CÁI PHỨC TẠP CỦA TÂM LÝ NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY

 

Võ Hưng Thanh

Người Việt Nam sau thế chiến thứ hai phần lớn chưa mở mang tầm nhìn ra toàn thế giới hiện đại. Khi thế chiến thứ hai kết thúc năm 1945, tâm lý chung của người Việt khi ấy là tâm lý bài Pháp. Điều này là tự nhiên vì sau gần 80 bị thực dân Pháp đô hộ. Khi đó phong trào giải phóng thuộc địa đang trỗi dậy mạnh mẽ trên toàn thế giới. Việt Nam cũng chỉ là một trong những trường hợp như thế. Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời sau khi cả Pháp và Nhật đều công nhận nền độc lập cho VN cũng ở trong tình huống như vậy.

Tuy nhiên, do định mệnh lịch sử như thế nào đó mà khi ấy đất nước và dân tộc VN lại bước vào một bước ngoặt nghiêm trọng.

Đó là sự xuất hiện của ông Hồ Chí Minh và chính phủ liên hiệp của ông sau khi đã giành được chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim.

Ông Hồ là một nhà cách mạng cộng sản đã được đào tạo từ hệ thống đào tạo cán bộ cộng sản quốc tế của nhà nước Liên Xô kể từ trước đó.
Mục đích của ông Hồ và các đồng chí của ông, thực sự là xây dựng cho được chủ nghĩa CS tại VN mà ông và các đồng chí đều coi đó chính là lý tưởng cũng như mục đích bất di bất dịch của họ.

Tất nhiên lực lượng của Pháp đã quay lại VN trong cớ sự đó, bởi người Pháp còn muốn bảo vệ quyền lợi tất nhiên cho khơi Liên Hiệp Pháp của mình, khi ấy cũng giống như khối Liên Hiệp Anh, và phản ứng tất nhiên của phe thế giới không theo chủ nghĩa cộng sản khi ấy nói chung. Bởi sự phân chia ảnh hưởng hay sự phân cực trên thế giới đã thật sự bắt đầu, mà hai cực lớn nhất lúc ấy không ai ngoài ra là Liên Xô và Mỹ.
Như vậy cuộc chiến tranh với người Pháp của ông Hồ lúc ấy đã bắt đầu mang mầm mống phức tạp.

Bên ngoài thế giới, lúc ấy người ta đã mơ hồ thấy rõ ý nghĩa phong trào cộng sản của ông Hồ, đồng thời cả phong trào chống Pháp của nhân dân VN nói chung.

Nhưng bên trong chưa lúc nào ông Hồ tuyên bố công khai mục đích của chủ nghĩa cộng sản và sự quy về cực Liên Xô của ông ta. Trong nước chỉ rặt tuyên truyền mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, rồi sau cả đế quốc Mỹ, khi người Mỹ bắt đầu công khai can thiệp để hậu thuẫn cho VNCH, tức Miền Nam VN khi đất nước đã bị chia cắt sau hiệp định Pháp Việt 1954.
Chiến thắng Điện Biên Phủ thực chất là chiến thắng của xương máu nhân dân VN chống lại lực lượng quân sự của Pháp, song cũng là chiến thắng bước đầu của ý nghĩa cộng sản quốc tế trên thế giới và tại đất nước VN.
Các cuộc cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ tại miền Bắc sau 1954, theo mô hình của Trung Quốc, các cuộc cải tạo tư sản tại miền Nam sau 1975 theo bài bản của Liên Xô để tiến tới kinh tế tập thể theo kiểu chủ thuyết cộng sản hoàn toàn cho thấy điều đó.

Song cuối cùng chủ thuyết cộng sản mác xít đã hoàn toàn thất bại sau khi đã lên tới giai đoạn áp dụng đỉnh cao nhất tại Á đông là chính thể của Mao Trạch Đông tại TQ và chính thể kiểu Khmer đỏ tại Kampuchia. Kết quả bức tường Berlin sụp đổ, Đông Đức được sáp nhập vào Tây Đức, cả Liên Xô và khối XHCN Đông Âu bị sụp đổ và tan rã, phong trào cộng sản quốc tế thực chất coi như bị cáo chung.

