Tại sao nên xem “Bên Thắng Cuộc”?

Nguyễn Quang Duy

Hồi Tưởng 30 Tháng 4 năm 1975
Tối 29, tôi nằm cạnh khẩu carbine lắng nghe tiếng súng từ xa vọng lại. Cha tôi một đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ được giao khẩu súng này và cho tôi sử dụng. Tôi thầm nghĩ nếu Việt cộng tấn công Sài Gòn tôi sẽ nổ đến viên đạn cuối cùng.
Sáng 30, tiếng của Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố bàn giao chính quyền. Trong nhà, mẹ tôi cẩn thận cuốn nhỏ lá cờ vàng dấu kỹ dưới đáy rương quần áo. Ngòai ngõ mặc cho lời kêu gọi buông súng một đội quân hỗn hợp, dẫn đầu là một sỹ quan Dù vẫn tiếp tục tuần tra bảo vệ cư dân.
Tối 30, mở truyền hình xem tin tức, người xướng ngôn viên với khuôn mặt, cử chỉ và giọng đọc đằng đằng sát khí phát đi thông báo của “chính quyền cách mạng”. Hôm sau khuôn mặt này biến mất, những khuôn mặt mới bắt đầu xuất hiện.
Sáng 1, tôi trà trộn vào những đòan người tiếp xúc với đòan quân Bắc Việt vào “Giải Phóng” miền Nam.
Mồng 2, tôi trở lại ngôi trường Petrus Trương Vĩnh Ký bạn bè kháo nhau Võ văn Kiệt lấy trường tôi làm Tổng Hành Dinh. Về nhà tôi nói với cha tôi, tôi sẽ tiếp tục chiến đấu. Cha tôi cho biết tôi đã lớn có quyền quyết định cho chính mình.
Từ đó tôi chưa bao giờ xem mình là người thua trận và cũng chỉ xem những người bên kia như những “kẻ chiếmđóng”. Muốn lấy lại quốc gia cần phải hiểu giặc. Tôi tự phát triển phương cáchđể đọc sách báo cộng sản. Có bài họ viết như thế nhưng mình phải nghĩ ngược lại. Họ viết như thế này để che dấu điều gì ? Họ viết như vầy nhưng để thông tin chuyện chi ? Tôi nhanh chóng trở một "bình luận gia" chính trị "nói có sách mách có chứng".
Tôi yêu Sài Gòn nơi tôi lớn khôn với hơn 7 năm sống chung với “lũ”. Tôi thấy lại hình ảnh Sài Gòn đầy ắp trong quyển sách “Bên Thắng Cuộc”. Tôi đếm được 494 lần Sài Gòn được nhắc đến trong khi chỉ 118 lần tên của một người đã chết được dùng. Lạ thật tại sao Huy Đức lại luôn nhắc đến Sài Gòn trong tác phẩm của mình ? Sài Gòn vẫn sống trong tôi, có phải cũng sống trong lòng Huy Đức ?
Ngay khi xem một vài chương giới thiệu quyển sách tôi đã góp ý Huy Đức như sau: "Quyển sách đã và sẽ tạo nhiều tranh luận, Huy Đức ráng thu thập mọi ý kiến từ mọi phía, để rút kinh nghiệm cho quyển II. Riêng mình nhận xét quyển sách sẽ có ảnh hưởng sâu rộng tại Việt Nam." Cái tựa đề ngạo nghễ “Bên Thắng Cuộc”, cái lý lịch sỹ quan quân đội cộng sản, việc trích những bài báo tuyên truyền cộng sản tự nó đã tạo nên những phê phán bình luận.
Đã có khá nhiều nhận xét về“Bên Thắng Cuộc”, riêng tôi rất quan tâm đến lịch sử cận đại. Tôi đã phổ biến nhiều bài viết về lịch sử, về các nhân vật lịch sử như Hòang Đế Bảo Đại, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đức Thầy Hùynh Phú Sổ và Hồ Chí Minh, vì thế tôi sẽ bình luận “Bên Thắng Cuộc” từ góc cạnh này.

