mặc đồng phục là áo dài trắng.

Thời đó, ở Sài Gòn có hai trường nữ trung học là trường Gia Long (trên đường Phan Thanh Giản) và trường Trưng Vương (cuối đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhìn sang Thảo Cầm Viên, gọi nôm na là Sở Thú), sau này có thêm trường nữ Lê Văn Duyệt (trên đường Lê Văn Duyệt, chạy từ dinh Tỉnh trưởng Gia Định tới Cầu Bông). Đồng phục của các em tất nhiên cũng là áo dài trắng. Ở Sài Gòn đa số các em tới trường bằng xe đạp, các em  lớp lớn, nếu nhà khá giả, thì yểu điệu trên xe Vélo Solex. Xe Vélo Solex dáng thanh, màu đen trông rất đẹp và thanh nhã với các cô nữ sinh hay nữ sinh viên. Khi đi xe, các cô một tay giữ gấu của tà áo trước trên tay lái, tà áo sau cài vào sợi dây thung ở gác-ba-ga xe. Hình ảnh các cô nữ sinh trong những chiếc áo dài trắng thong thả đạp xe hay vi vu xe Solex tới trường hay khi tan học về tạo thành một nét đẹp riêng cho đường phố Sài Gòn thời ấy.

Ở Mỹ Tho, các em nữ sinh đi học hầu hết đều đi bộ tới trường, dù với nhiều em nhà ở khá xa và khác với các em nữ sinh ở Sài Gòn, phần lớn các em đi học đều đội nón lá, mùa nắng cũng như mùa mưa. Hình ảnh các nữ sinh tới trường với áo dài trắng và nón lá bây giờ có lẽ chỉ còn  trong kỷ niệm và hội họa!

Khi còn còn là  học  trò đi học thì chỉ mong ngày nghỉ, cứ nghĩ chỉ đám học trò nhác học như mình mới thích ngày lễ nhưng sau ra đi dạy mới biết các thày cô cũng thích nghỉ lễ như học trò. Những ngày nghỉ lễ nếu vào giữa tuần tôi thường không về Sài Gòn mà ở lại Mỹ Tho, rủ vài người bạn qua bắc (phà) sang chơi bên thị trấn Trúc Giang, Bến Tre, hoặc sang  Cồn Phụng thăm giang sơn của ông Đạo Dừa. Cư dân trên cồn này đều là đệ tử của ông Đạo Dừa ,nam cũng như nữ đều mặc y phục nhuộm nâu, để búi tóc. Ông Đạo Dừa họ tên thật là Nguyễn Thành Nam, đã từng du học tại Pháp và có bằng kỹ sư hóa học.

ngayxua

 

Không hiểu cơ duyên nào mà ông trở thành một ông Đạo. Người ta kể, nhiều khi ông tịnh tu, ngồi trên ngọn cây dừa cả tháng, chỉ uống nước dừa. Chẳng biết có thật chăng.

Thời gian đó Cồn Phụng như một nơi du lịch, vì nếp sống dân cư, không khí u tịch, tiếng tụng kinh đều đều làm cho khách vãng du như hòa vào trong một không khí là lạ, kỳ bí.

ngayxua
Phong cảnh Cồn Phụng

Hoặc ra khỏi thành phố đi thăm chùa Vĩnh Tràng. Đây là một ngôi chùa cổ, dựng từ năm 1849.ngayxua

Qua nhiều lần trùng tu ngôi chùa có cơ ngơi khá lớn với cấu trúc nửa Âu nửa Á và cửa tam quan rất đồ sộ. Nghe nói tam quan này ngày xưa  phải mời thợ Bắc vào làm, nghệ thuật ghép sành sứ rất tỉ mỉ. Những năm 1969, 1970 khi chúng tôi tới thăm thì tam quan này đã bị nghiêng, nhà chùa phải làm cột chống, sợ đổ. Ngày đó, chùa Vĩnh Tràng ở một vùng ngoại ô u tịch không nhộn nhịp như bây giờ. Phong cảnh chùa tịch mịch, vắng vẻ với những mộ tháp rêu phong. Vài học sinh nghèo xin tá túc trong chùa để học tập.

