THI HỌA SĨ VŨ HỐI

CON NGƯỜI VÀ TÁC PHẨM

Đỗ Bình

Tâm hồn con người là một thế giới mênh mông, muôn màu, đầy bí ẩn. Đối với người nghệ sĩ sự đa cảm càng bén nhạy, một thoáng cảm xúc về ngoại cảnh cũng đủ biến hiện thực thành ý niệm khởi đầu cho một tác phẩm. Nếu hội họa là nghệ thuật của đường nét, ánh sáng và màu sắc, nhạc là nghệ thuật của âm thanh, và thơ là nghệ thuật của lời, thì nghệ thuật là tố chất sáng tạo. Từ thời cổ đại đến nay về hình thức, cấu trúc thi ca đã có nhiều thay đổi, nhưng giá trị đính thực của thơ vẫn hướng về chân thiện mỹ. Từ ngàn xưa người Việt đã biết vẽ tranh, nặn tượng, điêu khắc, ngành mỹ thuật mang tính dân gian, trang trí. Nhhững loại hình thể đó truyền lại nhau theo lối thủ công nghiệp. Tranh Đông Hồ, tranh hàng Trống Hà Nội, ngành điêu khắc, đúc tượng, các đồ thờ tự bằng sơn mài chỉ «cha truyền, con nối» không có trường sở chính thức để nghiên cứu học hỏi về mỹ thuật. “
Theo những tài liệu còn lưu trữ ở thư viện Paris. Lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt Nam thật sự khởi sắc từ khi có trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (L’École Supérieure Des Beaux -arts de l’Indochine). Trường được thành lập ở Hà Nội năm 1925 do họa sĩ Victor Tardieu một người Pháp làm hiệu trưởng suốt 12 năm. Trường đã được sự cộng tác đắc lực của họa sĩ Joseph Imguimberty giảng dạy từ năm1925cho đến khi bị giải thể 1945 (vì chiến tranh). Họa sĩ Victor Tardieu thuộc Trường phái Cổ điển cuối thế kỷ 19, ông từng là bạn học với danh họa Henri Matisse, Raoult. Họa sĩ Joseph Imguimberty tốt nghiệp trường Trang Trí Quốc Gia Pháp, ông yêu đất nước Việt Nam nên có nhiều họa phẩm sơn dầu rất nhập thần về phong cảnh đồng quê Việt.
Họa Victor Tardieu và Joseph Imguimberty là hai họa sĩ bậc thày đã hướng dẫn các sinh viên Việt Nam làm quen với kỹ thuật hội họa phương Tây, biết những nét căn bản của Trường phái Cổ điển. Với những kiến thức được học hỏi bài bản, sau khi tốt nghiệp, các họa sĩ có thể tự chọn cho mình một trường phái khác, một con đường riêng : tân cổ điển, ấn tượng, lập thể, trừu tượng, siêu thực, nhưng vẫn phát huy truyền thống nghệ thuật của nước nhà như lụa và sơn mài. Từ đó ngành Mỹ Thuật của Việt Nam mới có những tên tuởi lớn :
Tô Ngọc Văn, Nam Sơn Nguyễn Vạn Thọ, Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Công Văn Chung, Đỗ Đức Thuận, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, Thạch Lam, Nguyễn Tường Lân, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường(người vẽ áo dài kiểu Le Mur), Lưu Văn Sìn, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Văn Tỵ, Trịnh Hữu Ngọc, Hoàng Lập Ngôn, Nguyễn Dung, Nguyễn Tiến Chung, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Đức Nùng, Dương Hướng Minh, Nguyễn Sĩ Ngọc, Trần Đình Thọ, Huỳnh Văn Thuận, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Trọng Hợp, Phan Tại, Nguyễn Sáng, Huỳnh Văn Gấm, Tạ Khúc Bình, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Phan Thông, Lê Thanh Đức, Mai Văn Hiến, Trần Duy, Phan Kế An, Dương Bích Liên, Nguyễn Kim Đồng, Văn Cao, Văn Giáo, Lê Quốc Lộc, Phạm Viết Song, Tạ Tỵ, Phạm Đăng Trí”…
Hành trình đi tìm nghệ thuật là bước vào con đường vinh quang nhưng đầy gian nan khó khăn, người nghệ sĩ phải tự mình tìm lối đi riêng. Từ ngàn xưa «Cầm , Kỳ, Thi , Họa » đánh đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh là bốn cái thú của kẻ tao nhã, nhưng biết đàn, làm thơ và vẽ tranh chưa hẳn là nghệ sĩ. Trong làng văn nghệ những người đã có tác phẩm được ra mắt có thể chưa hẳn đã hay hơn những người có tác phẩm chưa trình làng. Gía trị đích thực của một tác phẩm không hẳn được công chúng hoan nghênh khi mới ra mắt, mà gía trị đích thực phải qua thử thách với thời gian và được công chúng yêu mến lưu truyền lâu dài. Đã từ lâu những nghệ sĩ vừa là thi sĩ vừa là họa sĩ mà mỗi lãnh vực đều mang dấu ấn, và được công chúng biết thì không nhiều. Có người do thiên phú khởi đầu con đường văn nghệ chỉ làm thơ và có những bài thơ xuất sắc, độc đáo nên được công nhận là thi sĩ, rồi sau đó mới học vẽ và miệt mài với cây cọ ; mảng màu để thành họa sĩ. Ngược lại có người đã là họa sĩ sau yêu thơ, nghiên cứu thơ, làm thơ, đắm đuối vì thơ thành thi sĩ. Đây là những người đam mê và am tường thấu đáo bài bản về hai bộ môn nghệ thuật. Cuối thế kỷ trước ở miền Nam nước ta, những nghệ sĩ có thi phẩm trình làng và tranh triển lãm không nhiều, họ được công nhận là thi họa sĩ: Nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh, thi họa sĩ Phạm Tăng, thi họa sĩ Mùi Qúy Bồng, thi họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật, thi họa sĩ Lưu Nguyễn Đạt, thi họa sĩ Huỳnh Ngọc Điệp, thi họa sĩ Bồng (Phạm Văn Thoại), thi họa sĩ Phạm Kế Viêm ( GS Phạm Kế viêm và GS Phạm Văn Thoại là thi họa sĩ có tài nhưng rất khiêm nhường, ít muốn trình bày tác phẩm của mình nên người đời chỉ biết hai ông ở lãnh vực dạy học)v.v...
Những nghệ sĩ khi ở trong nước đã là họa sĩ hoặc thi sĩ, ra hải ngoại sau năm 1975 đeo đuổi thêm ngành nghệ thuật khác : thi họa sĩ Vi Vi Võ Hùng Kiệt, (họa sĩ Vi Vi tốt nghiệp Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, có nhiều tác phẩm tranh màu nước, sơn dầu nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975, và ở hải ngoại được giải thưởng cao qúy của chính phủ Canada với những bức tượng điêu khắc), thi họa sĩ Nguyễn Tư ở Úc, thi họa sĩ Diễm Châu Cát Đơn Sa ở Mỹ v.v….Ở Pháp, Paris nói riêng, những người theo ngành nghệ thuật tạo hình không nhiều, đây là đất của các danh họa quốc tế lâu đời. Muốn có tên trên tháp vàng đó ngoài tài năng xuất chúng, còn phải quen biết những danh họa có tầm vóc quốc gia, quốc tế, những tổ chức uy tín có thế lực tiền tài của người bản xứ đỡ đầu giới thiệu. Những họa sĩ VN dù có tài nhưng không đủ tài chánh và phương tiện làm những cuộc triển lãm lớn để quảng bá những tác phẩm của mình đến giới thưởng lãm qua những phương tiện truyền thông, truyền hình, báo chí... vì thế họ đành chấp nhận sự chờ thời, và vẫn miệt mài theo đưổi con đường nghệ thuật.
Vào thế kỷ19 khu nghệ sĩ Montparnasse và hiện nay là khu nghệ sĩ trên đồi Montmartre có biết bao nghệ sĩ có tài. Họ là những họa sĩ thuộc nhiều quốc tịch, trong đó có một số ít là người Việt. Cũng ở những nơi này đã có một số danh họa Pháp từng sống và hành nghề, sau gặp thời nổi danh tranh của họ được bán với gía tính bằng vàng. Những tác phẩm nằm trên những con đường nhỏ, những ngõ cụt bỗng tỏa sáng chuyển mình được nâng niu đưa vào trưng bày ở viện bảo tàng để người đời chiêm ngưỡng.
Những họa sĩ Việt thành danh ở Pháp có nhiều cuộc triển lãm và giải thưởng cao qúy, nay đã mất : Nguyễn Vạn Thọ, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Điềm Phùng Thị, Dương Cẩm Chương, Vĩnh Ấn, Thái Tuấn, Minh Châu Thái Hạc Oanh, Phạm Tăng, René Loesch, Lê Bá Đảng, Anh Trần, Vũ Thái Hòa.
Những họa sĩ thành danh, còn sống, có nhiều cuộc triển lãm, có người dạy ở các trường Cao Đẳng Mỹ Thuật vùng Paris: GS Nguyễn Cầm, GS Lê Tài Điển, GS Đỗ Văn Bình, GS Lê Công Minh…..
Họa sĩ : Võ Hoài Nam, Nguyễn Đức Tăng, Hồng Loan, Vương Đình Thư, Nguyễn Minh, Hoàng Đình Tuyên, Nguyễn Long Diên, Oanh,(Phạm Hoàng Oanh, con thứ BS Phạm Khắc Hy cựu Đại Sứ đầu tiên VNCH tại Pháp), Duy Nga, trưởng nữ họa sĩ Duy Liêm (Tranh Sơn Mài Thành Lễ, bìa nhạc..), Phạm Trọng Chánh (Điêu khắc), Huỳnh Thanh Lý, Vương thu Thủy (điêu khắc).
Những họa sĩ trung niên: Vũ Đình Lâm, Vũ (Trần Trọng Vũ, con trai nhà thơ Trần Dần), Vũ Hòa, Ngọc Tuyết, Trang Thanh Trúc, Trúc Tiên, Julien Ngưyen Verhaeghe (Ts Thẩm mỹ học, phê bình nghệ thuật), con trai trưởng nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thanh&Mây Thu, học trò của Lê Tài Điển, Nguyễn Cầm.

Hồng Khôi là bút hiệu của Vũ Hối ngay từ năm 1957. Sau này có những bài thơ tác giả không lấy bút hiệu Hồng Khôi mà ký tên thật. Bài thơ «Men Chiều Cali» là bài thơ Vũ Hối đã lấy tên thật, và cho đăng trong tập tuyển Cụm Hoa Tình Yêu, xuất bản năm 1997. Nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh và Vũ Hối ký tặng người viết ở Paris ngày 21.06.1997.
Bài thơ như sau:
« Vẽ cả trong tranh khung trời lộng gío
Vẽ cả men tình, một độ lên ngôi
Nâng niu ta vẽ cành hoa Nhân Ái
Những đóa hoa cười, nở mãi trên môi !
Nắn nót tình thơ, khung trời lộng gío
Mười ngón tay hoa, vướng nhạc bỗng trầm…
Ta về đâu ướp lạnh miền Đông Bắc
Nhớ Cali, từng vạt nắng hanh vàng
E ấp hành trang: men chiều kỷ niệm
Phong kín gửi người: nỗi chứa chan!
Vẽ người thương, giữa khung trời lộng gió
Vẽ mình ta, ngồi đếm nỗi cô liêu
Vẽ cánh chim rừng, một trời lạc xứ
Cali ơi ! Xin gởi nồng ấm men chiều!...»

Tác giả đã diễn tả nỗi lòng mình, một kẻ tha hương tạm dung nơi miền Đông Bắc Mỹ lạnh lẽo nhưng chan chứa tình người. Ở đó nhà thơ thèm nắng ấm Cli để sưởi nỗi nhớ về một quê hương xa ngàn dặm. Chất họa trong con người thi sĩ qua hình ảnh trong câu: «Vẽ cánh chim rừng, một thời lạc xứ», đây không phải là ngôn ngữ hình tượng của hội họa, nhưng ngôn ngữ mang chất ẩn dụ: để diễn tả những thân phận tha hương với nỗi niềm cô đơn. Nhưng trong câu : «Khung trời lộng gío » có những hình tượng, thơ và họa đều có thể vẽ và tả được. Nhưng có câu : «Vẽ cả men tình một độ lên ngôi» chỉ có thơ mới diễn tả được, mà những màu sắc và đường nét của hội họa không thể vẽ được ! Thơ Vũ Hối nhẹ nhàng, tha thiết, đượm chất nhân ái. Nhà thơ không mang thù hận vào thơ dù đã mất mát, trải qua nhiều năm tháng trong ngục tù CS, và để lại nơi chốn đọa đày đó một phần ánh sáng ! Vận nước thay đổi, lòng người gian dối, hiểm ác, đối xử nhau nghiệt ngã, thi sĩ vẫn gượng cười, vẫn giữ niềm tin hướng về chân thiện mỹ. Bài thơ lục bát:
Nửa
« Đời ta nửa tỉnh, nửa say
Nửa đen, nửa trắng, nửa ngày, nửa đêm
Nửa vui với cảnh ưu phiền
Nửa sông cồn cát, nửa triền núi cao
Nửa thương, nửa nhớ, nghẹn ngào
Nửa cười tha thiết, nửa ngao ngán tình
Nửa hồn đau kiếp nhân sinh
Chênh vênh nửa cuộc hành trình bể dâu
Chập chờn nửa giấc canh thâu
Cười say bên ngọn đèn dầu nửa khuya.»

Đó là tiếng lòng, nỗi u uất như tiếng thở dài về thân phận mình, thân phận của kiếp người, rộng lớn hơn là của đất nước mà một phần lãnh thổ đang bị lấn chiếm bởi ngoại xâm. Nhà thơ đã trút hết tâm tư dệt thành câu thơ buồn. Câu thơ mở đầu: «Nửa tỉnh, nửa say», tỉnh ở đây tác giả muốn nói đã nhận thức giá trị cao qúy của sự sống, nhà thơ đã trải qua biết bao khổ đau mà vẫn giữ tâm an lạc để làm thơ, vẽ tranh cho đời. Say trong thơ không phải say vì men rượu mà say vì đất nước. Nhà thơ nhìn quê hương như bức tranh mang gam màu buồn. Nơi ấy trong chốn phồn hoa với những tòa nhà cao tầng, những con đường rực sáng làm lóa mắt người hầu khỏa lấp, che dấu sự nghèo đói. Một con mắt còn lại nhìn đời nửa đen nửa trắng, phần con mắt mất ánh sáng là một hố đen sâu thẳm, nửa trắng là chút ánh sáng xót lại để nhìn màu sắc trên đời, nhất là với người họa sĩ, ánh sáng là nguồn sống, là niềm hy vọng. Hai câu thơ cuối :
«Chập chờn nửa giấc canh thâu
Cười say bên ngọn đèn dầu nửa khuya.»

Nhà thơ nặng tình với quê hương dù đang sống tha hương nhưng tâm hồn vẫn quanh quẩn nơi quê nhà. Đêm khuya thao thức bên ngọn đèn dầu nghĩ chuyện nước, thấy bất lực trước thời cuộc ! Nhà thơ cười để tự chế nhạo mình, chế nhạo những nhiễu nhương đảo điên sự đời. Say vì tê tái đau buồn cho mệnh nước vào mê cung chưa lối thoát. Dân nghèo quay quắt mưu sinh, lắm kẻ vì vật chất đã đánh mất lương tâm! Người cầm quyền thì mải mê tranh đoạt quyền lực nên đã xa rời niềm đau, nỗi khốn cùng của dân đen khiến con người và đất nước đang mất dần bản sắc dân tộc! Bài thơ dù viết đã lâu nhưng vẫn mang tính hiện thực về một xã hội Việt Nam bị tha hóa hôm nay.

vu hoi

Vũ Hối sinh ngày 22 tháng 11 năm 1932 tại Tam Kỳ, Quảng Nam. Là một nghệ sĩ đa tài, ông dáng người cao dong dỏng, bản tính đôn hậu dễ mến, hay cười, rất khiêm nhường và chân tình khi xử thế với bằng hữu, thêm có óc khôi hài thỉnh thoảng xen câu chuyện tếu làm mọi người vui. Là một tên tuổi lớn của nền văn học nghệ thuật nước nhà và quốc tế. Ông dược mời vẽ chân dung tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, vẽ chân dung Đại tướng Creighton W. Abrams. Đã nhận Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế năm 1963 tại Hoa Kỳ. Sáng lập trường phái Luân Vũ Họa (Paintings In Motion) và Thư Họa (Handwriting Painting). Là nghệ sĩ Á Châu duy nhất được vinh danh về Sáng Tạo Nghệ Thuật cho thế giới, tại Atlanta - Hoa Kỳ ngày 5-11-1994.
Có tên trong:
- Văn Học Tự Điển thời Việt Nam Cộng Hòa
- Bách Khoa Tự Điển Larousse, bộ tự điển nổi danh nhất của Pháp và thế giới.
Tự Điển Danh Nhân Thế Giới, ấn hành tại Anh Quốc năm 1998 (Dictionary of International Biography 1998 – Cambridge – England).
- Được ghi trong “5000 Personalities of The World”, do American Biographical Institute ấn hành năm 2000. Là nhà Thư Họa Việt Nam duy nhất được ghi tên trong “Tuyển Tập Thư Họa Bậc Thầy Đông Phương”, ấn hành tại Tokyo – Nhật Bản năm 2006 (Volume 6International Editonal – Tokyo – Japan).
Ngoài danh tài về họa, Vũ Hối còn là một nhà thơ, nhà nhiếp ảnh. Ông khởi đầu sự nghiệp văn nghệ là làm thơ bút hiệu Hồng Khôi, đã xuất bản nhiều thi tập:
- Mùa Giao Cảm (Thơ) 1958. -Vần Thơ Màu Trắng (Thơ) – La Poésie de Couleur Blanche, được phiên dịch ra Anh và Pháp ngữ năm 1959 tại Sài Gòn.
- Những Dấu Chân Đi (Truyện Ngắn), xuất bản năm 1960. -Chiêm Bao Trở Giấc (Thơ), xuất bản năm 1997.
- Nghìn Thương Đất Mẹ (Thơ và Thư Họa), năm 1999….

