Các Thầy tôi

 

Võ Hiếu Nghĩa

* Những người có thuật nói chuyện rất hay

Thuở học năm đầu tiên của Trường Đại học Sư Phạm Saigon (1961), mình được nghe thuyết giảng về công dân và nghệ thuật giảng dạy trong khoa sư phạm của giáo sư Trương Công Cừu, ông nói thao thao bất tuyệt, câu nói đi sâu vào tâm hồn người và rất lôi cuốn. Mình đã học nhiều về cách ăn nói của ông. Ông đang là giáo sư Đại học ở Pháp, được Tổng thống Ngô Đình Diệm mời về làm Bộ trưởng đặc nhiệm liên bộ Văn hóa Xã hội và Giáo dục (mình không nhớ rõ, xin bạn nào nhớ rõ bổ sung cho).
Ông cùng giáo sư Nguyễn Hữu Chỉnh được mời về Việt Nam, và ông sau được bổ nhiệm làm tổng trưởng Bộ Giáo dục. Thầy Chỉnh cũng thuyết giảng rất hay, mình hiện vẫn còn nhớ về các bài giảng dạy về thơ Ronsard (Mignonne, allons voir si la rose, qui ce matin avait déclose...).

Phải công nhận, nền giáo dục Việt Nam được coi trọng nhất là thời ông Ngô Đình Diệm, ông mời rất nhiều nhân tài về nước và bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng thật sự, ngoài ra sinh viên trường Đại học Sư Phạm Saigon được ưu đãi nhất, học bỗng cao nhất (1500 đồng/tháng = khoảng 1/2 lượng vàng), ra trường với lương có chỉ số cao nhất 470 (vào lúc đó, 1965, lương khoảng 7.500 đồng= khoảng 2 lượng vàng), so với nhóm Quốc gia Hành chánh hay Đại học Bách khoa chỉ được chỉ số 430.

 

* Ông thầy được học trò yêu mến nhất

Mình đã học qua nhiều thầy rất đáng kính, nhưng mà kính và thương nhất là giáo sư NGUYỄN VĂN LINH, tiến sĩ Văn chương Pháp (phân biệt với ông giáo sư Anh văn mà mình không quen biết, như người ta vẫn thường lầm lẫn). Ông dạy văn chương Pháp rất lôi cuốn tại Đại học Văn khoa Saigon mà cho tới nay mình vẫn thuộc lòng như cháo các bài thơ của Racine, Corneille, Lamartine, Baudelaire (ông đã gọi mình là cậu tư Rabelais trong lớp học, và đặt tên cho con gái mình là Aurore sau này đã du học ở Úc và đã đậu bằng thạc sĩ MBA về Quản trị Kinh Doanh). Mình thường gặp ông tại quán suông Thanh Thế, Ông thường ra ngồi đây uống la-ve với nghệ sĩ hài Thanh Hoài.
Ông dạy rất hấp dẫn, học trò rất ngưỡng mộ và mê ông luôn (ông đã từng dạy cho Ngô Đình Lệ Thủy), chẳng những vì ông phong độ, lại rất đẹp trai, học bên Pháp về, đi dạy lái xe MG, có bà vợ rất đẹp là Cô Chi, lại còn là chủ nhiều vườn nho bên Pháp.
Ông lại có tật là hay hút thuốc và hút thuốc liên miên, hòa đồng và thương học trò, nhưng học trò vẫn luôn tôn trọng ông. Dù có lần, ông bảo đi học thêm buồi tối để kịp với ngày thi cử sắp tới. Vào lớp có anh học trò, gãi đầu gãi tai mãi, nói là buồn ngủ quá, phải có cái gì cay cay mới thức tỉnh nổi, ông liền cho gọi 2 két bia để học trò tỉnh ngủ. Thật là độc đáo. Không biết bây giờ ông ra sao, chắc là lên Thiên đàng rồi chăng. Bạn học của tôi, anh võ sư Nguyễn Bình, hiện đang đã mở nhiều võ đường Oh-do-kan bên Mỹ, Pháp... đã tặng ông bộ võ phục Judo.

 

* Ông Bác sĩ thật giỏi

Mình lúc 16 tuổi có theo bạn bè học võ Judo tại võ đường Watanabé ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, cùng với các bạn Bằng (sau là bác sĩ thẩm mỹ ở đường Bolsa, Mỹ), Hoài (sau là trung tá hải quân, ở California), Cường, Cang, Bình..., nhớ lại hồi đó võ sĩ người Hòa Lan Geesink nhờ ngón Uchi Mata đã hạ được võ sĩ người Nhật mà trở thành vô địch thế giới. Cang rất giỏi đòn này đã truyền lại cho Bằng và nhóm (sau Cang vào khu, tới 75 anh về và bảo rằng “cây kim sợi chỉ của dân cũng không lấy”, nhờ vậy mà mình biến có thành không, ôi). Đang học ngon lành, mình bổng yếu đi, khám bệnh tại bệnh viện của Bác sĩ Trần Văn Louis (Trần Lữ Y) ở góc đường Lê Văn Duyệt và Sương Nguyệt Ánh (bây giờ đã khác đi), bị cho là nhuốm bệnh suyển. Ông điều trị cho gần một tháng ròng và hết hẵn cho tới bây giờ.

Nói về bác sĩ Louis, ông là con của bác phán Chánh, giáo sư tại Trường Marie Curie, là bạn thân của cha mình. Mỗi chúa nhật hai ông cùng một nhóm bạn bè, thuộc hội Vincent De Paul (Vinh-Xăng-tê đệ Phaolồ), thường đứng trước cửa nhà thờ Tân định, cầm cái lon “Donnez aux pauvres” để xin tiền cho người nghèo, rồi sau đó đem giúp đở cho người nghèo của cả xứ Tân định, không phân biệt Lương Giáo.
Do vậy hai ông rất thân nhau, có lúc cha mình biểu mình lại học thêm “francais” ở nhà bác Chánh. Nhớ lại cũng vui như thế này, lúc đó ở Classe de troisième, mình còn bé, chưa quen với một nữ nào, nên khi vào lớp toàn là nữ sinh Marie Curie, họ đã quen nhau sẵn, vào lớp là tíu ta tíu tít, toàn tiếng Pha-lang-sa, nghe khiếp luôn. Thế mà tới lúc viết dictée (ám tả), mình lại được điểm cao nhất, mấy ả lại toàn 7 -10 lỗi. Nhờ vậy mà mình bớt khiếp. Nhưng học vài ngày rồi mình cũng phải rút lui thôi. Vì gươm lạc giữa rừng hoa, chịu không nổi.

Trở lại bác sĩ Louis, ông đã dạy tại Đại học Y khoa Saigon, về sau trở thành Tổng trưởng bộ Y tế thời ông Nguyễn Cao Kỳ, và hiện giờ ở Pháp. Bác phán Chánh kể lại, bác sĩ Louis có đêm ông đã học thuộc gần hết một quyển sách y khoa. Trí nhớ thật là tuyệt vời.

 

* Những Ông thầy được học trò yêu mến

Giáo sư Lê Văn Thới - Khoa học gia Việt Nam

Giáo sư Lê Văn Thới sinh ngày 03/09/1917 tại Thạnh Phước, Gò Dầu,tỉnh Tây Ninh và mất ngày 31/07/1983 tại Sài Gòn Ông học trường Trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký và được học bổng đi Pháp du học.
Năm 1942 đậu Cử nhân Giáo Khoa Lý Hóa
Năm 1943 đậu hạng nhất Kỹ sư Hóa học và Cao học Hóa Ứng dụng và Sinh hóa.
Năm 1947 đậu Tiến sĩ Quốc gia hạng Tối Danh dự với lởi khen của ban giám khảo.

Giải thưởng

Năm 1944 ông được hai giải thưởng:
- Prix Prévost
- Prix de la Maison de l'Indochine
Chức vụ
Năm 1947-1956: Trưởng ban khảo cứu cây thông của Viện Ðại học Bordeaux, Pháp
Năm 1956-1958: Trưởng phòng Khảo cứu Sinh học, Sở khai thác Thuốc lá và Diêm quẹt, Paris, Pháp.1958-1975: Khoa trưởng Khoa học Đại học đường Saigon, Trưởng ban Hóa học, Viện trưởng Viện Đại học Saigon, Tổng Cục Trưởng Nguyên tử lực Cuộc, Chủ tịch Uy ban Khảo cứu Khoa học, Giám đốc Tủ sách Khoa học, Chủ tịch Uy ban soạn thảo Danh từ Chuyên môn.