Chùa Vĩnh Tràng

Hàng năm, khi qua mùa Noel, thi xong học kỳ một thì đã gần tới tết, không khí các lớp học đã trở nên nôn nao. Trong tuần lễ áp tết, hầu như học sinh tới lớp chỉ để liên hoan, ca hát. Đầu giờ học, khi thày cô vừa bước vào lớp là các em nhao nhao xin thày cô cho nghỉ học để liên hoan tết. Trong không khi rộn ràng chung, thường các thày cô cũng cho phép. Với tôi, mỗi tuần, tôi dạy các lớp nhiều giờ, như với lớp Đệ Nhất tôi dạy tới 6 giờ mỗi tuần, vì vậy, tôi chỉ cho các em  nghỉ học một giờ cuối cùng. Nói là liên hoan nhưng thực ra thày trò chỉ trò chuyện vui với nhau rồi ca hát. Và thể nào cũng có màn xin thày, hay cô, hát một bài. Thật là một nỗi “đoạn trường” cho các thày cô vì đâu phải ai cũng có thể ca hát mà thoái thác thì cũng gian nan thì thôi đành nhắm mắt hát, hoặc ngâm thơ,… Tôi nhớ lại một năm cũng bị rơi vào tình trạng “bi đát” như trên ở một lớp Đệ Nhất. Thoái thác mãi mà các em cứ nhất quyết mè nheo, nhưng may sao tôi nhớ tới một bài hát. Nguyên ở bên cạnh nhà tôi ở Sài Gòn có một nhà hàng xóm. Nhà này có tới sáu cô con gái liên tiếp nhau và trong đó có hai cô thường sang chơi với tôi. Hai cô này, một cô 6 tuổi, một cô 4 tuổi, tròn trĩnh xinh xắn, và hai cô thường hát cho tôi nghe nên tôi nhớ được một bài. Bây giờ chợt nhớ, trịnh trọng nói với cả lớp “Các em yên lặng. Thày sẽ hát một bài” Học sinh vỗ tay rào rào hoan nghênh... Đợi ngớt tiếng vỗ tay, tôi hát bài hát của hai cô hàng xóm : “ Cà–rem, dzô ta, mặc kệ cà-rem, nhưng tiền không có, dzô-ta, thì em nhịn thèm. Cà-rem,dzô ta ,măc kệ cà-rem…” Mới hát được hai câu thì các em nhao nhao phản đối, đòi thày hát bài khác…

Qua các buổi nghỉ học, liên hoan tết như vậy, tôi mới khám phá ra một điều là  trong các em học sinh của mình có nhiều em có giọng ca rất hay. Tới bây giờ tôi vẫn nhớ không khí ca hát trong một buổi liên hoan tết  năm 1970 ở lớp Đệ Nhất A3. Các em trình bày, thường là các em đứng nguyên tại chỗ để hát, rất hay các bản nhạc tiền chiến hay nhạc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn , Y Vân,… Một em tên là LTT ,tên em có nghĩa là “dòng nước trong xanh”, ngồi ở bàn đầu tiên, sát phía cửa ra vào. Em rất xinh xắn, nước da trắng, tóc để dài ngang lưng. Em ngồi hát, đôi mắt mơ mộng nhìn ra khung trời ngoài cửa lớp, giọng ca của em thanh và êm như ru :

“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến xuân…

.........
Người đi theo mưa gió xa muôn trùng
Lần bước phiêu du về bến cũ
Tới đây mây núi đồi chập chùng
Liễu dương tơ tóc vàng trong nắng
Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xuân….”

Khi em dứt tiếng ca, trong vài giây cả lớp như vẫn đắm chìm trong giai điệu lãng mạn của bài hát và âm hưởng giọng ca như nhung của em.

 

Tôi dạy học nhiều năm ở Mỹ Tho. Rất nhiều học trò nếu gặp lại chắc tôi không còn nhớ nhưng cũng có những học trò mà tôi vẫn không quên, và trong trí nhớ của tôi, các em  vẫn giữ nguyên hình ảnh của những cô học trò ngoan ngoãn, dịu dàng của tôi ngày xưa khi các em mười tám. Trong suốt mỗi năm học, thày trò chúng tôi  chia sẻ biết bao nỗ lực, vất vả trong dạy và học. Rồi năm học qua đi các em lặng lẽ chia tay trường lớp. Đầu năm học mới, các thày cô lại tiếp nhận các thế hệ học sinh mới. Có lẽ không thày cô nào nhớ được mình đã dạy bao nhiêu học trò và sau khi về hưu có bao nhiêu học trò sẽ tới thăm thày trong ngày Nhà Giáo hoặc tới mừng tuổi thày ngày mùng Ba tết (mùng Một tết cha, mùng Hai tết mẹ, mùng Ba tết thày)?

Bẵng đi vài năm, một hôm tôi nhận được một bức thư của em LTT gửi về trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân:

Xứ Mỹ,  10 . 01 .74

Kính Thày,

Từ khi rời xa mái trường thân yêu nơi ấp ủ bao kỷ niệm Thủy chưa dịp nào được gặp lại thầy người mà Thủy hằng kính phục trong cuộc đời nữ sinh áo trắng.

