Đây là phần tiếp theo của bài "Đặt lại vấn đề hội nhập văn hóa".

Bài được viết trong nỗ lực (có thể vượt qúa khả năng) đi tìm một cách thế hội nhập. Xin nhắc lại ý đã nêu ở bài trước: Hội nhập văn hóa phải có chọn lọc. Dầu không thể hòa chung với nước, như thế chỉ những yếu tố tương đồng mới hội nhập được với nhau. Theo tôi, điểm tương đồng dễ thấy nhất chính là tình yêu đồng loại, thứ phẩm chất chủ đạo trong tâm tình Việt Nam, cũng là đức tính cao cả của Công giáo và Phật giáo.

Ca dao, tục ngữ có câu: Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn – Lá lành đùm lá rách – Thương người như thể thương thân. Đức Giê Su đã dạy: “Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình” (Mt 19,19)*. Còn Phật lại nói: “Tiếng kêu đau thương của thế giới xé rách màng tai, lòng Từ Bi của ta chỉ muốn xóa bỏ những cảnh khổ đau của nhân loại”. Đây là những lối đi, cho dù có một vài khúc quanh khác biệt, nhưng tất cả đều dẫn vào khu vườn chung của nhân loại, khu vườn mà tiếng khóc nhiều khi át tiếng cười (Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới góp lại còn nhiều hơn nước đại dương- lời Phật), mà bóng tối lắm lúc nhiều hơn ánh sáng. Lối đi của Công giáo là Bác ái, lối đi của Phật giáo là Từ bi. Xin đề nghị một cách đối chiếu:

Đức Ái Công giáo có hai chiều kích: mến Chúa- yêu Người. Ở đây tạm dùng từ Bác ái để chỉ riêng tình yêu đồng loại. Trong chữ Hán, Bác là rộng khắp, Ái là yêu thương. Bác ái là tình yêu rộng lớn dành cho đồng loại, được coi là anh em. Vì rộng khắp, nên bao hàm cả người thân lẫn kẻ thù. “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ.” (Lc. 6, 32) “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em” (Lc. 6,27). Như thế,quan điểm Bác ái Công giáo rất gần với thuyết Kiêm ái của Mặc gia.

Về phía Phật giáo, Hòa thượng Thích Thiện Hoa định nghĩa: “Từ nghĩa là thương yêu, là làm vui cho người và vật; Bi là thương xót người hay vật, khi thấy họ đau khổ, gặp hoạn nạn, và cố cứu họ ra khỏi hoàn cảnh ấy. Từ thuộc phạm vi tích cực (làm thêm vui); Bi thuộc phạm vi tiêu cực (trừ cái khổ)” (Tám quyển sách qúy – TQSQ - Nhà xb TP. Hồ Chí Mnh, 2000, trg 530). Đối với Phật tử, kẻ thù phải được coi như người bạn. Chính Đức Phật cũng luôn nhìn kẻ thù như hàng Thiện tri thức (cụ thể là Đề bà đạt đa – Devadatta – người em họ luôn chống phá Ngài)

1. NHỮNG KHÚC QUANH KHÁC NHAU

Tuy cùng phát xuất từ tình yêu thương dành cho con người, nhưng giữa Từ bi và Bác ái vẫn có điểm dị biệt, từ đó dẫn tới biện pháp và phạm vi thể hiện khác nhau

a. Trước hết, giáo lý Công giáo đã khái quát hóa đau khổ của kiếp người trong“Thương người có 14 mối” đó là: đói khát. rách rưới, bệnh hoạn, tù đày, lỡ độ đường, tôi đòi nô lệ, chết chóc, mê muội, âu lo và tội lỗi. Vì đau khổ là thực tại tất yếu, không thể phủ nhận của kiếp người, nên giáo lý Công giáo không quan tâm tới vấn đề đi tìm nguyên nhân, mà chỉ tập trung nỗ lực thực hiện những biện pháp về mặt tu đức, để làm giảm bớt cảnh khổ cho đồng loại. Bài giảng trên núi “Phúc thật tám mối” của Đức Giêsu đưa ra một loạt những biện pháp tích cực, trong đó mối thứ năm đề cập tới vấn đề này: “Phúc cho ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”.