Sai lầm “Bên Thắng Cuộc”
Đầu tiên Huy Đức đã để lại khá nhiều lỗi lầm dù nhỏ nhưng rất dễ nhận ra và rất dễ để kiểm chứng. Lấy thí dụ, khi viết về vượt biên trại Trengganu là ở Mã Lai không phải ở Thái Lan hay tên trại Sungai Besi Mã Lai không phải là Sungeipesi như trong sách đã viết. Địa danh mà sai như vậy tự nó đã giảm giá trị của quyển sách.
Thứ đến Huy Đức đã sống và trưởng thành trong tuyên truyền cộng sản nên không thể nhận ra những sai lầm trong mớ thông tin Huy Đức đã tổng hợp. Lấy thí dụ, Huy Đức trích dẫn như sau: ‘Tháng 7-1946, Hồ Chí Minh tới Fonteinebleau. Khi những người Việt Nam trong Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu những đảng viên người Khmer với phái đoàn Việt Nam và đề nghị họ “đi gặp Bác Hồ”, Thiounn, người về sau là một bộ trưởng của Pol Pot, nói: “Chúng tôi trả lời, ông ta không phải là bác của chúng tôi. Họlại bảo, chúng ta là anh em, các bạn nên thể hiện sự tôn trọng, nhưng chúng tôi cũng từ chối”.’
Vào tháng 7-1946, mặc dầu khi ấy Hồ chí Minh chỉ hơn HuyĐức và tôi vài tuổi, Hồ chí Minh đã tự tạo danh từ “Cụ Hồ” cho mình. Đến những năm đầu 1950, khi “Cụ Hồ” được triều kiến “Ông Mao”, “Ông Stalin”, đểtỏ lòng sùng bái hai ”Ông” kia, “Cụ Hồ” tự mình xuống chức “Bác Hồ”. Thậm chí câu chuyện “đi gặp Bác Hồ” ở trên có thể chỉ là câu chuyện bịa, rồi được đưa vào sách của Ben Kiernan, 1996, trang 10 rồi Huy Đức nói có sách mách có chứng trong “Bên Thắng Cuộc”.
Lời lên tiếng của Thiếu tá Tiểu Đoàn phó Tiểu Đoàn 7, Thủy Quân Lục Chiến, Lê Quang Liễn là một dẫn chứng về việc ngụy tạo thông tin:
Thật ra toàn bộ anh em Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đã bị bắt, nếu anh em chúng tôi ra hàng thì đã được hưởng qui chế đãi ngộ hàng binh như Phạm Văn Đính và một số đồng bọn thuộc Trung Đoàn 56. Vả lại, đơn vị chúng tôi lúc đó thuộc quyền của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương QuânĐoàn I. Ở đây, vị Tư lịnh TQLC không có trách nhiệm nào hết. Người chịu trách nhiệm là Trung Tướng Lâm Quang Thi mới đúng nghĩa hơn. Khi viết toàn bộ ra hàng là điều cố tình hạ nhục anh em chúng tôi khi thất thế !!!
“Nếu ông Huy Đức biết rõ thêm về tôi là người tù cuối cùng của Lữ Đoàn 147 TQLC ra khỏi trại tù ngày 12 tháng 2 năm 1988 sau gần 13 năm tù ngục với 4 năm 7 tháng 24 ngày bị "kiên giam" còng tay, chân, bị đánh gảy xương sườn vì những chống đối tập thểtrong Trại tù Bình Điền, Thừa Thiên. Thì phần trích dẫn từ bài viết của tên nhà báo Phan Xuân Huy là thiếu trách nhiệm.
“Tôi biết Phan Xuân Huy là thành phần đối lập cơ hội với chế độ VNCH trước năm 1975 mà tôi tận trung phục vụ. Có lẽ trong những ngày tháng đầu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Phan Xuân Huy-cũng như một số người nhẹ dạ - vì muốn tìm chỗ đứng an toàn trong lòng chế độ mới bằng những bài viết, những câu nói , với những nhận thức "sâu sắc của mình" về cái hay, cái đẹp của chế độ XHCN. Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật, vì lương tâm thì đừng bao giờ gán, chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân, phe nhóm. Tôi gửi đến tác giả Huy Đức những nhận xét của tôi về phần trích dẫn trong sách và mong được hoàn chỉnh sự chính xác cũng như trách nhiệm của người viết…”
Huy Đức đã xin lỗi, cám ơn và hứa sẽ bổ sung khi viết lại. Chỗ láu cá của tuyên truyền cộng sản là tờ Tin Sáng (hay Tia Sáng ?) phỏng vấn bà “LQL” (tên ông Lê Quang Liễn đựơc viết tắt). Nếu vì một lý do gì đó ông Lê Quang Liễn không lên tiếng như thế thì sự bịa đặt lại được Huy Đức ghi chép như một sựkiện lịch sử. Viết sử không phải là như thế.
Trong quyển “Bên Thắng Cuộc”,phần “Con đường Bác đi” Huy Đức đã trích dẫn tòan bộ huyền thọai về Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Năm do Hòang Tùng dàn dựng. Nhờ một chút may mắn tôi đã phát hiện trong tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất của tác giả C.B. do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955, trang 27 và 28, có bài "Địa chủác ghê". Bài này nguyên thủy được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953. Tác giả C.B. (Của Bác ?) chính là một bút hiệu của Hồ Chí Minh.
Qua bút hiệu C.B. chính Hồchí Minh đã đấu tố bà Nguyễn thị Năm, đấu tố hai con của bà Năm và đấu tố những người bênh vực bà. Vụ án bà Nguyễn thị Năm đã gây chấn động lòng người vì thế mới có huyền thọai do Hòang Tùng dàn dựng. Xin mời đọc bài “Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cải cách ruộng đất” đăng trên (http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=9078&rb=0401)để nắm rõ sự việc.
Gần đây có hai bức thư của Hồ Chí Minh gởi Stalin được phát hiện lưu trữ tại Cục Lưu trữ Quốc gia Nga. Nội dung các bức thư là xin được xem xét và cấp chỉ dẫn cho Chương trình Cải cách Ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Tôi đã viết bài khác :”Huyền thoại và sự thực: Hồ Chí Minh trong Cải cách Ruộng đất” đăng trên (http://www.danchimviet.info/03/09/2010/huy%E1%BB%81n-tho%E1%BA%A1i-va-s%E1%BB%B1-th%E1%BB%B1c-h%E1%BB%93-chi-minh-trong-c%E1%BA%A3i-cach-ru%E1%BB%99ng-d%E1%BA%A5t/)Đáng tiếc “Bên Thắng Cuộc” chưa để mắt tới hai bài viết này.
Huy Đức công khai nhìn nhận các bài báo cộng sản là sản phẩm tuyên truyền. Người cộng sản trongđầu lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tuyên truyền vì thế các các bài phỏng vấn cũng không tránh khỏi chỉ là sản phẩm tuyên truyền. Gần đây rất nhiều tài liệu, bài viết, hồi ký có thể phá đổ không ít các sản phẩm tuyên truyền được tổng hợp trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc”.
Tôi chỉ đưa ra một vài dẫn chứng cho thấy tổng hợp của bịa đặt, bịa đặt, huyền thọai, bịa đặt, huyền thọai… từ các sản phẩm tuyên truyền cộng sản không phải là sách sử.

Giáo sư Sử học David Marr
Năm 1990, bà Luật sư Ngô Bá Thành, dân biểu hai chế độ, có đến thuyết trình tại Viện Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi. Buổi thuyết trình được Giáo sư Sử học David Marr chủ tọa. Bà Thành dẻo miệng ca ngợi ông Marr. Sau khi đặt câu hỏi với bà Thành, tôi quay qua ông Marr tuyên bố: “Sử chúng tôi sẽ do chúng tôi viết chứ không phải là các ông”. Ông Marr trả lời đại khái như sau “Tôi viết, rồi viết lại, rồi người khác sẽ viết lại…
Tôi rất thông cảm những người nghiên cứu về sử Việt cận đại như ông Marr. Tài liệu của cộng sản vừa thiếu, lạiđầy những bịa đặt và huyền thọai. Không phải là họ không biết nhưng không sống với cộng sản khó nhận ra sự thực đằng sau các sản phẩm tuyên truyền. Tiếc mộtđiều khi học giả Tây Phương sử dụng nó, người mình lại xem nó khách quan, trung thực và chuyên môn, rồi tin theo như tin kinh điển. Bởi thế cộng sản mới mượn tay các học giả Tây Phương để chứng thực các huyền thọai do cộng sản tạo ra. Nếuđảng Cộng sản còn thống trị thì có viết khách quan cách mấy cũng vẫn chỉ là tuyên truyền cho cộng sản.
Nói thế không phải là phủnhận công lao của họ. Tôi vẫn thầm cảm ơn ông Marr vì nếu không có ông thu thậpđược tập tài liệu Phát động quần chúng trong đó có bài Hồ chí Minh đấu tố bà Nguyễn Thị Năm thì không có cơ duyên tôi phát hiện nó để phá vỡ một huyền thọai.
Tôi vẫn cảm ơn ông nguyễn Minh Cần, ông Hòang Tùng, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên, ông Đoàn Duy Thành,… đã viết về bà Nguyễn Thị Năm, tên bà đã in vào đầu tôi, để đến khi thấy tên Nguyễn Thị Năm trên "Địa chủ ác ghê" tôi đã nhận ngay đây là một bằng chứng tội ác của HồChí Minh. Việc phá vỡ huyền thọai sẽ giúp chúng ta viết lại sử người mình.
Khi tôi tuyên bố “Sử chúng tôi sẽ do chúng tôi viết” tôi còn một ý nữa. Tôi tự tin sẽ có ngày đồng bào tôi đứng lên giành lại chủ quyền dân tộc, mở một trang sử mới, viết lại trang sử cũ.
Nói thế để thấy công việc Huy Đức đang làm “đi tìm sự thật” là một công việc vô cùng khó khăn.

Vở Bi hài kịch “Bên Thắng Cuộc”
Với tôi tác phẩm “Bên Thắng Cuộc” chỉ là một vở bi hài kịch. Các diễn viên nổi bật là giới cầm quyền cộng sản Việt Nam. Họ theo “Con đường Bác đi” con đường bi đát Xã Hội Chủ Nghĩa, một con đường chỉcó trong trí tưởng tượng của ông Mác, ông Lênin, ông Stalin, ông Mao,… Rồi ông Hồvà giới cầm quyền cứ theo đó mà đi. Nó bi thương ở chỗ khi họ thấy sai thì họcho sửa, họ sửa rồi lại vẫn tiếp tục sai, họ càng sửa lại càng sai, cứ thế càng ngày đất nước càng lâm vào bế tắc.
Huy Đức có một nhận xétđáng chú ý: “…thực sự may mắn cho người dân Campuchia khi những người được Hà Nội đưa lên nắm quyền ở Phnom Penh, đặc biệt là Hun Sen, đã không nghe theo Hà Nội một cách mù quáng. Khi đứng trước thời cuộc mới, họ đã biết quyết định dựa trên quyền lợi của dân tộc mình… Ngày 18-10-1991, khi Việt Nam không còn can thiệp được vào các quyết định của Phnom Penh, Campuchia đã sửa đổi hiến pháp theo hướng từ bỏ chủ nghĩa xã hội: chấp nhận kinh tế thị trường tự do và hệ thống chính trị đa đảng. Tên nước, quốc kỳ, quốc ca, ngày quốc khánh thời Sihanouk được đưa ra dùng trở lại. Hai chữ “cách mạng”trong tên gọi Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đảng mà Việt Nam giúp dựng lên, đã được bỏ đi…
Nó là một hài kịch ở chỗ giới lãnh đạo cộng sản luôn tự hào là họ đã tự giành được “độc lập”, là đất nước luôn luôn "độc lập", nhưng cái đầu của họ, tư tưởng của họ vướng mắc 4 chữ “Xã Hội Chủ Nghã” mà chính họ cũng không hiểu “Xã Hội Chủ Nghiã” là giống chi chi.

Dự Đoán Quyển II
Nhân vật chính của vở bi hài kịch là Võ Văn Kiệt. Tên ông xuất hiện nhiều nhất 175 lần. Ông xuất hiện ngay đầu tác phẩm, bên trong tác phẩm và rồi lại xuất hiện nhiều lần trong Phụ Lục II trước khi kết thúc quyển I. Tôi vẫn thường đọc các bài viết của Huy Đức nên liên tưởng đến bài “Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng”. Bài viết cho biết “hậu duệ”Nguyễn Tấn Dũng là kết quả tuần lễ du hành Hàn Quốc của Đỗ Mười và Võ văn Kiệt. Bởi thế bản chất của “hậu duệ” Nguyễn Tấn Dũng vừa cực đoan như Đỗ Mười vừa táo bạo chấp nhận cải cách như Võ văn Kiệt. Nội dung Quyển II đã được Huy Đức cho biết trước.
Có người cho rằng Huy Đứcđi giữa 2 lằn đạn. Tôi nghĩ khác Huy Đức đang đi tìm sự thật, anh đang đi giữa lòng dân tộc để tìm một lối ra.
Là một thành viên Khối 8406, Khối chúng tôi chủ trương đi tìm sự thật vì khi sự thật được phơi bày là lúc chế độ cộng sản sẽ bị giải thể để Việt Nam có tự do có dân chủ. Tôi mong được đọc bản tu sửa quyển I và chờ đợi để được bình luận quyển II.