Người đời quan niệm : «Thư Họa là nghệ thuật dùng bút lông viết chữ như vẽ để viết những câu thơ, câu đối, câu ca dao, hay ngạn ngữ, danh ngôn ..vv..... »
Trước Vũ Hối, có vài người cũng đem thư pháp vào Chữ Quốc Ngữ như Đông Hồ, Trụ Vũ, nhưng từ khi Vũ Hối sáng lập trường phái Luân Vũ Họa hay Hội Họa Sinh Động (Paintings In Motion Thư Họa mới lột tả hết sắc thái độc đáo đường nét của nghệ thuật viết chữ Việt như bức tranh rồng bay phượng múa.
Năm 1997, họa sĩ Vũ Hối sang Paris ra mắt thi phẩm:Chiêm Bao Trở Giấc, xuất bản năm 1997.
Tháng 9 năm 2002, họa sĩ Vũ Hối sang Paris ra mắt thi phẩm Mây Ngàn viết chung với thi sĩ Hoài Việt TS Nguyễn Văn Hướng, thi phẩm, khổ lớn, giấy màu, láng, rất đẹp do nhà xuất bản Anh Em ở NaUy in năm 2002.
Dịp này họa sĩ Vũ Hối mang tặng tôi bức tranh lụa: Đôi Chim Trên Cành Trúc, màu sắc, phong cảnh thật đẹp.
Trong cuốn tuyển tập đặc biệt: « Vũ Hối Nghệ thuật Thư Họa », khổ lớn, giấy láng, hình màu, rất đẹp do nhà xuất bản EM T.MO S.J Magazine in năm 2007, người viết được thi họa sĩ chọn một tấm hình sinh hoạt ngày ra mắt sách và Thư Họa của Vũ Hối năm 1997 tại Paris, do CLB VH VN Paris tổ chức, để đưa vào tuyển tập cùng với nhiều tấm hình của sinh hoạt khác.
Tháng 6 năm 2008 người viết cùng nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sang WDC ra mắt sách và CD nhạc, do, hội Văn Bút VN Hải Ngoại tổ chức. Dịp đó họa sĩ Vũ Hối đã tặng chúng tôi mỗi người một bức thư họa.
Vào năm 2009 họa sĩ Vũ Hối cùng một số anh chị em văn nghệ sĩ từ Mỹ, Canada, Âu Châu sang Paris sinh hoạt văn học nghệ thuật chủ đề: Thu Tao Ngộ. Sau buổi sinh hoạt, đêm đó, về nhà tôi hai người bạn thời thơ ấu Vũ Hối và Nguyễn Thùy tha hồ tâm sự. Sáng hôm sau trong lúc dùng điểm tâm, Vũ Hối nói:
«Mình với Nguyễn Thùy nói chuyện đến gần sáng.»
Nguyễn Thùy tiếp:
« Hai đứa chỉ nói về số bạn bè tan tác sau 1975.
Rồi vừa cười vừa hỏi:
« Nhớ lại chiều qua nơi phòng khánh tiết , một số đông các ông các bà, cả những cô trẻ vây quanh Vũ Hối xin 'thư họa', nhiều bà, nhiều cô xin như thế, Hối có 'thư sướng' không? »
Vũ Hối trả lời: «mệt thấy mồ, sướng con mẹ gì'. Dĩ nhiên, được mến mộ thì cũng vui lắm. Mà sao Thùy hỏi lạ vậy? »
Nguyễn Thùy trả lời:
«Tôi bảo có 'thư sướng' không chứ có bảo ông 'sướng' đâu?'. Ông có biết 'thư sướng là từ Hán Việt, theo Tự Điển Nguyễn Văn Khôn là 'khoan khoái, thoải mái, dễ chịu' chứ có phải 'sướng theo nghĩa thông thường đâu».
Rồi Nguyễn Thùy hỏi tiếp:
« Có người nói 'thư họa là vẽ chữ', có như vậy không? Vũ Hối:
«Thì phần nào cũng có thể nói thế. Còn Thùy nghĩ sao?.»
Nguyễn Thùy trả lời:
«Rất phục Hối vì Hối là người đầu tiên đã đem chữ viết VN vào Hội họa. Thêm nữa, theo mình' Thư Họa là đem thơ vào họa'. Hối đã thư họa nhiều câu danh ngôn, nhiều câu thơ trong một số tác phẩm nổi tiếng và số thơ của nhiều người. Nhưng mình nhắc Hối chỉ thư họa những câu thơ nào sáng giá, hay đẹp chứ đừng vì cảm tình thư họa những câu thơ không hay đẹp gì khiến nhiều ngườit có thể nghĩ 'Hối đã khiến ngón thư họa của Hối trở nên tầm thường. »
Nguyễn Thùy quay sang tôi hỏi:
« Anh quan niệm thế nào là hội họa ?
Tôi vội xua tay trả lời:
« Anh phải hỏi anh Vũ Hối chứ sao lại hỏi tôi ?! »
Nguyễn Thùy tiếp:
« Thấy anh thích tranh lắm sao không có ý kiến ? »
Vì muốn chấm dứt câu chuyện để còn thời gian chuẩn bị cho cuộc du ngoạn, tôi nói:
« Theo tôihội họa là những cảm xúc mạnh pha chút tưởng tượng của họa sĩ: đã kết hợp màu sắc, ánh sáng, bóng tối thể hiện qua những đường nét đậm nhạt để thành tác phẩm. Nhưng bức vẽ không phải là sự sao chép cho giống với hình mẫu ; mà phải sáng tạo để tác phẩm có nét riêng, nghĩa là phải độc đáo cả nội dung lẫn hình thức.»
Vũ Hối:
« Một quan niệm rất hội họa. »
Hai người cứ mải mê nói chuyện nên tôi dục các anh dùng nhanh để các bạn đến đón đi chơi, nhưng Nguyễn Thùy vẫn gân cổ lên nói:
« Mình chẳng biết gì về Hội Họa nhưng lại ưa nói quan điểm của mình về Hội Họa. Theo mình, Hội họa là thứ nghệ thuật tĩnh, nó sôi nổi trong trầm mặc, nó động trong bất động, nó càng đón nhận khinh bạc càng trở nên cao trọng, lâu dài. Mình đã viết như thế trong truyện 'Mậy Rồng', có tặng Hối, Hối thấy sao? »
Vũ Hối đáp:
« Có đọc. Truyện hay nhưng quan điểm Hội Họa nơi quyển đó, cao kỳ quá, khó ai thực hiện được. Mình chưa đủ khả năng để kết hợp cả hai lối 'công họa và tâm họa' như Thùy nói. Mà chắc cũng khó có người làm nổi. Mình già rồi, sức yếu nữa nên khó lòng nghiên cứu, học hỏi thêm để có thể có được nhiều tác phẩm sáng giá hơn »
Nguyễn Thùy:
« Nếu có thêm càng tốt. Nhưng với bao tác phẩm đã nổi tiếng, chừng ấy, mình thấy Hối đã đem lại cho Việt Nam một tiếng vang khá lớn cho nền Hôi Họa VN rồi. Mình mừng và vui hơn nữa là Hối là nguời Quảng Nam, đồng hương với mình, xứ Quảng được thêm một 'nhân tài' về Hội Họa thì cũng hãnh diện lắm chứ » Tôi đành phải cắt ngang câu chuyện của các anh, và hẹn tối về sẽ để các anh tha hồ nói. Dùng điểm tâm vừa xong thì các bạn cũng vừa đến. Chúng tôi: Nhà báo Nguyễn Bảo Hưng, nhà biên khảo Nguyễn Thanh, nhà văn Nguyễn Thùy, họa sĩ Vũ Hối và tôi cùng đi Giverny thăm viện bảo tàng của danh họa Claude Monet cha đẻ trường phái ấn tượng.