Trái lại đối với Phật giáo, muốn diệt khổ, tức là triệt tiêu tận gốc rễ cái khổ, cụ thể là sinh, lão bệnh, tử, phải truy tìm nguyên nhân tạo ra nỗi bất hạnh của con người. Toàn bộ hành trình tìm đạo của Đức Thích Ca đều nhằm giải đáp vấn nạn cốt lõi này. Sau khi đắc đạo, Đức Thích Ca vào rừng Lộc Uyển thuyết pháp về Tứ Diệu đế (cũng gọi là Tứ Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo) và Thập nhị nhân duyên (đứng đầu là Vô minh). Bốn đế và Mười hai nhân duyên quan hệ mật thiết với nhau. Sở dĩ con người đau khổ vì còn luẩn quẩn trong vòng luân hồi, sở dĩ phải luân hồi, vì con người bị bức màn vô minh che khuất. Một khi nhân duyên tạo ra đau khổ chấm dứt, tức là hết khổ, tức là giải thoát, tức là thành Phật (Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành).

Vô minh trước hết là tình trạng ngộ nhận về bản chất của sự vật theo quan điểm nhị nguyên. Thấy được thực tướng là cái biết hoàn toàn (viên thành thực), là giác ngộ. Biện pháp rủ bỏ bức màn vô minh, đối với Phật giáo là phá Ngã chấp. Ngả chấp tức là chấp có một có một cái Ta nên mới có quan niệm sai lầm về Nhân Ngã, Nội Ngọai… nhìn sự vật với cái “tâm sai biệt…có phân chia Danh Sắc, rồi nhờ có Lục nhập mới có Xúc tiếp với sự vật mà sinh ra cảm giác sướng, khổ. Bấy nhiêu đó khiến lòng sinh ra khao khát, ham muốn (Ái) và níu kéo cả sự vật về mình (Thủ)” (Phật học tinh hoa- Nguyễn Duy Cần, tái bản, Nxb TPHCM, 1992, trg 158). Phật giáo thường mượn câu chuyện sợi dây thừng và con rắn làm ví dụ điển hình. Dây thừng được bện bằng vỏ cây gai (thực tướng: bản thể thực), trong ánh sáng lờ mờ, với tâm trạng hoảng hốt, lo sợ (duyên), con người nhìn sợi dây thừng hóa ra con rắn (giả tướng, do nhân duyên giả hợp mà ra).

b. Một điểm dị biệt khác thuộc về bản thể luận: bản thể con người.

Theo Công giáo, con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, và cuộc sống trần thế như một chuyến hành trình có thời gian nơi đất tạm, để chung cuộc trở về cõi vô cùng ở đời sau.

Ngược lại, đối với Phật giáo con người chỉ là một đơn vị trong lục giới (thiên, nhân, a-tu-la, ngạ qủy, súc sinh, địa ngục), mà Nguyễn Du gọi là thập loại chúng sinh, trong đó mỗi kiếp chúng sinh (không riêng con người) là một Nhất kỳ vô thường, (theo chu tuần: sinh, trụ, dị, diệt) trôi nổi, trầm luân trong chiếc vòng tròn Luân hồi khép kín. Do đó, chết không phải là hết, mà là điều kiện tất yếu để bắt đầu một Nhất kỳ vô thường mới. Vì có luật Nhân qủa Luân hồi, nên nếu kiếp này tạo ác nghiệp, kiếp sau sẽ phải lãnh ác qủa, đầu thai làm ngạ qủy, súc sinh. Như thế, con vật trước mặt ta đây, biết đâu kiếp trước lại chẳng là bạn bè, thân thích.