Tại sao nên đọc “Bên Thắng Cuộc” ?
Nếu ai xem Huy Đức như một tên Việt cộng, nên xem “Bên Thắng Cuộc” để biết người biết ta, biết mà kịp thời lên tiếng.
Nếu ai xem Huy Đức là một tên phản động, nên xem “Bên Thắng Cuộc” vì nó là suy nghĩ của đại đa số quần chúng Việt Nam, biết để tránh bị bánh xe lịch sử nghiền nát.
Nếu ai đang đấu tranh cho tựdo dân chủ phải xem “Bên Thắng Cuộc” để quyết tâm “Sử chúng ta sẽ do chúng ta viết”, mở một trang sử mới, viết lại trang sử cũ.
Nếu ai chỉ xem mình là người bình thường rất cần xem “Bên Thắng Cuộc” để thấy chính mình trong vở bi hài kịch“Bên Thắng Cuộc” để cùng đứng lên giành lại tự do.
Xuân năm nay chưa phải là xuân tự do. Xuân tới khi sự thật đã phơi bày sẽ là xuân tự do cho dân tộc. Hãy mở cửa lòng đón nhận Huy Đức người đi tìm sự thật.
Chúc Mừng Năm Mới

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
26/12/2012

___________________

"Bên thắng cuộc mới nói 1/3 sự thật

Quốc Phuơng

Nhà báo Bùi Tín bình luận về phần một cuốn sách "Bên Thắng Cuộc" và cho rằng tác giả Huy Đức mặc dù đã có những nỗ lực và đóng góp, mới chỉ đề cập được 'một phần ba' với tư cách là đóng góp mới hay tính mới về sự thực lịch sử dân tộc và sách còn rất nhiều sai sót cần được sửa.

Trao đổi với BBC Việt ngữ từ Paris hôm 05/1/2013, cựu đại tá nhà báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bùi Tín cho rằng cuốn sách chưa nói được hết những sự thực về đảng cộng sản Việt Nam, về cá nhân lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng nhiều sự thực khác. Về tính mới của cuốn sách, ông Tín, người từng có thời gian giữ cương vị Phó Tổng Biên tập Báo Nhân dân của Đảng Cộng sản nói:

"Tôi nghĩ là tính được 33% hay một phần ba... bởi vì nếu Ban Tuyên huấn Trung ương duyệt, thì nó phải bỏ đi, gọi là âm, dưới 100%, vì phần nhiều là lừa dối hết. Thì cái này đã nói được một phần sự thật, được 33%".Còn muốn đạt đến sự thật, còn phải cố gắng hai phần ba nữa mới có thể gọi là phản ánh đúng sự thực lịch sử."

Về mặt đóng góp của cuốn sách, ông Tín dành những lời lẽ 'tích cực' nhất đánh giá các nỗ lực của nhà báo Huy Đức, khi cố gắng phản ánh lịch sử của cận đại của Việt Nam, nhất là trong giai đoạn cuộc chiến từ năm 1954-1975 cũng như giai đoạn trước, trong và sau đổi mới.

Gọi cuốn sách là một công trình, ông Bùi Tín nhận xét: "Tôi thấy là anh ấy đã làm một việc rất đáng khen. Tôi có thể nói là đáng phục nữa. Bởi vì ở trong nước ít có nhà báo nào có gan, có sự táo bạo, tự mình nghiên cứu, tự mình viết một quyển đến 600 trang như thế... Tôi thấy anh ấy là một nhà báo trẻ, một nhà báo có một chí lớn hiếm có tự mình nghiên cứu, để viết theo quan điểm của mình, chứ không phải của lãnh đạo, của người khác, để viết nên một tài liệu lớn đến như thế...Đây quả là một công trình hiếm có, công phu, bởi vì anh có gan, có ý chí tiếp cận tất cả các nhân vật lịch sử, trong đó có những người đã mất. Những người đó là những nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, từ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, từ Thủ tướng, nhiều Ủy viên Bộ chính trị, nhiều Bí thư Trung ương Đảng. Cho đến lấy các tài liệu từ cả những người dân thường ở Sài Gòn mới "giải phóng", ở Huế, ở Hải Phòng v.v... Có thể nói anh đã tiếp cận với một loạt người rất phong phú và công phu ghi lại những suy nghĩ của họ. Thì tôi thấy đó là một tài liệu rất đáng khen."

'Sai sót phải sửa'

Về mặt được cho là các sai sót hay hạn chế của cuốn sách, nhà báo Bùi Tín nhận xét:

"Tất nhiên, tôi đọc rải rác chỗ này chỗ khác thì nhiều cái sai lắm. Nhưng tôi cũng không trách gì, bởi vì hàng nghìn người, ghi chép hàng sáu trăm trang như thế thì chỗ nào cũng có chi tiết sai cả."

Khi được hỏi đâu là những sai sót quan trọng nhất không thể không sửa để bảo đảm tốt hơn tính khách quan khi tìm kiếm sự thật lịch sử ở các giai đoạn và phân kỳ lịch sử mà "Bên Thắng Cuộc" phần I đã đề cập, cựu Tổng Biên Tập tờ Nhân Dân Chủ Nhật nói:

"Nhược điểm của anh Huy Đức là anh ấy là người đến sau, là người không chứng kiến được trực tiếp, nghe ngóng sau khi các sự kiện đó đã xảy ra... Anh ấy là người lượm lặt, thu góp, mà không phải là quan sát trực tiếp. Cho nên cái gián tiếp sai nhiều lắm. Tôi nói riêng ngày 30/4, anh ấy lấy được nhiều tài liệu hay, nhưng cũng có kha khá các điểm là dở, là không đúng. Nhưng cái này tôi không trách anh ấy, mà tôi trách là trách những người đã gặp anh ấy, có nhiều người nói không đúng sự thật."

