Những vấn đề môi trường Việt Nam
Tập khảo luận về "Những vấn đề môi trường Việt Nam" của Giáo sư MAI THANH TRUYẾT đã được ra mắt độc giả vào tháng 4 năm 2011.

Chút ý kiến…
Trần Việt Hải
Lê Văn Duyệt Foundation
Thực là một vinh dự cho tôi được đọc bản thảo của sách mới của Tiến sĩ kiêm Giáo sư Mai Thanh Truyết. Tôi biết ông qua các tổ chức Tây Ninh Đồng Hương Hội và Hội Cựu Học Sinh Petrus Trương Vĩnh Ký Nam California. Trước năm 1975, ông nguyên là Giảng sư trưởng Ban Hóa Học Đại Học Sư Phạm Saigon, và là Giám Đốc Học vụ Viện Đại Học Cao Đài Tây Ninh. Tiến sĩ Truyết vốn hiếu học và yêu nước. Tốt nghiệp tiến sĩ tại Pháp khi nước nhà chìm đắm trong khói lửa chiến chinh, ông quyết định trở về với xứ sở. Tôi mến ý nguyện của ông từ đó.
Trước đây tôi được đọc quyển sách “Câu Chuyện Da Cam/Dioxin Việt Nam” của Giáo sư Mai Thanh Truyết, tác phẩm ra đời được ủng hộ nồng nhiệt từ nhiều nơi ông đi diễn thuyết. "Câu Chuyện Da Cam" kể về chuyện xưa và nay, nguyên ủy của vấn đề xuất phát từ thời chiến tranh quốc cộng tại xứ ta, về chất độc da cam, mà từ ngữ trong Anh ngữ là agent orange hay dioxin, sự thực không ai nghi ngờ về hậu quả của nó. Tuy nhiên, người cộng sản Việt Nam, phe đối phương với Hoa Kỳ bằng những xảo thuật tuyên truyền, thổi phồng sự kiện, qua nhiều lập luận ngụy biện đổ lỗi cho chính sách Mỹ tại Việt Nam ngỏ hầu moi hầu bao của nước cựu thù. Với những trăn trở và cân nhắc theo cái nhìn trên các khía cạnh khoa học, chính trị, xã hội và nhân bản khi trình bày vấn đề qua sách vở, tác giả cho thấy rằng vì bản thể của vấn đề dioxin trong chiến tranh Việt Nam vốn là một câu chuyện rất nhiêu khê, lắm phức tạp và tế nhị. Nên quan điểm của ông qua nhiều dẫn dụ chứng minh và lý luận là nhằm vào việc đem lại sự thật về chất độc màu da cam để cho đồng hương các nơi hiểu rõ hơn về vấn đề và mục tiêu của quyển sách ra sao.
Trong chiều hướng tương tự, Giáo sư Mai Thanh Truyết cho ra quyển sách mới mang tên "Những Vấn Đề Môi Trường Việt Nam", nội dung của nó bao quát hơn tác phẩm trước, sách mới xét đến những sai lầm nghiêm trọng khi nhà cầm quyền cộng sản hiện tại vi phạm những nguyên tắc quản trị môi trường, y tế, canh nông, thủy lợi, giáo dục quần chúng, cũng như quản trị xã hội là những hệ quả băng hoại cơ cấu đất nước, phá sản tài nguyên quốc gia, như những vấn đề môi trường về dòng sông Cửu Long với nỗi nghẹn ngào của vùng đồng bằng hạ lưu, ngậm ngùi với vấn nạn ô nhiễm chất arsenic (hóa chất dùng trị sâu rầy), vấn nạn những dòng sông Việt Nam bị ô nhiễm trầm trọng, thực tế của nạn ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm ở Việt Nam, cũng như thực chất của vấn đề ô nhiễm mặt đất, ô nhiễm không khí, và chất phế thải rắn ở Việt Nam; Tình trạng rác rưởi, cống rãnh tại Sài Gòn, những quy tắc giải quyết các chất phế thải kỹ nghệ, phế thải y tế, và tác giả cũng nêu lên điểm tệ hại khi chính sách quốc gia cho phép nhập cảng bừa bãi phế liệu độc hại vào Việt Nam. Sách còn đề cập đến những vấn nạn nhức nhối của xã hội như công nghệ tái biến chế (recycle), tái tạo phế thải điện tử, vấn đề nguy hiểm biến chế thực phẩm tại Việt Nam, công cuộc vệ sinh an toàn thực phẩm bảo vệ sức khỏe người dân ở Việt Nam, câu chuyện dioxin xưa nay như trong cuốn sách trước, vấn đề được cô đọng cho đầy đủ chủ đề, rồi việc khai thác quặng bauxite ở vùng Tây nguyên, và việc bảo tồn văn hóa và đồng bào sắc tộc người thiểu số vùng cao nguyên trung phần.
Bằng đấy tiêu đề, bằng đấy chữ nghĩa, thiết tưởng người đọc sẽ đọc thêm những lập luận, những dẫn dụ chi tiết trong những trang sách này, hầu thu tóm hiện tình xứ sở Việt Nam về khía cạnh môi trường nguy hại ra sao, tương lai đất Việt Nam sẽ đi về đâu, và thế hệ con cháu chúng ta ở quê nhà sẽ chịu những thiệt thòi như thế nào. Những nguy cơ này cần được gióng lên như những oan khiên của người dân oan cần được giải tỏa, những sai lầm của các cấp lãnh đạo tắc trách trong vấn đề quản trị đất nước phải được vạch trần khi họ xô đẩy cả một dân tộc vào tử lộ.
Phần đầu của sách trình bày chủ đề dẫn nhập, chương một đến chương 24, những vấn đề môi trường vốn bị hư hại do quản trị tồi, song song tác giả cũng cho lời đề nghị phương cách sửa đổi, cải cách vấn đề.
Phần sau cùng của sách quan trọng không kém, tác giả đề cập đến Việt Nam qua những năm hội nhập toàn cầu và hướng đến tương lai. Chương kết luận qua đôi lời nhắn gởi, tác giả quay về với chân lý duy tâm, niềm tin tôn giáo trong cuộc sống, khi cái "Tâm" của con người bị ô nhiễm sẽ đưa đến vấn nạn ô nhiễm môi trường, ô nhiễm xã hội. Luật Nhân Quả của triết thuyết nhà Phật đề cập khi có nguyên nhân thì sẽ có hậu quả. Chung cuộc, theo ý kiến của tác giả thì để giải quyết vấn đề ô nhiễm một cách hiệu quả không gì khác hơn là thanh lọc cái Tâm của con người, tức thanh Tâm, loại bỏ lòng tham ô và lòng ích kỷ.
Vã lại, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường là trách nhiệm chung của mọi người chúng ta, chứ không phải là trách nhiệm riêng tư của những nhà khoa học, của những nhà lãnh đạo tôn giáo, hay của một đảng phái nào đó lãnh đạo. Mọi người hãy chung tay, chung sức, đồng tâm hiệp lực để biến cải thực chất không tâm ra chân tâm cho những vấn đề của Việt Nam. Tôi đồng ý với tác giả trong chiều sâu của tư tưởng này, thực vậy.
Mời độc giả duyệt qua các phần chi tiết của sách.
Xin kính mời...
On Sat, 1/15/11 - link: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=125674
Nguyễn Văn Trường
Nguyên Tổng trưởng Giáo dục Việt Nam Cộng hòa
Vừa đọc trọn vẹn bản thảo quyền sách mang tựa đề “Những vấn đề môi trường và phát triển Việt Nam” của Mai Thanh Truyết, tôi hình dung được tác giả cũng như tưởng tượng được tác giả đang ngồi đối diện với tôi. Nôi dung cuốn sách thể hiện rõ một người bạn trẻ tôi đã gặp ở những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa.
Chúng tôi gặp nhau trong những tháng năm sôi động nhất,1973-75, hiệp định Paris kết thúc, ngân sách viện trợ cắt giảm, mức độ lạm phát phi mã, và viễn ảnh một Sài Gòn xáo trộn vì vật giá leo thang, vì khủng khoảng kinh tế, khủng khoảng lòng tin, vì đời sống ngày càng khắc nghiệt, và nhiều dấu hiệu hứa hẹn sẽ khắt nghiệt hơn, mầm xáo trộn xã hội và loạn lạc như hứa hẹn đột biến trong một tương lai rất gần.