Kết qủa, Bác ái là yêu anh em, đồng loại, còn Từ bi không chỉ là yêu người, mà phải rộng yêu cả loài vật.

2. CÙNG DẪN VỀ MỘT HƯỚNG

a. Khởi đi từ tình yêu.

Thái tử Siddhârta Gautama (Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm), con vua Suddhodana (Tịnh Phạn), trị vì vương quốc dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn. Mặc dù sống trong cảnh giàu sang quyền qúy, và 16 tuổi đã lấy vợ, nàng Yasodharâ (Da Du Đà La), và đã có con trai đầu lòng, nhưng tấm lòng thái tử lúc nào cũng canh cánh nỗi đau nhân loại. Sự kiện lúc trẻ bốn lần ra cửa thành, gặp ông già, người bịnh, đám tang và đạo sĩ, khiến Ngài quyết tâm bỏ nhà ra đi, tìm con đường giải thoát cảnh khổ cho chúng sinh. Sau chuỗi thời gian dài thử nghiệm bất thành với các đạo sĩ bậc thầy, Ngài tự mình dấn thân vào con đường tu đạo. Một đêm, ngồi dưới cội bồ đề, Ngài hốt nhiên đại ngộ, và bức màn Vô minh, do nhân duyên giả hợp mà có, rã ra từng mảnh. Rõ ràng là “Đâu phải vì chán ngán cõi đời như nhiều nhà nghiên cứu Phật học Âu châu thường nói, mà Đức Thích Ca lìa bỏ cõi đời, xuất gia tìm Đạo? Cái Đạo của Ngài là vì đời, đạo của tình thương. Đại nguyện của Ngài là cứu toàn chúng sinh thoát vòng đau khổ.” (TQSQ. sđd , trg. 533-534). Như vậy, khởi đi từ lòng thương xót chúng sinh đắm chìm trong bến mê, bể khổ, (Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê – Nguyễn Gia Thiều), thái tử Tất Đạt Đa đã lìa bỏ ngai vàng, tìm ra chân lý Vô-ngã

Trong khi đó, Thiên Chúa vì thương yêu nhân loại, đã sai Đầng Cứu thế là Đức Giêsu xuống thế làm người. “Bởi thế, để chu toàn thánh ý Chúa Cha, Chúa Kitô đã khai nguyên nước trời nơi trần gian, mạc khải cho chúng ta màu nhiệm của Ngài” (Hiến chế Tín lý về Giáo hội - Bản dịch Giáo Hoàng học viện – trg 14). Hang đá Bêlem là nơi giao hòa của tình thương, là điểm tối cao của Đức Ái, và khởi điểm của mầu nhiệm nhập thể chính là tình yêu, tình yêu tuyệt đối, tình yêu cho đi mà không cần nhận lại.

b. Và kết thúc bằng tình yêu

Đức Phật thuyết pháp trong vòng 49 năm, tùy theo căn cơ, mà giúp chúng sinh chuyển mê khải ngộ. Phật pháp giống như con thuyền đưa chúng sinh sang bờ bên kia (đáo bỉ ngạn hay Ba-la-mật). Sang bờ bên kia là giác ngộ, rũ hết mọi đau khổ, phiền não. Bờ bên kia là Niết bàn, là Tây phương cực lạc. Thực ra, không giống như quan niệm dân gian, Niết bàn không phải là một “cõi”, một chốn cực lạc bên ngoài thế gian, mà chỉ là trạng thái giác ngộ triệt để, là cảnh giới Chân như, cho nên đạt tới cảnh giới Niết bàn, mà không hề thoát ly thế gian tướng, không lánh đời, tiêu cực, bởi thế Đức Phật được gọi là bậc Đại Từ, Đại bi. Ngài nói : “Ta nguyện đem thân ta chịu hết cả hằng hà sa số đau khổ của chúng sinh. Vì ta nguyện tế độ cho chúng sinh nên mới nguyện thành Phật”. Như vậy, không phải cứu chúng sinh để thành Phật, mà, thành Phật để cứu chúng sinh. Đó là phần cuối của chuỗi ngày tìm đạo. 80 tuổi Phật viên tịch. Ta thấy, Đức Phật khởi đi từ Từ (thương xót chúng sinh), và kết thúc là Bi (cứu vớt chúng sinh)