Con đường từ Cergy đến làng Giverny chạy xuyên qua vùng Vexin français, bình nguyên phía Tây Bắc Paris, vùng đất phì nhiêu phủ màu xanh của đồng cỏ, ruộng lúa mì, cụm rừng... Sông ngòi chảy uốn khúc, xoáy mòn lớp đất vôi tạo nên một địa hình mấp mô gồm đầm lầy, thung lũng và đồi gò nối tiếp nhau. Kỳ vĩ hơn tất cả chính là dòng sông Seine, cửa ngõ thông thương từ Paris ra biển cả. Dòng sông chảy ngoằn ngoèo soi bóng hàng cây dương liểu, sườn dốc cheo leo, những tòa dinh thự lâu đài... Từ xa xưa nơi đây đã in dấu chân từng đoàn quân La Mã. Những phế tích do tàn phá của chiến tranh suốt nhiều thế kỷ, chứng tỏ từ lâu dân cư đã sống gắn bó với mảnh đất và dòng sông.- Do cảnh sắc độc đáo cùng với môi trường sinh vật phong phú, một khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập tại vùng này vào năm 1995 (Parc naturel régional du Vexin français).
Thỉnh thoảng dọc bên vệ đường hay giữa cánh đồng ta còn gặp những cây thập giá bằng đá vôi chạm trổ, bốn nhánh hình tam giác, người xưa dùng làm cột mốc ranh giới giữa các xứ đạo, các đất đai sở hữu. Ngày nay di sản nông thôn này trở thành biểu tượng cho vùng Vexin français. Làng Giverny nằm dọc theo sườn phía nam dãy đồi, bên cạnh hợp lưu nơi sông Epte đổ vào sông Seine.Trong lúc anh Thanh mải mê lái xe tìm đường, anh Hưng vui vẻ cất tiếng: « Anh Vũ Hối từ Mỹ sang, lại là họa sĩ, hôm nay được bọn mình dẫn đi thăm Giverny là trúng tủ rồi đấy». Tuy không phải là họa sĩ, nhưng thích tìm hiểu về hội họa, đặc biệt là trường phái ấn tượng, anh Nguyễn Bảo Hưng giải thích: «Anh phải biết, với người Mỹ, Giverny được coi là cái nôi của hội họa ấn tượng và là chốn hành hương của hầu hết các đoàn du khách Mỹ viếng thăm Pháp.Thực ra Claude Monet không phải là người sáng lập ra trường phái ấn tượng. Sở dĩ tên tuổi ông được gắn liền với hội họa ấn tượng, ấy là nhờ nhà phê bình Loui Leroy, trong một bài báo, đã dùng từ impressionniste để nói lên cảm nhận của mình trước bức họa «Rạng Đông» (Soleil levant,1972) được Claude Monet đem ra trình làng tại cuộc triển lãm do ông cùng một nhóm họa sĩ đứng ra tổ chức riêng vào năm 1974 tại Paris. Thế là từ Impressionnisme được ghi vào sổ bộ đời hội họa từ đấy để nói về Trường phái Ấn Tượng(*). Còn nói rằng Giverny là cái nôi của hội họa ấn tượng cũng không hẳn đúng. Bởi vì tất cả những bức tranh mang đường nét ấn tượng hầu hết đều được các họa sĩ theo trường phái này như Manet, Sisley, Pissarro, Renoir v.v… thực hiện trong các thập niên 1860, 1870 và tại nhiều địa điểm không gian khác nhau.Chỉ từ sau 1883 Monet mới tới trú ngụ tại Giverny thuộc hạt Eure không cách thành phố Rouen bao xa. Nhưng vì ngôi nhà xinh xắn với khu vườn phô bày đủ mọi sắc hoa, và đặc biệt cái đầm hoa súng (l’étang des nénuphars) với cây cầu kiểu nhật (le pont japonais) duyên dáng được dùng làm đề tài cho nhiều bức tranh ngoạn mục đã khiến địa danh này trở thành đối tượng viếng thăm của khách yêu chuộng hội họa trên toàn thế giới». Câu chuyện tới đây thì cũng là lúc anh Thanh bắt đầu lái xe đi vào thành phố Auvers Sur Oise.

Lần theo dấu vết xưa qua những phiến đá tường đã phủ màu thời gian, chiều xuống ánh nắng dần phai nhìn con phố cổ bên dòng sông Oise trầm mặc hơn. Anh Thanh bỗng dừng xe trên con đường chính, ngay trước quán trọ Ravoux, trạm dừng chân chót của Van Gogh. Chúng tôi ngẩn ngơ trước ngôi nhà trọ nay đã được chỉnh trang lại bộ mặt trông sáng sủa hơn, nhưng trong lòng không khỏi bồi hồi nghĩ tới tới hai tháng cuối đời của nhà danh họa này trên căn gác xép chạm mái. Còn đang trầm ngâm suy tưởng bỗng nghe tiếng anh Thanh kêu gọi qua công viên bên cạnh nơi có bức tượng đồng Van Gogh do Zadkine sáng tác. Sau khi chụp một tấm chung lưu niệm, đứng cạnh tượng Vũ Hối thở dài than: «Trông Van Gogh khốn khổ quá, như kẻ đi lang thang, bụi đời!».  Nguyễn Thanh mở ống kính ngắm chụp, sau khi bấm máy liền góp ý: «Van Gogh đã từng thố lộ: "Khi tôi càng xấu xí, già, ác độc và nghèo, tôi càng tìm cách chuộc lại những thất bại ấy bằng cách làm cho màu của tôi rực rỡ, cân đối, tỏa sáng». Từ khu nhà ga cũ đến ngôi giáo đường cổ, tất cả chúng tôi theo đường lên dốc khá quanh co, tìm đến ngôi nhà thờ nơi bìa làng. Van Gogh đã dừng chân nơi đây và họa bức tranh mặt ngoài hậu cung nhà thờ, diễn tả một kiến trúc không theo phép phối cảnh nhưng bằng những đường cong quẹo. Anh Vũ Hối đi tới đi lui trên dốc đá góc nhà thhờ, ngắm từng chi tiết như tìm cách đứng đúng chỗ Van Gogh đặt giá vẽ, rồi mới nâng máy lên thu hết hình ảnh vào ống kính. Từ ngôi nhà thờ theo con đường làng ra khỏi vòm cây phong là cánh đồng mênh mông hiu quạnh, nơi an nghỉ của danh họa Van Gogh và ngôi mộ bên cạnh là người em trai Théodore. Trong hoang vắng, đứng trước hai ngôi mộ quá đơn sơ của họa sĩ nghèo, mộ chỉ lấp mà không xây, bia được cuốn bằng thừng! Đất Trời cũng cảm động, xót xa cho người họa sĩ tài hoa nên kết những loài hoa cỏ đầy màu sắc rực rỡ thành tấm thảm phủ lên ngôi mộ. Anh Vũ Hối và Nguyễn Thùy lần đầu đến thăm nên xúc động mạnh rướm lệ. Vũ Hối từ từ thu mình ngồi cạnh mộ Van Gogh, anh im lặng nhưng chắc hẳn lòng đang thổn thức ? Trên khuôn mặt buồn bã ấy có chút gì thương tiếc và ngưỡng mộ một danh tài hội họa thế giới bạc mệnh nằm trên cánh đồng hoang vu! Sau khi thăm mộ Van Gogh và người em trai Théodore, chúng tôi đi thẳng ra cánh đồng trước mặt đến nơi đã ghi dấu kỷ niệm họa phẩm "Đồng Lúa Mì và Đàn Quạ". Đứng trước thiên nhiên, mường tượng lại bức tranh, chắc hẳn trong mỗi người chúng tôi đều có cảm nhận riêng về hình ảnh đầy bí ẩn: «Đàn quạ đen bay sà trên đồng lúa chín vàng dưới bầu trời màu xanh sẫm như báo hiệu cơn dông sắp đổ xuống?»
Chúng tôi định đi tiếp vào thăm làng nhưng con đường đến đây chia làm ba ngã, biết chọn ngã nào? Anh Vũ Hối bảo: "Van Gogh vẽ đường cho chúng ta nhưng không chỉ dẫn rõ ràng, vậy thì đi đâu cũng được". Nguyễn Thanh bảo đường quẹo tay trái trở về nhà thờ. Anh Bảo Hưng khuyên nên đi thẳng, tất cả chúng tôi theo hướng đó. Tối hôm đó về nhà, chúng tôi thức khuya nói chuyện. Nguyễn Thùy bảo Vũ Hối: «Hai họa sĩ đều nổi tiếng nhưng một 'vừa nổi tiếng vừa nổi miếng' (ý nói có tiền, giàu) còn một thì 'vừa nổi tiếng vừa nổi điên', còn Vũ Hối thì nổi gì?» Vũ Hối trả lời: «chẳng nổi gì cả, đời quá nhiều bầm dập chỉ 'nổi chìm' thôi!» Họa sĩ Vũ Hối là một nghệ sĩ tài hoa nhưng nhìều thăng trầm. Sự nổi tiếng về hội họa đã làm lu mờ phần nào mặt văn thơ, cho dù nhà thơ vẫn sáng tác đều, vẫn cho đời những vần thơ hay nhưng công chúng tìm đến anh qua hội họa.Tôi hỏi Vũ Hối: «Giữa Thơ và Hội họa nếu phải chọn một anh chọn cái nào?» Vũ Hối: «Mình xin chọn cả hai, nếu tách ra là chết (!)Vì Thư Trung Hữu Họa.»
Trước năm 1975 và đến bây giờ, họa sĩ Vũ Hối luôn luôn chân thành với tình bạn, ở trong hoàn cảnh nào, dù lúc thăng hay trầm con người đó vẫn thế, vẫn không xa cách với bạn. Bản tính hiền hòa đôn hậu và trung nghĩa đã được các bằng hữu rất qúy trọng. Họa sĩ Vũ Hối chọn một lối sống hòa nhã, an lạc, ông mê say văn học nghệ thuật, xem nhẹ vật chất mà chỉ trợng tình tngười. Ngoài những tác phẩm sơn dầu vẽ chân dung các yếu nhân, Vũ Hối còn vẽ những bức tranh sơn dầu khác ở các thể loại phong cảnh, ấn tượng, những tác phẩm đó đều thể hiện tấm lòng tha thiết của ông đối với quê hương, đất nước. Những tác phẩm: Cảnh Làng Quê, Con Trâu, Cầu Tre, Lũy Tre, Phố Cổ, Ven Sông, Quê Hương với dòng sông Thu Bồn, Tình Mẫu Tử …vv dù xa xăm nhưng vẫn ẩn trong tâm khảm. Tác phẩm Chim Bồ Câu đã nói lên sự khát khao tự do, sự yên bình, ước mơ của nhân loại.
Con đường văn nghệ của Vũ Hối mang hương thơm tình tự dân tộc nơi xứ người. Đã có biết bao người tiếp nối ông đi trên con đường Thư Họa. Điều làm cho ông hãnh diện và sung sướng là người con trai của ông là họa sĩ Vũ Quốc, một họa sĩ tài hoa chuyên về sơn dầu đã từng làm những cuộc triển lãm thành công. Rồi đây họa sĩ Vũ Quốc theo con đường văn nghệ của cha, thi họa sĩ Vũ Hối và của bác ruột là cố giáo sư, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Vũ Ký; gieo những bông hoa đẹp cho đời.
Paris 16.01.2017
Đỗ Bình