Mai Thanh Truyết rời cái an bình lạc nghiệp của nước Pháp để dấn thân vào bối cảnh rối ren, tối mù ấy. Dấn thân và trọn vẹn dấn thân, cụ thể trong qui trình cải thiện sinh hoạt trong Ban Hóa học Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, thiết thực trong công tác xây dựng Viện Đại Học Cao Đài từ con số không.
Về việc xây dựng nầy, tôi phải ghi ơn quí vị chức sắc Cao Đài—nói riêng là sự hổ trợ ân cần của Ngài Khai Đạo, Ngài Bảo Học Quân và Ngài Chưởng Ấn—và quí vị giáo sư—nói riêng ông Phó Viện Trưởng Mã Thành Công, giáo sư Mai Thanh Truyết và giáo sư Nguyễn Văn Sâm hằng tuần luôn có mặt ở Toà Thánh, để phối hợp, điều khiển, giải quyết mọi vấn đề lớn nhỏ, mà lắm khi vượt ngoài sinh viên vụ. Tôi mến phục cái tinh thần và cung cách xử thế của những con người yêu thích khai phá, năng động, bền chí, tích cực, thiết thực nầy.
Ai lại không muốn đem giáo dục Đại Học về địa phương mình, mở cánh cửa lớn cho con em hiếu học mà lợi tức thì khiêm nhường. Các tín hữu Cao Đài và người dân địa phương đương nhiên đồng thuận. Nhưng hình thành được qui cũ, nề nếp sinh hoạt Đại Học, trong những bước đầu, lắm khi phải cứng rắn, áp đặt. và như vậy, ắt có những phản ứng đối nghịch.
Cho nên, phải biết môi trường, sống với môi trường, chia xớt, trao đổi, đối thoại, tìm hiểu môi trường, trong những nghĩ suy, hoài vọng sâu xa nhất của người tín hữu, người dân Long Hoa, Tây Ninh, và các vùng lân cận từ đó, cái qui cũ Đại Học, nhân cách Đại Học, nền móng Đại Học, thổ nhưỡng Đại Học mới hình thành, ánh sáng Đại Học mới phát khởi.
Về điều nầy, tôi phải ghi nhận sự hiểu biết, cảm thông và tận tình hổ trợ của quí vị chức sắc, tín hữu Cao Đài, trong những biện pháp đôi khi cứng rắn, thực hiện nhầm đem lại tầm vóc quốc gia cho Viện Đại Học. Và như vậy, sẽ là một khiếm khuyết lớn nếu tôi không ghi nhận và cám ơn riêng Giáo sư Mai thanh Truyết.
Với tính bình dị tự nhiên của Ông, Ông đã đi sâu, đi sát vào các sinh hoạt địa phương, gọt tròn bớt các cạnh, gai nhọn, tạo một không khí thích hợp cho những dị biệt gặp nhau, giao lưu và chấp nhận đối thoại.
Nói khai phá cụ thể là trong nghĩa nầy, dù rằng có thể dễ dàng nới rộng cho những lãnh vực khác, thí dụ ở Ban Hoá Trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn.
Những từ “dấn thân”, “trọn vẹn dấn thân”, “tinh thần, cung cách xử thế của một người khai phá, năng động, bền bĩ, tích cực, thiết thực” là những cảm nghĩ của riêng tôi, và mỗi từ đều có một nội dung rõ ràng, cụ thể như từ khai phá nêu trên đây. Tôi không quen tặng cho bạn mình những sáo ngữ. Bạn mình, mình phải biết quí trọng.
Sau 1975 là chuyện dài của tác giả, cũng là câu chuyện Đường Tăng đi thỉnh kinh. Xin phép hẹn quí vị một lần khác. Thời gian còn lại tôi xin vắn tắt trình bày phần quan trọng nhất, đó là giới thiệu những sinh hoạt của tiến sĩ Mai Thanh Truyết trong đôi thập niên gần đây.
Hành Trình Miền Đất Hứa
Ông đến Hoa Kỳ năm 1983, theo diện thuyền nhân. Và như bao thuyền nhân may mắn đến được Đất Hứa, ông cũng phải bôn ba tìm việc làm, tìm hiểu, hội nhập vào cuộc sống mới.
