"Đứng vững ngàn năm"- Ngô Nhân Dụng

 

Nhà báo Ngô Nhân Dụng (tức Đỗ Quý Toàn)

Nhà báo Ngô Nhân Dụng (tức Đỗ Quý Toàn)

Là một dân-tộc bị đánh bật ra khỏi đất tổ của mình, không lạ là nhiều người Việt từ năm 1975 đã tìm cách “về nguồn” để xem ta từ đâu đến và đang đi về đâu? Chỗ đứng của ta đối với quê hương, đồng-bào, tiền-đồ dân-tộc?

Nhà văn-nhà thơ Đỗ Quý Toàn, người được biết dưới tên Ngô Nhân Dụng khi ông viết xã-luận cho báo Người Việt ở Cali, cũng vừa làm một nỗ lực như vậy khi ông cho in cuốn sách đồ sộ của ông, Đứng vững ngàn năm (Nhà xb Người Việt), có tiểu-tựa là “Nhờ đâu nước Việt vẫn còn sau ngàn năm Bắc thuộc.” Với gần 500 trang khổ lớn, chữ nhỏ, đây không phải là một cuốn sách ta có thể đọc lướt qua được. Nhưng tôi đã đọc với nhiều thích thú bởi gần như trang nào trong sách của ông cũng mang đến cho ta những thông tin mới hay những nhận-định sâu sắc, độc-đáo dựa vào những kết-quả rất đáng kể của ngành sử-học, xã-hội-học, khảo-cổ-học mà ta đã thụ đắc được trong gần 100 năm qua, kể từ quyển Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.

Xây dựng trên những kết-quả nghiên cứu của mọi miền

Cách đây 12 năm, ông Nguyễn Gia Kiểng ở Pháp cũng có một cuốn sách, quyển Tổ Quốc Ăn Năn, viết về những vấn-đề tương-tự như trong sách của ông Ngô Nhân Dụng, bằng-chứng là bản dịch tiếng Anh cuốn ấy do Nguyễn Ngọc Phách (ở Úc) thực-hiện còn mang tựa đề là Whence… Whither… Vietnam?, “VN từ đâu đến và đi về đâu?” Nhưng khác với quyển sau này, cuốn của ông Kiểng chỉ đi từ những sở-kiến của ông mà hầu như không nhắc đến những nghiên cứu của ai khác. Ngược lại, cuốn Đứng vững ngàn năm thì gần như chỗ nào cũng “nói có sách, mách có chứng,” ông nêu ra những tìm tòi của Lê Thành Khôi, Pierre Gourou, Vũ Quốc Thúc, Paul Mus, Nguyễn Phúc Long (Les nouvelles Recherches archéologiques au Vietnam) trong tiếng Pháp, của Keith Taylor (The Birth of Vietnam), Nguyễn Quốc Trị trong tiếng Anh, của cả sử-gia Nhật viết về Việt-nam, và nhất là những sử-gia Việt-nam có sách gần đây, như Lê Mạnh Hùng (Nhìn Lại Sử Việt), Tạ Chí Đại Trường (Thần, Người và Đất Việt), Trần Gia Phụng (Việt Sử Đại Cương), Vĩnh Sính, Lê Mạnh Thát. Ông cũng không ngại nhắc đến những sử-gia hay tác-giả đứng đắn ở Hà-nội như Phan Huy Lê (Tìm về Cội nguồn), Trần Quốc Vượng hay Trần Từ (Cơ cấu tổ chức của Làng Việt cổ truyền), Trần Nghĩa, hay những tác-giả cổ hơn nhưng vẫn còn giá-trị (Phan Kế Bính, Lê Dư, Đào Duy Anh, Nguyễn Đổng Chi, Toan Ánh, Bình Nguyên Lộc…). Tóm lại, đọc Ngô Nhân Dụng, ta có cảm-tưởng được xem một bảng tổng-quan về những tiến-bộ sử-học, xã-hội-học, văn-học, khảo-cổ-học, thậm chí cả kinh-tế-học về Việt-nam, nghĩa là được thấy kiến thức của ta được phong phú hẳn lên.

Với những cái nhìn lý-thuyết từ phương Tây

Viết nhắm vào một độc-chúng mà không ít người hiện đang sinh sống ở phương Tây, nhất là các thành-phần trí-thức ở trong đó đã được làm quen với những lý-thuyết về sử-học, di-truyền-học, nhân-chủng-học, ngôn-ngữ-học nên cuốn sách cũng đem ra đối-chiếu kinh-nghiệm lịch-sử của dân Việt với những thuyết của Ernest Renan (sử-gia Pháp), Gottfried Herder (sử-gia Đức), để định nghĩa sự hình-thành của dân-tộc quốc-gia (nation-state) Việt-nam và xem nó bền vững được tới đâu dù như tổ tiên Lạc Việt của chúng ta đã phải chịu hơn một nghìn năm đô-hộ của nước khổng-lồ ở phương Bắc, Trung-hoa với một nền văn-minh rực rỡ đã đồng-hóa được không biết bao nhiêu dân-tộc trong nhóm Bách Việt–trừ chúng ta.

Tác-giả không chỉ nhắc đến những lý-thuyết đã có từ thế-kỷ 19 ở châu Âu, ông còn đem vào cuộc thảo-luận của ông những lý-thuyết hiện-đại hơn như “Game Theory” (“Lý-thuyết trò chơi”), “Soft Power” (“Quyền-lực mềm”), các thuyết về quản-trị và truyền-thông đại-chúng (“Management and Communication Theories”), vấn-đề xã-hội dân-sự (“Civil Society”) v.v. Như ông có những nhận xét thật sắc sảo về “làng” của người Việt (trong lũy tre xanh như ở miền Bắc) như một cơ-cấu trung-gian giữa các tộc họ trong dân-gian và nhà nước trung-ương (“Phép Vua thua lệ làng”), về các “hội” ở trong làng như một xã-hội dân-sự manh nha rất khó kiểm-soát từ trung-ương, về các hình-thức tổ-chức tôn-giáo (nguyên-thủy gốc bản-địa Đông-Nam-Á hay du nhập từ ngoài vào như Phật-giáo từ Ấn-độ, Khổng-giáo và Lão-giáo từ Trung-quốc) hay nhu-cầu bảo vệ đê điều dẫn đến sự đoàn-kết vượt ra ngoài làng xã hay địa-phương… Những sự nhào nặn đó đã dẫn đến một xã-hội bao dung với những quan-niệm như “một mẹ trăm con” (học của Ấn-độ, từ bộ sử-ca vĩ đại Mahabharata), “con Rồng, cháu Tiên,” hay “tam giáo đồng nguyên” cho phép sự tồn tại, cộng-sinh của nhiều cộng-đồng dân-tộc (53 cả thảy) trên dải đất chữ S với những ngôn ngữ, phong-tục, tập-quán rất khác nhau.

Một tổng-hợp hài-hòa

Nhìn vào tương-lai, tác-giả Ngô Nhân Dụng cảm thấy khá lạc-quan. Ông cho rằng như một dân-tộc ta đã “đứng vững ngàn năm” thì không có lý-do gì mà ta không có thể đứng vững thêm một nghìn năm nữa. Tuy-nhiên, với điều-kiện, những điều-kiện mà tác-giả thâu tóm trong chương cuối của cuốn sách (chương 32, “Vang vang trời vào xuân”).

Song kết-luận này không phải là một kết-luận dễ dãi mà tác-giả đến một cách dễ dàng, kiểu “lạc-quan tếu.” Với mỗi khẳng-định của ông là cả một cơ-cấu lập-luận vững chãi, có cơ-sở qua những đề-tài như:

- Sự hình-thành của ý-thức dân-tộc, ngay từ trong thời Bắc-thuộc (các chương 2-4).
- Sự khác-biệt giữa quan-niệm “Thiên-hạ” của người Hán và quan-niệm “trong Đế ngoài Vương” của các vua VN, kèm theo đó là sự biết tự-chế của các vua VN không bao giờ đòi ngôi vua “Thiên-hạ” (các chương 5-6).
- Sức mạnh của văn minh Hoa Hạ” và khả-năng bành-trướng của nó (các chương 7-9).

- Nhưng sức mạnh đó gặp “sức đề kháng” không kém phi thường của dân Việt dựa trên ngôn ngữ (chương 15-17), trên tín ngưỡng (chương 18-20, trong đó ta có cả khả-năng bản-địa-hóa các tín ngưỡng ngoại-lai) và trên “di-sản Đông-Nam-Á” ở ngã ba của Á-châu (chương 21-23).

- Qua hai chương phân-tích nữa về “sức mạnh của văn minh Hoa Hạ” (chương 24) đối-chiếu với “sức mạnh của người phương Nam” (chương 25) cho phép ta hòa-hợp hai dòng phát triển này (chương 26) miễn là ta đủ sáng suốt (chương 27).
Chương 28 là một chương tổng-kết rất đáng đọc kỹ càng bởi nhiều ý-tưởng then chốt của cuốn sách nằm ở đây.
Là một nhà thơ (bên cạnh chuyên-môn của ông là ngành kinh tế, tài-chánh mà ông đã giảng dạy trong nhiều năm ở Canada), không lạ là ông nhắc đến quan-niệm của nhà thơ Muhammad Iqbal, cha đẻ Hồi-quốc Pakistan (“Các dân tộc sinh ra từ trái tim của thi sĩ”), ông còn trích thơ tù của Thanh Tâm Tuyền vào đầu sách:

