TÂM TÌNH NGƯỜI CON VIỆT

tamtinhcon viet

Lời Tựa

Nhận được bản thảo cuốn “Tâm Tình Người Con Việt” của Mai Thanh Truyết, chưa kịp đọc, tôi nghĩ ngay tới cuốn “Bức Thư Riêng... Mà Chung” của anh Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân, viết vào tháng 6/1994, mà khi xuất bản ở Mỹ Châu, vào đầu thu năm 1994, người giới thiệu có cho biết: “Khi quyết định thành lập PTTNDT&XDDC anh Phạm Thái có viết 4 câu thơ chữ Hán:
Nhập Tần thượng dị thính dân than,
Quá Dịch câu ca, bất phạ hàn.
Lã mạc lực tàn, nghi khí tốt,
Bất kham phủ phục khất bình an.

Tạm dịch:
Vào nước Tần mới dễ nghe tiếng ta thán,
Vượt qua sông Dịch rồi cất cao tiếng hát không thấy lạnh.
Tuổi già sức yếu sẵn sàng thí mạng,
Chỉ không khuất phục để cầu yên thân.”

Đây là bức thư riêng của tác giả, một thành viên lãnh đạo của Đảng Tân Đại Việt, Phong trào Quốc gia Cấp tiến, và PTTNDT & XDDC; một cựu Dân biểu Việt Nam Cộng Hòa, viết cho 2 người em ruột là K... và Q... đi kháng chiến và gia nhập Đảng Cộng sản, nay đã về hưu; tất cả cùng trong một gia đình thường được anh gọi là “kẹt vĩ tuyến”. Trong phần kết thúc bức thư dài như một cuốn sách mỏng anh đã viết: “Bức thư này chỉ là bổn phận một người học đòi Nho sĩ. Anh có chết trong cuộc đấu tranh này thì cũng bình thường. Đã đến tuổi “dọn nhà” sang thế giới bên kia đoàn tụ với Ba, Mẹ rồi. Anh có bổn phận nói cho anh, cho các em, cho đồng bào, cho những bạn bè Cộng sản của anh còn đang kẹt chưa nói lên được tiếng nói của họ. Chưa nói được nhưng họ cũng đã thấy như George Bernard Shaw là: ‘Cách mạng chỉ là đổi xiềng: từ chơn này qua chơn kia mà thôi!’”

Sau đó, tôi bước vào tác phẩm “Tâm Tình Người Con Việt” của Mai Thanh Truyết để thấy tâm tình của tác giả tuy không giống như Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân nhưng cách “tâm tình” của anh cũng là cách nói với những người “đi qua cuộc đời” anh với những mối tình cuồng nhiệt, tình thánh giáo, tình của thuở 17, và tình của sự nghĩ suy. Anh nói với Ba anh, Má anh,... các con anh, bè bạn anh... những người đã để lại trong anh những buồn vui không nguôi, nỗi buồn vui của người đã trải nghiệm cảnh “Cộng sản Việt Nam đổi xiềng”.
Mai Thanh Truyết không đề cập đến chuyện Cộng sản Việt Nam tuyên truyền là “Mỹ/Ngụy ác ôn”; không nói chúng làm “cách mạng” là để “cởi xiềng”; nhưng khi “cách mạng” thành công rồi, ngay từ ngày đầu, mọi người té ngửa, nhận ra rằng cái xiềng “Mỹ/Ngụy” bị chúng tuyên truyền chỉ là cái “xiềng ảo”. Mai Thanh Truyết cũng té ngửa trước khi bước vào trường Đại học Sư Phạm trình diện để thấy ngay những tráo trở của những kẻ “mang xiềng” mà không biết, những kẻ đang đeo băng đỏ hớn hở làm “con người mới Xã hội Chủ nghĩa”, bắt đầu những tráo trở của “thời đại đồ đểu”, bắt đầu “xiềng thật” trên đôi “chơn thật” của những con “người thật” của Miền Nam Việt Nam bị Cộng sản Bắc Việt xâm lăng trong cuộc chiến có danh xưng bị chúng đánh lừa thế giới là “chống Mỹ cứu nước”, mà sự thật đó là cuộc “xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt”; trước cả ngày anh bị Trần Thanh Đạm lạnh lùng tống ra khỏi nơi mà trước đó 2 năm anh được Giáo sư Trần Văn Tấn ân cần đưa anh vào.

