BẢO ĐẠI - TRẦN TRỌNG KIM và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM

9/3/1945 - 30/8/1945, Trước khi bão lụt tràn tới

Tác giả: Phạm Cao Dương

Truyền Thống Việt xuất bản tháng 2.2017

de quoc VN

Đế Quốc Việt Nam là quốc hiệu chính thức của nước Việt Nam trong những ngày đầu tiên độc lập sau một thời gian dài thuộc Pháp. Quốc hiệu này không mang ý nghĩa thông thường có liên hệ tới bá quyền, tới chiến tranh, bạo lực, đô hộ và áp bức mà là một sự bao gồm tất cả các cộng đồng người do chính họ lựa chọn, sống hòa hợp với nhau trên một lãnh thổ chung dưới sự lãnh đạo của một vị hoàng đế,người Việt hay người Kinh chỉ là chiếm đa số.
Đây cũng là thời của Hoàng Đế Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của Triều Đại Nhà Nguyễn và cũng là cuối cùng của chế độ quân chủ ở Việt Nam. Mặt khác, đây cũng là thời của Nội Các của Nhà Giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim, một trí thức được rất đông người trong nước từ Bắc chí Nam biết tiếng và yêu mến qua các bộ sách Giáo Khoa Thư, gồm có Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư, v..v… dùng cho bậc tiểu học và tác phẩm Việt Nam Sử Lược, cuốn sử gối đầu giường của nhiều thế hệ người Việt rất lâu về sau này, đồng thời cũng là nội các của những người có học nổi tiếng trong nước đương thời.
Cuốn sách nhỏ này là để tưởng nhớ những người thuộc thế hệ trí thức Tây học đầu tiên của nước Việt Nam mới, còn giữ được tinh thần sĩ phu truyền thống, cùng với tuổi trẻ đương thời đã đứng ra làm việc nước và đã ra đi trong nhiều oan khuất.
Đây là một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp, tác giả xin được trang trọng gửi tới các Bạn Trẻ Việt Nam bây giờ, sau này và mãi mãi.
 
de quoc VN

Sách dầy 784 Trang, hiện đã bán trên Amazon.com.

https://www.amazon.com



GS Phạm Cao Dương nói về Đế Quốc Việt Nam 

"Nếu không có cách mạng 19/8/1945  Việt Minh cướp chính quyền, Việt Nam đã có Tự Do, Dân Chủ và Tiến Bộ như Đại Hàn và các nước Đông Nam Á khác mà không ph̉ải trải qua hai cuộc chiến đẫm máu với hàng triệu người phải hy sinh..."

 


 Ý kiến độc giả:

 

GS Phạm cao Dương mới hoàn tất cuốn sử ”Bảo Đại- Trần trọng Kim và Đế Quốc Việt nam”.
Đây là thời kỳ quan trọng của dân tộc Việt, một thời kỳ Việt nam vừa mới bắt đầu nền độc lập tiếp theo giai đoạn đô hộ của thực dân Pháp. Chính Phủ Trần Trọng Kim, một chính quyền đầu tiên của quốc gia Việt nam độc lập với các nỗ lực xây dựng nền móng cho một tương lai tốt đẹp cho dân tộc , thì bị Hồ chí Minh dưới sự lãnh đạo của Cộng Sản Nga Tàu dùng các mưu thuật cướp chính quyền qua cuộc biểu tình của công chức ở Hà nội vào ngày 19 tháng 8, 1945 và đưa nước Việt vào một ngã rẽ quan trọng và dân tộc Việt phải chịu một thảm trạng to lớn từ đó đến nay.
Các anh chị cựu SVVH, nhất là các khoá học đầu tiên, sau khi tốt nghiệp đã có dịp tham dự và tiếp nối công tác phát huy những gì mà chính phủ Trần trọng Kim đã đề ra, nên có cuốn sử này trong tay để biết thêm về giai đọạn lịch sử tốt đẹp này.
Cuốn sử này của Thày Dương có thể giúp chúng ta có tài liệu so sánh giữa giai đoạn độc lập phôi thai , nhưng ngắn ngủi của dân tộc, trong đó có các đóng góp to lớn, vô giá của các nhà lãnh đạo có nhiều tâm huyết với dân tộc hầu như bị bỏ quên và giai đoạn Cộng Sản thống trị.
Sử học là một môn khoa học, Thày Dương đã áp dụng đúng phương pháp Khoa Học Sử để đạt cái “chân” của ngành này.
Gs Nguyễn Văn Canh

__________________

Tôi có duyên hạnh ngộ với Giáo Sư Phạm Cao Dương và phu nhân của ông là giáo sư Khánh Vân từ trong các sinh hoạt Cộng Đồng tại Nam Cali. Tuy gọi là quen biết, nhưng tôi xem như tôi là học trò của hai người về đủ phương diện... nên khi được chị Khánh Vân (Giáo Sư Khánh Vân bắt buột tôi xưng hô theo tình bằng hữu) đích thân đến tệ xá tặng trực tiếp tác phẩm quý của GS Phạm Cao Dương vừa mới phát hành; thì tôi vô cùng cảm động!
Sách tôi được tặng mang một cái tên rất là lạ đối với nhiều người: "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM". Tác phẩm nầy, giáo sư Phạm Cao Dương, tuy sức khỏe của tuổi 80, một vài lần phải giải phẩu tim; nhưng đã cố gắng miệt mài mấy năm trời để hoàn thành. Có thể nói đây là tim óc, là sức lực còn lại của một đời người, một "Nhân Sỹ" có lòng với văn học và lịch sử Việt Nam.
Chúng ta không thể tưởng tượng, với sức khỏe hạn chế như vậy mà giáo sư đã cần mẫn, kiên trì tham khảo đủ các tài liệu cho một tác phẩm để đời! Cuốn sách dày 782 trang (không kể bìa và vài tờ giành cho những ai muốn ghi chú biên khảo). Hình bìa là cửa Ngọ Môn Huế, bìa sau là lời giải thích nguyên nhân của tên sách "Đế Quốc Việt Nam", vài hàng về tác giả. Bên dưới là hình ngôi mộ Hoàng Đế Bảo Đại tại Pháp cùng một đoạn tán thán về tương lai tổ quốc. Toàn thể cuốn sách rất giản dị, thuần chất Việt nam!Nếu phải viết đầy đủ tên sách, ta có thể đọc được:
Khi Bão Lụt Tràn Tới - Bảo Đại - Trần Trọng Kim và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM (9/3/1945 - 30/8/1945). Có thể nói giáo sư Phạm Cao Dương xoay quanh những dữ kiện, thời gian và không gian cho cuốn sách rất dày nầy về sự "giao thoa"lịch sử, chuyển giao từ Thực Dân Pháp cho một chính phủ thuần Việt Nam! Pháp chuyển giao chính quyền cho Hoàng Đế Bảo Đại. Hoàng Đế chỉ thị cho Nhân Sỹ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ Quốc Gia Việt Nam, mang quốc hiệu là "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM". Thời gian chính phủ Trần Trọng Kim chỉ kéo dài từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến ngày 30 tháng 8 năm 1945 là chấm dứt. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy kịch tính và mang nhiều đau thương, thống hận nghiệt ngã nhất, sau đó là một trường hận chiến tranh, dẫn đến chia đôi đất nước. Hoàng Đế Bảo Đại cũng phải thoái vị trong thời gian nầy. Làn sóng bạo lực Cộng Sản Quốc Tế, núp dưới hình thức liên minh các đảng phái quốc gia là Việt Minh đã nhấn chìm con tàu Việt Nam do Hoàng Đế Bảo Đại lèo lái với một chính phủ mới vừa thành lập ngắn ngủi chỉ vài tháng trời!

blank

Giáo Sư Phạm Cao Dương đã trân trọng những lời đầu trang để cám ơn người bạn đời - GS Khánh Vân - đã sát cánh, khuyến khích, chăm sóc từng miếng ăn, viên thuốc và cả thời gian giáo sư nằm trong bệnh viện. Đúng như lời người xưa, có thể diễn tả là: "Sự thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng người đàn bà...!". Quả thật cái bóng giáo sư Khánh Vân bên cạnh tác giả, đúng là rất có ý nghĩa!