Danh họa VŨ HỐI với 60 năm đóng góp

cho Văn học & Nghệ thuật

Lê Thương

Vũ Hối
Vũ Hối

Danh họa Vũ Hối, bút hiệu Hồng Khôi là một họa sĩ, một thi sĩ và nhà nhiếp ảnh, nổi tiếng về hội họa của Việt Nam và quốc tế. Ông sinh ngày 22 tháng 11 năm 1932 tại làng Dương Đàn, quận Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, vùng đất có năm ngọn núi tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết thành Ngũ Hành Sơn, nổi tiếng là vùng “Địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh nhiều nhân tài của đất nước.
Quảng Nam có núi Ngũ Hành,
Có sông Chợ Củi, có thành Đồng Dương.
(Ca dao)
Và:
Ai đi cách trở sơn khê,
Nhớ tô Mì Quảng, tình quê mặn nồng.
(Ca dao)
Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, nhưng chẳng may thân phụ và 11 người trong gia đình ông đã bị cộng sản tàn sát dã man vì là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông còn có bào huynh là giáo sư Vũ Ký, cũng nổi tiếng với cuốn biên khảo “Cương Lĩnh Văn Hóa”. Là một danh tài, một nghệ sĩ tích cực chống cộng của Miền Nam nên sau ngày 30-4-1975 ông bị cộng sản bắt giam chung với nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, nhạc sĩ Lê Thương và nhạc sĩ Đức Quỳnh mà chúng ghép tội là “văn nghệ sĩ chống cộng – văn nghệ sĩ ngụy”. Trong suốt thời gian bị chúng giam, ông luôn luôn tỏ ra là con người Quốc Gia đầy sĩ khí, nhất định không khai danh tánh của những người đồng chí hướng với ông nên bị chúng tra tấn tàn bạo đến mù con mắt bên phải và chúng cùm ông cho đến liệt chân phải. Họa sĩ Vũ Hối tốt nghiệp kỹ sư ngành họa và trang trí ở Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, đã từng là giáo sư hội họa tại Trường Trung Học Thủ Đô – Hậu Giang, hội viên của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam và hội viên Nhà Văn Việt Nam.. Hiện ông là thành viên của Trung Tâm Văn Học CỎ THƠM ở Hoa Thịnh Đốn, có tên trong Ban Biên Tập của Tam Cá Nguyệt San CỎ THƠM.
Cái gì làm cho đời phong phú, thi vị lên là cái ấy đẹp, vật chất cũng như tinh thần. Tình yêu nam nữ làm cho đời thi vị thêm nên tình yêu là cái đẹp, một chiếc áo dài làm cho người phụ nữ Việt Nam uyển chuyển, thướt tha ấy là cái đẹp của văn hóa ta hay một bầu trời lấp lánh những vì sao, một cánh đồng thơm tho mùi lúa chín, một định lý khoa học làm cho đời sống nhân loại tiện nghi hơn, một bài thơ hay, một nốt nhạc tuyệt diệu, một bức tranh tuyệt tác, một công việc từ thiện, một hành vi bác ái, một lời nói từ bi…đều là những cái đẹp cả. Hiểu như vậy thì cái Đẹp mới bao trùm được Chân-Thiện-Mỹ.
Nghệ thuật có mục đích ghi cũng như thực hiện những cái Đẹp trong vũ trụ mà văn chương, âm nhạc, hội họa là những nghệ thuật phổ cập hơn hết và Vũ Hối đã chọn hội họa cùng văn chương để gởi gấm con tim, khối óc, lý tưởng của mình vào đó hầu làm cho đời đẹp hơn lên. Muốn nói đến thi-họa-si Vũ Hối, quý vị cũng như chúng tôi phải cần đến một pho sách dày mới nói hết về những đóng góp cho văn học và nghệ thuật trong hơn nửa thế kỷ cầm cọ, cầm bút của ông.
Chúng ta được biết những thành tích của Vũ Hối qua:
- Đã từng du học ở Hoa Kỳ tại các tiểu bang South Carolina và Georgia vào năm 1960
- Tên tuổi của Vũ Hối cũng đã đi vào Bách Khoa Tự Điển Larousse, bộ tự điển nổi danh nhất của Pháp và thế giới
- Được mời vẽ chân dung tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy
- Được mời vẽ chân dung Đại tướng Creighton W. Abrams, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ ở Việt Nam
- Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế năm 1963 tại Hoa Kỳ
- Có tên trong Văn Học Tự Điển thời Việt Nam Cộng Hòa
- Sáng lập trường phái Luân Vũ Họa (Paintings In Motion) và Thư Họa (Handwriting Painting)
- Được ghi danh trong Tuyển Tập L’ art de l’ ecriture, Paris 1993
- Nghệ sĩ Á Châu duy nhất được vinh danh về Sáng Tạo Nghệ Thuật cho thế giới, tại Atlanta – Hoa Kỳ ngày 5-11-1994
- Được tổng thống Tiệp Khắc Vaclav Havel tiếp kiến và nhận tranh “The Dream of Peace” tại dinh thổng thống Praha ngày 5-9-1995
- Có tên trong “Vẻ Vang Dân Việt II” (The Pride of The Vietnamese Edition II) trong Tự Điển Danh Nhân Thế Giới, ấn hành tại Anh Quốc năm 1998 (Dictionary of International Biography 1998 – Cambridge – England)
- Tên tuổi Vũ Hối được ghi trong “5000 Persionalities of The World”, do American Biographical Institute ấn hành năm 2000
- Có tên trong “Tự Điển Một Phần Tư Thế Kỷ Việt Nam Hải Ngoại” do Hội Văn Hóa Pháp-Việt (France-Vietnam Culture), ấn hành năm 2003 – Paris
- Nhà Thư Họa Việt Nam duy nhất được ghi tên trong “Tuyển Tập Thư Họa Bậc Thầy Đông Phương”, ấn hành tại Tokyo – Nhật Bản năm 2006 (Volume 6 International Editonal – Tokyo – Japan)
- Được Nghị viện Hoa Kỳ vinh danh là Chiến Sĩ Văn Hóa và Chiến Sĩ Nhân Quyền tích cực đấu tranh cho Tự Do–Dân Chủ–Nhân Quyền do nghị định số 322 tại Hoa Kỳ
Ngoài danh tài về họa, Vũ Hối còn là một nhà văn, nhà thơ. Văn ông trong sáng, súc tích còn thơ ông nhẹ nhàng, truyền cảm và ông đã xuất bản:
- Mùa Giao Cảm (Thơ) 1958
- Vần Thơ Màu Trắng (Thơ) – La Poésie de Couleur Blanche, được phiên dịch ra Anh và Pháp ngữ năm 1959 tại Sài Gòn
- Những Dấu Chân Đi (Truyện Ngắn), xuất bản năm 1960
- Hợp Tấu Thi Tuyển cùng 26 nhà văn hiện đại – Nhân Loại xuất bản năm 1969
- Chiêm Bao Trở Giấc (Thơ), xuất bản năm 1997
- Nghìn Thương Đất Mẹ (Thơ và Thư Họa), năm 1999
- CD Vũ Hối và Thơ Nhạc Trong Tranh do Nhật Trường Production thực hiện năm 2000
- CD Thơ Chiêm Bao Trở Giấc do nghệ sĩ Bích Ty- Hà Phương phát hành
- Thư Họa Trích Kiều, xuất bản năm 2003
- Thơ Vũ Hối (CD ngâm thơ)
- Tuyển Tập Mây Ngàn (Thơ – Thư Họa Vũ Hối), ấn hành tại Norway năm 2004
- Nghệ Thuật Thư Họa, năm 2007
SẼ XUẤT BẢN:
- Tác Phẩm và Tác Giả

Nói đến họa sĩ Vũ Hối, trước ngày 30-4-1975, ở Việt Nam và sau ngày 30-4-1975, ở hải ngoại, ai cũng biết tài vẽ tranh, nhất là Thư Họa của ông. Vũ Hối đã từng vác CHUÔNG VIỆT NAM đi đánh xứ người nhiều lần và những tiếng chuông ông đánh ở xứ người kêu rất to, rất thanh vang rền trong cộng đồng văn hóa thế giới làm vẻ vang giống nòi. Ông đã nhiều lần tham dự triển lãm hội họa quốc tế tại Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Đức, Anh, Đại Hàn, Phi Luật Tân… Tranh của ông trong các cuộc triển lãm nói trên không những thể hiện qua những ánh mắt khâm phục của giới thưởng lãm mà còn gặt hái sự khen tặng của nhiều nhà nghệ thuật danh tiếng trên thế giới. Qua 50 năm đóng góp cho văn học và nghệ thuật nước nhà cũng như văn học, nghệ thuật quốc tế, những lời thán phục, những câu khen tặng đã là “triệu khẩu truyền” dành cho ông. Thành ngữ có câu “vạn khẩu truyền” nhưng ở đây, thiết nghĩ nên dùng “triệu khẩu truyền” vì “vạn khẩu truyền” e rằng chưa đủ cho danh họa Vũ Hối.
Một họa phẩm đẹp, hấp dẫn phải diễn đạt được sự vật một cách linh động, gói ghém một lý tưởng hay gởi gấm một triết lý nhân sinh thóat ra từ con tim của người nghệ sĩ. Tư tưởng, triết lý nghệ thuật đó đã được Vũ Hối diễn đạt qua bức tranh “Mộng Hòa Bình” với một thiếu nữ Việt Nam mặc áo dài trắng và ba con chim bồ câu bạch đã chiếm Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế tại Hoa Kỳ năm 1963, trong đó có 32 quốc gia tham dự. Nhìn người phụ nữ trong tà áo dài là lòng ta rung động, buồn man mác mà nhớ về quê Mẹ. Còn nhìn ba con chim bồ câu trắng vỗ cánh tung bay mang thông điệp hòa bình khiến tâm hồn ta lâng lâng như nghe văng vẳng tiếng chuông chùa từ bi hay những hồi chuông bác ái từ thánh đường, nói lên tính hiếu hòa của dân tộc ta.

Với Giải Khôi Nguyên, Vũ Hối đã làm rạng rỡ màu cờ dân tộc (cờ vàng ba sọc đỏ), còn hồn bút ông đã đem lại danh dự cho quê hương. Dưới bức tranh “Mộng Hòa Bình”, ông có đề hai câu thơ viết bằng lối Thư Họa và dùng điểu tự, nét bút như chín tầng chim bay cao:
Xa quê mãi nhớ cố hương
Miệt mài nghiên bút linh hồn Việt Nam
Vũ Hối cũng đã sáng lập trường phái Luân Vũ Họa hay Hội Họa Sinh Động (Paintings In Motion). Về trường phái nầy, ông có vẽ bức tranh “Tứ Mã”, nét bút phơn phớt, mờ mờ ảo ảo
“Một họa sĩ tài ba không bao giờ vẽ nguyên con rồng”, ở đây, nét vẽ của ông cũng hư ảo, kín đáo để người thưởng lãm phải suy nghĩ thêm, tưởng tượng thêm. Cảnh vật mờ mờ ảo ảo dưới ánh trăng, một mỹ nhân lấp ló, ẩn hiện sau cành lá hay một thiếu nữ ngồi hong tóc bên song cửa sổ làm cho ta ưa nhìn hơn một cảnh rực rỡ dưới ánh mặt trời hoặc những đường nét đẹp trên thân hình của người phụ nữ lồ lộ dưới ánh đèn điện sáng choang. Khi tả nàng Kiều tắm, cụ Nguyễn Du không tả chi tiết mà chỉ tả phơn phớt:
“Rõ ràng trong ngọc trắng ngà. Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”
để gợi sự tưởng tượng của người đọc thế mới hay mà người đọc càng tưởng tượng càng thấy hay. Tóm lại, mục đích của nghệ thuật chính là “gợi”, trong hội họa hay văn chương cũng vậy. Thêm nữa, muốn thưởng thức những nét đẹp của một bức tranh, ta phải dùng óc thẩm mỹ, dùng mỹ cảm, phải dùng trái tim của ta trước rồi mới dùng lý trí và phải hòa con tim của ta với trái tim của người nghệ sĩ. Trong bức tranh “Tứ Mã”, ông có đề hai câu thơ viết theo lối Thư Họa, với tự thể “Tốc” để diễn đạt vó ngựa đang phi nhanh. Nhìn bức họa ta tưởng tượng và có cảm tưởng như bị chóng mặt vì quả đất đang quay mà vó ngựa phi nhanh muôn chiều:
Vu_Hoi-content

Sau cùng, tột đỉnh thành công của Vũ Hối là Thư Họa và khi nói đến Vũ Hối phải nói đến Thư Họa Việt Ngữ (viết chữ Việt như vẽ tranh), ông đã có công sáng tạo để đưa cái đẹp của Chữ Quốc Ngữ lên đỉnh cao của nghệ thuật. Khi viết Thư Họa Chữ Quốc Ngữ, với một thư pháp độc đáo, ông đã gói trọn hồn nước và tình tự dân tộc theo nét cọ của mình. Với tài hoa đặc biệt nầy, báo chí đã tặng cho Vũ Hối danh hiệu rất đẹp là “Vua Thư Họa”. Chúng ta rất hãnh diện về Chữ Việt qua nét Thư Họa có một không hai của ông.
Trước Vũ Hối, có vài người cũng đem thư pháp vào Chữ Quốc Ngữ như Đông Hồ, Trụ Vũ… nhưng phải đợi đến Vũ Hối sáng lập trường phái Thư Họa mới lột hết cái tinh hoa của Thư Họa Việt Ngữ. Vũ Hối dã sáng tạo ra trường phái Thư Họa Chữ Quốc Ngữ với bản sắc dân tộc, không lai căng nét bút của Tàu, không vay mượn nét chữ của Nhật hay bất cứ của một nước nào. Lối viết của ông đơn giản, dễ đọc, không cầu kỳ nhưng đường nét lả lướt, bay bướm như “rồng bay phượng múa”, đường cọ đậm nhạt huyền ảo truyền đạt ý tưởng, tâm tư qua sự rung động, xúc cảm của con tim mình. Ngoài ra, Vũ Hối cũng là người đầu tiên vẽ Thư Họa trên đồ sứ và tranh sơn mài mà nghệ thuật hội họa thế giới chưa thấy họa sĩ nào thực hiện được.
Trong Thư Họa, với sự uyển chuyển của ngòi bút lông phối hợp với con mắt và trái tim của một nghệ sĩ, thư họa gia Vũ Hối đã sáng tạo ra nhiều tự thể như Thủy Tự, Hỏa Tự, Nguyệt Tự, Vân Tự, Trúc Tự, Điểu Tự… Và qua nét bút linh động của ông, ta sẽ bắt gặp những hình thái trong luật thư pháp như nét “Dương”đá lên không khác nào đường gươm dũng mãnh, hiên ngang, ngang tàng của một hiệp sĩ La Mã thời Trung Cổ hay nét “Ức” là nét nhấn xuống, sắc như nhát gươm thọc vào hạ bộ của địch thủ, rồi nét “Tốc” nhanh như chúa sơn lâm đang vồ mồi. Hoặc nét “Trọng” là nét dùng cho dấu nặng, nặng như quả tạ ngàn cân.. Còn nét “Trì” là nét chậm rãi, thư thái và nét “Khinh” là nét nhẹ nhàng, khoan thai ở cuối chữ.
Thư Họa là nghệ thuật dùng bút lông viết chữ mà như vẽ, thường để viết những câu thơ, câu đối, câu ca dao, câu tục ngữ, ngạn ngữ, danh ngôn hay những câu nói về lịch sử. Khi viết Thư Họa, ông dựa theo nội dung của câu thơ hay câu văn mà dùng tự thể để viết, như câu:
Thuyền ra giữa bến thuyền dừng
Ai đi thương nước nửa chừng lại thôi
(Thơ Vũ Hối)
thì ông sẽ dùng Thủy Tự, nét bút lững lờ như con thuyền giữa giòng nước.
Hoặc viết câu:
Lửa đấu tranh hừng hực chống bạo quyền
hay:
Ngàn năm hừng hực lửa da vàng
thì sẽ được dùng Hỏa Tự với nét bút biểu hiện khí thế bốc lửa hừng hực của câu văn.
Còn nếu viết câu Kiều:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
sẽ được dùng Nguyệt Tự, nét chữ như vầng trăng.
Hay viết hai câu Cung Oán:
Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương
ông sẽ dùng Vân Tự, nét cọ như mây vờn trăng sao.
Hoặc hai câu:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương
(Ca dao)
sẽ được dùng Trúc Tự, nét chữ la đà, lao xao như những lá trúc đong đưa trước gió.
Và viết hai câu:
Chim ơi lạc xứ năm châu
Tình nguyên chung thủy sắc màu Việt Nam
(Thơ Vũ Hối)
thì ông sẽ dùng Điểu Tự, nét cọ như cánh chim chín tầng bay cao.

