Đại học Sư phạm Sài gòn
Những ngày sinh viên


Nguyễn Trần Trác
(ban Lý Hóa, khóa 1963-1967)

Tôi vốn là học sinh Trung học Nguyễn Trãi khi trường còn ở đường Phan Đình Phùng, cách trường Nữ Trung học Trưng Vương, ở gần Thảo Cầm Viên (tục gọi là Sở Thú), không xa. Sở dĩ tôi nhắc lại chi tiết này vì các buổi sáng, trưa hay chiều, nhiều cô học trò Trưng Vương đi học, hay tan học, phải đi qua trường Trung học của tôi. Những ngày thường thì không sao nhưng những ngày học trò sắp được nghỉ Tết thì đối với các cô quả là những ngày kinh hoàng. Những buổi học này, bọn học trò hay đòi các giáo sư cho nghỉ học tại lớp để ca hát, liên hoan vv… Các thầy cô, trong không khí cận Tết, thường cũng dễ dãi cho phép. Vì vậy, nói chung, ở trường nào cũng vậy, trong thời gian này, kỷ luật trường lớp khá lỏng lẻo. Đâu phải cậu học trò nào cũng ở trong lớp vui chơi ca hát với các bạn mà vài cậu lẻn ra ngoài cổng trường, ngóng chờ các cô học trò Trưng Vương đạp xe đi qua. Khi thấy các cô tới gần thì chúng chuẩn bị sẵn, chờ các cô đi gần tới thì quẳng ra một quả pháo chuột làm các cô khiếp vía, loạng choạng. Thường thường các cô học trò tức lắm nhưng cũng đành bỏ qua, cũng có cô không vừa, quay lại rủa sả mấy thằng ông mãnh thì chúng cứ nhăn răng ra cười.

Tôi chỉ học ở Nguyễn Trãi có năm năm, đến năm Đệ Tam thì thi nhảy Tú Tài 1 nên năm học sau, 1962-1963, phải sang đầu quân bên trường Chu Văn An ở tít trong Quận 5, gần nhà thương lao Hồng Bàng, để học lớp Đệ Nhất. Năm học này là một năm có nhiều biến cố rất đáng nhớ. Đầu năm 63, một cơn bão rất mạnh, mang tên là Lucie, xảy ra ở vùng biển Đông với tâm bão, theo nha khí tượng, đang di chuyển về phía Sài Gòn. Vì bão rất mạnh nên đài phát thanh Sài Gòn, trong mấy ngày liên tục loan báo diễn tiến về cơn bão.

Sài Gòn trong mấy ngày lo lắng trở nên lạnh dữ. Buổi sáng sớm đi học, các trò thở ra khói như những buổi sáng ở xứ lạnh. Khi bão sắp đổ bộ vào đất liền thì Bộ Giáo Dục ra thông báo khẩn cấp cho tất cả các trường học được đóng cửa. Nhưng cũng thật may, khi gần tới bờ biển thì bão chuyển hướng, Sài Gòn thoát bão. Cho tới nay, sau hơn 50 năm sống ở Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi rút ra một kết luận: bất cứ một cơn bão nào, dù hung hãn tới đâu, khi gần vào tới Sài Gòn thì đều “né”, quẹo hướng khác. Sài Gòn là đất thiêng chăng?

Cuối năm học đó, sau khi đỗ Tú Tài 2, tôi nộp đơn thi vào trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Đó là niên khóa đầu tiên trường ĐHSPSG đào tạo Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp hệ 4 năm. Trước đó chỉ có 3 năm và sinh viên trong thời gian học, kể cả các tháng nghỉ hè, được hưởng học bổng là 1500đ mỗi tháng. Tới khóa tôi thi vào thì thời gian đào tạo tăng thêm một năm nhưng học bổng rút xuống còn có 1.000 đ/tháng. (Sau này anh em mấy lần “làm nư” phản đối Bộ Giáo Dục nhưng không ăn thua gì hết. Nhà nước đã tính chán rồi: Tăng thêm một năm học nhưng rút học bổng bớt đi 500 đ mỗi tháng thì kinh phí vẫn coi như không tăng). Thời đó, đỗ kỳ thi tuyển vào trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn rất khó, nhất là đối với các học sinh vừa tốt nghiệp Tú Tài, vì trong số thí sinh dự thi có gần một nửa là các sinh viên đã học một hay hai năm ở lớp dự bị đại học (nhưng không đỗ). Năm tôi thi vào ban Lý Hóa của ĐHSPSG, số thí sinh dự thi là hơn 700 (không nhớ rõ số lẻ) nhưng chỉ có 35 thí sinh trúng tuyển và không có một bóng hồng! Thời đó, rất ít nữ sinh viên chịu học Ban Toán hay Ban Lý Hóa. Thường thường, các cô thích học Văn Khoa, Dược Khoa,.. hay Sinh Vật. Nhưng cũng may, khi nhập học, chúng tôi được biết có một chị cùng học. Chị rất dễ mến, ở lại từ khóa học trước. Hiện thời, chị đang ở nước ngoài. Hệ đào tạo 4 năm giáo sư trung học đệ nhị cấp lấy từ Tú Tài 2 chỉ có hai khóa. Sau đó, từ niên khóa 1965-1966, trường ĐHSPSG quay lại hệ đào tạo GSTHĐ2C trong 3 năm nhưng lấy các sinh viên đã có chứng chỉ dự bị đại học của trường Khoa Học hay Văn Khoa.

Trong thời gian hè chờ đợi ngày nhập học thì nổ ra một biến động chính trị làm rung chuyển đất nước. Tại Huế, ngày 8 tháng 5 năm 1963,do lệnh cấm treo cờ Phật giáo nhân ngày Phật Đản 2527 của tổng thống Ngô Đình Diệm, các phật tử biểu tình phản đối. Binh sỹ nổ súng khiến tám người thiệt mạng, do trúng đạn hoặc do thuốc nổ. Sự phản kháng bùng lên dữ dội như một ngọn lửa, lan nhanh từ Huế tới khắp các tỉnh thành miền Trung, miền Nam. Tại Sàigòn, sinh viên các trường đại học Luật khoa, Văn Khoa, Khoa học, Sư Phạm, Kiến Trúc, Quốc gia Hành chánh v.v… bãi khóa tràn ra đường. Học sinh các trường Trung học, công cũng như tư: Trưng Vương, Gia Long, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Cao Thắng, Kiến Thiết v.v… bỏ lớp, xuống đường. Nữ sinh Quách Thị Trang bị bắn chết gần chợ Bến Thành. Hàng trăm nữ sinh bãi khóa bị bắt về Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia ở đường Võ Tánh, hàng ngàn nam sinh, sinh viên bị bắt đưa lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để thẩm vấn. Ngày 11 tháng 6, thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng. Bức ảnh chụp lúc Thượng Tọa ngồi tham thiền trong ngọn lửa ngay sáng hôm sau được đặt trên bàn làm việc của Tổng Thống Kennedy tại tòa Bạch Ốc và in trên trang nhất của các tờ báo lớn trên khắp thế giới. Tổng Thống Kennedy khi nhìn thấy tấm hình đã thảng thốt kêu lên “ Oh, my God!”.

Không khí Sài Gòn sôi sục như một nồi “Súp-de” có thể nổ tung bất cứ lúc nào mà đỉnh điểm là một sự kiện không thể tránh khỏi: Cuộc chính biến lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 01/11/1963, trong sự hân hoan nồng nhiệt của tuyệt đại dân chúng Sài Gòn. Chúng tôi bước vào trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trong một không khí như thế.