Tác phẩm "Đế Quốc Việt Nam" được biên soạn rất công phu, rất chi tiết. Mục đích của tác già là đả phá những luận điệu phản dân tộc của những bồi bút Cộng Sản viết lịch sử cận đại về Việt nam trong giai đoạn từ 1945 -1975 cho đến cả dòng lịch sử sau 30-4-1975! Lịch sử là phải trung thực, những biến cố xãy ra theo thời gian phải được viết lại chính xác!
Sách được chia làm ba phần:
- "Phần Thứ Nhất" mang tên: CHÍNH PHỦ TRẦN TRONG KIM, CHÍNH PHỦ ĐẦU TIÊN ĐỘC LẬP VÀ DUY NHẤT CỦA ĐẾ QUỐC VIỆT NAM.
- "Phần Thứ Hai" mang tên: ĐẾ QUỐC VIỆT NAM - BẢY MƯƠI NĂM NHÌN LẠI.
- "Phần Thứ Ba" mang tên: PHỤ LỤC: TÀI LIỆU VÀ HÌNH ẢNH.
Trong "Phần Thứ Nhất" được diễn tả trong 10 Chương về tất cả những diễn tiến lịch sử và các âm mưu, các mánh khóe chính trị của các bên liên quan. Những thủ đoạn chính trị chánh tà và các hệ quả khóc hại của toan tính quyền lực... Mỗi Chương là một đề tài ta cần đọc kỹ và nghiên cứu. Xem hết Phần thứ Nhất ta mới thông cảm và hiểu tại sao Hoàng Đế Bảo Đại phải thoái vị và vì sao chính phủ non trẻ do một người nổi tiếng, đầy uy tín như Nhân Sĩ Trần Trọng Kim phải thúc thủ như thế nào!
Tác giả phân tích và đi sâu vào hệ thống tổ chức của chính phủ Trần Trọng Kim, các nhân vật đảm trách các chức vụ, dự thảo Hiến Pháp, giáo dục. thanh niên... Điều quan trong là chính phủ Trần Trọng Kim đã đặt nên tảng cho việc khai lập quốc kỳ, quốc ca, dặt tên Việt Nam cho các đường phố...Thống nhất ba miền đất nước! Nhưng thời gian quá ngắn cho những dự án quốc gia trọng đại vì các thế lực phản động phá nát, chính phủ phải từ chức chỉ sau mấy tháng cầm quyền đầy bảo tố.
"Phần Thứ Hai" tác giả chuyên sâu về phân tích trong bảy (7) Chương. Theo tác giả, sau bảy mươi năm nhìn lại quá khứ, hào quang của Chính Phủ Trần Trọng Kim dưới danh nghĩa một "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM" đã làm được gì, những nhân vật lịch sử của giai đoạn ấy tại sao không thoát ra được vòng kim cô lịch sử! Những phân tích rất trung thực và khách quan đã làm cho cuốn sách mang tên "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM" có chỗ đứng vững chắc trong nên văn học Việt Nam viết về lịch sử cận đại.
"Phần Thứ Ba" là phần Phụ Lục, liên quan đến các tài liệu được tra cứu tham khảo trong các văn khố, các bảo tàng lịch sử khắc nơi trên thế giới liên quan đến thời gian và không gian mà Hoàng Đế Bảo Đại về nước chấp chính và chính phủ do Nhân Sĩ Trần Trọng Kim ra đời như thế nào, phải từ chức như thế nào với khung cảnh đầy tang thương nghiệt ngã của Tổ Quốc!
Tôi đọc "ĐẾ QUỐC VIỆT NAM", càng đọc càng thấm buồn và đau xót cho quê hương dân tộc. Số phận nhược tiểu không những bị các thế lực Đế Quốc, Thực Dân rắp tâm lợi dụng, mà còn bị các lý thuyết ngoại lai Mác Lê, Mao ít liên kết khống chế tư tưởng con người Việt Nam. Bảy mươi năm sau - theo ý của nhà biên khảo - GS Phạm Cao Dương - ta nhìn lại khúc quanh lịch sử đầy kịch tính với máu và nước. Những dấu mốc lịch sử bi đát ấy kéo dài cho đến khi chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ - Việt Nam Cộng Hòa là những chính phủ nối tiếp chính phủ Trần Trọng Kim - Bây giờ, sau ngày 30-4-75, Tổ Quốc Việt Nam càng ngày càng bị ngoại bang khống chế dưới tà quyền Cộng Sản đang bị sát nhập vào nước Tàu. Thân phận dân tộc Việt Nam trong tương lai rồi sẽ ra sao!
Cám ơn tác giả, Giáo Sư Sử Học Phạm Cao Dương, đã cố gắng hết sức lực ghi lại toàn cảnh một giai đoạn lịch sử bi đát đầy đau buồn nghiệt ngã; thời gian giao thoa giữa Chủ Nghĩa Thực Dân, Chủ Nghĩa Cộng Sản, giữa nội thù và ngoại xâm rất trung thực khách quan! Đây là tài liệu đáng được trân trọng gìn giữ cho con cháu sau này học tập và nghiên cứu.
letamanh (Lê Anh Dũng)
tháng tư năm 2017

_____________________

Kính Anh Phạm Cao Dương,
Tôi vừa đến nhà Anh Nguyễn Đôn Phong để nhận quyển Bảo Đại -Trần Trọng Kim của Anh Chị tặng chúng tôi. Thật là một tác phẩm đồ sộ, hiểu theo nghĩa hình thức và nội dung, bởi lẽ với một thời gian lịch sử non 6 tháng, anh đã sưu tầm và phân tích để hình thành một sử liệu non 800 trang, một mảng lịch sử ở vào một thời điểm làm thay đổi vận mạng đất nước mà nhiều sử gia đã bỏ qua hay bỏ quên. Tôi sẽ dành thời giờ đọc thật kỹ để thu nhận. Cầm quyển sử trong tay, tôi đọc lướt qua nhưng đã ghi nhận ngay hai điều đặc biệt . Trước hết là cách đặt tựa và tiểu tựa không conventionel, là một loại sommaire très succinct (xin lỗi tôi dùng mấy chữ «tiếng Tây» vì Cựu Sorbonne hiểu rõ hơn ai hết cái nghĩa trọn vẹn của mấy danh từ nầy, nhưng cái index thì thật vô cùng công phu) và lời cám ơn của anh với chị tuy mộc mạc nhưng thực ân tình, thực là «nhà giáo». Biết được Anh vừa mổ tim, mà hoàn thành một quyển sử như vậy, phải hiểu là tấm lòng của Anh với Sử học không sao đo lường được và sự hỗ trợ của Chị , trong một hoàn cảnh như vậy, cũng không sao nói lên hết được. Thành thực cám ơn và càm phục Anh.
Gs Lâm Văn Bé (Lâm Vĩnh Bình)

__________________

Ngày 17 tháng 4/2017
Ông Dương thân
Tôi đã nhận được cuốn sách của ông rồi. Mở ra, thấy nó dầy suýt soát cuốn tự điển Merriam Webster. Mà phát ngán. Tuy rằng tôi là người thích sử. Nhờ lúc còn nhỏ được nghe những chuyện anh hùng nước Nam: bà Trưng, bà Triệu, Trần bình Trọng, Bùi thị Xuân, cô Giang cô Bắc…Và nhờ hai ông thầy dậy sử địa trung học: giáo sư Bùi đình Tấn, “hắc” nổi tiếng trường Chu Văn An, và Lê Ngọc Huỳnh, người dậy sử theo tôi, hay nhất Chu Văn An. Ông Tấn, người gầy, trắng trẻo , mặt không lúc nào thấy có nụ cười, bài soạn khô khan ngắn ngủi. Ông Huỳnh người cao, mặt vuông, ăn nói dẽ dàng, những điều ông nói ra là vô cùng đặc biệt, hấp dẫn, và thích thú (ít ra là đối với tôi), nghe rồi không thể quên. Lúc thi lục cá nguyệt trong lớp, nếu có thuộc nguyên văn bài của giáo sư Tấn viết ra, đứng nhất lớp chỉ được chừng 11-12/20. Đa số là dưới trung bình 10/20. Thi lục cá nguyệt với giáo sư Huỳnh thì thoải mái, 16/20- 14/20 là thường. Tôi bực ông Tấn cho nên về nhà mò mẫm tra cứu bổ túc vào những điều ngắn ngủi của bài ông soạn, vì thế bao giờ điểm thứ nhất của tôi cũng cách xa người thứ nhì 1 ½ hay 2. Tôi khoái ông Huỳnh cho nên thích đọc thêm sử để lôi ra những điều hấp dẫn khác ông nói chưa hết, và nghe chưa đã, vì giới hạn thời gian trong lớp.
Kể cho bạn như thế để giải thích lý do tại sao nhìn quyển sử của bạn mà tôi “ngán”, trong khi sử và địa là hai môn tôi thích. Không phải vì nó dầy như quyển tự điển. Mà vì từ những năm gần đây tôi đã không đọc những quyển viết về sử cận đại và hiện đại nữa, Việt nam cũng như ngoại quốc. Bởi vì qua kinh nghiệm sống và suy nghiệm, tôi đã hiểu rằng nhiều điều là những chuyện tầm phào, tưởng tượng viết ra hay chép theo những sách vở và truyền thông ngoại quốc đầy thiên lệch vì nhiều lý do, mà một lý do là phục vụ nhu cầu giải trí quần chúng để bán kiếm tiền và để ảnh hưởng vào quan niệm chính trị của quần chúng. Ngay cả những thứ gọi là tin “tình báo” hay “giải mật”. Tôi có đọc một số sách viết của các nhà chính trị và lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa (hồi ký và sưu khảo) thì chí thấy rằng họ muốn cho thấy sự vô tội vô can của họ, (và ngay cả khoe khoang cái khả năng suy nghĩ của họ) - trong những diễn tiến dẫn đến sự sụp đổ của VNCH. Tôi cũng có đọc một số bài mới viết trong vài năm gần đây, nói về những sự kiện cách đây cả nửa thế kỷ với những chi tiết và đối thoại như thực, làm như là lấy ra từ các băng thu âm thu hình. Chỉ cần suy nghĩ một chút là thấy giá trị của các bài viết này là như thế nào. Tôi không nói đến những tác phẩm của các văn công VC như Huy Đức và cuốn Bên thắng cuộc, với những dụng ý tuyên truyền bằng lối viết học được từ kỹ thuật truyền thông Hoa kỳ. (Nhiều nhà chính trị và truyền thông hải ngoại đã quảng cáo cho cuốn sách này một dạo!).
Tuy nhiên, cầm cuốn sách ông cho tôi, khi nhìn giòng đề tặng ngắn ngủi, mà chữ còn thấy rõ nét chân phương với chữ ký không dấu nổi vẻ huê dạng, tôi không thể không nẩy ra cái ấn tượng “sợ và phục”.
“Sợ” vì ông còn giữ được sự miệt mài làm cái công việc mà tôi (và có thể nhiều người khác) đã không có mấy quan tâm, là đọc và sắp sếp các tài liệu lịch sử Việt nam giai đoạn 9/3/1945- 30/8/1945, bởi vì biểu kiến đó là một giai đoạn giao thời ngắn ngủi không đáng để ý.
“Phục”, vì thấy ông có cái khả năng là ngồi còm cọm trước computer để ghi lại những điều ông gom góp cho người ta trình bầy đem in. Trong trường hợp ông không dùng computer mà vẫn ngồi viết tay thì cũng không thể không phục. Tôi biết nói thế này là thừa, nhưng vẫn phải nói, là ông có cái đặc tính của một thầy giáo, một nhà hàn lâm.
Tuy nhiên không phải vì sợ và phục mà tôi có thể kiên nhẫn đọc quyển sách dầy cộm của ông. Tôi đọc vì cái câu ngắn ngủi đề tặng “để nhớ lại thời chúng mình còn 9, 10 tuổi”. Lúc đó, chúng mình không biết nhau, ông ở miền Bắc, tôi ở miền Trung, thành phố Vinh. Tôi đã bị đánh thức dậy vì tiếng súng đảo chính Nhật kéo dài chừng hơn một tiếng đồng hồ, ngày mồng 9 tháng 3/1945. Để hôm sau, ra cửa thấy lính Nhật đứng gác loáng thoáng trên con phố nhà tôi ở: phố Cửa Tả ngắn ngủi chừng nửa cây số từ ga xe lửa Vinh đến cửa Tả thành Vinh. Để một buổi chiều nào đó sau đó, thấy cả phố gọi nhau ra xem một cảnh tượng chưa từng xẩy ra, là có thằng Tây con mười mấy tuổi kéo chiếc xe nhà chạy trên phố. Có người biết chuyện bảo rằng đó là con thằng Công sứ Tây kéo xe cho mẹ và em nó vào thành thăm thằng Công sứ bị giam. Cũng thời gian đó, một hôm đi học về, tôi thấy có một người gầy guộc dơ xương nằm chết đói trên đường phố. Và một buổi sáng, khi mở cửa ra ngoài hè, tôi thấy ngay nhà bên cạnh một người nằm chết trong quần áo như là giẻ rách và chung quanh là chấy rận bò ra đen cả gạch. Trường tiểu học tôi học lúc đó đang tên là Cao Xuân Dục đổi thành Phạm hồng Thái. Rồi chỉ ít lâu sau, vào một buổi chiều nắng xiên khoai chiếu vào cửa sổ nhà tôi, thấy có tiếng lao xao ngoài đường, tôi chạy ra xem. Thì thấy hai thanh niên đi xe đạp cầm loa hô hào kêu gọi đại khái mời “đồng bào đến 3 giờ chiều ngày chủ nhật ra sân vận động biểu tình giành độc lập”. Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy mấy chữ độc lập, biểu tình… mà không hiểu là gì. Và chẳng mấy lâu sau thì một buổi sáng hai anh em tôi cùng dân hàng phố chạy ra chỗ bờ thành Vinh xem bắn hai tên Việt gian mà tôi còn nhớ tên là Trần Văn Cống và Tống gia Liêm đã bị xử tử vì tội tố giác Đội Cung cho Tây.
Tất cả giai đoạn mà ông viết trong cuốn sách, tôi chỉ biết có thế. Cho nên tôi quyết định bỏ thì giờ ra đọc để biết thêm. Sau đó là cách mạng tháng tám, là Việt Minh, là kháng chiến chống Pháp, là vùng tề, là vùng quốc gia, là đấu tố, là Việt Cộng, là chính phủ quốc gia, là di cư, là Việt Nam Cộng hòa vân vân mà tôi thương và tôi ghét… mà tôi đã sống và trải qua với những tâm sự và tâm trạng khác nhau. Với các cảm tính dào dạt của từng giai đoạn.
Đọc cuốn sách của ông, tôi lại càng phục vì ông không bị lôi bởi những cảm tính sôi nổi. Ông kiên nhẫn đọc đủ mọi nguồn tài liệu đối nghịch. Để mà phân tích, nhận định. Ông trích dẫn quan điểm và hành động của nhóm Thanh Nghị, của những nhà trí thức thành danh, của những sinh viên có lòng, có suy nghĩ, và của những nhà chính trị đủ xu hướng. Của những trí thức nằm vùng theo Cộng sản lúc đó, và sau đó quy phục chế độ, và qua những bài viết về sau này khi chế độ toàn trị VC biến thái. Vân vân… Rồi đưa ra quan điểm của ông, cũng một cách dè dặt chừng mực, không mang tính sôi nổi thuyết phục hay ẩn ý chính trị. Nhưng mà dù sao, có một điểm nổi bật là ông mang tính lạc quan: Nhìn thấy cái đẹp trong một toàn cảnh không có mấy điều như ý. Vì ông quyết định “giảm thiểu chuyện Việt gian, thân Nhật, bù nhìn của Nhật của hoàng đế Bảo Đại hay chính phủ Trần trọng Kim, một chuyện đã được các sách báo với các tác giả cả Việt nam lẫn ngoại quốc viết trước đây nói tới quá nhiều rồi” (trang 34). Và nhiều lý do khác tôi không kể ra đây vì muốn để dành cho những người đọc sách của ông.
Tôi sẽ hơi thất vọng về câu ông viết cho tôi “để nhớ lại thời chúng mình còn 9, 10 tuổi”, nếu trong cuốn sách không nhắc đến những bài hát yêu nước và dân tộc, không sặc mùi Cộng sản, mà tôi say mê thời đó như Gò Đống Đa, Chi Lăng, Bạch đằng… ca tụng chiến tích của các anh hùng dân tộc. Và cũng là đặc biệt cái lối khai thác sấm Trạng Trình thời đó mà Phạm Khắc Hòe, ngự tiền tổng lý văn phòng của Bảo Đại theo Cộng sản nằm vùng, khai thác để quảng cáo cho Hồ chí Minh hòng lôi Bảo Đại thoái vị, với ba câu:
Đụn Sơn phân giải,
Bò Đái thất thanh
Nam Đàn sinh thánh.
Chuyện này nhỏ nhưng nó nhắc lại cái thời đó, tôi nghe người lớn ca tụng Hồ chí Minh có hai con ngươi và là hậu thân của trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.Tình trạng mê tín này còn kéo dài tới nay, nhưng đó là chuyện khác.
Cám ơn ông nhiều.
Chỉ nói cám ơn ông mà không nói gì đến bà là một lỗi nặng. Bởi có món ăn ngon mà không có người chỉ ra, hay đem tới cho mà ăn thì chẳng thể nào có cơ hội thưởng thức. Bà đóng vai quan trọng trong việc hoàn thành cuốn sách mà ông đã viết lời cám ơn. Ông viết sách mà nếu bà ấy không mất công ra nhà bưu điện gửi cho tôi thì kể là “có cũng như không”, nhất là như đã nói ở trên tôi không có cái thích đọc sử hiện đại nữa. Tôi biết chắc là bà gửi, vì ông lúc này thì chẳng còn đi đâu nữa. Vậy tôi xin long trọng cám ơn bà.
Bs Trần Xuân Ninh

__________________

Đã lâu chúng tôi không thấy anh em thân hữu của mình ra mắt sách hay có những tác phẩm mới, lúc ấy mới chợt nghĩ rằng ở tuổi của mình sức viết có thể đã bị chậm lại. Một nỗi buồn se sắt thoáng qua nhớ lại câu nói của học giả Nguyễn Bá Học: "...Đến lúc tuổi càng cao, kinh lịch càng lắm, lúc bấy giờ mới biết sự đời là khó, tài mình là hèn. Chân đã mỏi, đường còn xa..."
Đấy thực sự chỉ là bản thân của chính mình và thấy chân đã mỏi thực sự. Nhưng khi nhìn thấy một công trình mới của sử gia giáo sư Tiến sĩ PHẠM CAO DƯƠNG chúng tôi lại như mới được chích một liều thuốc bổ, tâm hồn hưng phấn trở lại. Đó là một công trình nghiên cứu về
ĐẾ QUỐC VIỆT NAM
Bốn chữ này chúng tôi đã được nghe từ lâu lắm, cũng khoảng bẩy chục năm nay, bây giờ chúng tôi nghe vừa thấy lạ lẫm, thấy thấm thía, vừa thấy nuối tiếc. Cũng chỉ tai thời gian được mang quốc hiệu này của dất nước ta quá ngắn ngủi, 175 ngày không trọn, chưa được 6 tháng.
Không hiểu khi chọn đề tựa cho cuốn Sử này tác giả có mang một cảm giác u hoài như chúng tôi ngày hôm nay không?
Chắc chắn là CÓ. Nhìn vào hai trang bìa với sự lựa chọn tỉ mỉ từ màu sắc, hình ảnh đến vị trí đặt từng tấm ảnh, mỗi hàng chữ chúng ta đều thấy có sự chăm sóc chu đáo, gói tròn một giai đoạn thương yêu hãnh diện của lịch sử nước ta vào thuở mới chập chững làm quen với Độc Lập với Tự Do với Nhân Quyền mà đã sớm bị cướp đi thì cái cảm giác u hoài kia chắc chắn là phải CÓ. Cái u hoài mà tác giả đã truyền lại cho chúng tôi cũng chỉ nhận được một phần. Viết ra một câu thơ, thi sĩ chỉ gieo lên được 80% cảm súc của tâm hồn minh là nhiều, đến lượt người đọc như chúng tôi chỉ nhận được vào khoảng 70%.
Với chiều dài 175 ngày lịch sử của một dân tộc quả thật là quá ngắn mà Sử gia đã biên khảo được 784 trang sách, là một công trình không nhỏ. 21 năm khảo cứu, bộ sách sẽ là một tài liệu quý giá cho các nhà khảo cứu sau này cũng như những người hằng quan tâm đến tổ quốc và dân tộc. Nhà Sử Học đã viết:
"Đây là một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp,, tác giả xin được trang trọng gửi tới các bạn trẻ Việt Nam bây giờ, sau này và mãi mãi." ( Giáo sư Tiến sĩ PHẠM CAO DƯƠNG)
Bộ sách này được in bằng giấy trắng dầy, khổ chữ lớn rất dễ đọc là nhu cầu cần thiết cho những độc giả lớn tuổi như chúng tôi.
Bìa sách trắng sáng có màu tím nhẹ nhàng phớt qua. Tôi hiểu ý tác giả muốn đánh dấu màu tím cổ truyền thân thương của xứ Huế. Nói về HUế mà vắng bóng tím cũng như thiếu đi một nửa mùa xuân.
Cửa Ngọ Môn sừng sững giũa trời, từng viên ngói mới được tô lại như thách thức với thời gian của cả triều Nguyễn
Nói đến ĐẾ QUỐC VIỆT NAM chúng ta không thể không nói đến vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Hoàng Đế Bảo Đại. Hoàng Đế Bảo Đại là một vị vua trẻ, thông minh, được huấn luyện bằng cả hai nền văn hóa Đông và Tây và cả hai cùng huấn luyện để Ngài làm vua. Cũng vì thế, khi thời cơ đến, Hoàng Đế đã sẵn sang chấp chánh ngay và đồng thời cũng có ngay chương trình phục vụ đất nước và đặc biệt là chương trình phục vu cho thần dân của Ngài. Cho nên ngay khi quyết định chấp chánh, trong Dụ số 1 Ngài đã viết:
"...Nay trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ quyền lợi cho tổ quốc và giáng dụ rằng:
Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu "DÂN VI QUÝ"....
Cũng vì thế cửa Ngọ Môn cũng còn có liên hệ đến những ngày đầu của Đế Quốc Việt Nam cho nên cửa Ngọ Môn vẫn có lý do đứng oai nghiêm trong trang đầu cuốn sách vì sự tự nguyện tham chính và vì lý tưởng quyết tâm phục vụ toàn dân của Hoàng Đế Bảo Đại với khẩu hiệu" Dân Vi Quý" mà Ngài đã chính thức chỉ thị cho Nội Các Trần Trọng Kim thực hiện ngay trong Đạo Dụ đầu tiên, Dụ số 1 và là điều số 1 của Đạo Dụ điều này nói lên bầu nhiệt huyết với mối quan tâm hàng đầu của Ngài.
Cũng là vận nước, song song với Đế Quốc Việt Nam non trẻ quyết tâm phục vụ Tổ quốc với khẩu hiệu Dân Vi Qúy lại xuất hiện thêm một thế lực khác có âm mưu cướp chính quyền và thề phanh thây uống máu.
Họ đã cướp và cướp được chính quyền. Họ thề phanh thây uống máu và họ đã phanh thây tất cả các đảng phái VN hồi đó và cuối cùng là phanh thây hằng triệu quân và dân miền Nam trong ý đồ cướp sống miền Nam, ấy là chưa kể hằng triệu thanh niên miền Bắc đã bắt buộc hy sinh cho những âm mưu đen tối của Đảng CS miền Bắc.
Chẳng có quân cướp nào đi cướp được lại đem của cải kiếm được dâng cho người khác. Cướp được chúng đem chia cho đảng của chúng với nhau. Dân nào hưởng chút gì!
Cuối cùng thì chỉ có dân là khổ vẫn hoàn khổ. "Dân Vi Quý" chưa được hưởng nhưng đã bị cướp mất hết.
Trang bìa sau là mộ phần của Hoàng Đế Bảo Đại nơi đất khách quê người. Thiện Chí của Ngài là "đem thân phục vụ đất nước", ước mơ của Ngài là "tất cả cho toàn dân". Quân cướp đã làm tan nát mộng ước của Ngài để đến nỗi tác giả đã u uẩn ghi bên cạnh mộ phần của Ngài:
Trăm năm còn có gì đâu? (Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều)
Kẻ cướp được thì lầu các nguy nga, lăng nọ tẩm kia, rồi cuối cùng họ đã đem cả đất nước của tổ tiên ra bán, họ đang âm mưu với kẻ thù phương Bắc nhằm tiêu diệt cả dân tộc Việt Nam ta. Về điểm này Đức Đạt Lai lạt Ma đã nói về con người Cộng Sản như sau:
“Người cộng sản làm cách mạng không phải là để mang lại hạnh phúc cho người dân, mà họ làm cách mạng là để người dân mang lại hạnh phúc cho họ”.
Riêng tác giả vẫn mang một tinh thần lạc quan, Việt Nam ta sẽ là Minh Châu Trời Đông cho nên dù Đế Quốc Việt Nam đã không thành tựu được như mong ước nhưng tác giả vẫn để bản đồ "Việt Nam Minh Châu" tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á.
Trên đây chỉ là một vài nhận xét rất thô thiển và có tính cách cá biệt khi lướt qua mấy trang bìa của bộ sách quý giá. Những ý kiến trên đây nếu vì quá hâm mộ đề tài mới mẻ này mà có những điều không hợp ý với tác giả, chúng tôi xin được lãnh ý.
Trong tinh thân chân quý bộ sách gần như tuyệt đối, chúng tôi nhiệt liệt trân trọng giới thiệu bộ sách ĐẾ QUỐC VIỆT NAM với quý cụ tuổi hạc đã cao mà học giả Nguyễn Bá Học cho là "chân đã mỏi đường còn xa", với những bạn trẻ, những bạn chưa có dịp đọc hoặc khảo cứu giai đoạn này của lịch sừ cận đại, và mọi tầng lớp người Việt Nam để biết thêm và yêu quý thêm dân tộc mình và đất nước mình đồng thời cũng để chúng ta có một nhãn quan công bằng trước lịch sử.
Gs Phạm Quang Chiểu