Đứng vững không khuỵu chân
Trên mảnh đất nghèo khổ
Thở hít tận vô cùng
Ngây say đóa hồng rợ
Vang vang trời vào xuân…

để kết thúc cũng bằng một câu thơ trong bài “Ta Về” của Tô Thùy Yên:
Ta về cho kịp độ xuân sang…

Đồng Xuân, Bang Trinh Nữ
Hoa Kỳ Quốc

Ngày 27/6/2013

Nguyễn Ngọc Bích

Đàn Chim Việt

 ______________

 

Khả năng phân thân Đỗ Quí Toàn / Ngô Nhân Dụng
 
 
Du Tử Lê

... Bản chất khiêm tốn, giáo sư Đỗ Quí Toàn bút hiệu Ngô Nhân Dụng từng nhấn mạnh, ông không phải là người được đào luyện ở ngành sử học, nhưng không vì thế mà tác phẩm Đứng Vững Ngàn Năm (ĐVNN) của ông có thể xếp vào thể loại nào khác hơn nghiên cứu lịch sử. Như chỉ danh, đó là bộ môn mang tính khoa học, dựa trên những sự kiện đã xẩy ra trong quá khứ, để phân tích…

Vì thế, đòi hỏi trước tiên của bất cứ tác giả nào khi dấn mình vào lãnh vực này, là tính khách quan. Thiếu vắng yếu tố căn bản này, tác phẩm sẽ không thể đứng vững bởi thiếu sức thuyết phục. Tuy nhiên, trước đòi hỏi vừa kể, không phải học giả hay sử gia nào cũng có thể đạt được! Tôi nghĩ khó khăn này, còn cam  go hơn nữa, một khi tác giả đó, vốn là thi sĩ: Trường hợp của nhà biên khảo Ngô Nhân Dụng / Đỗ Quí Toàn.

Tôi không biết có phải vì họ Đỗ có quá nửa đời gắn bó với nghiệp nhà giáo(?) nên khi bước vào lãnh vực nghiên cứu, ông đã tách bạch được một cách dứt khoát, lạnh lùng giữa hai con người nhà thơ và nhà nghiên cứu. Tựa đó là hai con người hoàn toàn khác biệt nhau trong một con người (7)
Với một sở học sâu rộng, cộng thêm số vốn ngoại ngữ phong phú như tiếng Tàu, tiếng Pháp, tiếng Anh, khi biên soạn tác phẩm ĐVNN, Ngô Nhân Dụng đã trích dẫn, đối chiếu rất nhiều sử liệu khác nhau của các tác giả uy tín, xưa cũng như nay. Ông không phân biệt nguồn gốc của bất cứ tác giả nào, miễn tác phẩm có những phát kiến khả dụng hoặc, có thể dùng cho nhu cầu đối chiếu tư liệu…

Tính khách quan của Ngô Nhân Dụng đã thể hiện một cụ thể, công bình, trong sáng, khi ông nhắc tới nhân vật điển hình Lý Bôn, tức vua Lý Nam Đế, một người Việt gốc Trung Hoa, khai sinh ra triều đại Tiền Lý vào thế kỷ thứ 6, trước Tây Lịch.

Nhắc lại sự kiện Lý Bôn, tôi muốn minh xác tính khách quan mạnh mẽ, quyết liệt của họ Đỗ. Ông không để lòng yêu nước (đương nhiên) lẩn sâu trong tiềm thức lôi cuốn ngòi bút ông xóa bỏ những chứng tích quá khứ, chất liệu căn bản dựng nên ngôi đền lịch sử.

Trụ vững từ điểm đứng khách quan, Ngô Nhân Dụng cũng đã nêu lên một nhận xét mà chưa (hay ít) sử gia nào chú ý. Như khi ông đề cập tới “Những chuyển động lặng lẽ, âm thầm bên trong các lũy tre làng nhiều đời đã tích lũy trong ký ức tập thể dân Việt. Các cụ già nhớ chuyện cũ kể lại cho con cháu. Những thi sĩ nông dân cất lên giọng hát, sáng tác tại chỗ các câu vè, rồi trong đó nẩy ra những hạt ngọc chuyền nhau đi xa hơn…” (8) Và đáng kể hơn nữa, khi ông phân tích không phải vì Việt Nam bị đô hộ 1,000 nên VN đương nhiên chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa hoặc vì thế mà không độc lập!