Khi mới nhập học thì thầy Khoa Trưởng là giáo sư Phạm Hoàng Hộ, chuyên ngành Thực Vật. Thầy hiện sống ở nước ngoài. Sau đó là giáo sư Trần Văn Tấn, tiến sỹ Toán, hiện vẫn ở Việt Nam. Trường có hai ban: Ban Văn Chương , giám đốc là thầy Lê Văn, Ban Khoa Học, giám đốc là thầy Bùi Phượng Chì. Thầy Chì có tác phong chuẩn mực của một nhà mô phạm của giữa thế kỷ 20, hết sức tâm huyết với nghề. Ngoài trách nhiệm giám đốc ban Khoa Học, thầy còn hướng dẫn giảng dạy cho các sinh viên Ban Lý Hóa năm thứ 3 và năm thứ 4. Sau năm 1967, thầy vẫn còn tham gia giảng dạy nhưng sau đó vài năm, thầy sang định cư ở Canada với con trai, đang là giáo sư đại học ở đấy. Tôi có một, hai lần viết thư hỏi thăm thầy trong thời gian này. Người thay thế thầy B.P. Chì là thầy Lý Công Cẩn. Thầy Cẩn sau này, vào những năm 70, có tham gia một liên danh tranh cử (nhưng thất bại) vào Thượng Viện của thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Lôgô của liên danh này là một con kỳ lân. Vì vậy, sinh viên Đại Học Sư Phạm SG sau này, trong các kỳ thi ở ĐHSP, khi thầy Cẩn đi kiểm tra, bảo nhau “ Kỳ lân xuất hiện, thí sinh hết hồn”. Sau 30/4/1975, thầy Cẩn còn làm việc vài năm ở ĐHSP trước khi được phép xuất cảnh sang Pháp.

Trong thời gian chúng tôi học ở ĐHSPSG, như trên đã nói, học bổng có 1000đ/tháng nhưng sinh viên Sư phạm cũng khá “phong lưu” (lương lính chỉ có 800đ/tháng, một tô phở lớn thì 7đ, một tô nhỏ 5đ. Cho tới năm 1967, giá chính thức của một chiếc xe gắn máy Velo Solex chỉ có 5000đ, một chiếc mobilette 7000đ). Mỗi sáng sinh viên Sư phạm có thể đàng hoàng ăn sáng một tô phở. Buổi trưa, nếu bận học buổi chiều, không muốn về nhà, thì ghé tiệm phở Hợp Lợi ở gần bùng binh làm hai tô (sinh viên vốn ăn khỏe). Thỉnh thoảng buổi tối rủ nhau đi uống cà phê ở quán Thu Hương, trên đường Hai bà Trưng, gần nhà thờ Tân Định; mà rủ nhau “kiểu Pháp” đấy nhé , nghĩa là không phải ai trả phần người ấy như con cháu chú Sam, mà người khởi xướng sẽ bao tất. Tuy nhiên, anh em chẳng ai nỡ lợi dụng nhau nên lần này “mày” trả thì lần sau “tao” trả. Khi nào có phim mới chiếu ở Rex hay Eden, hoặc Đại Nam, như Docteur Jivaho, Ben Hur v.v… thì rủ nhau đi coi rồi bình luận vung vít.