_____________________

Cả cuộc đời anh Dương là cuộc đời của một sĩ phu đúng nghĩa nhất nên anh đã để hết tâm lực và trí lực vào tác phẩm này. Đây là chuyển điểm và một khúc quanh lịch sử vô cùng quan trọng khi Nhật trao trả độc lập. Ngày 17 tháng 4 chính phủ Trần Trọng Kim đã thành lập chính phủ. Ngày 8 tháng 5 Hoàng Đế Bảo Đại đưa ra Hiến Pháp cho một nước VN độc lập và thống nhất. Hiến Pháp đã qui định quyền tự do chính trị,tự do tôn giáo và tự do thành lập nghiệt đoàn. Các cơ cấu khắp lãnh thổ đã được tổ chức từ thành thị đế thôn quê---với khẩu hiệu "DÂN VI QUÝ".
Khốn thay chính Hồ Chí Minh và bọn cộng sản đội lốt Việt Minh đã lừa Hoàng Đế Bảo Đại và cụ Trần Trọng Kim để cướp chính quyền. Trong lúc phôi thai ấy,bọn cộng sản chỉ khoảng hơn 5000 người mà thôi. Với sự trợ giúp của Nhất chính phủ Trần Trọng Kim có thể tiêu diệt và nhổ tận gôc rễ bọn cộng sản thì đất nước VN đâu có chiến tranh VN và đâu có cái đại họa cộng sản.
Chị Vân ơi !Anh Dương đã nhìn thấy tất cả sự thật ấy. Là một người sĩ phu anh nuối tiêc giai đoạn lịch sử đó với hình ảnh của một vị Hoàng Để cực kỳ thông minh và nhân từ,bên cạnh ngài là những khuôn mặt sĩ phu ưu tú và khả kính của dân tộc. Chúng ta có thể xây dựng lại đất nước dân chủ,tư do và độc lập. Đất nước VN sẽ đẹp biết bao. Cuối cùng chỉ vì tính sai một nước cờ bí mà bao thảm họa dội trên dóng sử mệnh Việt cho đến hôm nay.
Vì thế những trang sử của anh Dương đưa ra hôm nay, không chỉ có tuổi trẻ phải học mà chúng ta tất cả dân tộc này phải học những bài học thực tế lịch sử đó để rút tỉa kinh nhiệm cho tương lai. Đúng là "nhất thất túc thành Thiên Cổ hận" là đây. Truyền thống sĩ phu khác truyền thống nho quan rất nhiều.
Người sĩ phu có thể làm quan nhưng nhiệm vụ chính của họ là làm ÁNH ĐUỐC SOI ĐƯỜNG CHO TOÀN DÂN.
Trước bào đau khổ và bao lầm lạc mà cả một dân tộc phải nhận bao cái chết đắng cay. Nhưng dân tộc này vẫn còn mê ngủ. Những người sĩ phu phải đánh thức họ dây để tìm kiếm một bình minh.
Lịch sử càng tăm tối thì càng cần những người sĩ phu. Chúng ta trân trọng với người sĩ phu, bởi vì trước hết họ là những người trong ĐẠO LÝ và thường có TÂM ĐẠO nên thường quên thân mình để hy sinh cho dân cho nước. Cái gọi là "trí thức thời nay) (modern intellectual) không mấy ai biệt TRỌNG ĐẠO và thường không có TÂM ĐẠO chị ạ.
Cuối cùng chỉ có người si phu truyền thống mới làm nên lịch sử. Những người thí thức thời nay đánh mất truyền thống sĩ phu của Đất Việt rồi. Buồn thay.
Xin có lời cảm phục người sĩ phu Phạm Cao Dương.
Ts Nguyễn Anh Tuấn

_______________

Thưa anh chị,
Nhận đưọc tập nghiên cứu lịch sử của anh, tôi để mấy ngày đọc những chương mà tôi cho là hấp dẫn, trước khi để dành thì giờ đọc hết.
Cám ơn anh đã để công nghiên cứu, đọc,và gom góp, cô dọng và viết thành hệ thống. Tôi tưởng mình cũng biết nhiều và đọc khá nhiều về lịch sử giai đoạn đó, nhưng thật ngạc nhiên, anh đã cho biết thêm nhiều điều rất thích thú, mà lần đầu tiên tôi đọc được.
Những cuốn sách như thế nầy vô cùng giá trị, để mở mang trí óc, soi sáng cho các thế hệ đương thời, và cho cả các thế hệ mai sau, khi mà lịch sử đã bị CS nhào nặn, bóp méo, và làm sai lạc sự thật.
Cám ơn tấm lòng của anh đối với lịch sử của quê hương Việt Nam.
Nhà Văn Tràm Cà Mau

_________________

Cầm cuốn sách của GS Phạm Cao Dương trên tay, tôi muốn...nóng lạnh bởi độ dày và muôn vàn sự kiện lịch sử trong một giai đoạn thật ngắn: 9/3/1945 - 30/8/1945 , được "gói ghém" trong 792 trang (kể cả bìa trước và sau).
Để hoàn thành tác phẩm này, tác giả với tấm lòng của một sử gia sĩ phu chân chính, đã miệt mài suốt hơn 21 năm (8/1995-đầu năm 2017).
Thật ngưỡng mộ công trình khảo cứu của GS Dương, ở tuổi bát tuần GS đã không ngại sức khỏe yếu vẫn mong muốn phổ biến "... một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp, tác giả xin được trang trọng gửi tới các Bạn Trẻ Việt Nam, bây giờ, sau này và mãi mãi. " (trang 9 trong tác phẩm ).
Thành thật tri ân GS Dương đã khổ công hoàn thành tác phẩm Bảo Đại - Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam.
Học trò của THÀY,
Lưu anh Dũng

Nhân đây cũng xin kính phổ biến tới toàn thể Thân Hữu, sách được bán trên Amazon.
Ngoài phần mở đầu và phần giới thiệu tác giả và các tác phẩm, sách gồm BA phần :
1. Phần thứ nhất gồm 10 chương (chương 1-10 ; trang 43-512)
2. Phần thứ hai gồm 7 chương (chương 11-17 ; trang 513-664)
3. Phần thứ ba gồm 2 chương (chương 18-19 ; trang 665-777)

Đặc biệt, để thuận tiện cho người đọc và để dễ dàng cho các bạn trẻ suy luận và phán đoán theo quan điểm riêng, sau mỗi chương tác giả ghi ngay những nguồn tài liệu và chứng cứ liên hệ.
Đây là một nguyên tắc không thể thiếu trong ngành sử học , là tính khách quan của phương pháp sử, tuỳ theo những nguồn sử liệu và nhận định riêng của từng người nghiên cứu sử, các sự kiện lịch sử có thể được nhận định dưới nhiều lăng kính khác nhau.
Ngoài ra, tôi cũng tự nghĩ : " phải chăng tác giả muốn người đọc nên ...ung dung từ tốn đọc và suy ngẫm từng sự kiện lịch sử qua từng chương và nếu có thể, tìm tòi thêm những nguồn tư liệu để sáng tỏ hơn nữa, biết đâu sẽ góp phần cùng tác giả ngày càng hoàn thiện thêm một giai đoạn ĐẸP của lịch sử Việt Nam ". Cũng giống như khi ta thưởng thức một bình trà ngon, phải dùng chén hột mít chiêu từng ngụm từ từ ; chứ không thể... ngưu ẩm.
Lưu anh Dũng


Bảy mươi năm nhìn lại

Từ Bảo Đại đến Hồ Chí Minh: HAI BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

thay duong
Gs Phạm Cao Dương

Trong lich sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh.
Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết hay chỉ được học bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết hay không được học bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3.
Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn. Bài này nhằm bổ khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của từng bản.