Việt Nam lại bước vào bước ngoặt thứ hai hoàn toàn không tiên liệu trước.

Đó là nền kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầu hóa một cách tất yếu không còn có thể đi ngược dòng lại được nữa.

Thế nhưng mô thức tổ chức xã hội theo thể chế các nước cộng sản trước kia thì vẫn còn. Có nghĩa đảng CSVN vẫn là lực lượng cầm quyền duy nhất, hình tượng ông Hồ vẫn còn tôn sùng duy nhất, thậm chí toàn dân luôn luôn được đảng CS hướng dẫn phải làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, và mọi lực lượng trong nước đều phải làm theo những lời bác Hồ dạy.

Như thế sau khi đất nước được thống nhất năm 1975, hiến pháp theo kiểu cộng sản và sinh hoạt kinh tế xã hội chủ yếu theo kiểu cộng sản càng được củng cố, phát huy, phát triển cơ bản về tất cả mọi mặt.
Tuy nhiên có điều, sau khi hội nhập quốc tế và đi về lại nền kinh tế thị trường toàn cầu nói chung, đảng CS vẫn chỉ đạo nhà nước phải gắn vào bất di dịch cái đuôi từ ngữ “định hướng XHCN”.

Thực chất đây chỉ là khía cạnh tâm lý, không phải ý nghĩa khoa học hay ý nghĩa thực tế khách quan.

Bởi vì chủ thuyết mác xít vốn chủ trương không dùng thị trường, không dùng tiền tệ như là mục đích sau cùng. Vậy mà đã là nền kinh tế thị trường lại vẫn còn gắn cái mác “định hướng XHCN” là hoàn toàn vô lý, thậm chí nghịch lý, hoàn toàn ảo tưởng, không thực tế, hay hoàn toàn hình thức giả tạo.

Thế nhưng tâm lý mọi người CS nói chung, tâm lý mọi đảng viên nói chung, vẫn không khi nào bỏ được hình ảnh của ông Hồ, hình ảnh của khái niệm đấu tranh giai cấp, hình ảnh của từ ngứ XHCN là lẽ đương nhiên. Bởi vì nó đã được tuyên truyền quá lâu dài, quá sâu rộng trong toàn bộ xã hội kể từ ngày ông Hồ Chí Minh xuất hiện trên chính trường VN từ sau đệ nhị thế chiến. Một công trình toàn bích, đồ sộ như vậy không thể một sớm một chiều đã có thể lay đổ được. Bời vì đó không phải là kết quả của lý trí, của lý tính, của đầu óc, mà chính là kết quả của cảm xúc, của tình cảm, của thói quen sinh hoạt cá nhân, tập thể và xã hội mà ai ai cũng biết.

Cũng chính vì thế, nếu trước kia tại miền Nam VN, trong chính thể VNCH, tư tưởng chống Mỹ, chống đế quốc không được hằn mạnh, bởi vì đó không phải là suy nghĩ thực tế, nhu cầu hành động thực tế của xã hội nói chung. Nhưng ngược lại tại miền Bắc VN, hay sau khi VN thống nhất, tư tưởng thân Liên Xô, thân TQ, chống Mỹ, chống đế quốc vẫn luôn luôn là mục đích tuyên tuyền và đào tạo chính trị hàng đầu của xã hội VN trong thể chế nhà nước CS. Đấy cái tâm lý phức tạp của người VN bị chia năm xẻ bảy từ 1945 cho đến 1975 và từ 1975 cho đến nay sự thực khách quan là hoàn toàn như thế.

Nhưng sau khi chiến tranh biên giới phía Bắc giữa VN và TQ, sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam giữa VN và Khmer đỏ, sau khi nhà nước LX và khối Đông Âu hoàn toàn sụp đổ, sau khi hội nhập toàn cầu và nền kinh tế thị trường, tâm lý người VN nói chung đã có phần ít phân hóa và ít phức tạp hơn từ trước tới nay.