“Tâm Tình Người Con Việt”, tuy không được nói ra, nhưng người đọc hầu như ai cũng biết đó là “tâm tình” của người có nhiều may mắn, khi tai nạn coi như gần kề là có người cảnh giác, cứu nguy; điển hình là khi anh bị “kẻ thù” theo dõi chờ “hành động” thì anh được cảnh giác để đề phòng, xin trích nguyên văn: “...Chị ĐTTV ghé tai tôi nói nhỏ: “Thầy nên cẩn thận, họ đang tìm cách bắt Thầy đó”. Tiếp theo, Chị CHO đi bên cạnh nhắc tôi coi chừng vì có vài anh nằm vùng trong nhóm. Cảm kích vì lời nhắn của hai Chị, tôi trấn an bằng cách cho hai Chị biết là tôi cũng đã phòng ngừa kỹ lưỡng tình trạng xấu nhứt xảy ra cho tôi rồi... tức là đi tù là cùng...” [trích từ bài LH2, trang 63].

Sau đó... anh không đi tù; cho đến khi Trần Thanh Đạm đuổi anh ra khỏi trường thì “Con Đường Đi Đến Ban Khoa Học & Kỹ Thuật Thành Phố” đã trải thảm chờ anh “ẩn thân”, bên cạnh một số không nhỏ trí thức thành phố “ẩn thân”, trong lúc tìm đường ra đi khỏi nước; không biết có phải họ ra đi để tìm đường cứu nước như tội phạm Hồ Chí Minh ngày trước được bọn đàn em tuyên truyền tán tụng hay không, nhưng cho tới nay một số không nhỏ trong số họ, sau hơn 3 thập niên lưu vong đã và đang tìm đường về cố hương “cứu nước”, như Mai Thanh Truyết đã hứa với sinh viên của anh trong đêm họp mặt ở căn nhà trên đường Nguyễn minh Chiếu, rằng:

“Thầy của các Anh các Chị vẫn còn một lòng sắt son với quê hương và luôn dồn tâm sức vào tiến trình mang lại tự do, nhân quyền cho 88 triệu bà con đang còn quằn quại dưới gông cùm của cường quyền. Đây là một lời hứa của Thầy và cũng là một Lời Nguyền của một người con Việt”. [trích từ bài LH2, trang 63-64] Đến khi cái “xiềng ảo” tưởng như từ chơn này chuyển qua chơn kia thì mọi người mới biết đó là cái “xiềng thật”, cái “xiềng Cộng sản” vô cùng tàn tệ, mà độ khắc nghiệt kéo dài suốt 36 năm rồi chẳng những chưa chấm dứt lại còn đưa Quốc gia vào “Đại Họa Mất Nước” vào tay Trung cộng, “Đại Họa Bắc Thuộc Lần Thứ 5”, mà Mai Thanh Truyết đang cùng toàn dân Việt, từ quốc nội đến hải ngoại, đang tìm đủ mọi cách để đập tan.

Là một sinh viên tốt nghiệp Tiến sĩ Hóa học ở Pháp trở về Việt Nam năm 1973, trong giai đoạn một số kẻ chỉ biết chọn
“nơi nào họ sống sung sướng làm quê hương”, để bắt đầu phục vụ đất nước với tất cả hăng say của tuổi trẻ dấn thân, trong cung cách của hình ảnh “ngựa non háu đá”, nơi trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, mà anh phục vụ trong vai trò Trưởng ban Hóa học, và nơi Viện Đại học Cao Đài Tây Ninh, nơi anh được bổ nhiệm làm Giám đốc Học vụ.

Là một trí thức miễn cưỡng của Xã hội Chủ nghĩa, trong gọng kềm của công an Bảo vệ Chánh trị, anh không thể không bực mình chứng kiến cảnh lếu láo của Xuân Diệu, nhà thơ lãng mạn lừng danh thời tiền chiến, đang là Thứ trưởng Văn hóa Bắc Việt, nói chuyện tại giảng đường của Đaị học Khoa học có sức chứa gần 500 người: “Ông Xuân Diệu, với cái áo sơ mi bỏ ngoài, mang đôi dép lẹp xẹp, vai mang cái bị da cán bộ... chễm chệ ngồi trên cao... tự do phát ngôn. Bên cạnh đó hai chai bia Con Cọp BGI 750cc và một ly lớn. Vừa uống, vừa nói, tay chân “huênh hoang” với luận điệu của kẻ chiến thắng, thỉnh thoảng lấy tay chùi bọt bia hai bên mép. Ông ta chê chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là giới trí thức miền Nam, giới giáo sư đại học... và ví tất cả như những cây cổ thụ sum suê cành lá... nhưng không có rễ”. [trích từ Bài Học Đầu Tiên, trang...]
Rồi anh bất mãn nhận định: “Trí thức “cách mạng” miền Bắc có khác gì những cây chùm gởi len lỏi quấn chung quanh cây đại thụ Mác Lenin đã chết khô...! Cây cổ thụ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện tại là một cây chết khô, không hoa, không lá, không rễ, và thân cây đã mục nát, thậm chí mối và mọt cũng không còn gì có thể gậm nhấm được... Có thể nói trong lịch sử giáo dục Việt Nam, chưa có thời đại nào đưa đến sự đảo lộn luân thường đạo lý như giai đoạn hiện tại của Đất và Nước như ngày nay". [trích từ Bài Học Đầu Tiên, trang...]

“Con Đường Đi Đến Ban Khoa Học & Kỹ Thuật Thành Phố” đang trải thảm chờ anh “ẩn thân” không cho anh ẩn thân lâu hơn sức chịu đựng của anh, cùng một số lớn trí thức như anh, nên anh đã nhờ sự giúp đỡ của gia đình vượt biển thành công, làm người tỵ nạn tại Hoa Kỳ, bắt đầu cuộc sống mới, mà cũng là cuộc đấu tranh mới với những buồn vui mới.

Trong giai đoạn mới của cuộc đời này, Mai Thanh Truyết cũng là người may mắn gặt hái được những thành công đều đặn trong nghề nghiệp, mà chiếc áo blouse màu trắng anh đã mặc từ năm 1963, khi anh bắt đầu mặc lúc còn là một cậu sinh viên năm thứ nhứt trường Y khoa Sài Gòn, cho đến khi du học ở Pháp... làm assistant laboratoire, rồi assistant délégué ở Institut de Chimie, Besancon...; đến khi về lại Việt Nam nó lại “phất phơ” nơi Ban hóa học trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn và Đại học Cao Đài Tây Ninh... Rồi ngày “cách mạng oan nghiệt” chuyển “xiềng ảo” sang “xiềng thật Xã hội Chủ nghĩa”, nó cũng tiếp tục bất đắc dĩ phủ lên thân anh, giúp anh
ẩn thân bằng cách “sống chung với lũ” cho đến năm 1983 anh vượt biển thành công. Đến Hoa Kỳ nó vẫn gắn bó với anh. Anh lại nâng niu nó ở Medical School ở Minnesota sau ba năm làm post doctorate qua đề tài nghiên cứu về các màng của tế bào máu hồng huyết cầu. Rồi anh lại rời Minnesota, mang nó vào một nơi không mấy “vệ sinh” sống chung trong các bãi rác kỹ nghệ và rác sinh hoạt gia đình... từ năm 1987cho đến cuối tháng 7/2011, ngày anh “ly dị” nó bằng quyết định về hưu.