TUYÊN NGÔN CỦA HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI
Hoàn cảnh được công bố
Bản tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Đông Nam Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu.
Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng xã hội chủa nghĩa vô sản mà luôn cả những người không những không có cảm tình với chế độ quân chủ đương thời mà còn chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của của bản tuyên ngôn này. Lý do là vì Bảo Đại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật.
Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Đại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt. Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Đại”[1] không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Đại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói được Trần Trọng Kim kể lại như sau:
- "Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải dứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc". [2]
Người ta cần phải nhớ là hơn mười năm trước đó, sau khi du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày tháng 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm 1925 do Hội Đồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền Đông Dương thời nà vua còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu hết các quyền hành còn lại của nhà ông trừ các quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ...kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những cải cách qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại.
Đảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định và giải thích nhằm thúc đẩy Trần Trọng Kim “chịu khó” lập chính phủ mới. Ông nói :
- “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.”[3]
Hai tiếng “cơ hội” Bảo Đại dùng ở đây cho ta thấy ông từ lâu mong có dịp này. Đồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn. Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn có nhu cầu phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập và nhất là để tránh không cho người Nhật “lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta.” Một sự e ngại chỉ có những người có kiến thức về lịch sử và chính trị học mói biết được.
Ngoài ra những tiếng “rất có hại cho nước ta” cũng cho người ta thấy đối tương của hành động tuyên cáo độc lập của ông không phải là ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình thế giới và thế tất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký của ông.
Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu bài Đại Đông Á của họ. Nói cách khác Bảo Đại ở vị thế phải chấp nhận nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác, như ông cũng nói tới trong hồi ký của ông: Độc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam thời đó.
Nội dung bản Tuyên ngôn
Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập, đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:
"Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.
Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.
Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên." [4]
Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thượng thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.
Đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập này của Bảo Đại, người ta cần chú ý tới những chi tiết sau đây:
Thứ nhất: Gọi là tuyên ngôn nhưng thực sự đây chỉ là một văn kiện hủy bỏ một điều ước đã được ký kết trước đó vì do tình hình biến chuyển một trong hai phía đã không tôn trọng những gì mình đã ký kết hay không thực thi được những gì mình đã ký kết trong một sinh hoạt quốc tế. Điều ước bị hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Đình Huế và người Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản của hòa ước này là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam công nhận và chấp nhận Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp cam kết bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam cai trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và những cuộc nổi loạn từ bên trong...[5]
Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của quân đội Nhật và cuối cùng là chính người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trong cuộc Đảo Chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính cách đơn phương từ phía Hoàng Đế Bảo Đại với tư cách là người kế vị chính thống của Triều Đình Nhà Nguyễn hay trực tiếp hơn từ Vua Tự Đức, căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm này.
Điểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ “các” hay “những” đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ “s” theo sau. Điều này có nghĩa là bản tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Đó là các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ theo đó xứ này đã bị nhường dứt cho người Pháp là và trở thành thuộc địa của họ, không còn thuộc quyền cai trị của Vua và Triều Đình Huế nữa.
Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó chưa được giải quyết ngay nhưng đã trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính Hoàng Đế Bảo Đại ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Đại Sứ nhật Yokoyama và của Chính Phủ Trần Trọng Kim trong gần suốt thời gian chính phủ này tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính phủ này và chỉ chính thức trở về với lãnh thổ quốc gia Việt Nam ngót năm năm sau, vào giữa tháng 6 năm 1949, và do Bảo Đại với tư cách Quốc Trưởng tiếp nhận chứ không phải là do công lao của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Đây cũng là một sự kiện ít người biết đến hay chỉ biết một cách lơ mơ. Một chi tiết khác cũng cần phải được chú ý ở đây là hai chữ “độc lập” đã được sử dụng tới hai lần: “nước Nam khôi phục quyền độc lập” và “Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập”, trong một bản văn ngắn. Sau này chính Bảo Đại đã dùng danh từ “tuyên ngôn độc lập – proclamation d’indépendance” khi nói tới văn kiện này trong hồi ký của ông
Thứ hai: ”Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập....giúp cho cuộc thịnh vượng chung.” Câu này xác định phương thức hoạt động nhằm thực hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung).
Ta cũng nên để ý tới khẩu hiệu Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời gian này, một khẩu hiệu hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó còn là thuộc địa của các đế quốc Âu Châu. Đây cũng là một cách nói khéo léo nhằm ngăn chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật, một điều cả nhà vua và Chính Phủ Trần Trọng Kim luôn luôn quan tâm phòng ngừa.
Thứ ba: “Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc...”.”Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành của người Nhật với những gì họ đã nói, với quan niệm trung thành như một truyền thống chung của các dân tộc Á Đông.
Thứ tư: “”quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.””Mục đích như trên là mục đích gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là “tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập”“giúp cho cuộc thịnh vương chung” như là một phần tử của khối Đại Đông Á.”
Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ càng.
Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?
Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của một học giả, một người làm báo, và sau đó là một ngự tiền văn phòng tổng lý của nhà vua cũng như thượng thư bộ lại trong nhiều năm trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, đương thời là ngự tiền văn phòng tổng lý của Bảo Đại, trong hồi ký của ông này xác nhận[6].

TUYÊN NGÔN CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VN DÂN CHỦ CỘNG HÒA HỒ CHÍ MINH
Hoàn cảnh được công bố
Bản tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh một mình soạn thảo, một mình đứng tên và đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945, ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, hơn hai tuần lễ sau khi Nhật Bản đầu hàng, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái vị.
Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, sau khi người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho là thừa, không cần thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị nhường cho dựa theo chiếu thoái vị của Bảo Đại và đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông chấp nhận.
Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Hoàng Đế Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện công pháp quốc tế. Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu.
Câu hỏi được đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng sự viên của ông, khi đưa ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Đại đã làm công việc này rồi hay không? và biết như vậy tại sao ông lại còn làm lại việc đó một lần nữa?
Cho câu hỏi thứ nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí Minh chắn phải biết là Bảo Đại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo hộ 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu cầu đó là những nhu cầu gì?
Thứ nhất là vì từ lâu toàn dân ai nấy đếu khao khát được thấy nước nhà độc lập, đúng như Bảo Đại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mơ của mọi người dân Việt[vii], cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ đúng tần số của bất cứ một người dân Việt Nam nào từ đó đem lại công lao và thanh thế cho người chính thức công bố ra điều đó.
Thứ hai là cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những cộng sự viên thân cận nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của ông này rằng: “Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.” [8]
Ngay vua Bảo Đại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi nhận được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng, yêu cầu nhà vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách mạng với chủ tịch là “Cụ Hồ Chí Minh” đã không biết Hồ Chí Minh là ai.
Còn Phạm Khắc Hòe, người ở bên cạnh nhà vua và được Việt Minh móc nối cũng không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang Phiệt, một đảng viên Cộng Sản, rồi Đào Duy Anh nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Đào Duy Anh lục lọi, truy tìm các tài liệu, sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này. Cuối cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.[9]
Tuyên bố Việt Nam độc lập đối với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và được chấp nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập này hoàn toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố khác của lịch sử trước đó, trong đó quan trọng nhất là Đảo Chính 9 tháng Ba năm 1945, trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp, kèm theo là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại nói trên, và cuối cùng là sự bại trận sau này của người Nhật.
Chúng ta cũng cần để ý là đối với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Độc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Đang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày này, gọi, qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các cơ quan liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội[x] và theo bìa in bản tuyên ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Độc Lập”.[11]
Nhưng đối với Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Đó là “ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa”, theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Đang, “Chú phải nhớ...[12] Tại sao vậy?
Tại vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Đồng Minh kéo vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược đươc. Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị được nhắc tới và câu “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” là nhằm vào mục tiêu này.
Nội dung bản Tuyên Ngôn
Bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, vì được phổ biến rộng rãi và hầu như được coi là bàn tuyên ngôn duy nhất gắn liền với ngày 2 tháng 9, ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên đã được nhiều người đọc, phân tích và tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được mọi người nhắc hay để ý đến.
Trong khi Tuyên Cáo của Bảo Đại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy bỏ hòa ước bảo hộ mà triều đình Huế đã ký trước đó, căn cứ vào sự bất lực của người Pháp không giữ được cam kết đã được ghi trong điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này mà không nhằm vào một đối tượng quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm vào toàn thể người Việt qua lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước…”.
Tuy nhiên ở những đoạn cuối tác giả lại nhắm vào các nước Đồng Minh. Điều này phải tinh ý người ta mới nhận ra được. Về tư cách, Bảo Đại nhân danh Hoàng Đế Việt Nam, người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh “Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới.”” Mới là vì đến ngày đó chính phủ này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư cách của hai bản chất con người khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước dù cho là chỉ còn hư vị; người kia là lãnh tụ của một phong trào cách mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ chế độ quân chủ để giành chính quyền. Văn phong trong bản tuyên ngôn của Bảo Đại là văn phong bình thường của người cầm quyền; còn văn phong của Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi và ở một mức độ nào đó có tính cách bình dân, kể lể dài dòng kể công và nhất là xách động.
Mở đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn một số câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và một câu trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt là về lịch sử Hoa Kỳ và thế giới chắc chắn không nhằm vào quần chúng người Việt mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp.
Lý do là Hồ Chí Minh như là một đảng viên Cộng Sản Quốc Tế chắc chắn đă hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt Nam. Được nguời Mỹ công nhận là coi như làm chủ được chính quyền.
Hiểu được như vậy, ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ cung cấp cho ông một bản Tuyên Ngôn Độc Lập của họ, đồng thời khi tiếp xúc với họ, Hồ Chí Minh cũng nhận thấy rằng nói về lịch sử nước Mỹ với họ là một cách để chinh phục cảm tình của họ.
Cũng vậy, với những gì chứa đựng trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có điều sự trích dẫn nàychỉ nhằm mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của người Mỹ mà thôi. Hồ Chí Minh không cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình không hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã áp dụng quan điểm của người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc của mọi - người - như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam như một - quốc - gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận theo quan điểm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với những gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp.
Phần kế tiếp, Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời ông kể công cho Việt Minh: “Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật...”, sau đó “đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ” và kết luận rằng “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt-nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”.
Điều, như người viết đã nói ở trên, là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo Đại - Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ trước khi người Nhật đầu hàng kể cả lấy lại xứ Nam Kỳ và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Đại -Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó.
Lý do là vì Việt Minh “đã có đường riêng của họ rồi”, nói theo Phan Anh, Bộ Trưởng Thanh Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim và sau này là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh. Trong những đoạn này Hồ Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay “dân ta” hay “đất nước ta”, nhưng mục đích không nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp.
Phần cuối cùng của bản văn, từ “Bởi thế cho nên...” cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người Việt mà về cả thế giới. Trong phần này ông xưng là “chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn dân Việt -nam “ để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Đồng Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt-nam... Phần này Hồ Chí Minh thay vì quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi - người - như - những - cá - nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai như là một lá nhân đều có, đã nói về quyền hưởng tự do và độc lập của - cả - nước - Việt - Nam.
Điều này hoàn toàn trái với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một cách rõ ràng, không thể hiểu sai được vì độc lập không phải luôn luôn đồng nghĩa với tự do, dân quyền và nhân quyền.
Không những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, Hồ Chí Minh lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”.” Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Đồng Minh, chống phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người như là những cá nhân trong xã hội.
Chính vì vậy Trần thanh Hiệp,khi được Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh này là một bản tuyên ngôn phi nhân quyền,[xiii] dù cho là nó đã được chính tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo theo tinh thần của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp. Nhưng dù nói thế này hay thế khác sự kiện này đã phản ảnh chủ trương cách mạng bạo lực của những người Cộng Sản mà Hồ Chí Minh ở đây là một trường hợp điển hình.
Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong tình trạng tác giả của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Điều này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn nhân quyền của người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ không phải chỉ ít ngày trước ngày 2 tháng 9 năm 1945. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ càng và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.
Gs Phạm Cao Dương

[1] Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). HàNội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.
[2] Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục).Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn, 1969. tr. 49.
[3] - nt - , tr. 51.
[4] Dương Trung Quốc, Việt Nam..., tr. 388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Đại Từ 1900 đến 1970, Quyển II. Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa Kỳ, ?. tr. 512.; S.M. Bao Dai. Le Dragon d'Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron, Allan W. Viet-Nam Crisis, A Documentary History, Volume I: 1940-1956. Ithaca, N.Y. Cornell University Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau về ngôn từ nhưng hoàn giống nhau về nội dung. David G. Marr trong Vietnam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press, 1995, tr. 71) có nói tới các bản tiéng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.
[5] Taboulet, Georges. La Geste Francaise en Indochine,Histoire par les textes de la France en Indochine des origines à 1914, tome II, Paris, Adrien - Maisonneuve, 1956. tr. 809 - 812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884 - 1945. Saigon,, ? ,1961. Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 - 328.
[6] Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16 -.
[7] S.M.Bảo Đại, Le Dragon d'Annam, đã dẫn, tr. 103
[8] Võ Nguyên Giáp, “Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên”, trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, 206, tr.. 255.
[9] Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Dình Huế..., tr. 76.
[10] Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. Thành Phố Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 - 115.
[11] Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn và Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812 - 823.
[12] - nt-, tr. 134.
[1] Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, “Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền, trên Nhật Báo Người Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007. Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007.

(ngày 12 tháng 09.2015)


Nhân dịp Căm Bốt làm lễ quốc tang cho Cựu Hoàng Sihanouk, nhìn lại

NHỮNG NỖ LỰC CỦA CỰU HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI

Trong cuộc đấu tranh giành Độc lập và Thống nhất cho đất nước và dân tộc Việt Nam

thaypcduong

Gs Phạm Cao Dương

Bài này được viết theo lời yêu cầu của một số người trẻ trong đó nhiều người là sinh viên đại học nhằm bổ khuyết cho sự hiểu biết của anh chị em này nói riêng và giới trẻ Việt Nam nói chung về vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn nhân dịp 100 năm năm sinh của ông cũng như về một giai đoạn lịch sử có quá nhiều góc tối hay góc khuất, luôn cả oan khuất và cũng nhân dịp đầu Xuân Quý Tỵ 2013 sắp tới. Yêu cầu này cũng đến không lâu khi Cựu Hoàng Norodom Sihanouk của nước láng giềng thân cận nhất của Việt Nam, Vương Quốc Khmer hay quen thuộc hơn, Căm Bốt, vừa mới băng hà và thi thể còn được quàn tại hoàng cung chờ ngày quốc táng. Khi liên lạc với tôi, như để chắc ăn, một trong những vị này đã dùng cả điện thoại lẫn điện thư và để lại lời nhắn. Để đáp lễ, tôi cũng trả lời anh bằng điện thư trước rồi sau đó gọi điện thoại cho anh. Hai chúng tôi thảo luận với nhau rất lâu, không dưới một giờ đồng hồ về đề tài không mấy đơn giản nhưng vô cùng cần thiết này. Câu chuyện phải nói là vô cùng hào hứng giữa hai người không cùng thế hệ. Vì vậy thay vì viết một bài dưới hình thức khảo cứu, tìm hiểu hay bài học dùng trong lớp học như tôi thường làm, tôi xin được tóm tắt những gì chúng tôi đã chia sẻ với nhau cho bài viết bớt khô khan và nhẹ nhàng hơn hầu người bạn trẻ của tôi có thể đăng trên báo xuân của anh và các bạn của anh. Tôi cũng tránh không nêu tên anh và tổ chức của anh để bài viết có thể được dễ dàng phổ biến rộng rãi hơn cho những anh chị em thuộc những nhóm khác.

Nhu cầu cần được xét lại
Cựu Hoàng Bảo Đại, như sau này người ta thường gọi ông kể từ ngày ông thoái vị, thường bị nhiều người, Việt Nam có, ngoại quốc có,baodai tệ hơn trong đó có cả các sử gia, máy móc theo nhau gọi là vua bù nhìn, tay sai của hết Tây đến Nhật, một ông vua chỉ ham ăn chơi đàng điếm, một thứ playboy do người Pháp nặn ra và đặt lên ngôi để dễ sai bảo. Ngay cả Sử Gia Trần Trọng Kim, khi được Học Giả Hoàng Xuân Hãn khuyên là nên gặp ông để tìm hiểu, lúc đầu cũng đã từ chối, gọi ông là “thằng ngốc”- “thằng ngốc, gặp nó làm gi?”- nhưng sau khi đã gặp rồi, nhà học giả kiêm sử gia này đã phải thay đổi hoàn toàn nhận định mà ông đã có từ trước.
Ở đây tôi không bàn về chuyện này mà chỉ nói tới những gì Bảo Đại đã làm ngay từ khi vị cựu hoàng này còn là Đương Kim Hoàng Đế hay sau này là Cựu Hoàng và là Quốc Trưởng của Quốc Gia Việt Nam. Đây là những đóng góp tôi nghĩ là không nhỏ, nếu không nói là vô cùng lớn lao so với những đóng góp của những lãnh tụ khác của Việt Nam, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất cho quốc gia và dân tộc của ông bằng đường lối hòa bình, phi bạo lực. Cho cá nhân ông, những nỗ lực của ông đã không mang lại được những thành quả mà ông mong muốn. Ông đã không bảo vệ được di sản mà tổ tiên ông để lại, đã không xây dựng được một chế độ quân chủ lập hiến cho đất nước và thần dân của ông, điều ông muốn làm ngay từ đầu, không giữ được sự đoàn kết dân tộc mà ông trịnh trọng ghi trong chiếu thoái vị... Cuối cùng ông đã bị mọi người trách cứ, bỏ rơi và chết ở xứ người. Thần dân cũ của ông không mấy ai để ý tới sự qua đời của ông, trái với cái chết của một quốc vương khác trẻ hơn ông nhưng đồng thời với ông và cũng phải đối phó với vấn đề độc lập của quốc gia giống như ông sau này. Tôi muốn nói tới Cựu Hoàng Norodom Sihanouk của xứ Căm Bốt. Giống nhưng khác với Bảo Đại ở đường lối đấu tranh vì trong đời ông, Sihanouk đã có thời dùng bạo lực để đàn áp đối lập, đã cộng tác với Khmer Đỏ, tổ chức Cộng Sản Căm Bốt chịu ảnh hưởng của Trung Cộng của các lãnh tụ Pol Pot và Ieng Sary, một thời đã mang họa diệt chủng đến cho xứ Căm Bốt khiến cho hàng triệu người dân của xứ này bị tàn sát bằng đủ mọi phương tiện với hàng núi xương được phát hiện, cho đến nay vẫn được bảo tồn coi như di tích của một thời đen tối nhất trong lịch sử của dân tộc Khmer. Còn Bảo Đại thì tuyệt đối không, kể cả việc ông đã từ chối không chấp nhận cho người Nhật đứng ra bảo vệ lãnh thổ, hoàng cung và an ninh cho chính ngôi vị và bản thân ông, chống lại cuộc nổi dậy của Việt Minh và những người Cộng Sản hối Tháng Tám năm 1945 theo trách nhiệm giữ gìn trật tự mà quốc tế giao cho họ. Lý do đơn giản là vì Bảo Đại không muốn dùng ngưới ngoại quốc để chống lại người Việt Nam, đồng bào của ông và thần dân của ông. Sihanouk đã được chính quyền và người dân Căm Bốt thương tiếc bằng những giọt nước mắt nhỏ xuống bên lề đường hay ở trên công viên trước hoàng cung ở Nam Vang hay ở nhiều nơi ở Căm Bốt. Người ta đã long trọng đón thi hài của ông từ Bắc Kinh được đưa về Nam Vang và long trọng làm quốc tang cho ông trong bốn ngày đầu tháng 2 năm 2013, vào lúc người Việt Nam ở trong nước cũng như ở Hải Ngoại sửa soạn mừng đón Xuân Quý Tỵ.

 Nỗ lực canh tân đầu tiên với Phạm Quỳnh và Ngô Đình Diệm
Trở về với những cuộc tranh đấu của Cựu Hoàng Bảo Đại. Nhà vua đã bắt đầu sự nghiệp này của mình từ rất sớm, ngay từ khi ông mới từ Pháp trở về nước đế chính thức lên ngôi, sau hơn mười năm du học và hấp thụ được cả hai nền văn hóa Đông Tây qua sự rèn luyện của Cựu Khâm Sứ Charles về phía người Pháp và Cử Nhân Lê Như Lâm với tư cách là giảng tập hồi nhà vua còn ở Việt Nam rồi phụ đạo trong suốt thời gian ông ở Pháp về phía người Việt, chưa kể những gì ông đẵ hấp thụ được từ các trường trung học Pháp nhất là trường Khoa Học Chính Trị ở Paris trong các năm các năm 1922-1932, rèn luyện để làm vua và làm nguyên thủ quốc gia, điều các nhà lãnh đạo sau ông trong lịch sử Việt Nam hiện đại không có được. Tranh đấu này mang tính cách của một cuộc cải cách và đã được khơi mào bởi những vận động của giới trí thức đương thời trước đó, đại diện là học giả Phạm Quỳnh của báo Nam Phong xuyên qua những bài viết của họ Phạm về một chế độ quân chủ lập hiến và về nhu cầu trả lại cho nhà vua quyền nội trị ở hai xứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ và trả lại tổ quốc cho ngươòi Việt Nam. Mở đầu, ngay từ tháng 9 năm 1932 Phạm Quỳnh đã được cử làm Ngự Tiền Tổng Lý Văn Phòng hàm Thượng Thư để trực tiếp làm việc với nhà vua. Tiếp theo, ngày 10 tháng 12 năm 1932 bằng một đạo dụ, nhà vua loan báo chính thức cầm quyền qua một chính thể quân chủ lập hiến kèm theo với nhũng dự án cải tổ guồng máy cai trị, hệ thống quan lại, tổ chức giáo dục và tư pháp, Viện Dân Biểu Trung Kỳ... Để thực thi những dự án này, ngày 2 tháng 5 năm 1933, như một biến cố bất ngờ, Bảo Đại lại ký một dụ khác loan báo tự mình chấp chánh và thay thế sáu vị thượng thư già bằng những nhân vật trẻ trong đó có Ngô Đình Diệm giữ Bộ Lại, Phạm Quỳnh giữ Bộ Học, Bùi Bằng Đoàn Bộ Hình…
Những việc làm đầu tiên kể trên của Bảo Đại, mặc dầu đã đem lại những tia hy vọng cho người dân ở hai xứ Bắc và Trung Kỳ về một vận hội mới cho đất nước, đã không tồn tại lâu dài, một phần vì người Pháp cản trở vì trả lại quyền nội trị ở Bắc Kỳ và ở Trung Kỳ là trở lại với Hòa Ước 1884 từ đó sẽ động tới các chức thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ, một phần là do mâu thuẫn nội bộ giữa phe quan lại cũ và những trí thức mới, giữa những người đi vào hoạn lộ qua ngả quan trường và những ngưuời đi vào đường này qua đường tắt cũng như giữa hai nhân vật chủ cốt là Phạm Quỳnh và Ngô Dình Diệm mà nhà vua đặt hết tin tưởng vào coi như đôi xe bổ khuyết, hỗ trợ cho nhau. Cuối cùng Ngô Đình Diệm đã từ chức, lôi cuốn theo một vài nhân vật mà nhà vua tin cậy khác. Thất bại trong cố gắng đầu đời, nhà vua trở thành “cô đơn, chỉ có một mình” để đến khi Hoàng Xuân Hãn nhắc ông là phải làm gì vì giới thanh niên mong đợi, nhà vua đã hỏi lại “Làm gì? Làm với ai?” Có điều ông vẫn không hoàn toàn mất hết hy vọng như sau này ông ghi trong hồi ký của ông: “Dù sao đi nữa, sự có mặt của tôi trên ngôi vẫn làm cho giới trẻ giữ được niềm hy vọng. Những người như Ngô Dình Diệm và Nguyễn Đệ lúc ấy sẽ lại ra giúp tôi theo chiều hướng này”Chắc ngưòi Pháp cho rằng tôi đã ngoan ngoãn biết nghe theo lời của họ. Dù họ có tin rằng họ đã thắng một cách dễ dàng, tôi cũng chẳng nên có lý do gì ngờ vực tôi. Tôi tin rằng nhân dân sẽ hiểu các hình thái buông thả bên ngoài của tôi, bởi cái hình thái ấy cho thấy sự thờ ơ, lơ là với nhiệm vụ của tôi…” và ông đã sống sót để chờ thời, không bị rơi vào số phận của các VuaThành Thái và Duy Tân mà ông hiểu rõ hơn ai hết cũng như bị mất tinh thần và trở thành một con người vô dụng.
 
Cơ hội mới: Nhật đảo chính Pháp, 9 tháng 3 năm 1945 - Chính phủ Trần Trọng Kim hay là "cuộc cách mạng phi bạo lực" bị bỏ lỡ
Niềm hy vọng và sự kiên nhẫn của Bảo Đại kể trên đã không uổng. Mười hai năm sau, năm 1945, cơ hội lại đến với nhà vua một lần nữa. Lần này do người Nhật mang lại sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 lật đổ người Pháp của họ. Không còn con đường nào khác tốt hơn và cũng không để lỡ cơ hội bước đi nhũng bước khởi đầu, khi được người Nhật yêu cầu nhà vua đã cho công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Chính Phủ Trần Trọng Kim đã được thành lập với các bộ trưởng đều là những nhà tân học có khả năng, và đạo đức nổi tiếng đương thời đứng đầu bởi nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim, tác giả của những bộ sách Giáo Khoa Thư và nhất là bộ Việt Nam Sử Lược cho tới khi bài này được viết vẫn còn thông dụng, với sự cộng tác của những tên tuổi quen thuộc với học giới dương thời như Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Luật Sư Vũ Văn Hiền, Luật Sư kiêm nhà báo Phan Anh, Luật Sư Trần Văn Chương…
Mặc dầu không tồn tại lâu dài, tất cả chỉ được hơn bốn tháng, thực tế còn ngắn hơn nhiều, hoạt động trong hoàn cảnh chiến tranh, bị Việt Minh đánh phá ngay từ đầu rồi tuyên truyền phá hoại và thiếu thốn đủ mọi phương tiện, Chính Phủ Trần Trọng Kim đã tạo được những thành tích đáng ca ngợi. Cả một chương trình hành động nhằm xây dựng một nước Việt Nam mới đã được dự trù bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt từ soạn thảo hiến pháp, cải tổ thuế má, Việt Nam hóa giáo dục, thu hồi các nhượng địa, kể cả xứ Nam Kỳ, cứu đói, chống nạn mù chữ … đều đã đồng thời được thực hiện. Quốc hiệu Việt Nam với danh xưng đầy đủ là Đế Quốc Việt Nam đã được lựa chọn cùng với bài Đăng Đàn Cung làm quốc ca, cờ quẻ ly nền vàng ba sọc đỏ với hai sọc trên liền, sọc giữa đứt đoạn làm quốc kỳ. Danh xưng bộ trưởng để gọi những người đứng đầu các bộ được dùng để thay thế bằng danh xưng thượng thư của thời trước, các tên Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ thay thế cho các tên Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ mang nặng dấu vết của thời thuộc địa. Chương trình giáo dục bằng tiếng Việt được biết dưới tên Chương Trình Hoàng Xuân Hãn đã được soạn thảo và áp dụng và đã trở thành nền tảng cho nền giáo dục sau này, rõ hơn những năm đầu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, thời Quốc Gia Việt Nam và hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhi Cộng Hoà ở Miền Nam. Bài Đăng Đàn Cung tuy được chọn làm quốc ca nhưng trên thực tế thì bài Tiếng Gọi Sinh Viên đã được giới thanh thiếu niên, dưới sự hướng dẫn của các thày giáo ở các trường hát mỗi ngày một nhiều, đã được phổ biến hơn không phải chỉ ở miền Bắc và miền Trung mà luôn cả ở Miền Nam, miền đất cho đến khi Chính Phủ của Thủ Tướng họ Trần được thành lập vẫn chưa thực sự được trả về với lãnh thổ quốc gia, để sau này trở thành quốc ca, một hiện tương đã nằm trong ký ức của những người thuộc thế hệ trẻ đương thời tới nay vẫn chưa hề phai nhạt.
Nỗ lực lần thứ hai của Bảo Đại tuy nhiên cũng không tồn tại được lâu dài. Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt với sự đầu hàng của Nhật Bản đã một lần nữa làm cho nhà vua phải bỏ dở. Lợi dụng cơ hội, Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc và áp lực những thành phần thiên Cộng khiến cho ngày 25 tháng 8 năm 1945 ông phải xuống chiếu thoái vị trao quyền cho Hồ Chí Minh và chính phủ lâm thời của ông này do Việt Minh lãnh đạo. Với Chiếu Thoái Vị, Bảo Đại đã trở thành nổi tiếng với câu nói: “ Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”
 