Nhật là sau khi TQ chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa của VN, sau khi họ tuyên bố về đường lưỡi bò do họ đơn phương đưa ra về chính sách tham vọng biển Đông của họ, nhất là sau khi họ gây rối nhiều mặt trong thềm lục địa và lãnh hải VN, sau khi họ mưu đồ thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa hoàn toàn hư ảo, gian dối, giả tạo, tâm lý của người Việt nói chung đã càng trở nên thuần nhất, đi tới chỗ bớt chia rẽ hơn.
Tuy nhiên không phải không có một số cá nhân nào đó tuy tiềm ẩn, vẫn có thể còn thân TQ vì các quan điểm tâm lý ngày xưa do lịch sử để lại như trên đã nói. Đó là những kết quả do tuyên tuyền kiểu phe ta bề ngoài, không phải cái nhìn có tính chiều sâu của tinh thần yêu nước thực chất hay tinh thần dân tộc hoàn toàn thiết yếu và đúng đắn.

Ngược lại, cũng có những thành phần Việt kiều nào đó ở nước ngoài vẫn luôn giữ thái độ, quan điểm chống cộng một cách cực đoan, có thể bất chấp mọi tình huống, kể cả tình huống sẽ thật sự tiến tới xâm lăng đất nước VN khi nhu cầu bành trướng của họ không thể còn có chỗ dừng được nữa.
Như vậy thì giải pháp cho vấn đề tâm lý của người Việt hiện nay phải được đặt ra là, cho dù quá khứ của anh ra sao, chiến tuyến của anh lúc đó thế nào, giờ đây buộc mọi người phải có tầm nhìn quốc tế một cách cụ thể, khách quan, vượt ra khỏi mọi sự tuyên truyền giả tạo nhất thời nào đó mà trong quá khứ nó đã bị cường điệu, thổi phồng một cách sai trái hay lệch lạc theo bất cứ kiểu nào. Có nghĩa cần phải nhìn rõ các nhu cầu về con người, về xã hội, về dân tộc, về đất nước mới hoàn toàn chính đáng, trường cửu nhất. Trái lại những cái gì gọi là thuộc chủ nghĩa, thuộc thần thánh hóa cá nhân một cách giả tạo, ích kỷ, cái gì thuộc về bè nhóm trong quốc nội kể cả quốc tế đều là những hình thức gian giảo hoặc thấp kém, không phải ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa xã hội chân chính thật sự.

Nói khác đi, chính nhu cầu nâng cao nhận thức khoa học, nhu cầu tính thẳng thắn, khách quan, trung thực của mỗi cá nhân, nhu cầu đối nhân xử thế lẫn nhau một cách hoàn toàn bình đẳng, trong sáng giữa mọi người, nhu cầu phản bác mọi sự tuyên truyền xã hội không chính đáng, nhu cầu không tuyên truyền cho người khác những gì mình tự thấy không chính đáng, đó mới thật sự là những nhu cầu thiết yếu, sáng suốt, lành mạnh, lương hảo và tốt đẹp nhất của mỗi cá nhân và xã hội trong lòng một xã hội hoàn toàn nhân văn, hoàn toàn tự do, dân chủ một cách đích thực và đúng nghĩa nhất. Có nghĩa nhu cầu giải phóng ý thức hệ giả tạo, sai trái, giải phóng mọi tư tưởng cục bộ, biệt phái, nhu cầu quay trở về với ý nghĩa nhân bản rộng rãi, bao quát, nhu cầu tư duy tự chủ, hoàn toàn độc lập của mỗi cá nhân một cách chính đáng, lành mạnh, sáng suốt, giải thoát ra khỏi mọi sự tuyên truyền thấp kém, sai lệch, giả tạo và mù quáng, nhu cầu tái lập lại tinh thần quốc gia, dân tộc một cách truyền thống, đúng đắn và cởi mở nhất, đó mới thật là nhu cầu tâm lý thiết yếu nhất của mọi người Việt Nam trong hoàn cảnh thế giới toàn cầu và hiện đại ngày nay.

Võ Hưng Thanh
(28/7/12)