Nhà báo Thành Tín đưa ra ví dụ: "Những câu nói rằng là các ông không có gì để mà giao. Khi mà Dương Văn Minh nói "quý ông", buổi sáng mà giao chính quyền, thì chính tôi là người trả lời như thế chứ không phải là Bùi Văn Tùng  ... Nếu mà gọi là cán bộ cao cấp đầu tiên cũng như cán bộ cao cấp duy nhất mà gặp họ trong ngày 30/4 thì chính là tôi... Chứ ông Nam Long cũng không hề gặp và cũng không có ông tướng nào gặp họ trong những ngày đó cả."

Ông Bùi Tín cho rằng thuật ngữ mà tác giả lựa chọn và đề cập cuộc chiến tranh ở Việt Nam trong suốt 30 năm ở nửa sau của thế kỷ trước là "sự nghiệp chống Mỹ cứu nước" hay chống "đế quốc Mỹ xâm lược" cũng "sai bét tất," ông nói:

"Những thiếu sót gốc phải gia công hơn nữa, ví dụ như là 'cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước' nói như thế có đúng hay không, theo tôi là không đúng. Thế còn nói 'ngày toàn thắng,' 'ngày giải phóng,' thì ngay cái tít 'giải phóng' cũng đã là mỉa mai rồi... Mà tôi nói là cái chiếm đóng của Miền Bắc đối với Miền Nam, cái này không phải là cái công để phục vụ nhân dân, mà Đảng cộng sản lấy danh nghĩa là chiến tranh giải phóng để cướp quyền lãnh đạo và từ đó nhằm lợi ích riêng của Đảng, không có phục vụ lợi ích của toàn dân".

Những điều này, theo ông Bùi Tín, cần được "đánh giá lại một cách sâu sắc."

"Phản ứng dè dặt"

Khi được hỏi liệu 'có điều gì' có thể ảnh hưởng đến cá nhân tác giả nếu nhà báo Huy Đức quyết định trở về nước sau khi xuất bản toàn phần cuốn "Bên Thắng Cuộc", cũng như chính quyền, đặc biệt là ngành Tuyên Giáo trong nước, có thể sẽ 'đối đãi' ra sao với cuốn sách, ông Bùi Tín nói:

"Họ tiếp nhận rất dè dặt, mới có hai ba bài báo, nhưng cũng đã có vẻ như là không tán đồng rồi. Bởi vì nhất định là cách nhìn của Huy Đức so với cách nhìn của Ban Tuyên huấn Trung ương, của Bộ Chính trị , của 14 ông vua tập thể là khác hẳn nhau rồi... Bởi vì ngay cái 'giải phóng' đã hàm ý mỉa mai rồi. Cho nên họ không thể coi đó là một tài liệu tiến bộ được. Họ miễn cưỡng phải đề cập, nhưng họ sợ, họ lo vì so với cách nhìn của Đảng Cộng sản, nó đã chệch đi đến 90 độ. Nhưng mà nói là đã thực sự phản ánh sự thực chưa, thì tôi nghĩ là cũng phải quay hơn 90 độ nữa thì mới có thể coi đúng là phản ứng sự thực."

Cựu đại tá Bùi Tín cho rằng cá nhân tác giả của cuốn sách sẽ không gặp vấn đề gì khi về nước, ông nói:

"Bây giờ ông ấy về nước chẳng sao cả đâu. Bởi vì ông ấy viết theo quan điểm có chống đối gì mạnh mẽ lắm đâu, chỉ là uốn nắn lại một vài sự thực lịch sử, cho nên tôi nghĩ là ông ấy chưa phải là một người viết sử thực sự, dám đụng thật đến sự thật... Một cái người chỉ mới thay đổi cách nhìn hơi tiến bộ một chút chứ chưa phải là một cuộc cách mạng nhân dân, một cách nhìn thực sự đứng về phía nhân dân, đứng về phía chân thực của lịch sử."

Ông Bùi Tín, người đã đã trở thành nhà bất đồng chính kiến và một cây bút cổ vũ cho dân chủ và cải tổ ở Việt Nam tại hải ngoại từ sau 9/1990, cho biết ông tin rằng những hạn chế của Bên Thắng Cuộc, điều mà ông gọi là "2/3 sự thực Lịch sử còn lại, sẽ được các thế hệ tương lai giải quyết".

"Phải là các bạn trẻ hơn nữa viết ra, có những người có quan điểm tiến bộ hơn nữa, tôn trọng Lịch sử và có ý thức Dân chủ thì mới có thể viết nổi," ông nói với BBC.

Quốc Phuơng
(Source: BBC)
__________________


Thắng mình trước đã

Đồng Phụng Việt

Vừa có hai sự kiện, cùng liên quan đến cuốn “Bên thắng cuộc” làm mình chú ý: (1) Tờ Pháp luật TP.HCM đăng “Cái nhìn thiên kiến về lịch sử” của Nguyễn Đức Hiển. Và (2) Liên Ủy ban chống Cộng sản, tay sai và chống tuyên vận Cộng sản ở Mỹ gửi thư mời họp để bàn bạc về chuyện tổ chức biểu tình chống tờ Người Việt phát hành cuốn sách này.

Sự kiện (1) mình biết qua trang web Ba Sàm. Sự kiện (2) mình biết qua email của một người bạn, kèm câu hỏi: Ông nghĩ sao?..
Thay vì trả lời riêng bạn qua email, mình viết vài dòng trên facebook để có thể chia sẻ với cả bạn và các bạn khác vài điều mà mình nghĩ…

1.

Hồi nhỏ, ở nhà mình có vài cuốn album để cất ảnh. Mấy cuốn album này do trường Võ bị Quốc gia ở Đà Lạt dùng làm quà. Nếu mình nhớ không lầm thì cuốn nào trên góc trái, phía trên cùng, cũng in chìm hình một sinh viên sĩ quan, kèm dòng chữ “Tự thắng – Chỉ huy”. Lúc đó, xem – nhớ nhưng thật tình, mình không hiểu tại sao trường Võ bị Quốc gia (một nơi danh giá, đào tạo Sĩ quan chuyên nghiệp cho quân đội miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975, vốn là chỗ không dễ vào, nếu vào và ra được thì vừa là sĩ quan, vừa có văn bằng cử nhân khoa học – một thời đã từng là mơ ước của mình), lại chọn “Tự thắng – Chỉ huy” làm slogan.