Xin hãy nghe Vũ Hối diễn tả các tự thể qua những vần thơ của ông. Những vần thơ và nét cọ của ông luôn luôn hướng về ngõ đoạn trường của dân tộc:
Thư họa nét dọc, nét ngang
Nét thiên, nét địa mênh mang đất trời
Nét nào hư ảo chơi vơi
Nét “vân tự” đó mây vời trăng sao
“Trúc tự” lá trúc lao xao
Lững lờ “thủy tự” nghiêng chao giữa dòng
“Hỏa tự” hừng hực cháy bừng
Cánh chim “điểu tự” chín từng bay cao
Gió vờn “phong tự” lao xao
Trở trăn Thư họa nao nao nỗi buồn
Tha hương nhớ cội nhớ nguồn
Lệ vương cuối nét mưa tuôn từng dòng
Tha hương nét cũng long đong
Sầu nghiêng hiu hắt đèn chong đêm dài
Nét nào nuôi hận đọa đày
Lệch vầng nhật nguyệt nửa ngày nửa đêm
Nét như rúng rẩy bên thềm
Nhớ về Non Nước triền miên thăng trầm
Ngũ Hành Tự, nét khóc thầm
Nét thương, nét nhớ bâng khuâng xuân về
Xuân sang nét cũng tái tê
Nét như quặn thắt thương quê bão bùng…

Là một danh tài, là một tên tuổi lớn của nền văn học nghệ thuật nước nhà và quốc tế nhưng họa sĩ Vũ Hối có nhiều đức tính dễ thương, dễ mến. Nếu ai đã từng là bạn hoặc có dịp tiếp xúc với ông đều nhận thấy ông là một người khiêm nhường, điềm đạm, ôn tồn, từ tốn. Ông luôn luôn tâm niệm câu “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài – Nguyễn Du”. Chơi với bạn thì chơi rất thật tình và rất quý trọng bạn bè cũng như rất quý mến các anh chị em văn nghệ sĩ. Chinh vì những đức tính đáng mến đó mà vào ngày Chủ Nhật 2 tháng 8 năm 2009, các văn nghệ sĩ cùng thân hữu có tổ chức một bữa tiệc tại nhà hàng Harvest Moon ở Hoa Thịnh Đốn để vinh danh họa sĩ Vũ Hối qua 50 năm đóng góp cho văn học nghệ thuật. Bữa tiệc rất đông, qui tụ trên 400 người tham dự. Ngoài các thân hữu, văn nghệ sĩ vùng Hoa Thịnh Đốn và khắp nơi ở Hoa Kỳ còn có một số người từ Gia Nã Đại, Âu Châu, Úc Châu… về tham dự để chúc mừng họa sĩ Vũ Hối.
Buổi tiệc nói trên là món quà tinh thần rất đẹp và họa sĩ Vũ Hối rất xứng đáng để nhận món quà tinh thần quý giá nầy vì qua hơn nửa thế kỷ cầm cọ, cầm bút ông đã góp công vun trồng cho vườn hoa văn học nghệ thuật nước nhà thêm tươi thắm, thêm rực rỡ!
Lê Thương
Lê Thương

https://thanhthuy.me


Tranh sao chép, nhưng chữ ký thật

Hiện tượng tranh chính bản và tranh sao chép của các họa sĩ tài danh

TK Tran (Đối thoại)

Trong lãnh vực hội họa, hiện tượng sao chép hay mô phỏng tranh của các họa sĩ tài danh để bán lấy tiền không phải là điều gì hiếm hoi. Nhiều bức tranh được mô phỏng tinh vi khiến nhiều nhà chuyên môn về hội họa cũng có thể lầm tưởng là tranh chính gốc. Sự giả mạo khéo léo tới mức đã có ý kiến đề xuất là nên xem việc giả mạo tranh như là một trường phái riêng biệt và tranh giả mạo cũng có thể được sưu tập, lưu giữ trong các bảo tàng viện riêng.
Ðó là trường hợp giả mạo tranh của người khác. Còn một khi chính tác giả hay chính tác giả ủy nhiệm cho người khác sao chép tranh của chính mình thì sao? Ta phải thẩm định loại tranh này như thế nào?
Cách đây vài tháng, trong bài báo "Người đẹp trong tranh“, tác giả Nguyễn T. Long đã đề cập tới phát hiện của ông là họa sĩ Thái Tuấn, một họa sĩ nổi tiếng hàng đầu ở Việt Nam, đã sao chép một bức tranh của chính ông đã vẽ hàng chục năm về trước.

Chuyện mua tranh ở Việt Nam
Quãng cuối năm 1979 tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên. Lý do là bố tôi bị bệnh nặng. Tôi lấy phép thường niên, cộng với vài tuần nghỉ không ăn lương về thăm nhà, song giấy tờ lôi thôi rất khó khăn, tới khi xin được Visa chưa kịp về nước thì thì bố tôi đã mất. Tôi có nhiều thì giờ ở SaiGon, mà thời đó làm gì có thú vui nào. Cả nước đói khổ, chẳng ai có tiền để ăn uống cho đầy đủ, nói chi tới chuyện chơi bời. Thành ra thì giờ của tôi ở Saigon dạo ấy chỉ là lang thang phố phường, ngó vào vài cái Galerie bầy tranh vẽ lăng nhăng dành cho đám du khách ngoại quốc hay Việt kiều ít ỏi thời đó. Gặp được họa sĩ Vũ Hối, từ đó mới lần ra địa chỉ các họa sĩ còn ở lại trong nước.
Tôi đến nhà của Thái Tuấn, trong 1 con ngõ hẹp. Găp ông ta cùng 1 cậu con trai. Hỏi mua tranh. Thái Tuấn mang 2 bức tranh cho xem. Tranh cũng thật là điển hình, nhìn là biết ngay là tranh Thái Tuấn. Một bức tranh vẽ thiếu phụ cầm quạt, một bức vẽ chim đậu trên hàng kẽm gai, cả hai có màu nền là màu xanh đặc biệt của ông. Tôi hỏi thăm ý nghĩa của bức tranh chim. Thái Tuấn không trả lời thẳng, nói vòng vo tam quốc, cuối cùng là người xem phải tự tìm hiểu ý nghĩa tranh. Cũng giống như nhiều nghệ sĩ thành danh khác, ông không nói gì cả về dụng ý khi vẽ tranh, muốn để mọi người tự tranh-cãi về tác phẩm của mình.
Thái Tuấn đòi 4 cây vàng cho 2 bức tranh. Thời đó là rất nhiều tiền, Với 4 cây vàng, người ta có thể trả tiền vượt biên cho 2 người. Tôi ngần ngại, không muốn mua ngay, một phần vì cũng không có nhiều tiền lắm,vì mới đi làm kiếm tiền được vài năm, một phần vì tranh hồi đó rẻ như bèo.Danh họa Bùi Xuân Phái, còn có tên là Phái Phố, không những nổi tiếng ở Việt Nam mà còn có danh ở nước ngoài vì những bức tranh vẽ phố cổ Hà Nội của ông, ngày đó đã đổi một bức tranh (bức “Đêm Hà Nội”) để lấy một đồng hồ quân đội trị giá khoảng nửa chỉ vàng. Sau này bức họa này được một người sưu tập tranh Nhật Bản mua lại với giá 75000 USD.[1] Làm như là các họa sĩ lúc đó bán tranh chỉ là cốt để lấy lại tiền khung vải, tiền mầu, tiền cọ để mua gạo hay bo bo sống qua ngày. Các “tác phẩm”, tạm gọi là hàng chợ, sản xuất đại trà phần lớn vẽ cảnh đồng quê, con trâu, cái cầy, hàng dừa nước, thôn nữ… chỉ có giá không tới 1 chỉ vàng bán cho khách du lich dễ tính mua làm kỷ niệm.. Các tác phẩm của các họa sĩ đã có danh mà tôi mua, trị giá chỉ chừng 2-3 chỉ vàng/1 tấm lớn. Thái Tuấn đòi giá gấp 10.
Về nhà, tôi nói chuyện tranh Thái Tuấn với Vũ Hối. Vũ Hối bảo, để Anh lo cho Chú. Vũ Hối quen biết nhiều trong giới nghệ sĩ và người thưởng ngoạn nghệ thuật. Đi tìm mua được cho tôi 2 bức tranh Thái Tuấn mà một bức trong đó (“Để em làm gió”) là đề tài tranh luận trong bài báo này. Hai bức này Vũ Hối mua lại của một người cần tiền gấp ở làng Đại Học ở Thủ Đức. Giá cả cũng không cao như 2 bức của chính tác giả muốn bán.
Để Em Làm Gió, tranh chính bản và tranh vẽ lại của Thái Tuấn
Bức tranh vẽ thiếu phụ xanh, mà tôi đang sở hữu, không rõ là được vẽ năm nào, trước “giải phóng” hay sau “giải phóng” - tôi không biết - tôi tạm gọi là bức “Để em làm gió, số một” để phân biệt với bức “Để em làm gió, số hai” mà Thái Tuấn vẽ năm 1992. Sự hiện hữu của bức tranh thứ hai đã có nghi ngại từ khi tình cờ tôi đọc được trong 1 tờ báo hải ngoại quảng cáo 1 quyển thơ có tựa đề: Để Em Làm Gió, thơ Trần Mộng Tú, Tựa:Đỗ Quý Toàn, Thế Kỷ xuất bản ở Mỹ 1996, giá 10 USD. Bìa và phụ bản Thái Tuấn.Nhìn lại trang bìa thì chính là bức tranh của tôi, nhưng nhìn kỹ lại, bức hình bìa cũng không hoàn toàn giống tranh của tôi. Phát hiện của tác giả Nguyễn T. Long đã khẳng định điều là Thái Tuấn đã sao chép lại chính tác phẩm cũ của ông đến quãng 90% cho in làm bìa quyển thơ và in lại trong quyển Thái Tuấn,tuyển tập tranh và tiểu luận.[2]