Tuy học cùng lớp nhưng tuổi tác khá chênh lệch, có thể hơn kém nhau 3 hay 4 tuổi. Tôi vừa học xong Tú Tài thì vào ngay ĐHSP nên thuộc vào loại nhỏ tuổi nhất. Trong lớp có tới hai anh đã có vợ nhưng dấu biệt, kín như bưng. Nói chung, thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng, của những năm thuộc thập niên 60 của thế kỷ trước rất hiền lành (tất nhiên, không kể một thiểu số thuộc dân ăn chơi), và về tình yêu thì thật nhút nhát. Trong lớp tôi, có một anh bạn hơn tôi ba tuổi, người cao ráo. Về thể thao thì thích chơi bóng bàn, về âm nhạc thì chơi ghi ta, nói chung là có óc văn nghệ. Do chơi bóng bàn nên anh có quen một cô cùng khóa, học bên ban Pháp Văn và có cảm tình với cô. Anh bạn rất muốn ngỏ lời nhưng không biết làm sao, bèn nghĩ ra một cách: viết một bức thư, rồi tới nhà xe (ở sau tòa nhà dãy Văn Chương) cài vào gác- ba-ga xe của cô bạn và khi hết giờ học, đứng một chỗ khuất chờ cô bạn ra lấy xe. Thật hồi hộp cho bạn tôi khi cô ấy ra lấy xe, tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy phong thư, tò mò mở ra xem. Sau đó, cô quẳng bức thư xuống đất và đạp xe về!
Hiền lành và nhút nhát trước các bạn nữ nhưng nghịch thì vẫn nghịch. Một anh bạn khác cao to tên là G, thuộc lọai gà tồ. Cả lớp gán anh cho một cô X cùng khóa, học ban Sinh Vật nhưng anh cứ lắc đầu nguây nguẩy nên bạn bè trêu riết. Một hôm, cô X đang ngồi học trong thư viện (bây giờ đã bị phá đi và thay bằng một dãy lớp học ba tầng) thì chúng tôi và anh bạn gà tồ đang ở ngoài sân. Các bạn mách: G ơi, cô X đang ngồi học trong thư viện đấy. Anh bạn G hoảng hồn, tính chuồn đi chỗ khác thì tụi bạn giữ lại, bốn thằng nắm hai tay và hai chân, khênh G vào thư viện đặt trước bàn cô X đang ngồi. Cô X trố mắt nhìn còn G thì chạy mất.

lyhoa6367

Các giáo sư trung học đệ nhị cấp thủa còn là sinh viên.

Buổi liên hoan tất niên, dịp Tết Ất Tỵ (1965) của sinh viên năm thứ hai, Ban Lý Hóa, khóa học 1963-1967. Nhiều bạn đang ở nước ngoài và đã giã từ nghề “gõ đầu trẻ”. Ba bạn trong số này đã từ bỏ cuộc chơi.

 

Cái ngày rất quan trọng đối với sinh viên sư phạm, ấy là ngày mà phòng phát ngân viết mấy chữ thông báo “đã có học bổng tháng…”. Bác phụ trách phát ngân người hơi đậm đà, làm việc rất cẩn thận, chu đáo. Đúng là một công chức mẫu mực. Không biết bây giờ bác còn không?

Có một lần, tháng gần tết mà học bổng về trễ. Sinh viên cứ mong đứng, mong ngồi. Tôi cám cảnh làm mấy câu thơ con cóc, dán lên bảng thông báo của trường để hỏi lương (học bổng) :

Lương ở nơi nào, lương hỡi lương?
Sao mi không đến để ta buồn
Mỗi ngày còm cõi chờ mi đấy
Lương ở nơi nào, lương hỡi lương?

Một dịp đón Tết năm nọ, ban đại diện sinh viên tổ chức đêm văn nghệ Tết, lấy tên là Đêm Quê Hương. Thông báo được viết trên giấy khổ lớn rất trang trọng và đẹp mắt, dán ở nhiều nơi. Tôi đi qua nghịch ngợm, thêm một dấu sắc ở trên chữ Quê làm cho các bạn trong ban đại diện năm ấy nổi sùng, tỉ mẩn tìm cách xóa bớt cái dấu sắc mà thằng bạn cà chớn nào thêm vào. Chả là, khi có dấu sắc như vậy thì trùng với tên của một cô bạn xinh xắn trong ban đại diện sinh viên.

Nếu chị Q.H vô tình có đọc được mấy dòng chữ này thì mong chị hỉ xả đánh cho hai chữ đại xá cho một thằng bạn không quen biết của một thời sinh viên nghịch ngợm của trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn thủa nào.

lyhoa6367

 

 

 

Hai sinh viên ĐHSPSG vào giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, đứng trước một tranh cổ động cho báo Xuân của sinh viên ĐHSPSG.


Một người mãi mãi theo nghề dạy học và vẫn ở Sài Gòn, một người (thấp hơn) hiện ở San José, California, không còn theo nghề cũ, mà đã trở thành một kỹ sư điện.