Chốc mà đã hơn ba năm rồi, nhanh quá! Thủy vẫn nhớ những ngày mình còn đi học, từng buổi , từng ngày nhìn chăm chăm lên bảng, qua tay thầy những giòng chữ trắng nổi bật trên màu xanh của bảng. Những nét chữ ấy đã in sâu vào tâm trí của Thủy, cùng dáng thầy đi, giọng nói của thầy… tất cả như vẫn mới nguyên trong tâm tưởng của Thủy. Những ngày ấy Thủy vô tư quá. Ngày ngày cắp sách tới trường chờ nghe thầy giảng dạy, ước vọng duy nhất là thi đỗ dầu chưa biết sau đó Thủy sẽ làm gì,Thủy chưa định hướng gì cho tương lai, chỉ biết cố học, thâu đạt được phần nào lời giảng tâm huyết của thầy. Và rồi ước vọng Thủy cũng đã đạt được, bõ công giảng dạy của thầy cùng bao ngày tháng khó nhọc, học trò của thầy đã thành “ cô Tú” nhưng tâm trạng thật trái ngược, khi đó Thủy lại thấy rất buồn. Thủy sẽ không còn được hàng ngày nghe giọng nói của thầy, tuy rằng đôi khi thầy làm Thủy đứng tim khi giở sổ gọi tên lên bảng. Thủy đã thật sự không còn dịp làm học trò của thầy, không còn được nghe, được… Dẫu biết rằng cuộc đời học trò là thế. Thầy như bóng cây, học trò như Thủy chỉ là lữ khách. Khách dừng chân nhờ cây che bóng mát trong phút giây rồi lại phải lên đường, nhưng Thủy vẫn không khỏi tiếc nuối. Thế rồi run rủi làm sao Thủy lại bước chân vào con đường Sư Phạm. Con đường sẽ đưa Thủy trở lại học đường để tiếp nối nghiệp dĩ của thầy, chỉ dạy cho những lớp người đi sau , chứng kiến những thế hệ học trò đi qua theo từng năm học. Bây giờ tương lai Thủy đã chọn, Thủy càng thấy nhớ dĩ vãng nhiều hơn và mong được trở lại như ngày nào được nghe giọng nói của thầy dù là lời quở trách, được đứng tim, nén thở theo dõi ngọn bút của thầy dò trên cuốn sổ ghi danh nhưng làm sao tìm được ngày qua – đành thôi.
Thủy kính lời nhớ thăm đến thầy và mong thầy gặp vạn điều lành.
Học trò cũ của thầy
L.T.T
12A3  NK 69-70


Tôi thực sự từ giã Mỹ Tho từ sau học kỳ hai niên khóa 1973-1974. Sau tháng 4/1975 thỉnh thoảng tôi có dịp về lại Mỹ Tho dạy các lớp đại học tại chức tại đó hoặc họp mặt với các học sinh cũ, gặp lại vài đồng nghiệp ngày xưa cùng dạy ở trường Lê Ngọc Hân. Trong một buổi họp mặt, tôi ngồi cạnh một em học sinh cũ mà thực ra tôi cũng không nhớ tên, chỉ biết em học tú tài năm 1970. Thầy trò ôn lại chuyện cũ, em hỏi tôi:

-Thầy có nhớ chị T. không?

-Có phải học lớp 12 A3, ngồi bàn đầu không?

- Dạ , phải

- Bây giờ chị ấy tội lắm thầy ạ.

-  ? ?

-Ngày xưa khi học ở Lê Ngọc Hân, chị ấy rất sung sướng, thầy ạ. Nhà giàu, ba của chị là chủ một hãng xe đò chạy đường Sài Gòn Mỹ Tho mà . Chị học Sư Phạm, ra trường, đi dạy, lập gia đình. Sau 1975 thì ba chị không còn là chủ hãng xe đò nữa nhưng gia đình vẫn khá giả. Chị có được hai đứa con xinh xắn lắm nhưng không hiểu sao gia đình lục đục, chị ấy bị gia đình chồng ruồng rẫy. Cuối cùng ly dị, nhà chồng bắt nuôi hai đứa con. Ba má chị ấy cũng đã mất. Bây giờ chị ấy sống cô đơn một mình, lại bệnh hoạn, sức khỏe chị ấy giờ tệ lắm.

Nghe lời kể , tôi  nhớ tới cô học trò LTT lớp 12 A3 ngày xưa, trong buổi tất niên năm ấy, ngồi mơ mộng nhìn ra khoảng không ngoài cửa lớp cất tiếng hát, giọng ca trong và êm như ru, bản Bến Xuân của nhạc sĩ Văn cao

Dìu nhau theo dốc suối nơi ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước
Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân.

……...

Bao nhiêu ước mơ trong lòng em ngày đó!

 

Nguyễn Trần Trác