Tranh chính bản và tranh sao chép của các tác giả khác
Nhiều họa sĩ Việt Nam khác cũng đã sao chép những tác phẩm thành công của mình.
Vũ Hối là một họa sĩ, ngoài ra còn chụp ảnh và làm thơ. Quãng năm 1962 Vũ Hối tham dự 1 cuộc thi tranh vẽ của Tổng Thống Kennedy đoạt được giải nhất với bức tranh “Mộng hòa bình”. Về giải thưởng này, người ta đã bình luận là Tổng Thống Kennedy có dụng ý chính trị nhiều hơn là nghệ thuật, khi ông dùng “Mộng hòa bình” để trấn an chính phủ ông Diệm, trong lúc đã có nhiều dấu hiệu cho thấy là Kennedy muốn mở rộng chiến tranh với sự tham chiến trực tiếp của quân đội Mỹ.
Khi tôi gặp Vũ Hối trong thời gian này(1979), Vũ Hối rất tình cảm, tặng ngay bức tranh đó cho tôi, như là món quà thân tình cho người bạn nhỏ. Tôi sướng mê tơi. Sau này, xem lại các bài báo in lại bức tranh đó, kể cả bìa các cuốn băng nhạc, mới thấy có khác biệt giữa bức tranh của tôi, và bức tranh in trên báo. Mới biết là tranh của mình không phải là bản đầu tiên và duy nhất.
Sau này Vũ Hối sang Mỹ. Rồi không biết với danh nghĩa gì (Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam?) Vũ Hối sang Âu Châu, được tổng thống Havel/ Tiệp Khắc tiếp kiến. Tổng Thống Havel vốn là thi sĩ, cũng là nghệ sĩ nên cho họa sĩ Vũ Hối gặp thì cũng là dễ hiểu. Vũ Hối đem theo quà cho tổng thống Havel. Quà của họa sĩ Vũ Hối chính là bức tranh “Mộng Hòa Bình” mà ông lại vẽ lại. Không biết là bản thứ mấy!
Vũ Hối có bản tính phóng khoáng nghệ sĩ, tôi rất quí ông. Tôi không trách Vũ Hối về việc cóp-py tranh của chính mình. Song nếu ông nói ngay cho tôi là bức tranh ông tặng tôi là bản thứ 2, thứ 3... vẽ lại, thì chắc là tôi không phải thất vọng sau này.



“Mộng hòa bình” - tranh Vũ Hối (1962?).  Hình trên là bản in bìa một băng nhạc. Hình dưới là hình chụp tranh nguyên thủy.

Ở Sài Gòn dạo đó, tôi gặp nhiều họa sĩ có tên tuổi, làm thầy dậy ở trường Mỹ Thuật Gia Định, có thể kể tới Tú Duyên, chuyên vẽ tranh lụa. Tú Duyên có dáng như một ông thầy giáo già. Găp Thuận Hồ, có tranh in trong quyển Nghệ Thuật Việt Nam hiện đai,[3] vẽ tranh sơn dầu, dễ thương, có dáng cần mẫn như 1 ông bố hiền lành.Gặp Nguyễn Siên, giáo sư hội họa chuyên vẽ tranh sơn dầu, lúc đó lại theo thị hiếu người tiêu thụ, nhảy ra làm tranh sơn mài.
Tôi gặp Trần Đắc ở tư gia của ông đúng lúc ông đang dậy vẽ cho 1 cô gái trẻ. Ông chuyên vẽ tranh lụa, có tranh in ngay ở bìa quyển cẩm nang Nghệ Thuật Việt Nam hiện đại nêu trên. Tôi đặt vấn đề mua tranh, đặt mua ngay bức tranh vẽ cảnh sinh hoạt nông thôn ở hình bìa sách . Một tuần sau đó, Trần Đắc… cóp-py gần y-chang bức tranh nổi tiếng của ông và bán cho tôi…
Tôi gặp Kiều Yên, một họa sĩ trẻ từ Hà Nội vào. Kiều Yên khi ở Hà Nội, chỉ quen với kiểu nghệ thuật răng-đen-mã-tấu, khi đến Sài Gòn thì bị chóa mắt vì cảnh phồn vinh ở SaiGon, vì các cô gái SaiGon quầng mắt xanh, bờ môi hồng xinh đẹp như tiên, đã xuất thần vẽ 1 bức tranh 3 cô gái đi xe đạp, mà anh ta phải đặt tên là “Ngày hội tri ân cô giáo”, để phù hợp với tiêu chỉ chính trị thời đó. Không biết sau này Kiều Yên có gây dựng được tên tuổi của mình không. Song bức tranh này, theo tôi,rất có giá trị nghệ thuật, tác giả vẽ với cảm xúc thật sự, không phải lả vẽ theo đơn đặt hàng. Tôi nghiệm ra rằng, 1 họa sĩ vô danh cũng có lúc có thể cho ra 1 tác phẩm lớn. Một họa sĩ thành danh đôi lúc cũng vẽ những bức tranh tầm thường, giá trị không cao.Chữ ký trên tranh chưa bảo đảm được giá trị tranh.
Vài năm sau đó, tôi trở lại thăm nhà ở Saigon, lại thấy bức tranh “Ngày hội tri ân cô giáo” của mình bày bán trong 1 Galerie. Ông tác giả lại sao-chép tranh của mình bán thêm. Song tranh sao-chép không còn cái hồn của tranh nguyên bản, trông chẳng ra gì.

Lạm bàn về giá trị của tranh chính bản và tranh sao chép
Chuyện sao chép tranh chính bản không có gì mới. Ngay cả những bảo tàng viện cũng cho phép một số người với những điều kiện nhất định vào bảo tàng viện sao chép lại những tác phẩm kinh điển vĩ đại của nhân loại, nói chi tới những tác phẩm hiện đai chỉ có giá trị trong một không gian nhất đinh? Song những tác phẩm cop-py này không được phép ký tên tác giả nguyên thủy. Nếu điều này xẩy ra, thì đó là chắc chắn là một sự lừa gạt.
Nhưng đối với những tác phẩm mà chính tác giả sao chép lại và ký tên mình thì ta phải đánh giá như thế nào?
Về phương diện nghệ thuật, thì tranh sao chép không thể bằng tranh chính bản, bởi vì nó được ra đời không phải vì nghệ thuật, không phải vì niềm cảm xúc của người vẽ mà vì những lý do nào khác. Phân biệt giữa tính đích thực (authenticity) của tranh tác-giả-tự-sao-chép và tính nguyên-thủy (originality) của tranh sáng tác đầu tiên, theo tôi chỉ có tính cách hàn-lâm. Nếu nhìn nghiêm túc, thì tranh sao-chép có chữ ký thật, dù là do tác giả hay học trò tác giả làm ra, cũng là một sự giả dối đối với người mua tấm tranh đầu tiên nói riêng và với người thưởng ngoạn, nói chung. Bởi vì tính cách duy-nhất/độc nhất vô nhị, vốn là một phần giá trị của bức tranh, đã không còn nữa. Sự tin tưởng của người mua tranh là mình sở hữu một vật thể duy nhất đã bị tổn thương.
Nên chăng, là họạ sĩ cũng cần một ước lệ nào đó cho tranh mình vẽ, để người xem biết ngay, đó là tranh nguyên thủy hay tranh tác giả tự sao-chép, giống như qui ước đối với đồ họa (graphic)?
Bởi vì trong quá khứ cũng có những bức tranh được sao chép nhiều lần, mà sau này hậu thế không thể khẳng định được, tấm nào là tranh chính bản, tấm nào là sao chép. Đó là trường hợp bức tranh lụa “Chơi ô ăn quan” của Nguyễn Phan Chánh (1931), mà hiện nay có một bản tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam và một bản tại Bảo Tàng Nghệ Thuật Châu Á (Fukuoka, Nhật Bản). Không biết tấm nào là tấm chính bản, tấm nào là sao chép. Có khi cả hai đều là sao chép, mà bản chính gốc không biết ở đâu.[4]
Những bức tranh của Thái Tuấn, Vũ Hối và các họa sĩ khác cũng đã đóng góp rất nhiều vào nền Mỹ Thuật Việt Nam trong những thập niên 60-70. Dù gì chăng nữa, những tác phẩm đặc sắc của họ cũng là một phần của tinh hoa dân tộc
Đối với riêng tôi, giá trị của những bức tranh mà tôi đã mầy mò tìm kiếm trong những năm tháng đó, không nhất thiết nằm ở chỗ chúng là tranh chính bản hay tranh sao chép, tranh đích thực hay tranh duy nhất, định giá được 2-3 chỉ vàng hay 5-7 cây vàng, mà nằm nhiều hơn ở cốt cách tinh thần của chúng biểu hiệu cho một vùng trời xa xôi, nơi tôi đã được sinh ra và lớn lên, nơi đã để nặng dấu ấn lên tôi trong suốt cuộc đời...
_____________
Chú thích:
[1]Thanh Thuận, “Ba câu chuyện thú vị về danh họa Bùi Xuân Phái“ (2009).
[2]Nguyễn T Long, “Người đẹp trong tranh“ (2014).
[3]Nghệ thuật Việt Nam hiện đại, sách do Nha mỹ thuật học vụ, bộ quốc gia giáo dục Việt Nam Cộng Hòa ấn hành (1961).
[4]Nguyễn Đình Đăng, “Đi tìm một phong cách Hà Nội trong hội hoạ“ (2010)
------------------
Bài liên quan:
03.07.2014
Người đẹp trong tranh - Nguyễn T. Long
[MỸ THUẬT] ... Cũng như cái khoảng trống trong tranh thuỷ mạc Trung Hoa để dành phần tưởng tượng cho người xem, Thái Tuấn dùng mầu sắc của hậu cảnh để diễn tả và kích thích cảm quan của người thưởng ngoạn nhiều hơn là cho thấy một bố cục lộ liễu... (...)

https://www.tienve.org

 

Đăng ngày 30 tháng 01.2017