Lớn lên thì mình hiểu tại sao trường Võ bị Quốc gia lại chọn “Tự thắng – Chỉ huy” làm slogan. Không tự thắng chính mình thì làm người tử tế còn khó, nói gì đến chuyện chỉ huy!

2.

Khi sinh ra mình là công dân Việt Nam Cộng hòa nhưng lúc lớn lên, mình trở thành công dân Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cũng tại vậy mà mình có nhiều người thân, người quen bị gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”. Sau ngày “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, phần lớn “ngụy quân, ngụy quyền” mất sạch mọi thứ: nhà cửa, tài sản, tương lai, một số người mất cả sinh mạng. Gia đình mình cũng thế.

Nếu ai hỏi mình: có oán Cộng sản không? Mình sẽ trả lời rằng: Có! Song đối tượng của sự oán hận đó đã khác nhiều so với trước.

Lúc đầu, mình ghét tất cả những người từ ngoài Bắc vào. Rồi oán hờn thu hẹp, mình chỉ còn căm giận cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an. Sự căm giận này bây giờ không còn. Chính xác hơn, sự căm giận này vẫn còn nhưng nó hướng vào chủ nghĩa cộng sản và sự tồn tại của thể chế chính trị là con đẻ của nó trên xứ sở này.

Sở dĩ nhận thức của mình thay đổi liên tục như thế là nhờ sách vở, tài liệu và thực tế cuộc sống. Hồi đọc “Những thiên đường mù” của Dương Thu Hương, mình choáng váng vì hóa ra người dân miền Bắc còn khổ hơn người dân miền Nam. Mình dùng hai chữ “khổ hơn” vì ít ra, người dân miền Nam đã từng có lúc được sống “cho ra hồn người”, trước khi cùng khốn khổ, khốn nạn như nhau. Sau này, hỏi thăm một số người lớn tuổi đã từng sống ở miền Bắc trước tháng 4 năm 1975, họ bảo, thật ra, “Những thiên đường mù” chỉ khắc họa một phần sự thật, chưa lột tả được toàn bộ môi trường xã hội miền Bắc trước tháng 4 năm 1975… Tương tự, sự căm giận bộ đội giảm dần khi cuộc chiến ở Campuchia biến một mớ bạn bè mình thành bộ đội, thương binh, có đứa trở thành liệt sĩ. Còn một thực tế khác, chẳng riêng mình mà ai cũng thấy, đó là, đa số những người đóng góp tuổi trẻ, sức lực, máu xương, thân nhân cho việc tạo lập ra chính quyền này cũng chẳng sung sướng gì hơn. Đến giờ, đâu có ít gia đình liệt sĩ, thương binh, có công cũng đã mất sạch mọi thứ. Xét cho đến cùng, tất cả đều là nạn nhân. Ngay cả cán bộ, đảng viên cũng là nạn nhân, họ cắn răng chịu đựng đủ thứ bất toàn của hệ thống, ngửa tay nhận đồng lương chết đói và để tồn tại phải tìm đủ cách để “ăn”, vừa phải chuốc sự khinh bỉ của người bị “ăn”, vừa phải chấp nhận cho các đồng liêu khác “ăn” lại. Một kiểu “ăn lẫn nhau”, một thứ bi kịch kéo dài từ đời cha sang đời con và có thể còn tiếp tục kéo dài sang đời cháu. Họ có muốn như vậy không? Mình nghĩ là không, nhưng họ chẳng có lựa chọn nào khác.

Lý do mình tóm tắt quá trình định hình và chuyển đổi nhận thức của mình, vì mình tin nó tương đồng với quá trình định hình và chuyển đổi nhận thức của nhiều người khác, trong số hàng chục triệu dân miền Nam Việt Nam trước và sau tháng 4 năm 1975. Mình chỉ là một trong hàng chục triệu số phận na ná như thế do thời cuộc tạo ra. Dù muốn hay không, hàng chục triệu số phận này đã và sẽ là một phần của lịch sử.

Bài “Cái nhìn thiên kiến về lịch sử” của Nguyễn Đức Hiển không những không đếm xỉa gì đến phần này của lịch sử mà còn bóp méo nó, nên có thể vì vậy mà bị nhiều người chửi.

Theo mình, nhìn, nghe, đọc, hỏi, nghĩ là điều cần thiết mà ai cũng nên làm. Mình tin, do đặc điểm nghề nghiệp, một nhà báo cần làm những điều này gấp nhiều lần những người bình thường, đặc biệt là khi máy tính, Internet đã trở thành phương tiện đại chúng. Tiếc là bạn Hiển ít nhìn, ít nghe, ít đọc, ít nghĩ, chỉ quen bông phèng, chớt nhả, nhận được vài lời khen, lại tưởng mình hơn người, thành ra làm điều quá phận.