 

 

Tháng 8 năm 1964, một sự kiện đầy tranh cãi xẩy ra ở Vịnh Bắc Việt làm thay đổi hẳn cuộc chiến ở Việt Nam. Ngày 2 tháng 8 năm 1964 ba thuyền tuần duyên của Bắc Việt Nam bất thần tấn công khu trục hạm USS Maddox của hải quân Hoa Kỳ đang làm một nhiệm vụ tuần tra ở ngoài khơi của Bắc Việt Nam. Khi đó Maddox cách bờ biển Bắc Việt Nam tám dặm. Khu trục hạm Hoa Kỳ khai hỏa đáp trả làm hư hại nặng một trong các tầu tuần tra của Bắc Việt Nam. Maddox chỉ bị hư hại không đáng kể bởi một viên đạn súng máy 12,7mm của tầu tuần duyên Bắc Việt.

Vào lúc 19g15 chiều ngày 4 tháng 8, Hạm trưởng John J.Herrick của tầu Maddox gửi đi các tin tức cho biết tầu Maddox bị tấn công lần thứ hai. Tin này được báo ngay cho Tổng Thống Johnson. Nhiều nhân chứng sau này nghi ngờ việc xảy ra cuộc tấn công lần hai như vậy. Đây là tường thuật của trung tá Stockdale, chỉ huy phi đội bay bảo vệ Khu trục hạm Maddox tối ngày 04 tháng 8: “…Tôi có thể trông thấy mỗi chuyển động của các khu trục hạm một cách rõ rệt. Thỉnh thỏang tôi lại bay phía trên chiếc Maddox và chiếc Joy, giảm bớt tốc độ, tắt đèn, lướt đi như một con cú lặng lẽ… Khi các khu trục hạm thấy cần phải và đã khai hỏa đáp trả tầu chiến của địch, tôi bay zic-zăc và bắn vào các vị trí mà các khu trục hạm đã nhắm bắn… Cái hố đen mà tôi đang bay ở trong chốc chốc lại sáng lên bởi các tia chớp, nhưng tôi chẳng trông thấy một vệt rẽ nước hay một hình thù gì khác ngoài các khu trục hạm của ta”. Mặc dù vậy, Johnson và Bộ Trưởng Quốc Phòng Mac Namara đã dựa vào cuộc tấn công đầy nghi vấn này để thuyết phục Quốc Hội Mỹ ra nghị quyết cho phép mở rộng chiến tranh ở Việt Nam.
Ngày 8 tháng 3 năm 1965, những người lính thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng. Họ là những người đầu tiên trong số hơn 2,7 triệu thanh niên Mỹ phục vụ cuộc chiến ở Nam Việt Nam trong hơn 7 năm sau đó.

Tại Sài Gòn, sau không khí hân hoan, sôi nổi ban đầu của cuộc chính biến, là một loạt rối loạn về chính trị với các cuộc đảo chính xảy ra liên tục. Giới sinh viên cũng bị cuốn vào vòng xoáy của thời cuộc. Cao điểm là cuộc biểu tình khổng lồ của sinh viên, học sinh trên đại lộ Thống Nhất dẫn đến sự lật đổ tướng Nguyễn Khánh. Các chính phủ dân sự, quân sự thay nhau lên xuống, trong khi chiến cuộc ngày một ác liệt.

Đó là thời điểm khi chúng tôi bước sang năm thứ hai ở trường Đại Học Sư Phạm.