Tôi không rõ trong thời gian lưu học ở Pháp, anh có làm được những gì để trả ơn đất nước đã giáo dục anh thành một Tiến sĩ Hóa học hay không, như khi về nước trong giai đoạn ngắn ngủi của 2 năm phục vụ tại trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn và Viện Đại học Cao Đài Tây Ninh anh đã trả ơn quê hương đã cưu mang anh, đã trả ơn gia đình đã nuôi dưỡng cho anh nên người, anh cũng đã miễn cưỡng trả ơn chế độ đã “lợi dụng” chất xám của anh cho “thời đại đồ đểu Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, trong giai đoạn “cào bằng” Miền Nam phồn
vinh cho ngang hàng [hay thấp hơn] với Xã hội Chủ nghĩa Miền Bắc đói nghèo đầy gian dối mánh mung. Đến khi làm người tỵ nạn trên đất tạm dung Hoa Kỳ anh đã trả ơn quê hương mới với tất cả lòng nhiệt thành và khả năng chuyên môn hiếm có của anh.

Tôi không dám so sánh, nhưng tôi không thể không nghĩ trường hợp của anh với trường hợp của nhiều người đã trả ơn hữu hiệu quê hương mới đã cưu mang họ, như trường hợp Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, người phụ nữ tuyệt vời mà 2 tác phẩm Thư Cho Con tập 5 và 6 của Giáo Già đã được cô giới thiệu vào mùa hè năm 2006, khi cô cùng phu quân là anh Đặng Hữu Thọ về Sacramento. Tôi muốn nhắc lại bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007. George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam, một phụ nữ Việt, mẹ đẻ ra loại bom mới tên là Thermobaric, dùng cho mặt trận Afghanistan, có khả năng công phá và hủy diệt hơn hẳn mọi loại bom khác... Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.

George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tỵ nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát. Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ. George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: “Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa”.

Lời Tựa của một cuốn sách không cho phép tôi viết nhiều, xin đọc giả cầm cuốn sách lên và đọc từng trang để cảm thông “Tâm Tình Người Con Việt” của Mai Thanh Truyết; và để thấy Mai Thanh Truyết, tuy có thể nhỏ nhoi, nhưng phần nào cũng nối bước Dương Nguyệt Ánh... “... hoàn trả đầy đủ món nợ nước Mỹ cưu mang anh, không thiếu một chút nào. Anh đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa... Trong lúc nhìn về quê hương bên kia nửa vòng trái đất Mai Thanh Truyết cũng đã hoàn trả món nợ đất nước đã cưu mang anh... Anh sẽ tiếp tục hoàn trả món nợ đập tan Đại Họa Mất Nước, đập tan độc đảng độc tài, xây dựng một Quốc gia Việt Nam Tự do, Dân chủ Hiến định và Pháp trị trong thời gian anh chưa ‘dọn nhà’ về với song thân bên kia thế giới”.

Trần Minh Xuân
Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam

_____________________________

 

Lời mở đầu

Cuốn sách nầy được chuẩn bị ra đời từ khi tác giả “giã từ vũ khí”, nghĩa là sau 43 năm làm việc ở Pháp, Việt Nam, và Hoa Kỳ. Trong suốt khoảng thời gian nầy, có những bước thăng trần theo vận nước, nhưng người viết, hoặc nhờ sự may mắn, hoặc nhờ ân phước của ông bà tổ tiên vẫn được tai qua nạn khỏi, vượt qua quá nhiều khó khăn thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng nữa.

Hôm nay, xin giới thiệu cùng bạn đọc xa gần quyển sách “Tâm Tình Người Con Việt”. Có thể Quý bạn đọc xem đây là một “tự truyện” của người viết mang cái tôi làm nhân vật chính để nói lên hoàn cảnh của Đất và Nước trong môt giai đoạn khắc nghiệt của lịch sử, “thời kỳ quá độ” tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng cộng sản Bắc Việt.

Trong quá khứ Quý bạn đọc đã từng đọc “Câu Chuyện Da Cam/Dioxin Việt Nam” (2008), “Từ Bauxite đến Uranium, Tiến trình Hán hóa của Trung Cộng” (2009) viết chung với Ông Giáo Già Trần Minh Xuân và TS Phan Văn Song, “Lá thư cho Con 14, 15, 16, 17” (2009 đến 2011) viết chung với Ông Giáo Già, “Tuyển tập Việt Nam ngày nay” (2010) viết chung với một số nhà tranh đấu dân chủ ở Việt Nam và Chu Tất Tiến, và “Những Vấn đề Môi trường Việt Nam” (2010).