Vì bạn Hiển bảo: “Bóp méo sự thật lịch sử dù với bất cứ lý do gì thì đều là tệ hại” nên mình cung cấp cho bạn hai chuyện mà bạn có thể xác minh ngay và sắp tới, mong bạn cho mình biết thêm suy nghĩ của bạn về bản chất cuộc chiến, mà bạn muốn biện minh rằng chính đáng:

- Chuyện thứ nhất là vụ ném lựu đạn vào buổi lửa trại, tổ chức cho các Hướng đạo sinh, thành viên Gia đình Phật tử và học sinh các trường trung học ở Quy Nhơn, tại sân vận động Quy Nhơn (nay là thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định), vào đêm 9 tháng 1 năm 1972, để giết tỉnh trưởng Nguyễn Văn Chức nhưng ông Chức không chết, chỉ có vài chục người là giáo viên, học sinh chết, bị thương. Người tổ chức vụ ném lựu đạn này là bà Huỳnh Thị Ngọc đã được Đảng và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang” hồi Quốc khánh năm 1995, báo Quân đội Nhân dân có bài ca ngợi (tựa là “Giả điên trong tù”, đưa lên Internet hôm 16 tháng 7 năm 2007). Sau khi đọc “Giả điên trong tù”, bạn có thể tìm gặp những người dân Quy Nhơn, nay trong độ tuổi khoảng 60, để hỏi thăm và nghe thêm về bản chất – kết quả thật sự của một “chiến công”, trong cuộc chiến được bảo là chính nghĩa đó.

- Chuyện thứ hai là vụ pháo kích vào Trường Tiểu học Cộng đồng ở thị trấn Cai Lậy, tỉnh Định Tường (nay là huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang), ngày 9 tháng 3 năm 1974, khiến 32 học sinh chết tại chỗ và 55 học sinh khác bị thương. Những người dân Cai Lậy, Tiền Giang, nay trong độ tuổi khoảng 55, cũng có thể kể để bạn biết thêm về “chiến công” tệ hại này.

Những “chiến công” kiểu như vậy đã được lập trên xác rất nhiều thường dân, trong đó chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em ở miền Nam (mình muốn nhấn mạnh yếu tố này). Khi thân nhân của các nạn nhân vẫn còn, làm sao có thể bảo với họ rằng, cuộc chiến do miền Bắc khởi xướng, mục tiêu chính là thiết lập “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á” lại là cần thiết và chính đáng. Người ta chỉ mới thôi tự hào về sự tự nguyện đảm nhận vai trò “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á” chừng 20 năm nay thôi bạn Hiển à!

Bạn Hiển,

Làm báo ở Cộng hòa XHCN Việt Nam quả thật là rất khó nhưng nếu bạn không muốn, chẳng ai có thể bắt bạn làm bồi. Ngay cả khi chấp nhận làm bồi thì ít nhất cũng có hai loại bồi. Một loại hiểu và xấu hổ vì chuyện làm bồi nên chỉ dùng bút danh. Loại còn lại vừa hám lợi, vừa chuộng hư danh tới mức mụ mẫm, nên sẵn sàng vỗ ngực, xưng tên. Nguyễn Đức Hiển, bạn thuộc loại nào vậy?

Nếu thật sự bạn vẫn muốn nuốt thêm một hoặc nhiều lần nữa những luận điệu cũ rích mà Đảng đã nhai đi, nhai lại, ụa ra, cho các loại bồi nuốt vào, rồi phun phe phè suốt mấy chục năm qua, muốn hãnh diện vì bạn vẫn còn thích làm gia súc, vẫn tự nguyện giữ bản năng tiêu hóa, “kiên quyết” không thèm tiến hóa như thế thì nó là quyền của bạn, song đừng mửa mớ luận điệu ấy ra, nó khiến nhiều người cảm thấy phiền bởi sự “kiên quyết” ấy!

3.

Giống nhiều người, mình cũng ráng kiếm một bản “Bên thắng cuộc” nhưng thú thật là mình chỉ mới lướt qua. Mình đọc chưa kỹ, do còn chờ phần sau. Đọc chưa kỹ nhưng mình tin “Bên thắng cuộc” có khiếm khuyết, thiếu sót, thậm chí có cả những điểm chưa chính xác. Đó là điều đương nhiên, không thể tránh khỏi đối với những cuốn sách thuộc loại như “Bên thắng cuộc”. Do vậy, phân tích hay – dở, góp ý đúng – sai, đưa ra đề nghị này – khác, để cả tác giả lẫn người đọc cùng xem xét – ngẫm nghĩ thêm là điều cần thiết.

Với mình, dẫu cho còn khiếm khuyết, thiếu sót, thậm chí có cả những điểm chưa chính xác thì “Bên thắng cuộc” vẫn là một cuốn sách cần đọc, vì loại sách này giúp người đọc có một cái nhìn bao quát về chính trường – xã hội Việt Nam sau tháng 4 năm 1975. Khi đã có thể nhìn một cách bao quát, hiểu rõ hơn về những chuyện vốn chỉ nghe nói loáng thoáng, từng người có thể ngẫm nghĩ – tìm kiếm thêm thông tin để tự lý giải tại sao xã hội chúng ta đang sống lại như thế này? Mình tin “Bên thắng cuộc” còn có tác dụng như một gợi ý, kích thích những người khác, đặc biệt là những người trong “cung đình” kể lại, nói thêm về những chuyện họ biết cho mọi người cùng biết. Mình vẫn tin rằng, mọi thay đổi tích cực cho xứ sở và dân tộc này khởi đầu từ từng người. Trước hết là kể những điều mình biết, chia sẻ những điều mình nghĩ với mọi người quanh mình. Chỉ thế thôi. Không cần phải chỉ dẫn hay thuyết phục ai rằng họ nên nghĩ gì, làm gì. Khi đã có thông tin, từng cá nhân sẽ tự đối chiếu chúng với thực tế xã hội và hoàn cảnh, cũng như nhu cầu cá nhân của họ. Tự họ sẽ thấy họ nên làm gì, làm như thế nào. Có lẽ đó mới là giá trị thực của “Bên thắng cuộc” và là đóng góp đáng ghi nhận của Huy Đức.

Điều đáng ngạc nhiên là không chỉ Đảng cầm quyền thù ghét những thứ như “Bên thắng cuộc” mà ngay cả một số người chống Đảng này ở bên ngoài Việt Nam cũng tỏ ra thù ghét nó. Mình đã thử tìm hiểu tại sao và rất ngao ngán khi nhận ra rằng, có những người thù ghét Cộng sản nhưng lối suy nghĩ, cách hành xử của họ y hệt như Cộng sản.