Sinh viên Sư Phạm, ban Toán, Lý Hóa, hay Sinh Vật, học chương trình cử nhân giống hệt như sinh viên Khoa Học: cùng thầy dạy, cùng chương trình, cùng các kỳ thi, nhưng phải học thêm các môn như Giáo Dục Học, Sư Phạm, Giáo Dục Đối Chiếu, Phương pháp Giảng dạy,… và cả tiếng Pháp nữa. Vì vậy, sinh viên Sư Phạm, để lên lớp chỉ cần đạt điểm trung bình 8/20. Nhưng để lấy các chứng chỉ của trường Đại Học Khoa Học, nhất thiết phải đạt điểm trên 10/20. Vì vậy, không phải tất cả sinh viên tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm đều có bằng cử nhân Khoa Học hay Văn Khoa. Sinh viên nào muốn học tiếp lên bậc cao học thì phải lấy xong bằng cử nhân ở trường bạn. Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp ĐHSP, sinh viên có thể ghi danh học lấy bằng Master về Giáo Dục học. Ngành Cao học này được mở tại ĐHSP SG từ năm 1967 với giáo sư đầu ngành là Tiến Sỹ Dương Thiệu Tống. Thầy đã mất cách nay vài năm tại Sài Gòn.

Sinh viên bắt đầu thực tập giảng dạy từ năm thứ ba. Trong học kỳ đầu thì thực tập giảng dạy tại lớp. Một bạn lên thực tập giảng một bài nào đó trước đám học sinh giả định, là các bạn cùng lớp. Thầy Bùi Phượng Chì ngồi ở cuối lớp để theo dõi và đánh giá. Tội nghiệp vài anh bạn quá béo, lên giảng bài lại run, giảng bài mà mồ hôi đầm đìa, tay cầm khăn lau bảng lại tưởng là cái khăn “mùi – xoa” đưa lên lau trán. Mỗi người dạy xong được thầy Chì góp ý rất chi li, từng chi tiết một. Nhưng dù sao, dạy tại lớp không có không khí, nên đến học kỳ hai, được đi thực tập giảng dạy tại các trường trong thành phố, chúng tôi đều rất hăm hở. Sinh viên năm thứ ba thì chỉ được thực tập tại các lớp Đệ Nhất Cấp thôi, chưa được bén mảng tới các lớp Tú Tài. Một nhóm thực tập khoảng mười sinh viên, gồm vai chính là người được lên lớp, một người làm “phụ tá” lo bưng bê đồ thí nghiệm (nếu để vai chính là thầy dạy mà phải lếch thếch bưng bê lỉnh kỉnh thì mất uy tín của thầy!).

Lên năm thứ tư thì sinh viên bắt đầu được đi thực tập tại các lớp Đệ Nhị Cấp. Nói thế thôi, chứ các trường Trung Học thường chỉ xếp cho sinh viên thực tập tại lớp Đệ Tam, hiếm hoi lắm mới được dạy thực tập tại lớp Đệ Nhị, và lớp Đệ Nhất thì không bao giờ! Người ta không an tâm để mấy cậu sinh viên sư phạm non choẹt đụng tới các lớp thi cử của họ. Mỗi tuần một nhóm tới thực tập tại một trường: Trưng Vương, Chu Văn An, Pétrus Trương Vĩnh Ký, Gia Long,… Cậu nào số đẻ bọc điều được xếp dạy thực tập ở một trường nữ như Gia Long, Trưng Vương thì các cậu khác tuy không nói ra nhưng cứ ấm a, ấm ức.

Thời gian chúng tôi học tập ở trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn là một giai đọan đầy rối ren về chính trị, về những tranh chấp quyền lực, trong đó sinh viên có một giai đoạn nổi lên như một phong trào mạnh mẽ, mà có lẽ có nhiều thế lực đã lợi dụng. Một anh bạn trong lớp, trong năm thứ tư, ra ứng cử vào chức Chủ tịch ban Đại Diện sinh viên ĐHSP. Có một thằng bạn ra tranh cử tất nhiên lớp chúng tôi nhiệt liệt ủng hộ, vận động và anh bạn đắc cử. Tới đây, có thể đã có một sự thúc đẩy nào đó, anh bạn thừa thắng xông lên, ứng cử chức Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn và đắc cử tiếp. Ở vị trí này trong một cuộc tranh chấp chính trị, thì tất nhiên có nhiều phía, kể cả chính quyền, ve vuốt. Đó là lúc chúng tôi tốt nghiệp ra trường.