Trong một giới hạn nào đó, ông đã thành công, sớm ổn định cuộc sống, nhờ khả năng chuyên môn, và cũng nhờ tính năng động, bén nhạy vốn có đã giúp ông bắt gặp, sớm hiểu và hội nhập những giá trị mới.
Tuy nhiên, hình như cuộc đời Mai Thanh Truyết không có điểm đến, hay nói đúng hơn là mỗi điểm đến là một bước khởi đầu. Trăm năm đời người là một chuổi dài khởi điểm.
Một lần nữa, ông rời bỏ nhịp sống an bình lạc thiện để đánh đấm với bạo quyền, với sự dốt nát, với bệnh tật, với đói nghèo, nói riêng với việc hủy hoại môi sinh.
Trong một giới hạn nào đó ông nối lại tuần trăng mật dang dở năm xưa với quê mẹ thân yêu của ông.
Cho nên giới thiệu Mai Thanh Truyết không là giới thiệu ông tiến sĩ hóa học, chuyên viên về xử lý vật liệu phế thải, cũng không là giới thiệu cuộc sống an lạc, như đi trên thảm đỏ của ông: 40 giờ/tuần, với những routines và cập nhật nghề nghiệp.
Tôi chánh yếu muốn nhấn mạnh trên con người nhiều tranh cãi của MAI THANH TRUYếT. Con người của giới truyền thông hải ngoại, Mỹ, Canada, Úc, Pháp, Đức, của các mạng lưới Internet. Hình ành, tiếng nói, bài viết của ông quen thuộc với khán- thính-và-đọc-giả các báo đài. Thí dụ: Đài Á Châu Tự Do, VOA, Radio France Internationale (RFI), TV STBN, VHN, SaigonTV, cùng các đài radio địa phương ở California và các tiển bang khác trên đết Mỹ, thậm chí các báo bên Việt Nam và các diễn đàn dân chủ trong nước cũng trích đăng mà không có ỳ kiến của tác giả.
Tuy nhiên, ông không là người già chuyện, ông không quen chuyện phiếm, ông không nói để mà nói, để luôn có mặt, hoặc như giới nghệ sĩ đem lại tiếng cười (hay khóc) cho thiên hạ, làm cho cuộc sống dễ chịu lại. Ông có kiến thức sâu rộng, hội thoại với nhiều lãnh vực khác biệt như giáo dục, văn hóa, chính trị, kinh tế, kỹ thuật. Ông viết và đối đáp trên những đề tài đa dạng với những dữ kiện và tài liệu được chọn lọc một cách khoa học.
Ông viết nghiêm túc, nói nghiêm túc, có cân nhắc và nghiên cứu nghiêm túc.
Người thương ông cũng nhiều.
KẺ GHÉT ÔNG CŨNG LẮM, NHẤT LÀ CHÍNH QUYỀN HÀ NỘI TRONG VỤ KIỆN CHẤT ĐỘC DA CAM.
VÀ CŨNG CÓ NGƯỜI BẢO RẰNG ÔNG CHỈ ĐƯỜNG CHO HƯU CHẠY.
Thật ra, ông có lưu tâm và cảnh báo về nhiều vấn đề. Thí dụ:
Về phát triển chung, có nhiều quan điểm về phát triển trong chiều hướng toàn cầu hóa, nghĩa là phát triển phải cân bằng với việc bảo vệ môi trường.
Về cải tổ chính sách nông nghiệp, chính sách khai thác quặng mỏ như so sánh tỉ giảo giữa các quốc gia còn nằm trong tình trạng đang phát triển như Việt Nam, để từ đó rút ra vài kinh nghiệm như Chí Lợi, Nam Dương.
Về năng lượng cho tương lai trong điều kiện Việt Nam.
Về ô nhiểm hóa chất, và các loại thuốc bảo vệ thực vật; cảnh báo việc sử dụng bừa bãi, không đúng cách, cũng như không đúng liều lượng trong nông nghiệp, như phân bón và hóa chất độc hại vì đây cũng là nguyên nhân chính trong việc tăng trưởng các chứng bịnh ung thư xảy ra trên khắp đất nước hiện nay.
Về ô nhiểm nguồn nước và sông cũng như nước ngầm. Có phân tích nhiều nơi và đưa ra nhiều khuyến cáo.