Ở chương thứ 31, tựa đề “Những nước khác, quanh Trung Quốc,” tác giả dẫn chứng hai quốc gia “láng giềng” của Trung Quốc là Nhật Bản và Đại Hàn… Cả hai quốc gia này không hề bị người Hán đặt ách thống trị bao giờ. Nhưng họ vẫn tiếp thu tinh hoa Nho giáo. Và, không vì thế mà đất nước họ không độc lập. Nền văn hóa của họ không rực rỡ!  

Tác giả ĐVNN cũng nêu trường hợp của Miến Điện mà “…xét về nguồn gốc thì đa số người ‘Miến’ ngày nay có thể coi là xuất phát từ một vùng phía Tây Nam Trung Quốc! Họ vẫn là một quốc gia độc lập…” (9)

Ngay nước Mông Cổ, vẫn theo tác giả ĐVNN, số phận của Mông Cổ có phần khác hơn 3 quốc gia vừa kể. Sau nhiều giai đoạn thăng trầm, từng bị người Hán rồi Nga đô hộ, nhưng “…Cuối cùng tôn giáo cũng là một yếu tố quan trọng giúp họ đoàn kết và và gây dựng một tinh thần dân tộc. Vì ở cách xa Trung Quốc một sa mạc Gobi, và biết dùng ngoại giao đi giữa Nga và Trung Quốc cho nên nước Mông Cổ vẫn giữ được độc lập trong suốt thế kỷ 20…” (10)  

Theo tác giả Ngô Nhân Dụng, Việt Nam cũng vậy và, còn hơn thế, ở chỗ cha ông ta dư thừa khôn ngoan để tiếp nhận mọi nền văn hóa, học thuật giá trị của nhân loại. Kết quả là tự xa xưa Việt Nam đã là một thứ “melting pot” của ba tôn giáo lớn: Phật, Lão, Nho… đồng nguyên, với  bản sắc Việt Nam. (11)

Những ghi nhận trên của Ngô Nhân Dụng nhằm đi đến kết luận:

“…Trong số những yếu tố chính làm cho người Việt giữ vững được dân tộc và đất nước gồm có: giữ gìn tiếng nói là bảo vệ văn hóa truyền thống hữu hiệu cho nòi giống, sức mạnh tôn giáo mà tiêu biểu là Phật Giáo góp phần đoàn kết toàn dân tập trung và xây dựng lực lượng tri thức để giúp việc trị quốc an dân, vị thế địa lý và thiên nhiên khắc nghiệt của nước Văn Lang làm tiêu hao sinh mạng của quân Hán phương Bắc, sự giàu có của vùng đất Giao Châu đã giúp cho việc xây dựng và nuôi giữ một lực lượng binh sĩ đủ để chiến đấu với quân Tàu, tình trạng nội loạn của nước Tàu nên không còn có thì giờ để tâm đến việc xâm lấn các lân bang, đặc biệt là nhờ ‘nghị lực và tính chất riêng,’ mà cụ Trần Trọng Kim đã đưa ra, đã là những nhân tố quyết định cho sự đứng vững của dân tộc Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm qua.

Đề cập đến quan điểm của cụ Trần Trọng Kim về ‘nghị lực và tính chất riêng,’ tác giả Ngô Nhân Dụng giải thích thêm rằng chính yếu tố này góp phần hình thành tính không thay đổi, tính cứng đầu của người Việt Nam cố chấp giữ phong tục, tập quán và nếp văn hóa truyền thống của mình…” (12)

Nơi chương cuối, tác giả Ngô Nhân Dụng nhấn mạnh và cảnh báo:
Nước Việt sẽ không bao giờ mất. Điều đáng lo không phải là mình còn được độc lập hay không. Đáng lo là mình chậm tiến quá, trong khi những nước chung quanh, kể cả Trung Quốc, đang tiến rất nhanh. Đáng lo hơn hết, là dù nước mình vẫn còn nhưng dân mình không phát triển, đuổi kịp các nước chung quanh, kinh tế cũng như chính trị. Tổ tiên chúng ta giành lấy độc lập không phải để con cháu sau này chịu sống như một nước nghèo hèn thua kém mãi. Mà trong thế giới ngày nay, một quốc gia muốn ngẩng đầu lên phải phát triển. Làm sao để kinh tế nước ta có thể tiến lên ít nhất ngang hàng với các nước phát triển ở vùng Đông Nam Á; để dân mình được sống tự do như họ?” (13)

Những đoạn văn thống thiết như trên, người đọc sẽ gặp được rất nhiều trong tác phẩm ĐVNN của Ngô Nhân Dụng. Vẫn trụ vững từ điểm đứng khách quan, sau khi phân tích dữ kiện, ông đã gióng giả những hồi chuông huyết thống, hầu lai tỉnh số người có trách nhiệm trước mọi hưng, vong  của đất nước.  

Du Tử Lê