Giáo sư Lê Văn Thới đã đào tạo những Tiến sĩ:

- Tại Pháp:

A. Belloc, 1954 J. Ourgaud, 1955
J. Berard, 1954 H. François 1957

- Tại Việt Nam:

Nguyễn Văn Hoàng, 1963 Nguyễn Xuân Nguyên, 1970
Nguyễn Ngọc Sương, 1965 Trần Kim Quy, 1972, 1974
Hà Ngọc Bích, 1967 Lưu Trọng Hà, 1974
Nguyễn Thanh Khuyến, 1969 Lê Ngọc Thạch, 1987

Công trình:
Sách:
- Giáo trình Hóa học Hữu cơ Cơ cấu
- Danh pháp Hóa học Hữu cơ
- Les Diterpenes Tricycliques (chưa in)
- Hóa học Lập thể Hữu cơ, quyễn 1&2 (quyễn 2 chưa in)
- Nguyên tắc soạn thảo danh từ chuyên khoa – Tiến sĩ Lê Ngọc Thạch

** Lê Văn Thới là Nhà khoa học, giáo sư, sinh ngày 3-9-1917 tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Con nhà thanh bần, siêng năng, chất phác. Sau khi đỗ tú tài toàn phần, ông được học bổng du học ở Pháp. Năm 1942 đỗ cử nhân giáo khoa Lý Hóa, rồi đỗ đầu kĩ sư Hóa học (1943). Đến năm 1947 đỗ Tiến sĩ quốc gia, hạng tối danh dự với lời ban khen của hội đồng giám khảo.
Từ 1947 đến 1956 ông phụ trách khảo cứu nhiều đề tài Hóa học hữu cơ cơ cấu, làm Trưởng ban khảo cứu cây thông của viện Đại học Bordeaux Pháp.
Từ 1956-58 ông làm Trưởng phòng khảo cứu sinh học tại Sở khai thác thuốc lá và diêm quẹt ở Paris và khảo cứu các chất gây ung thư các khói thuốc lá.
Về nước từ năm 1958, ông giữ nhiều chức vụ trong ngành đại học và trong khảo cứu khoa học. Ông luôn luôn theo dõi và nghiên cứu hóa học hiện đại, làm giáo sư và sau là Khoa trưởng trường Đại học Khoa học tự nhiên Sài Gòn nay là Trường Đại học Khoa học tự nhiên TP HCM.
Điều ông đặc biệt quan tâm là đặt nền móng tân tiến cho hệ thống thuật ngữ Việt Nam, tiếp tục công trình mà Hoàng Xuân Hãn đã khởi sự từ năm 1939. Từ năm 1970, ông cùng các đồng nghiệp gây dựng nên Ủy ban soạn thảo danh từ chuyên môn, đề ra nguyên tắc soạn thảo thuật ngữ chuyên môn. Dù bận việc đến đâu, ông cũng vẫn đến chủ trì buổi họp của Ủy ban Danh từ vào mỗi sáng thứ bảy tại Bộ Giáo Dục Sài Gòn.
Sau 1975, ông là chủ tịch Hội trí thức yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo sư Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1983 ông mất, thọ 66 tuổi. Giới khoa học, văn hóa và mọi người đều có cảm tình thân thiết và thương tiếc ông.
Tác phẩm
Danh từ hóa học (1965).
Hóa học hữu cơ (1965).
Hóa học vô cơ (1966).
Và một số chuyên đề hóa học là giáo trình cử nhân, cao học và Tiến sĩ Hóa học tại Đại học Khoa học Sài Gòn trước đây.

** GS Lê VănThới và Võ Hiếu Nghĩa
cacthaytoiMột kỷ niệm không thể nào quên được là khi tôi bị bắt về tội vượt biên trái phép, thì vợ tôi đã đến tìm Giáo sư Lê Văn Thới, lúc đó đang là chủ tịch Hội trí thức yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh và là chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và kỷ thuật thành phố, nhờ ông can thiệp và giúp đở. Ông bèn liên lạc ngay với ông Võ Văn Kiệt lúc đó là chủ tịch Ủy Ban Nhân dân Thành phố. Ở trại tù tôi liền được lệnh lập danh sách các tù vượt biên đã tốt nghiệp Đại học, tôi liền viết tên mình cùng với 6 anh em bác sĩ kỷ sư khác (chỉ còn nhớ đến bác sĩ Lê Đinh Bình), và chúng tôi được thả ra liền.
Điều đặc biệt là khi tôi tới nhà Thầy ở đường Nguyễn Trãi, quận 1 Tp HCM để cám ơn ông, ông tiếp người học trò cũ rất niềm nở và khuyên tôi nên theo học một khóa chính trị Mác-Lên. Ông đã thấy tôi nhếch miệng cười, và nói “thì bề ngoài em cứ làm thế...”.
Thương thầy lắm thầy ơi.
Xin đốt kính gởi Thầy một nén nhang.

 

Lý Chánh Trung

Tiểu sử:
Lý Chánh Trung sinh năm 1929 ở Trà Vinh, theo đạo Công Giáo vào khoảng năm 1949, năm 1950 sang Bỉ học tại Đại Học Louvain, một đại học Công Giáo, ở cách thủ đô Brussells khoảng 30 cây số. Lý Chánh Trung học rất thông minh, tuy nhiên vào năm 1956 khi mới lấy xong Cử Nhân Tâm Lý Học và Cử Nhân Chính Trị Học, chưa đậu Tiến Sĩ, ông về nước.

Tuy có trình độ kiến thức cao và vững vàng, tính tình hòa nhã, nhưng bước đường sự nghiệp của Lý Chánh Trung rất lận đận. Ông có người em là Lý Chánh Đức, làm Giám Đốc Nha Học Liệu tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đã xin cho ông vào làm Công Cán Ủy Viên của Bộ này. Về sau, ông được bổ làm Giám Đốc Nha Trung Học Công Lập, chánh văn phòng và Đổng lý văn phòng Bộ Giáo dục ở các trào Trần Hữu Thế và Nguyễn Văn Trường . Ngoài ra, Lý Chánh Trung cũng được mời dạy triết học tại các Viện Đại Học Huế và Đà Lạt.

Sau năm 1975, ông là Ủy viên Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Đại biểu quốc hội.

Vốn là một giáo sư triết, tôn thờ Mounier và Karl Jasper, Lý Chánh Trung luôn nhìn vấn đề chính trị Việt Nam dưới lăng kính của một triết gia. Điều này thể hiện rất rõ qua các tác phẩm và bài báo của ông.
Ông là một người Việt Nam chân chính, luôn dám nói lên những điều mình nghĩ là đúng, dù chúng gây phản cảm đối với những người cai trị, dù là Cộng hòa hay Cộng sản.

Tác phẩm:
- Cách Mạng và Đạo Đức (1966)
- Ba Năm Xáo Trộn (1967)
- Tìm Về Dân Tộc (1967)
- Tìm Hiểu Nước Mỹ (1969)
- Những Ngày Buồn Nôn (1972)
- Tôn Giáo và Dân Tộc (1973)

** GS Lý Chánh Trung và Võ Hiếu Nghĩa

cacthaytoiTrong năm học cuối ở trường Đại học Sư Phạm Saigon, tôi có tổ chức một Trung tâm dạy học miễn phí tại Trường Trung học Petrus Ký (bây giờ là Lê Hồng Phong), gọi tên là TRUNG TÂM GIÁO KHOA PÉTRUS KÝ (anh AnLe của chúng ta hiện ở NewYork đã từng dạy ở đây), trong mục đích để các sinh viên Đại học Sư phạm có chỗ thực tập, và thực sự thực tập. Để xin phép, theo tuần tự chúng tôi đã xin thầy Trần Văn Tấn, khoa trưởng Đại học Sư Phạm Saigon, thầy Nguyễn Văn Trường, Tổng trưởng Bộ Giáo Dục, thầy Lý Chánh Trung, Tổng Thư ký Bộ. Do vậy đến khi tôi ra trường, lúc chọn lựa nhiệm sở để chuyển đến, thì lại không có nhiệm sở Cần thơ, trong khi vị hôn thê của tôi hiện ở đó, và tôi cũng đã hứa mua lại một trường tư ở đó rồi. Tôi mới lại lên gặp Thầy Trung nhờ giúp đỡ, ông liền viết giấy tay cái rẹt, bảo tôi cầm xuống đưa cho thầy Đàm Xuân Thiều lúc đó là Giám đốc Nha Trung học. Thầy Thiều mới bối rối không biết làm sao đây, tôi mới nói với thầy điện xuống Cần thơ hỏi có thiếu giáo sư môn Lý Hóa không (tôi biết chắc là có một giáo sư Lý Hóa đã chuyển đi nên còn khuyết chỗ). Nếu thiếu thì thầy điền thêm vào nhiệm sở để chọn lựa là được, vì tôi đậu hạng nhì sẽ ưu tiên chọn trước. Thế là mọi chuyện đã được như ý. Cám ơn thầy Trung và thầy Thiều.

Sau giải phóng, tôi đã ở Saigon, vợ tôi hãy còn kẹt lại ở Trường Đoàn Thị Điểm Cân thơ. Tôi xin Sở Giáo dục Giải phóng, thì chị Sáu, phó giám đốc sở lúc bầy giờ, chỉ cho phép về Saigon với điều kiện là dạy ở ngoại ô mà thôi. Đành phải chấp nhận vậy. Sau đó tôi mới sang bước thứ hai, để xin về ngay trung tâm thành phố, mà mãi tới hơn 4 năm sau mới được. Đó là nhờ có bạn quen với trưởng phòng giáo dục ngoại ô đó, cộng thêm trong đơn xin thuyên chuyển có chữ ký của Đại biểu Quốc hội Lý Chánh Trung. Lại cám ơn thầy Trung.

VÕ HIẾU NGHĨA
2011