Quyển sách “Tâm tình người con Việt” sẽ không nói về những hiểm họa môi trường, nguy cơ nhiễm độc thực phẩm, những mô hình phát triển trên thế giới, những vấn nạn của toàn cầu... Nơi đây, người viết thực sự muốn tâm tình cùng bạn đọc xa gần, chia xẻ những suy tư giản dị của một người con xứ Hậu Nghĩa và Tây Ninh. Các trang trải trong quyển sách nầy là những điều tác giả ĐÃ mắt thấy, tai nghe, và ghi lại qua ký ức cùng suy tư chủ quan của mình.

Nhắc về những chuyện cũ đã xảy ra, tác giả không có ý định khơi động lại quá khứ, mà chỉ muốn chứng minh một điều duy nhứt là tính “nhất quán” của người cộng sản Bắc Việt. Họ đã áp dụng nhuần nhuyễn và “cứng ngắt” chủ thuyết giáo điều xã hội chủ nghĩa, vì vậy cho nên, hầu hết những  sai trái trong trong việc quản lý đất nước từ năm 1945 ở miền Bắc cũng như sau 1975 ở miền Nam đều được tái diễn lại nhiều lần mặc dù thế giới đã và đang cố gắng giúp Việt Nam qua cơn đói nghèo để quản lý và phát triển đất nước trong 26 năm qua.

Tuy không dám so sánh với quyển “Tuấn, Chàng Trai  Nước Việt” trên tạp chí Phổ Thông của Nguyễn Vỹ ngày xưa, nhưng hy vọng quyển sách nầy cũng ghi lại một số sự kiện sống cùng những tranh đấu của tác giả trước và trong cơn đại hồng thủy ở một giai đoạn nghiệt ngã nhứt của lịch sử dân tộc Việt thời hiện đại.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Mai Thanh Truyết
Người con Việt

___________________________

Ra mắt sách "Tâm Tình Người Con Việt" của TS. Mai Thanh Truyết

Vào chiều ngày Thứ Bảy 23 tháng 06-2012  tại Hội Trường Văn Lang thuộc thành phố Westminster, một buổi ra mắt sách "Tâm Tình  Người Con Việt" (TTNCV) của TS. Mai Thanh Truyết diễn ra đông đảo đồng hương, gồm nhiều quan khách đến chúc mừng, góp vui cùng TS Mai Thanh Truyết, người ta nhận thấy có sự hiện diện của quý vị thân hào nhân sĩ ...

tamtinhcon viet

Hai diễn giả chính của chương trình là Dược sĩ Vũ Văn Tùng và Bác sĩ Trần Văn Tích. BS Tích đến từ thủ đô Bonn, Đức quốc. Ông cho   biết: "Tôi xem Tâm tình người con Việt của Mai Thanh Truyết là một hồi ký kiêm bút ký chính luận..."

Diễn giả Trần Văn Tích cho biết thêm: "Thành quả trí tuệ của Mai Thanh Truyết là một bút ký chính luận chống cộng. Dẫu thế, nó    luôn luôn trung thành với chức năng của thể ký. Nó lấy điểm tựa chắc chắn ở  sự thật khách quan ngoài đời sống và nó tôn trọng tính xác thực của đối tượng được miêu tả. Mai Thanh Truyết qua quá trình tiếp xúc với cuộc sống đã quan tâm đến nhiều mặt của hiện thực trong tính tự nhiên của đối tượng... Những tình tiết đa dạng, phức tạp do Tâm tình người con Việt cưu mang tạo nên niềm tin cậy và hầu như trở thành định lệ giao ước giữa người viết và người đọc, giữa nguời ghi ký và người điểm sách. Mai Thanh Truyết không bịa đặt, thêm thắt vì tác giả biết rất rõ rằng làm như thế sẽ tác hại đến tấm lòng tin cậy và cảm xúc thẩm mỹ của giới thưởng ngoạn. Anh bình thản ghi lại cái lầm của mình, một cái lầm sát thân và sát nhân: “Cho dù cộng sản Bắc Việt có chiếm miền Nam đi nữa, mình cũng (có, TVT thêm) thể đối thoại được với họ, vì cùng chung chủng tộc và cùng một ngôn ngữ“. Anh buồn rầu nhắc đến thái độ bất công, quyết định khắc nghiệt anh từng có đối với con chó Zeus."
Đề cập về phụ mẫu của TS Truyết: "Một phần câu nói của thân mẫu tác giả “Má muốn sống để thấy tụi nó chết “ góp phần quí hoá biết bao để cho nội dung trần thuật    thêm sinh động, thêm chân thực mà vẫn bảo vệ được triệt để tính xác thực của câu chuyện kể. Câu nói đó của Cụ Bà – hoặc chi tiết thân sinh tác giả “trong suốt những ngày con xa xứ cho đến khi nhắm mắt, cặm cụi viết thư cho con mỗi buổi sáng thứ năm để ngày thứ bảy mang ra bưu điện gửi qua Pháp cho kịp chuyến bay Air France và để cho con nhận được thư ngày thứ hai“ – là những chi tiết vô giá đề cao dòng cảm xúc sâu đậm đối vớî người thân của tác giả cũng như chứng minh sự tưởng nhớ tha thiết đến song thân khuất bóng. Tôi thử tính nhẩm rất đại khái và thấy rằng Cụ Ông đã viết cho anh Truyết ít nhất cũng cả trăm lá thư.Tính nhẩm để rồi tự dưng thấy cay cay đôi mắt khi nghĩ đến những người cha."

Phần cuối BS. Tích kết luận: " Tính chính xác tối đa, mà tôi đã nhiều lần nhấn mạnh, bàng bạc khắp trong Tâm tình người con Việt.    Đặc tính này, trong thực tế, là sức nam châm thu hút sự chú ý của người đọc, là nét quyến rũ hấp dẫn giới thưởng ngoạn. Hồi ký Mai Thanh Truyết có lối viết chân thực, tình cảm, đôn hậu, ôn hoà. Ở nhiều đoạn, ngòi bút ký giả tỏ ra tinh tường trong quan sát và sắc sảo trong nhận thức. Nhưng, nhìn chung, nó không giàu cảm xúc thơ, nó thiếu nét tài hoa văn vẻ.
Đọc ký là cốt nhìn thấy thực tại cho đúng cho rõ, thì chắc chắn phải lấy làm thích thú thứ ký của những người cởi mở, chân thành dù  tính phổi bò và đôi khi có hơi ồn ào một chút.“ (Võ Phiến.- Hai mươi năm Văn học Miền Nam 1954-1975. Tổng quan. Nhà Xuất bản Văn nghệ. Westminster, CA 92683. 1988. trang 318). Vậy thì đọc Mai Thanh Truyết đâu phải để tìm thi hứng, thi tài.   
Tuy thế, Tâm tình người con Việt đáp ứng được linh hoạt nhu cầu tuyên truyền cho chính sách chống độc tài đảng trị, đấu tranh cho một nước Việt Nam khác hẳn nước Việt Nam hiện nay."    
..........................

Đọc sách TTNCV vào sâu bên trong có phần thắc mắc cho độc giả. Có một chuyện mà người viết bài khi xem qua trang 108 trong sách, chương có đề cập về các hoạt động của tác giả sau khi rời khỏi mái trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn. Đó là đoạn tác giả cho biết ông đã từng "hợp    tác" với "cộng sản" qua những trang giấy của chương "Con đường đi đến Ủy ban Khoa học Thành Phố".

