Hàn Quốc: một dân tộc, hai cách nói
 
 
 
Nhữ đình Hùng   
 
 Hai nước Hàn Quốc - Bắc Hàn và Nam Hàn - nói cùng một thứ tiếng. Thế nhưng, sau 60 năm lãnh-thổ bị chia đôi, cách dùng chữ của nhân dân hai miền đã có nhiều khác nhau.

Trong một bài viết đăng trên nhật báo báo La Croix ngày 16.08.2013, việc này đã được nói đến.

 
 
Nam Hàn hiện có khoảng 24000 người tị nạn gốc Bắc Hàn. Vấn đề hội nhập của họ đã gặp phải một khó nhăn bất ngờ: ngôn ngữ. Theo như Park Mi-Hwa, một cô gái Bắc Hàn tị nạn ở Nam Hàn cho biết rằng "ba năm sau ngày đến Nam Hàn, ngôn ngữ vẫn còn là một vấn đề bởi vì người Nam Hàn dùng nhiều chữ gốc tiếng Anh.  Có lần cô muốn chữa lại quần áo thế nhưng cô gặp nhiều tiếng mà cô không biết khiến cô lúng túng đến nỗi nói cà lăm!" . Trong khi đó, một thanh niên Nam Hàn, Oh Yeong-jin, làm việc tại một công trường ở Bắc Hàn từ 2002 đến 2003 cho biết "chuyện trò thông thường với người Bắc Hàn thì không có gì xảy ra, nhưng khi nói đến các tiếng riêng (jargon) dùng trong công-trường thì muốn cho họ hiểu đôi khi chúng tôi phải dùng đến cả cách vẽ hình!".

Vào lúc Hàn Quốc bị chia đôi vào năm 1953, người dân nói chung một ngôn ngữ, ngoại trừ một vài thổ ngữ địa phương. Nhưng sáu mươi năm sau, Nam Hàn là một quốc gia tự do, đã mở cửa với thế giới, đã nhận vào nhiều từ ngữ gốc nước ngoài và hàng loạt cách phát biểu mới. Việc dùng nhiều đến internet và việc có những sáng tác văn học sôi động đã đóng góp rất nhiều cho việc tiến hoá về ngữ học. Trong khi đó, ở Bắc Hàn, ngôn ngữ bị 'làm sạch' bằng cách loại bỏ các chữ gốc Nhật, gốc Hoa để thay vào đó bằng một số các chữ có gốc Nga hay các chữ mới đặt ra. Chữ Anh bị coi là chữ của đế quốc.

Một nhà thông dịch tiếng Hàn, tốt nghiệp đại học quốc-gia Séoul,  Joël Browning, nói rằng 'sự chia cắt và sự dị biệt về ý thức hệ đã tạo ra một sự khác biệt lớn về ngữ học'. Ông này nhận xét rằng người dân Bắc Hàn gặp nhiều khó khăn hơn người dân Nam Hàn trong việc hiểu nhau. Dù người Bắc Hàn nói một thứ tiếng cũ kỹ, người dân Nam Hàn vẫn có thể hiểu trong khi người dân Bắc Hàn khó có thể hiểu những tiếng Nam Hàn có gốc nước ngoài hay những thuật ngữ mới được thấy trên internet ở Nam Hàn.

Tại Bắc Hàn, các sáng táng văn nghệ bị đóng khung trong các chỉ thị của nhà nước. Năm 1964, một cải tạo về ngữ học nhằm 'quốc hữu hoá' tiếng Hàn. Mọi người bị bó buộc phải bắt chước cách phát biểu của Kim il Sung. Chế độ đã cố tình 'bần cùng hoá' ngôn ngữ với mục tiêu để dễ dàng kiểm soát tư tưởng. Theo Kim Seok-hyang, Giáo Sư viện đại học Ewha ở Séoul  ' tiếng Bắc Hàn rất trực tiếp, rõ ràng, giới hạn, không tinh tế. Điều này làm người dân Bắc Hàn khó bẻ gãy khuôn khổ kiểm duyệt do nhà nước áp đặt và khó thể bày tỏ ý nghĩ riêng của họ'.

Những điều nhận định về Hàn Quốc trên lãnh vực ngôn ngữ khiến người ta nhớ lại tình hình Việt Nam sau khi chế độ Việt Nam Cộng Hoà bị sụp đổ.

Những quân lính, cán bộ của miền Bắc Việt Nam vào miền Nam Việt Nam những chữ dùng 'lạ hoắc' khiến người dân miền nam Việt Nam ngơ ngác. Ngày đầu, các nhân viên kỹ thuật của chế độ miền Bắc đã không xử dụng được hệ thống truyền hình miền Nam, đã khiến việc truyền hình ị trục trặc.  Trên màn ảnh truyền hình hiện ra dòng chữ 'sự cố kỹ thuật' khiến người miền Nam ngơ ngác dù rằng họ hiểu. Sao không nói 'huỵch tẹt' là trở ngại kỹ thuật? Kế sau đó, nhiều chữ dùng mới được "nhập' vào miền nam như 'khẩn trương' (miên nam nói 'nhanh,lẹ mau,vội..'), đăng ký ( ghi tên, ghi chỗ...). Nhiều chữ dùng khác lần lần hiện ra cho thấy có sự khác biệt về suy nghĩ và sinh hoạt. Miền Nam Việt Nam có dân chủ, nhưng với miền Bắc, nền dân chủ  được tập trung, miền Nam có chống đối, không đồng ý, miền Bắc gộp nhẹ lại thành 'phản động' nhưng với chủ ý : những thành phần phản động, những ý kiến phản động phải bị trừng phạt. Rồi thì cải tạo nhưng mục tiêu là trừng phạt, cải tạo công thương nghiệp là trừng phạt những người hoạt động trong các ngành nghề này bằng cách lấy không của cải của họ, cải tạo nguỵ quân ngụy quyền là trừng phạt những thành phần này bằng cách tù đày, giam hãm họ.

Ở vào thời điểm 1975, ở Việt Nam cũng có hai hệ thống ngôn ngữ. Những người miền Nam đã hiểu nghĩa của chữ  người miền Bắc dùng trong tinh thần thành thực trong khi người miền Bắc đã dùng với tinh thần lừa bịp. Người miền Bắc kêu gọi thành khẩn khai báo sẽ được khoan hồng, người miền Nam tin theo thành thiệt khai báo để sau đó bị trừng phạt nặng nề.

Cho tới bây giờ, cách nói của cộng sản Việt Nam vẫn trước sau như một, đó là nói một đằng, làm một nẻo.
 
Nhữ đình Hùng/ 06/11/2013
 
  • Tham khảo: