Lạm bàn về "khai dân trí"

 

lqh

Lê Quang Huy 

Đầu thế kỷ 20, một cuộc vận động cải cách duy tân đã được Phan Châu Trinh phát động ở Trung Kỳ. Khác với Duy Tân Hội chủ trương bạo động giành độc lập của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh và các đồng chí  khởi xướng chủ trương bất bạo động, tìm cách khôi phục đất nước bằng con đường nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về mọi mặt, mở mang kinh tế, thành lập các hãng buôn, mở trường dạy học theo lối Âu Tây hiện đại, dạy chữ quốc ngữ và bỏ lối học khoa bảng từ chương lạc hậu, dạy khoa học thường thức và ngoại ngữ, giúp người dân tiếp cận một hệ thống giáo dục – tư tưởng hoàn toàn mới. Với những hiểu biết ít ỏi của mình, tôi xin được lạm bàn một tí về vấn đề “Khai dân trí” trong chủ trương “Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh trong Phong trào này.

Theo tôi, nghĩa đen thông thường của “Khai dân trí” là “Mở mang trí óc (sự hiểu biết) của dân”. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở mức hiểu vấn đề một cách đơn giản như vậy thì tôi e là người ta có thể cho rằng chủ trương khai dân trí của Phong trào Duy Tân hồi đầu thế kỷ XX chỉ nhằm mục đích phát triển giáo dục, truyền bá kiến thức cho người dân đề giúp họ mở mang đầu óc, nâng cao học vấn, từ đó làm cơ sở để thay đổi nếp sống văn hóa, xây dựng một đời sống cao hơn và văn minh hơn. Thật ra, mục đích nhắm tới của Phan Châu Trinh và các đồng chí trong phong trào Duy Tân còn cao hơn nhiều. Đó là giải phóng đầu óc con người khỏi những trói buộc áp đặt về tư tưởng, đòi hỏi dân chủ và dân quyền, từ đó làm tiền đề giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp.

Trong một thời gian kéo dài hàng ngàn năm, hệ thống tư tưởng Nho giáo đã được các triều đình phong kiến tại Trung Hoa cũng như tại Việt Nam làm khuôn vàng thước ngọc, làm chuẩn mực cho mọi quan hệ xã hội, mọi giá trị đạo đức, nhân sinh quan … nhằm phục vụ cho lợi ích cầm quyền của mình. Cho đến nay, những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo còn rất mạnh trong đời sống chính trị - văn hóa - xã hội của người dân Việt.

Cơ sở của Nho giáo – hay còn gọi là Khổng giáo – được hình thành từ thời Tây Chu. Qua đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc nhiễu nhương, tôn ti trật tự đảo lộn. Lúc bấy giờ, Khổng Tử ra sức phát triển những tư tưởng Nho giáo, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó (chính vì thế nên Khổng Tử được xem như là người sáng lập Nho giáo) với mong muốn mang lại một trật tự - ổn định trong gia đình và xã hội, thiết lập một tôn ti trật tự mà vào thời đó được xem là hợp lý. Nhưng sau đó cái tôn ti trật tự Nho giáo đó của Khổng Tử đã vô tình bị biến thành một vũ khí lợi hại cho cho các triều đại quân chủ sau này. Để thực hiện ý đồ củng cố vị trí cầm quyền chuyên chế của mình, các hoàng đế Trung Hoa đã từng bước nhồi nhét vào trong hệ thống tư tưởng Nho giáo những ý tưởng về một trật tự triều đình và xã hội theo kiểu chuyên chế, về vị trí độc tôn của một đấng quân chủ và về sự phục tùng tuyệt đối. Và thế là một hệ tư tưởng khởi thủy mang tính nhân bản và hướng thiện nhằm giúp xã hội ổn định bị con người cố tình biến thành giáo điều cứng ngắc kéo dài hàng ngàn năm không gì ngoài mục đích phục vụ cho chính sách ngu dân để bảo vệ triều đình và chế độ bằng một sự trung thành và phục tùng tuyệt đối. (Không hiểu nếu sống lại cụ Khổng có khóc ròng không khi thấy học thuyết của mình bị lợi dụng để các vua chúa đè đầu cưỡi cổ người dân tàn bạo như thế ?)

Ở nước Nam, sau khi giành được độc lập sau ngàn năm Bắc thuộc, do không có một học thuyết chủ đạo làm nền tảng cơ sở cho sự cai trị nên các triều đại phong kiến lúc bấy giờ phải du nhập hệ thống chính trị rập khuôn theo kiểu mẫu của Trung Quốc, đồng thời đưa Nho giáo lên địa vị chính thống trong việc điều chỉnh các mối quan hệ triều đình – xã hội – gia đình, là chuẩn mực cho nền giáo dục – học thuật và chế độ thi cử đương thời. Kể từ đó, trong một thời gian rất dài, tầng lớp trí thức khoa bảng nước Nam thời phong kiến ra sức nghiên cứu học hỏi Nho giáo, say mê với những bài học đạo đức, triết lý nhân sinh hay vũ trụ quan rút ra từ Tứ Thư và Ngũ Kinh, lấy việc học tập những tư tưởng giáo điều đó để thi cử làm con đường lập thân. Con đường khoa bảng được xã hội đương thời cổ súy : học để ra thi làm quan. Họ chuyên tâm sùng bái hệ thống Nho giáo mà không hề quan tâm đến một điều:  Nho giáo đã bị lợi dụng để trở thành một ý thức hệ mang tính cưỡng ép để làm cơ sở lý luận giải thích cho sự tập trung quyền lực tập trung vào tay nhà quân chủ (mà xã hội thời đó coi là trên tất cả). Do đó, tư tưởng chính trị trung tâm của Nho giáo được người ta hướng vào một quĩ đạo tập trung là bảo đảm trật tự của chế độ quân chủ chuyên chế được phục vụ bởi lòng trung thành tuyệt đối..

Cho đến mãi đầu thế kỷ XX, nền giáo dục chính thống ở An Nam vẫn còn dựa trên nền tảng Nho giáo giáo điều. Trong các kỳ thi do triều đình tổ chức, thí sinh phải làm bài thi kinh nghĩa giải thích ý nghĩa các chủ đề trong Tứ thư  và Ngũ kinh. Trong khi đất nước đang chìm đắm trong vòng nô lệ của Pháp thì đa số trong giới trí thức khoa bảng hủ nho vẫn còn đang “cao chẩm vô ưu” (kê gối cao đầu ngủ chẳng lo âu điều gì) trong giấc mơ đẹp của một nền học thuật “tầm chương trích cú”, trong một nền văn chương cao sang chữ hay nghĩa đẹp dựa theo Tứ Thư và Ngũ Kinh mà quên bẵng đi thân phận của người dân nô lệ mất nước. Và thực tế đó cũng là điều mà người Pháp lúc đó mong muốn.

Vì thế, năm 1905, ba ông Phan Châu Trinh – Huỳnh Thúc Kháng – Trần Quí Cáp từ Quảng Nam đi về phía nam để vận động Duy tân, khi đến Bình Định gặp đúng ngày mở khoa thi, các cụ đã mạnh mẽ lên tiếng cho rằng “Cái học khoa cử làm hại người nước ta đã lâu, ngày nay đã thành đồ bỏ mà sỹ phu ta còn chui đầu vào trong như kiến, giấc mộng mê say này không cho một gậy ngang đầu không thể nào thức dậy được”.

Quả là một sự thay đổi lớn lao trong tư tưởng của cả 3 ông. Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp đều là các bậc đại khoa, đều thành danh trong cái lối học hành từ chương cổ hủ ấy. Nhưng một khi đã nhận thấy chính cái học ấy đã làm ngu dân nước ta từ bao đời nay, các ông đã dứt khoát rũ bỏ nó và kêu gọi Duy Tân.

Và sau đó trong một thời gian ngắn, 3 ông đã thành lập ở Quảng Nam trên mấy chục ngôi trường theo lối Tân học. Trường dạy chữ Quốc ngữ, không dạy theo bài bản Tam Tự Kinh, Minh Tâm Bảo giám mà dạy lịch sử Việt Nam và thế giới, địa lý, bác vật (khoa học tự nhiên), toán pháp. Nhiều trường còn thu nhận nữ sinh. Điều này trước đây hầu như không có. Ở các trường Tân học này, học sinh còn được học tiếng Pháp, tiếng Nhật, lại được học cả thể dục và võ thuật. Nhiều trường có tổ chức đời sống nội trú rất chu đáo, nhiều trường thực hiện nguyên tắc “Thả canh, thả học” (mà ngày nay gọi là “vừa làm vừa học”).

Lúc bấy giờ, phong trào Duy Tân của cụ Phan được khởi xướng nhằm đánh thức giới sĩ phu ra khỏi cơn mộng mị của ý thức hệ Nho giáo, giúp họ thay đổi đầu óc và cách nhìn nhận về chế độ và xã hội, ra sức học tập những cái hay cái đẹp của tư tưởng Dân chủ và Dân quyền của Tây phương, quên đi cái trật tự vô lý “Quân – Sư – Phụ” trói buộc và nô dịch con người trong một sự phục tùng vô lối, từ đó dấn thân vào cuộc đấu tranh để giành lại quyền làm chủ cho nhân dân, giành lại độc lập cho nước Nam.

Do đó, theo cá nhân tôi, ý tưởng “khai dân trí’ của Phan Châu Trinh còn bao hàm cả ý nghĩa “giải phóng đầu óc, giải phóng tư tưởng”. Đối với thực trạng xã hội lúc đấy giờ, công cuộc “Khai Dân Trí” của những chiến sĩ trong phong trào Duy Tân quả là một cuộc đại cách mạng về văn hóa – tư tưởng, qua đó giải phóng con người khỏi những tư tưởng nô dịch của một ý thức hệ hủ lậu giáo điều ngu dân.

 

Lê Quang Huy

(Cựu SV ĐHSPSG, ban Pháp Văn, 1982-1986)