Những ngày xa xưa

 

 hoanganh

Hoàng Ánh

Sau năm đầu đỗ Dự Bị Đại Học Văn Khoa Saigon, năm 1969 tôi thi vào Đại Học Sư Phạm Saigon để đi học làm thầy giáo, một nghề mà mẹ tôi mong một trong các con mình làm được, dù rằng tôi thích học làm thầy thuốc hơn.

Sau khi đỗ kỳ thi viết, ngày vào vấn đáp tôi gặp thầy Nguyễn ngọc Cư, nghe đồn thầy rất khó tính, tôi cũng “chờn” lắm! Mà nhiều thầy cô khác cũng kính trọng thầy Cư lắm! Ngồi trong phòng học bên bên trái, trên lầu 1 Ban Văn Chương, chờ đến phiên mình, nghe thầy Cư đang chất vấn mấy cô sinh viên, mà mình thấy “chới với”: tự nghĩ mình cũng “tiêu rồi”! Nhưng không ngờ, sao thầy chẳng “vặn vẹo” mình nhiều như các cô thi trước? May quá, năm ấy, tên tôi thứ bốn trong 30 người có tên đỗ! Và 5 năm bạn ở lại lớp từ năm trước, tổng cộng lớp có 35 người.

Khi học môn Sử và đi dạy thực tập với thầy Cư, tôi học hỏi được rất nhiều điều. Thầy luôn vào lớp trước bất cứ ai! Trong 3 năm liền ở Truờng, nhiều khi tôi cố tình đến lớp trước nửa giờ (sớm nhất lớp đấy!), nhưng khi nhìn lên bục, tôi đã thấy thầy ngồi đấy, hay thầy đang ghi lên bảng đen những chữ cần cho giờ giảng sắp đến. Thầy thường mặc áo dài trắng, quần bà ba, đi giầy tây đen, tay ôm cặp táp da màu nâu đen, loại ngày xưa. Thầy thường đi bộ từ đường Vườn Chuối đến trường, dù người nhà có xe hơi. Dạy xong, thầy lại ôm cặp đi bộ về nhà.

Nhiều lần, lúc tan học về, thấy thầy đang đi bộ, tôi ghé chiếc xe gắn máy Honda C50 của mình (cũ rích, cà tàng) mời thầy lên xe, xin được chở thầy về vì cùng tuyến đường. May thay, tôi biết có nhiều người khác đã từng mời, kể cả người có xe hơi, mà ít khi thầy nhận lời! nhưng với tôi, chỉ bị từ chối lần đầu, và thường thầy đồng ý ngồi lên “bọc ba ga” xe tôi để tôi chở về nhà!  

Tôi cảm thấy thích và hãnh diện lắm, vì nghĩ rằng thầy “ưa” thằng học trò tầm thường này. Có những lần cảnh sát chặn đường vào ĐHSP, vì sinh viên biểu tình, nhưng khi tôi vào được lớp học, thì cũng vẫn thấy thầy đã ở trong lớp rồi! Chúng tôi có hỏi: làm sao thầy vào được? Thầy trả lời: tôi nói với mấy ông cảnh sát, tôi có nhiệm vụ đến dạy học tại Đại Học SP, không dính líu gì đến biểu tình, các ông phải để tôi vào lớp làm nhiệm vụ của tôi. Có lẽ cảnh sát thấy ông cụ già và “xưa quá” (áo dài trắng, đi bộ, lớn tuổi, người quắc thước, gầy gò …) và phong cách “ngầu” quá, nên chẳng lần nào cản cả! 

Phong cách giản dị, đầy dân tộc tính của thầy giúp tôi tự học được nhiều điều trong cách sống của nhà giáo trong tương lai! Tôi nhớ mãi, khi một vài cô bạn cùng lớp đi học đến trễ, thầy chỉ cần nhẹ nhàng giơ cánh tay lên xem đồng hồ, và nói: “xe hoa đã đi rồi” và ai nấy đều mỉm cười lén. Lần sau ai cũng sợ mà đúng hẹn cả! Tuy thầy hay khiển trách nhẹ nhàng những sai lầm, thiếu sót của chúng tôi, nhưng lại luôn rộng lượng bao dung cho điểm cao. Điều này khiến chúng tôi cảm được chân tình và độ lượng của bậc “sư phụ”.

Khi chúng tôi đi dạy thực tập tại các trường trung học như Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trưng Vương, Võ Trường Toản … Những thiếu sót, quên năm tháng trong bài lịch sử đều được thầy giúp giải đáp không bao giờ sai cả, khiến chúng tôi tâm phục kiến thức và trí nhớ của thầy như một “tự điển” sống vậy!

Có lần, tôi hẹn đến nhà thầy ở đường Vườn Chuối, thầy cho tôi cái hẹn là 2g30 chiều Chủ Nhật, kéo tay áo lên, thầy chỉ vào cái đồng hồ và dặn rằng: “Anh nhớ giờ chưa? Nhớ đến đúng giờ nhé!” Tôi vâng vâng, dạ dạ, nhưng vốn trẻ tuổi ham vui, không ý thức nổi sự chính xác trong cách làm việc có qui củ của thầy.

Thế rồi hôm ấy, tôi đến trễ vào khoảng 15 phút! vừa dựng xe ngoài sân, bước vào cửa, có một người làm ra mời vào ngồi ngoài chờ, vì thầy đang tiếp khách ở phòng làm việc bên trong, khoảng sau 10 phút, khách ra về, tôi được mời vào ngồi trên ghế đối diện thầy giữa là một bàn kiểu cổ, và tôi nhớ mãi đến ngày nay: thầy mặc áo dài trắng, cho người bưng trà sen ra mời, tôi ngó chung quanh phòng, thầy chưng các giò hoa Thuỷ Tiên, mua từ Hong Kong về, chung quanh có rải xác trà và nước đá cục. Trên bàn còn có phong lan trồng trong chén đất đỏ kiểu cổ… tôi thầm phục cách thưởng lãm thanh nhã, cao quí của thầy. Thế rồi thầy hỏi tôi:
“Tôi hẹn anh lúc mấy giờ?”
Tôi trả lời: “Thưa thầy, lúc 2giờ 30”.
Thầy cật vấn: “Bây giờ là mấy giờ?” tôi nhìn đồng hồ trên tường sau thầy và thưa: “Dạ, gần 3giờ”.
Thầy nói: “2giờ30 là 2giờ30, chứ không phải 3giờ! Lần sau nếu anh đến không đúng giờ, thì tôi không thể tiếp anh được nhé! Anh nhớ nhé!”

Tôi nhận ra lỗi mình, và học hỏi ngay bài học về lời hứa và cách sử dụng thời gian. Trong khi bàn luận với thầy, tôi còn nhớ thầy nói: “Hôm qua, tôi hỏi thằng cháu, cháu làm được bao nhiêu câu hỏi trong bài thi? Nó trả lời: thưa ông, con không nhớ! Nhưng vào khoảng mười mấy câu!” Thầy phê bình: Nó học Tú Tài ban Toán, thế mà nói: “vào khoảng” thì sao gọi là chính xác trong Toán học được! Thế mà người ta chấm đỗ Tú Tài hạng “Ưu”, chẳng thể hiểu được!

Sau này, khi tôi kể lại với các bạn, ai cũng “nể” và cẩn thận với thầy kẻo bị mắng.
Trong lớp học, có lần thầy nói với tất cả chúng tôi:
“Các anh chị là thầy, cô giáo mà nếu vào lớp trễ 5 phút thôi, thì là trễ của 30 lần 5 phút, tức là trễ đến hơn một tiếng rưỡi, được ăn lương mà không làm” 

Sau này, khi đi dạy học, tôi luôn nhớ lời thầy dặn, để giữ không bao giờ vào lớp trễ và điều này đã trở thành thói quen, dù dạy học ở Việt Nam hay ở Úc cho đến nay.

Năm 1975, khi mất nước, thầy từ chối ra đi dù con trai vốn là Phó Đề Đốc hải quân mời, để ở lại với tư thái ung dung, không bồn chồn, sợ hãi như mọi người, thầy sống khẳng khái và chết trên quê hương theo truyền thống sĩ phu ngày xưa.

Ngẫm lại, thầy Cư là tấm gương sáng về tư cách người “quân tử” và bậc “thầy” trong trái tim tôi, một thế hệ mẫu mực đã qua đi, khó tìm được trong cuộc sống vật chất xô bồ ngày nay!

Hoàng Ánh
(cựu SV ĐHSPSG, ban Sử Địa, khóa 1969-1972)