Trong chương này tác giả nói đã làm việc với tổ chức tiền thân của Ủy ban Khoa học Thành phố ngày hôm nay (2012) tức là ngay từ cuối năm 1976... qua nhiều cơ sở, phòng bào chế, phòng thí nghiệm và sản xuất....Tác giả đã từng đi đến tận Tùng Nghĩa để chưng cất nước dầu thông để xức "ghẻ bộ đội" cho bịnh viện Thanh Quan cũng như việc làm khôi phục nhà máy bột ngọt Thái Sơn ở Bình Đông cùng với BS. Ái, Giám đốc Viện Pasteur và TS. Phạm Văn Hai, chuyên viên hóa chất, hai người sau này được Võ Văn Kiệt hứa hẹn và giữ lời là sẽ cho đi Pháp sau khi khôi phục được nhà máy...
Tác giả cũng tâm sự là dù biết rất rõ là người CS đã vơ vét rất nhiều tài nguyên, sản vật của miền Nam đem về Bắc ngay từ những ngày đầu chiếm đoạt miền Nam từ những chiếc xe đắt tiền như Mercedes, máy điện toán IBM khổng lồ ở Bộ TTM,... cho đến những máy phát điện dùng cho Ấp chiến lược thời Đệ Nhất Cộng hòa. Theo tác giả, dù biết nhưng vẫn cố gắng là làm ra những sản phẩm của cải vật chất tiêu dùng cho đời sống như từ chiếc kem    đánh răng, xà bông bentonite, hay bột ngọt,... cho dù cộng sản có đem về    Bắc, nhưng họ cũng phải để lại một phần ít nào đó cho miền Nam, trong đó ít ra bà con cũng được hưởng phần nào... Đó cũng lại là một lối suy nghĩ thành thật, rất chủ quan kiểu "tiểu tư sản" của tác giả trong giai đoạn này.
Điều như vậy cho thấy tác giả có lẽ là người miền Nam, mang bản tính bộc trực và "lý tưởng", không nhận thức rõ ràng về sự điêu ngoa, lọc lừa và gian manh của người cộng sản nói chung vốn tham ô, khác với cái chủ nghĩa mà họ rêu rao. Khi chiếm lĩnh được Việt Nam Cộng Hòa giàu có của cải là chỉ để... vơ vét cho sạch để mang về Bắc mà thôi!

Trong phần đặt câu hỏi hay phần hội luận, rất nhiều cử tọa nêu câu hỏi rất hào hứng, thấy TS. Truyết mặc đồng phục thuở học trò trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, GS Nguyễn Thanh Liêm (là một trong những hiệu trưởng trường này), ông yêu cầu TS. Truyết nhắc lại 2 câu đối được tạc trước cổng trường xưa là điều gì, hậu ý của nền giáo dục của chính thể VNCH à những nguyên tắc nào". May quá TS. Truyết vẫn còn nhớ, dù ông rời trường đã hơn 50 năm rồi. TS. Truyết cho biết là: "Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt, Tây Âu khoa học yếu minh tâm", ông giải thích: "Ðạo lý cương thường của Khổng Mạnh nên khắc vào xương; Kiến thức khoa học của Tây Âu cần phải ghi vào lòng. Nguyên tắc hay triết lý của VNCH dựa vào 3 điểm khi đào tạo một con người là: "Nhân Bản, Dân Tộc, và Khai Phóng", là điểm chính quan trọng vì nó nói lên triết lý cơ bản của nền giáo dục VNCH". GS Liêm vui cười đồng ý. Thật vậy, là học sinh Petrus Ký nên biết chi tiết kỷ niệm này và ý nghĩa giáo dục của VNCH.

Nhà văn Nguyễn Hữu Của thắc mắc tại sao bìa sách lại là hình TS Truyết xoay lưng vào một bức tường nên độc giả chỉ thấy lưng ông mà  thôi. TS Truyết giải thích ảnh như vậy tượng trưng cho đồng bào trong xứ bị giam hãm trong nhà tù lớn, vì bức tường phía trước là mảnh tường Berlin,  được đại học Chapman mang về đặt trong khuôn viên trường làm kỷ niệm, điểm đặc biệt trên ấy có ghi dòng chữ "The house divided against itself cannot stand", một câu nói để đời của Tổng thống Abraham Lincoln. Tổng Thống Lincoln nêu lên quan niệm tinh thần đoàn kết, hòa giải giữa các thành  phần trong quốc gia là cần thiết...

Nguyễn Thanh Huy