Khi vào đỗ được 35, thêm một chị từ khóa trước là 36. Tốt nghiệp khóa 1 chỉ được 13, khóa hai tốt nghiệp thêm được 3 ( hay 4 , lâu ngày không nhớ rõ), số còn lại phải ở lại học với khóa sau. Trong lễ tốt nghiệp, các sinh viên theo thứ tự hạng cao, thấp lên chọn nhiệm sở theo một danh sách đưa xuống từ Nha Trung Học, Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Có lẽ không có quãng thời gian nào mình cảm thấy cuộc sống tươi đẹp, nhẹ nhàng, khoáng đãng như những ngày vừa tốt nghiệp. Có cả một chân trời trước mắt.

Sau lễ tốt nghiệp, anh em trong lớp tổ chức họp mặt tại khuôn viên trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (trực thuộc ĐHSPSG). Bia, nước ngọt, thức ăn mua sẵn mang tới, vui đùa trước khi chia tay, mỗi người tới một nhiệm sở. Tổ chức cả lớp cùng dự nhưng nhiều bạn, chưa được tốt nghiệp, chẳng còn lòng dạ nào tham gia. Sau đó, một nhóm bạn thân chúng tôi, 6 người, có một sáng kiến để giải quyết vấn đề: Làm sao đi chơi biển mà ít tốn tiền? Bèn tới gặp anh bạn đang là Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn, bảo : Này cậu, làm dùm cho tụi tớ một cái giấy giới thiệu gửi cho ty Thanh Niên Vũng Tầu, đại ý nói: Tổng hội sinh viên Sài Gòn có dự kiến mở một trại hè cho sinh viên tại Vũng Tầu, nên cử một nhóm đi trước khảo sát, tìm địa điểm tổ chức. Đề nghị quý Ty giúp đỡ về chỗ ở cho nhóm công tác trong những ngày làm việc tại Vũng Tầu. Anh bạn tỏ ra dễ thương, cho đánh máy công văn, ký tên, đóng dấu.

Nhóm chúng tôi ra Vũng Tầu, tìm tới Ty Thanh Niên đưa giấy giới thiệu. Giai đoạn đó, chính quyền còn nể lực lượng sinh viên, cần ve vuốt, nên ông Trưởng Ty cấp ngay cho nhóm một phòng ở trong ty Thanh Niên. Chỗ ở trong cơ quan thì tất nhiên không được tiện nghi lắm, vì thời gian đó nước máy ở Vũng Tầu rất yếu, không đủ xài, nhưng “ đoàn công tác của Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn” cũng tỏ ra dễ tính, chẳng nề hà vì “phái đoàn” đi làm việc suốt. Sáng sớm đã rời Ty đi khảo sát ở Bãi Sau, tắm biển thỏa thích, rồi cùng đi dạo bãi biển, ngắm du khách. Dạo đó, có nhiều lính Mỹ ở Vũng Tầu nên các bar mọc lên như nấm với đội ngũ các cô gái bán bar đông đảo. Các cô không tắm nhưng cũng ngồi ở quán ngắm du khách. Khi nhóm sinh viên chúng tôi đi qua, một cô gọi trêu : Anh đang đi ấy ơi! Tôi có lẽ vào loại cũng hơi nhát nên làm mặt tỉnh coi như không nghe thấy, không nhìn, thản nhiên đi qua. Một cậu bạn muốn tỏ ra mình cũng bay bướm như ai, đáp lời: Cô em gọi tôi có việc chi? Cô gái đáp lại: Không, em gọi anh kia cơ. Anh khoác cái khăn tắm màu xanh ấy.