Nỗ lực lần thứ ba: Hiệp định Élysée và sự thành lập Quốc gia Việt Nam – Thâu hồi xứ Nam kỳ về cho lãnh thổ của dân tộc
Bỏ qua những cố gắng của ông thời đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước và những cố gắng của ông sau khi ông tuyên bố độc lập ngày 11 tháng 3 năm 1945 mà tôi tóm tắt như trên, những biến cố ít người được biết đến, công lao lớn nhất mà Hoàng Đế Bảo Đại đã thực hiện được cho những người Việt Quốc Gia không chấp nhận chế độ Cộng Sản hay không sống nổi với chế độ Cộng Sản, đã ở lại, đã về hay dự tính về những vùng kiểm soát của người Pháp vào nửa cuối thập niên 1940 là Hiệp Định Élysée mà ông đã đạt được ngày 8 tháng 3 năm 1949, sau một thời gian dài thương thuyết, dưới hình thức trao đổi văn kiện giữa ông và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol. Với Hiệp Định Élysée Quốc Gia Việt Nam đã hình thành để những ai không chấp nhận chính quyền Cộng Sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo có chỗ trở về trong danh nghĩa của những công dân của một nước Việt Nam độc lập. Không có Bảo Đại, không có Quốc Gia Việt Nam, tất cả đều được nhìn hoặc như là theo Pháp để trở thành Việt gian làm bồi cho thực dân, đế quốc, hoặc là phải ở lại vùng Việt Minh kiểm soát để sớm muộn cũng bị loại trừ và tiêu diệt. Điều này đã xảy ra. Nói cách khác, Bảo Đại và Hiệp Định Élysée đã đem lại chính nghĩa cho những người đương thời không chấp nhận chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản.
Chưa hết, với Hiệp Định Élysée, Bảo Đại đã thâu hồi lại xứ Nam Kỳ cho Tổ Quốc Việt Nam một cách hòa bình, không đổ máu mà Hồ Chí Minh và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước đó qua những thỏa ước 6 tháng 3 rồi 14 tháng 9 năm 1946 hay hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau đã không làm được. Lễ thâu hồi đã chính thức được cử hành vào ngày 14 tháng 6 năm 1949. Với tư cách Quốc Trưởng của Quốc Gia Việt Nam, lần đầu tiên ông đã từ Đà Lạt, thủ đô tạm thời của ông về Saigon để long trọng đón phần đất đã từng là thuộc địa của Pháp từ năm 1862 trở về với lãnh thổ quốc gia và người dân Nam Kỳ đã trở thành công dân của Quốc Gia Việt Nam để cùng tham gia xây dựng lại đất nước dù là ở miền Nam, miền Trung hay miền Bắc. Một người dân miền Nam không lâu sau đó đã được bổ nhiệm đứng đầu miền Bắc. Đó là Đốc Phủ Sứ Nguyễn Văn Tâm, với danh vị Thủ Hiến Bắc việt. Đây là một sự thực không ai có thể chối cãi được và khi nói xấu ông người ta chỉ còn cách lơ đi không nói tới mà thôi.
Quốc Gia Việt Nam thường được hiếu là tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa, từ đó bị ngộ nhận là có lãnh thổ chỉ là lãnh thổ của Miền Nam Việt Nam sau này tức từ vĩ tuyến 17 trở xuống. Điều này không đúng. Bắt đầu từ thời điểm 14 tháng 6 năm 1949, khi Nam Kỳ trở về với lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam và cho đến khi Hiệp Định Genève được thông qua và trớ thành có hiệu lực, Chính Quyền Quốc Gia Việt Nam của Quốc Trưởng Bảo Đại đã chính thức và hợp pháp kiểm soát những miền đất phía trên vĩ tuyến này, từ Lào Kay, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cáy… cho tới Hà Tiên và mũi Cà Mau, từ đồng bằng cho tới các cao nguyên do người Pháp chiếm giữ trước đó và trao trả. Nói cách khác, Quốc Gia Việt Nam có lãnh thổ bao trùm đất đai của người Việt từ Bắc chí Nam, từ Biển Đông với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã long trọng xác nhận ở Hội Nghị San Francisco vào hai ngày 6 và 7 tháng 9 năm 1951) tới các cao nguyên và miền núi, sau này, từ ngày 14 tháng 6 năm 1949, bao gồm luôn cả Miền Nam hay Nam Kỳ Lục Tỉnh thay vì chỉ có Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống tức lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà về sau này.
Cờ vàng ba sọc đỏ và bài Tiếng Gọi Thanh Niên sau này là Tiếng Gọi Công Dân đã được tung bay hay được hát ở khắp nơi hay đối với giới trẻ đương thời, được học sinh các trường trung và tiểu học, mới được mở cửa trở lại sau những ngày đầu của chiến tranh, hát lên buổi sáng trước khi vào lớp. Quốc kỳ này và quốc ca này đã được lựa chọn cùng thời với danh xưng Quốc Gia Việt Nam đã liên tục được duy trì qua các thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà của Miền Nam Việt Nam trong suốt hai mươoi năm tồn tại. Sau này cà hai vẫn được bảo tồn và bảo vệ ở Hải Ngoại coi như tượng hai biểu tương vừa thiêng liêng vừa thân thiết nhất của người Việt ở khắp nơi trên thế giới. Một sinh hoạt bình thuờng đã thực sự hồi sinh.
Các cơ cấu từ chính trị, hành chánh, quân sự, văn hóa, giáo dục mang màu sắc nhân bản vừa cổ truyền, vừa tân tiến theo trào lưu mới đã từng bước một thành hình và làm nền tảng cho các sinh hoạt ở Miền Nam trước khi bị những người Cộng Sản phá bỏ để thay thế bằng những tổ chức riêng của họ.
Nên nhớ là với Thỏa Ước Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 Hồ Chí Minh ký với đại diện Cao Ủy Pháp ở Đông Dương Jean Sainteny và Tạm Ước 14 tháng 9 ký với Bộ Trướng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet vấn đề thống nhất xứ Nam Kỳ chưa được giải quyết. Nói cách khác Nam kỳ cho tới ngày 14 tháng 6, trước khi được Bảo Đại thu hồi vẫn thuộc quyền cai quản của người Pháp theo các Hòa Ước 1862 và 1874. Sau ngày 14 tháng 6 năam 1954, xứ này mới thực sự trở về với lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam, sau này là Việt Nam Cộng Hòa và luôn luôn nằm ngoài lãnh thổ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho mãi đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Đối với những người thuộc thế hệ sinh từ cuối thập niên 1920 và hai thập niên 1930, 1940, sự hình thành của Quốc Gia Việt Nam đã đem lại cho họ một nền giáo dục nhân bản và tiến bộ, vừa mang những đặc tính của thời xưa, vừa cởi mở, khai phóng để đón nhận những tinh hoa của thời đại thay vì lang thang không được đi học trong nhiều năm trong vùng “kháng chiến”. Nền giáo dục này đã cung cấp cho họ những điều kiện cơ bản để tiến xa hơn về sau này. Cũng vậy với sự thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt từ đầu thập niên 1950 mà người ta hầu như đã quên.
Đối với những người làm văn chương, âm nhạc và nghệ thuật sự thành lập Quốc Gia Việt Nam là thời kỳ mở dầu cho một giai đoạn phát triển mới vừa tiếp nối giai đoạn canh tân, trẻ trung, đầy sinh lực và lãng mạn của thời cuối thập niên 1930, đầu thập niên 1940 vừa tràn ngập hân hoan, hào hứng và tin tưởng vào cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất lãnh thổ và phát triển quốc gia dưới một chính quyền mới không Cộng Sản. Rõ rệt nhất trong hiện tượng này là trường hợp của các nhạc sĩ trong đó có Phạm Duy, Thẩm Oánh, Hùng Lân, Phạm Định Chương…, chỉ kể một vài tên tuổi quen thuộc.
Nói về Hiệp Định Élysée và những thỏa thuận giữa Bảo Đại và người Pháp trước đó, nhiều người cho rằng Cựu Hoàng đã vội vã và không đòi hỏi đúng mức những gì co thể đòi hỏi được. Các vị này chủ trương là phải đòi độc lập hoàn toàn. Điều này đúng nhưng không thực tế. Thời điểm của những năm 1948, 1949 với sự thắng thế mỗi ngày một rõ của Hồng Quân Trung Hoa ở Trung Quốc, cả hai phía người Pháp và Bảo Đại phải cấp tốc giải quyết vấn đề. Không những thế, đuổi Pháp đi thì ngay lập tức lấy gì để chống Việt Minh và ngay lập tức điều hành toàn thể mọi sinh hoạt của đất nước? Vấn dề không đơn giản. Người ta không thể điều đình mà không tương nhượng và dự trù cho những sự hợp tác tương lai.
 
Đóng góp cuối cùng: Hiệp Ước Paris 04 tháng 06 năm 1954 - một nền Độc Lập hoàn Toàn cho Quốc Gia Việt Nam
Hiệp Định Élysée chỉ là khởi đầu. Nền độc lập do hiệp ước này mang lại chưa thực sự hoàn toàn. Nhiều bước tiến khác còn phải được thực hiện. Bảo Đại đã tiếp tục và đã hoàn tất được công tác này với sự trợ giúp của những trí thức hiểu rõ nước Pháp và người Pháp, giỏi về chính trị và luật pháp có mặt ngay trên đất Pháp và giảng dạy ngay tại các đại học Pháp, những người có đầy đủ học vị, thực học và kinh nghiệm. Đích thân ông, ông đã phải sang Pháp, ở tại chỗ nhằm tự mình theo dõi và đôn đốc.
Sau một tiến trình đàm phán gay go và lâu dài, hai hiệp ước đã thành hình. Với hiệp ước thứ nhất, Pháp công nhận hoàn toàn nền độc lập và chủ quyền toàn vẹn của Quốc Gia Việt Nam và qua hiệp ước thứ hai, Việt Nam thỏa thuận gia nhập Liên Hiệp Pháp. Đại Diện cho nước Pháp là Thủ Tướng Joseph Laniel và đại diện cho Việt Nam là Thủ Tướng Bửu Lộc. Ngày được ghi là 04 tháng 6 năm 1954 và địa điểm là Paris, thủ đô của nước Pháp. Bảo Đại đã không có được niềm hạnh phúc mà cả đời ông ấp ủ là được chứng kiến lễ ký kết những hiệp ước này. Ngày 7 tháng 5, Điện Biên Phủ thất thủ, Hiệp Định Genève đang thành hình và cả hai văn bản đã bị vĩnh viễn xếp lại. Một lần nữa thành công của vị Hoàng Đế cuối cùng của Triều Nguyễn đã không trọn vẹn.
Điều ta nên nhớ là trong nỗ lực cuối cùng này, ông đã phải dời bỏ quê hương của ông sang Pháp để đích thân gặp các nhân vật lãnh đạo Pháp, kể cả Tổng Thống Auriol, theo dõi và đôn đốc các đại diện của mình, bị báo chí Pháp công kích vì đã đòi hỏi quá nhiều, sau này lại còn bị mang tiếng là ham sống ở nước ngoài không chịu về nước. Dù sao với hai hiệp ước đề ngày 04 tháng 6 này, ông đã đem lại được những gì ông mong ước cho đất nước và cho thần dân Việt Nam của ông. Thiên Mạng của ông sau đó không còn nữa.
Điều đáng tiếc là ông đã không còn trờ về quê hương của ông để làm công dân một nưóc độc lập như ông mong muốn được nữa. Người đời đã quên ông và thần dân của ông dã quên ông hay nếu nhớ tới ông chỉ là nhớ để trách cứ. Mà trách cứ thì luôn luôn dễ hơn là ghi nhận và nhất là ghi ơn. Người ta đã đòi hỏi ở ông quá nhiều mà quên mất một điều là dù là vua, là thiên tử, ông vẫn chỉ là con người, con người với tât cả mọi nhược điểm của con người, nhiều khi không phải do bản chất của người ấy mà do hoàn cảnh gây ra.
Bảo Đại đã lên ngôi vào lúc chế độ quân chủ ở Việt Nam đang ở tình trạng suy đồi và bị tấn công từ nhiều phía trong lúc chủ trương dân chủ mỗi ngày mỗi thêm thắng thế. Người ta không biết có bao nhiêu giọt nước mắt đã nhỏ xuống cho ông khi ông qua đời như chúng đã được nhỏ xuống khi ông đọc chiếu thoái vị trước cửa Ngọ Môn hồi năm 1945. Phải chăng sau hơn nửa thế kỷ, hơn 52 năm sau, tất cả đều đã thay đổi? Có điều đất nước Việt Nam vẫn không hề tiến bộ hơn, lãnh thổ quốc gia mà Bảo Đại đã thâu hồi hay xác nhận chủ quyền và để lại cho những người kế vị ông đã bị hao mòn không ít, và người dân Việt Nam bình thường vẫn chưa tìm lại được cuộc sống thanh bình, no ấm mà bất cứ một vị vua nào trong lịch sử nước nhà đều mong mỏi với một xã hội trong đó “Triệu tính âu ca lạc thịnh thì” như Trần Nguyên Đán đã miêu tả xã hội Đại Việt cuối thời Nhà Trần.
Huntington Beach, CA ngày 03 tháng 02 năm 2013
Gs Phạm Cao Dương
(Lịch Sử Nào Cho Tuổi Trẻ Việt Nam?)
 


Đăng ngày 26 tháng 02.2017