Về chất thải: phế thải rắn, lõng, khí...viết rất nhiều đặc biệt là xử lý phế thải lõng của kỹ nghệ và xử lý nước rỉ từ rác sinh hoạt gia đình. Đã cho ra một quy trình xử lý và thiết kế một nhà máy xử lý trung ương cho các khu chế xuất, khu công nghiệp...
Ông cho biết, về những vấn đề đa dạng nầy, nhiều giáo sư đại học ở Việt Nam có liên lạc và trao đổi ý kiến nhất là trong lãnh vực giải quyết phế thải độc hại. Nhiều sinh viên năm thứ tư ở Việt Nam khi làm luận án tốt nghiệp có tham khảo với ông trong nhiều địa hạt liên quan đến môi trường khác nhau.
Kể ra thì nhiều, thật không cách nào đi vào cụ thể từng đề tài một. Tuy nhiên, trong thập niên qua, có hai việc nổi cộm:
1. Vấn đề nước và ô nhiểm arsenic ở Việt Nam: Nổi cộm, vì nó đặt vấn đề an sinh của cả Đồng bằng Sông Cữu Long, vì va chạm đến một chương trình lớn của UNICEF, tổ chức nhi đồng quốc tế của Liên Hiệp Quốc có tầm vóc và uy thế lớn, và nhà cầm quyền Hà Nội. Nổi cộm cũng vì Gs Mai Thanh Truyết đã để nhiều thời gian, công sức, vì ông đã chịu thách thức hiểm nguy lấy mẫu nước và đất ở Việt Nam để kiểm nghiệm độ arsenic trong các mẫu để có những kết quả khả tín..Và nổi cộm cũng vì chính quyền Hà Nội đã lên án ông là tiết lộ bí mật quốc gia (luật ngày 27/12/2003).
Ông có mẩu nước từ Bắc chí Nam, đem qua Mỹ phân tích từ 1997 đến 2001 Theo đó ông công bố một số kết quả về việc ô nhiểm arsenic ở VN. Nhất là ĐBSCL. Ông cảnh giác là mức ô nhiểm bắt đầu ở mức chung quanh giới hạn mà LHQ đề ra .Ông cũng đã tìm ra phương pháp giản dị để thử nghiệm sự hiện diện của arsenic tại chỗ (field test) với giá thành rẽ và dễ sử dụng.
2. Câu chuyện dioxin/da cam và vụ kiện: Nổi cộm vì thời gian dài của vụ kiện, vì là một vụ kiện quốc tế, vì phe xã hội chủ nghĩa có đồng chí bốn phương, ngàn người như một, triệu người như một, bách chiến bách thắng. Cũng nổi cộm, vì tên ông và ý kiến ông được ghi trong phần phản bác của phia các công ty hóa chất Hoa Kỳ lần sau cùng trước khi tòa án quyết định. Toà đã bác bỏ vụ kiện của Hội Nạn nhân Chất độc Da cam Việt Nam vào tháng 3/2005.
Qua 2007, tòa kháng án lại bác bỏ lần nữa. Việt Nam kiện lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, và tháng 9 năm 2009, tòa cũng bác luôn.
Trên đây là đôi nét về con người của gs Mai Thanh Truyết, một nhân cách nhiều tranh cãi, thương cũng lắm mà ghét cũng nhiều, tùy vị trí đứng nhìn, tùy quan điểm về cuộc sống, tùy nhiều thông số khác mà tôi không dự liệu được.
Cuộc sống vốn vô thường. Vô thường là đổi thay. Đổi thay bao hàm nguy hiểm, cái hiểm nguy bước từ cái biết, cái đã được tôi luyện, đã kinh qua, và vào cái chưa biêt. Đó là thách đố của sự lớn mạnh. Đó cũng là cá tính của phần đời đấu tranh không ngưng nghỉ của Ông, mà trên đây tôi chỉ ghi sơ lược một vài nét.
Giờ, xin trân trọng mời quí vị vào nội dung quyển sách.
Nguyễn Văn Trường
Nguyên Tổng trưởng Giáo dục Việt Nam Cộng hòa
Nguyên Quyền Viện Trưởng Viện Đại Học Cao Đài
Nguyên Giảng Viên Viện Đại Học Cao Đài, Vạn Hạnh, Đà Lạt
Nguyên Giảng Sư Trường Đại Học Sư Phạm Huế và Sài Gòn.