Trong khi đó, Đức Giêsu kết thúc cuộc đời trần thế với chặng đường khổ nạn, ba lần ngã xuống là ba lần đứng lên, rồi Ngài hoàn tất hành trình cứu chuộc trên Thập giá, biểu tượng của sự hy sinh triệt để. Trước đó, trong bữa tiệc ly, Ngài đã lấy mình và máu làm của nuôi loài người, biểu tượng của tình yêu trọn vẹn, tình yêu cho đi, tới mức độ tột cùng. Nhiệm tích nhập thể nằm trong dự phóng cứu chuộc, Nhiệm tích khổ hình cũng nằm trong dự phóng cứu chuộc. Ba mươi ba năm làm người là một chuỗi liên tục thể hiện đức Ái, bao hàm yêu thương và dung thứ (Ai là người vô tội hãy cầm viên đá đầu tiên ném người đàn bà này), làm gương cho loài người: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương anh em” (Ga. 15,12). Đoạn Kinh Thánh: Đức Kitô là “Đấng đã bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính” (Rm. 4,25) đưa ra hai suy niệm: bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta, thể hiện tấm lòng xót thương, giống như khái niệm Từ của Phật giáo và để chúng ta được nên công chính thể hiện công trình cứu chuộc loài người, giống khái niệm Bi trong Phật giáo.

c. Tương đồng về nội dung

“Về luân lý thì Đại thừa trọng nhất là Từ bi, khác với đạo Du dà (Yoga) và đạo Phật hồi đầu; hai đạo ấy lấy Từ bi làm một phương tiện, mà Đại thừa thì lấy từ bi làm mục đích” ( Phạm Quỳnh - Nam Phong tc. Đào Duy Anh dẫn trong Việt Nam văn hóa sử cương, trg 248). Lấy Từ bi làm phương tiện, tức coi việc bố thí như phương tiện lập thiện nghiệp, hòng được hưởng thiện qủa ở kiếp sau, đây là con đường Tự giác, Tự độ của Tiểu thừa. Lấy Từ bi làm mục đích, tức coi hành thiện như mục đích cứu khổ chúng sinh. Đây là con đường Giác tha của Đại Thừa (Tự giác, giác tha, giác thành viên mãn). Từ bi được thực hiện cụ thể bằng hành vi bố thí. Trong phép Lục độ của Phật giáo (6 phép đưa sang bờ bên kia), Bố thí Ba la mật xếp hàng đầu. Bố thí ba la mật có ba cách: Tài thí (cho tiền bạc, tài sản), Pháp thí (lấy Phật pháp mà giảng dạy, đem lại sự an tịnh, soi sáng cho con người), Vô úy thí (giác ngộ cho con người khỏi tâm lý sợ hãi (Úy) trước v/đ sinh tử) . Thu Giang Nguyễn Duy Cần viết: “Tài thí của thường nhân là vì danh, vì lợi, chứ không phải vì thật thương yêu chúng sinh… Bởi vậy Tài thí Ba-la-mật là thứ tài thí không đòi hỏi gì cả nơi người thọ ân tài thí…Và như vậy, phải Cho tất cả mà không đòi hỏi được đền đáp … dù là đối với tình thương cũng vậy. Cái cách Tài thí ấy mới thật là “Tài thí ba-la-mật”, đưa mình đến “bờ bên kia” (đáo bỉ ngạn) là Giải thóat” (Phật học tinh hoa, sđd, trg 251). Thấy người ta thiếu cũng có cảm tưởng như mình thiếu thốn, thấy người ta khổ cũng cảm tưởng như chính mình khổ sở. Bố thí ba-la-mật là một hành vi hoàn toàn tự nhiên, không cầu phúc báo, không cầu đáp trả. Có thể thấy Đại nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát: “Nhất thiết chúng sinh mà còn một giọt nước mắt thì Ta nhất định không nhập Niết Bàn, không thành Phật” cũng nằm trong chiều hướng này.