Tắm biển, đi dạo bãi biển ngắm du khách, đi bộ vòng qua núi lớn... về chợ Vũng Tầu ăn cơm khi bụng đã đói ngấu nghiến, chúng tôi ăn như rồng cuốn, bà chủ quán cuống quýt mang cơm ra không kịp. Buổi tối thì đi dạo bãi trước hay đi lang thang tham quan thành phố. Đêm cuối cùng, chúng tôi rủ nhau ra bãi biển, nằm trên bãi cát vừa nói chuyện, nhìn ngắm những ngọn đèn tầu viễn dương đậu ở xa xa ngoài khơi, vừa nghe sóng biển rì rào tới khuya mới về Ty. Sáng hôm sau, chấm dứt “đợt công tác”, chúng tôi chào cảm ơn ông Trưởng ty, trực chỉ Sài Gòn.

Chúng tôi viết mấy dòng này cũng muốn cảm ơn anh bạn Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn ngày ấy. Nhờ có sự dễ thương của anh mà mấy anh em chúng tôi có một chuyến đi chơi thú vị, đầy tình bạn. Trong nhóm sáu anh em đó chỉ có tôi đeo đuổi tới chót nghề dạy học như ý nguyện những ngày đầu khi tôi bước chân vào trường Đại Học Sư Phạm. Các bạn khác dạy học được một số năm ở quê nhà rồi lần lượt vượt biển sang Mỹ, bỏ nghề, phần lớn chuyển sang các ngành kỹ thuật. Ba trong nhóm sáu anh em ngày đó đã từ giã cuộc chơi (một anh mất ở VN). Đầu năm 1996, tôi có dịp sang Mỹ, được các bạn (trong nhóm 6 người nói trên) đưa tới thăm gia đình một trong hai anh bạn và tới một ngôi chùa để thăm nắm tro của anh bạn thứ hai. Đó chính là anh bạn nghệ sỹ đã lén gửi một bức thư tỏ tình với cô bạn học khoa Pháp văn mà tôi kể ở trên.

Anh bạn chủ tịch Tổng hội sinh viên ngày ấy, sau này vào bưng, được giao cho một chức vụ nào đấy. Trong cuộc đời của anh, có những thời điểm, anh có được vị trí này, vị trí khác, có vẻ quan trọng. Nhưng ngẫm lại, tôi thấy cả cuộc đời anh, cho tới lúc về hưu, chẳng qua cũng chỉ là một mớ bung xung của thời cuộc.

Tôi đã chọn nhiệm sở khi ra trường là trường Nữ Trung Học Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho, một thành phố xinh xắn, hiền hòa, chỉ cách Sài Gòn 72 cây số. Ngày xuống nhận nhiệm sở, tôi đi chung một chuyến xe với một người bạn thân. Anh bạn chọn nhiệm sở là trường Trung học Tân-An. Đây là một thành phố nhỏ, mộc mạc, không có cái duyên dáng như Mỹ Tho nhưng chỉ cách sài Gòn hơn 40 cây số. Trường Tân An không ở trong thị xã mà ở bên ngoài, trên quốc lộ, xung quanh là ruộng. Xe ngừng để thả anh bạn xuống trước cổng trường Tân An, rồi tiếp tục chuyển bánh về hướng Mỹ Tho.
Tôi đã ghi lại những tình cảm đầu tiên của mình khi ngày đầu xuống dạy học ở Mỹ Tho :

Năm hai hai tuổi ta ra trường
Trong lòng rộn rã sóng yêu đương
Giã từ nếp sống thư sinh cũ
Ta bước vào đời mộng vấn vương
Ta xuống Mỹ Tho một buổi sáng
Trời trong, gió mát, cây tươi xanh
Nắng đùa ríu rít trên ngàn lá
Học trò áo trắng đẹp như tranh
……………………………….

Đây là nơi tôi đã dạy học trong sáu năm, trước khi quay trở lại ngôi trường Đại Học Sư Phạm, nơi mà tôi đã được đào tạo để làm nhiệm vụ của một giảng sư.
Sáu năm ở Mỹ Tho là quãng đời tươi đẹp nhất của tôi và tôi đã để lại đó rất nhiều tình cảm khi tôi phải từ giã.


Nguyễn Trần Trác
(Cựu SV & GS ĐHSPSG)