Đọc những bài họ viết, xem những ý kiến họ bày tỏ, những video clip quay chuyện họ làm, nghe họ nói, mình thấy phẫn nộ khi họ nhân danh “chính nghĩa”. Miền Nam Việt Nam mà mình biết không có thứ “chính nghĩa” đó.

Nửa đầu thập niên 1970 là giai đoạn miền Nam Việt Nam đỏ máu và trắng khăn tang. Hết Hạ Lào tới An Lộc, Quảng Trị, Phước Long,… Trong bối cảnh ấy, dân miền Nam vừa nghe “Thề không phản bội quê hương” (của Cục Chính huấn Quân lực Việt Nam Công hòa) với những: “…Quyết chiến! Thề quyết chiến! Quyết chiến! Đánh cho cùng dù mình phải chết. Để mai này về sau con cháu ta sống còn…”, vừa hát “Kỷ vật cho em” (thơ Linh Phương, Phạm Duy phổ nhạc): “…Anh trở về trên đội nạng gỗ. Anh trở về bại tướng cụt chân…”, vừa ngâm “Ngày mai đi nhận xác chồng” (thơ Lê Thị Ý, Phạm Duy phổ nhạc thành “Tưởng như còn người yêu”): “…Dài hơi hát khúc thương ca. Thân côi khép kín trong tà áo đen. Chao ơi thèm nụ hôn quen. Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau. Chiếc quan tài phủ cờ màu. Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng…”. Hay đọc “Chiều mệnh danh Tổ quốc” (thơ Nguyễn Tất Nhiên): “…Chiều quân đội nghĩa trang. Chiều mệnh danh tổ quốc. Có muôn ngàn câu kinh. Có muôn ngàn tiếng khóc. Có chuyến xe nhà binh. Đưa ‘Thiên Thần’ xuống đất…”.

Miền Nam Việt Nam hồi đó mà mình biết cũng có tham nhũng, hối lộ, phe phái và nhiều điều bất toàn khác nhưng đó là chỗ mà những “Thề không phản bội quê hương”,… có thể đứng chung cùng những “Kỷ vật cho em”, “Ngày mai đi nhận xác chồng”, “Chiều mệnh danh Tổ quốc”,… Nhiều “Thiên Thần” chấp nhận ra trận, rồi đi luôn vào lòng đất để những người còn lại được quyền làm những chuyện có vẻ như rất mâu thuẫn ấy. Đó là điều khiến miền Nam Việt Nam khác xa miền Bắc Việt Nam.

Miền Nam Việt Nam hồi đó mà mình biết, không có những kẻ “bảo vệ chính nghĩa quốc gia” bằng cách “đụ mẹ”, “đéo bà” người khác chỉ vì họ không nói, không làm điều những kẻ đó muốn nghe, muốn thấy. Cũng không có những kẻ, một tay giương cao quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa, tay còn lại tụt quần, chổng mông vào mặt người khác giữa nơi công cộng để khẳng định quyết tâm… chống Cộng sản.

Miền Nam Việt Nam hồi đó mà mình biết, tuy chống Cộng nhưng vẫn tiếp nhận “Tiếng gọi công dân” (tên nguyên thủy là “Thanh niên hành khúc”) của Lưu Hữu Phước – một cán bộ Cộng sản cao cấp – làm Quốc ca, sau khi kế thừa chính thể Cộng hòa Tự trị Nam kỳ. Mình nghĩ chỉ chi tiết này thôi có lẽ cũng đủ để biết tinh thần, quan niệm của miền Nam Việt Nam hồi đó ra sao.

Với những gì mới biết về những cá nhân, những nhóm cựu công dân miền Nam Việt Nam, bây giờ một ít người đang chống Cộng theo kiểu chống hết mọi thứ, bất kể tình – lý, chỉ để thiên hạ biết mình đang “bảo vệ chính nghĩa quốc gia”, mình tự hỏi, không biết bao giờ thì những ông, những bà này sẽ chống hát Quốc ca Việt Nam Cộng hòa, vì tác giả của bài hát này là một Việt cộng cao cấp? Có nên xem chuyện hát “Tiếng gọi công dân” đã và đang diễn ra ở những nơi có cựu công dân Việt Nam Cộng hòa là một hình thức tuyên vận của Cộng sản và rất cần chống ngay lập tức hay không? Mình tin sẽ không có ai trong số các ông, các bà đó dám cổ súy chuyện này. Nếu không dám và chắc là không dám thì “chính nghĩa” mà qúy vị tạo ra, nhảy múa để “bảo vệ” rõ ràng là chưa (không thể) ổn. Xin qúy vị hãy xem lại lối nghĩ, cách hành xử của qúy vị.

Tuy số lượng của những vị này chẳng đáng là bao trong khối người Việt đang phải sống bên ngoài Việt Nam nhưng mình không thể không nói. Kiểu chống hết mọi thứ chỉ để thiên hạ biết mình đang “bảo vệ chính nghĩa quốc gia” của những vị này, không chỉ làm hoen ố hình ảnh miền Nam Việt Nam ngày xưa. Chúng đang được Đảng CSVN khai thác triệt để nhằm chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên của họ. Đặc biệt là vào lúc này, khi hệ thống đã mục ruỗng, thông tin đa chiều đang làm cho nhận thức cán bộ, đảng viên thay đổi và nhiều người bắt đầu “muốn làm một cái gì đó” thì những bài viết, ý kiến, hành động cực đoan của những vị này trở thành một món quà quý. Chúng đã và đang được sử dụng để minh họa cho những lời răn đe, kêu gọi kiểu như: “Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”; “Còn Đảng, còn mình”; “Quân đội là của Đảng và phải bảo vệ Đảng”; “Bảo vệ chế độ XHCN là bảo vệ sổ hưu”.

(Source: Đồng Phụng Việt)