Tinh thần Bố thí ba-la-mật rất gần gũi với quan điểm Bác ái Công giáo, theo đó, Bác ái là thứ tinh cảm hoàn toàn tự nhiên : “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa” (1Ga 4,7). Nếu ai nói: “Tôi yêu mến TC” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không thương yêu người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa (1Ga 4,20). Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân (Apostolicam actuositatem) ghi rõ: “Vì những công cuộc bác ái và từ thiện là bằng chứng hùng hồn về đời sống Kitô giáo, nên việc huấn luyện tông đồ cũng cần phải khuyến khích thực hiện những công cuộc đó, để các đồ đệ của Chúa Kitô, ngay từ thiếu thời, đã biết chia xẻ nỗi đau khổ của người anh em mình và rộng lòng giúp đỡ những anh em thiếu thốn.” (Công đồng Vatican II, Bản dịch Giáo Hoàng học viện , trg 534)

Tuy nhiên Đức Ái Công giáo không chỉ dừng lại ở phạm vi vật chất. “Thương xác bảy mối” là chưa đủ, Kitô hữu còn phải quan tâm đến việc “Thương linh hồn bảy mối”. Cụ thể là: lấy lời lành khuyên người, dạy dỗ kẻ mê muội, an ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội…

Công tác “thánh hóa mọi người” luôn luôn được Giáo hội coi trọng. Như thế, Bác ái Công giáo đặt cơ sở trên một chủ nghĩa Nhân bản triệt để và toàn diện.

3. LỜI KẾT – TỪ GÓC NHÌN HỘI NHẬP

Như vậy Từ bi, Bác ái rất dễ đưa con người đến với nhau, đến với dân tộc, từ đó không còn người Việt Nam Công giáo, người Việt Nam Phật giáo, mà chỉ còn người Việt Nam, sống có tín ngưỡng, có Tôn giáo.

Suốt thế kỷ qua, và sẽ còn mãi mãi, hình ảnh Công giáo hội nhập đẹp nhất, có lẽ là hình ảnh Mẹ Thánh Têrêxa, Mẹ không xây những ngôi thánh đường bề thế, vì tâm hồn Mẹ vốn đã là thánh đường. Từ vị thế kiều dân, Mẹ đem đức Ái Kitô giáo vào sâu trong lòng Ấn Độ, vào sâu trong lòng những kẻ bị loại trừ, những gã paria khốn khổ. Và từ vị thế một kiều dân, Mẹ trở thành biểu tượng Ấn Độ.

Đối với Công giáo, Con người là thụ vật ưu tuyển, vì “Tâm hồn ta chính là đền thờ của Chúa”, đáng tiếc, tâm hồn có những góc khuất, người ngoài không soi tới được, nên ngôi đến đó dù có xập xệ, cũng ít khi được thực sự quan tâm.

Như thế có thể khẳng định: Sống triệt để “đức Ái”, chân thành yêu thương, chan hoà với đồng bào mình cũng chính là hội nhập, một thứ hội nhập không ồn ào, không phô trương, và rất nhiều khi không để lại chứng tích cho hôm nay và mai sau, trong khi con người đa phần rất thích để lại chứng tích, và vì rất thích, nến thường xuyên chú trọng tới bề ngoài.

Vũ Lưu Xuân

 

*Các trích dẫn Kinh Thánh trong bài lấy theo bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ.