70 năm con đường dài

 

Hoàng Ngọc Nguyên

Đối với những người đã quen “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”, tháng sáu này là một tháng của nhiều kỷ niệm lịch sử thế giới dễ mất ngủ, và có lẽ sự trằn trọc thâu đêm cũng không sánh được với nỗi xốn xang, bất định phải chịu đựng ban ngày khi nhìn thời cuộc chung quanh nơi nơi trên “trái đất này là của chúng mình” – bài hát một thời của trẻ thơ.

Năm 2014 dễ làm người Việt chúng ta nhớ đến năm 1954 - tức cách đây 60 năm – ngày 20-7 là Ngày Quốc Hận, Hiệp định Geneve được ký kết đánh dấu sự chấm dứt của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất với giải pháp tạm thời chia cắt đất nước ở dòng sông Bến Hải. Chúng ta cũng nhớ đến năm 1964, cũng vào tháng này, tức cách đây 50 năm, Miền Nam của chúng ta chìm trong sự hỗn loạn trên đường phố với những cuộc xuống đường không nghỉ, các tướng, các sư, các cha quậy đất nước nát như tương, bất kể Việt Cộng lợi dụng thời cơ nổi lên khắp nơi, hầu như nắm một phần lớn vùng nông thôn của chúng ta. Mười năm sau đó, tức năm 1974, chúng ta đã bắt đầu có thể cảm thấy đứng trên bờ vực khi Tổng thống Nixon đang bị Quốc Hội Mỹ hành tội trong vụ Watergate để truất bãi – cho dù thật ra thì chẳng có lý do gì để chúng ta thực tin ở ông ta cả. Chúng ta có gần cả một năm để tìm cách thối lui khỏi bờ vực, thế nhưng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngay từ thời đó đã ở trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê!

Đối với những người Việt tha hương, mất nước, hầu như chúng ta chỉ có toàn là những kỷ niệm đau buồn, nuối tiếc, đầy những chữ “Giá mà”, “Nếu như”… Nhưng trên nước Mỹ này, vào lúc này, đương nhiên chẳng ai chia sẻ nỗi buồn với chúng ta.

Người ta đang bận nói tới chuyện cách đây đúng 70 năm, ngày “D-Day” - tức 6-6-1944, khi quân Đồng Minh đổ bộ lên bờ biển Normandie của Pháp đề bắt đầu công cuộc giải phóng nước Pháp, đánh gục chế độ Phát-xít của Hitler, kết thúc Đệ nhị Thế chiến - cuộc chiến tranh ròng rã hơn năm năm hầu như trên toàn thế giới. Lễ kỷ niệm 70 năm biến cố lịch sử này đã được tiến hành trọng thể ở nước Pháp vào đúng ngày 6-6 đó.

Kỷ niệm 70 năm ngày Hoa Kỳ đổ bộ lên bãi biển Normandy Pháp. Getty Images

Người ta cũng không quên ngày 4-6 vừa qua là ngày kỷ niệm một phần tư thế kỷ, hay 25 năm, biến cố Thiên An Môn, một quãng trường rộng lớn, bát ngát mênh mông nằm ngay trung tâm Bắc Kinh, có dựng bức hình của Chủ tịch Mao Trạch Đông ngay ở bức tường chính nhìn ra ngoài. Chẳng ai biết được chính xác số người đối kháng đã bị hy sinh – hoặc bị nghiền nát dưới bánh xe tăng hay ngã gục trước họng súng của những kẻ đàn áp. Ước tính chung của những ngưòi quan sát cho rằng có đến hàng ngàn người đã thiệt mạng trong cuộc tàn sát thẳng tay này - phần lớn là sinh viên, học sinh đã chiếm cứ quãng trường này cả 6-7 tuần, trước khi bị lãnh đạo Nam Trung Hải (Đặng Tiểu Bình) ra lệnh đàn áp. Dĩ nhiên, chẳng có lễ kỷ niệm chính thức nào cho biến cố này, nhưng hầu như chẳng có mấy ai quên được, ngay cả những ngưòi cầm quyền ở Nam Trung Hải - trừ ra những ca sĩ đã một thời cười đau khóc hận nhưng nay lại nói “đứng ngoài chính trị” và được một số người ngu xuẩn như kiểu bầu show hay M.C. vỗ tay.

Buổi lễ kỷ niệm “Ngày N” (hay D-Day 6-6) đã tập họp đưọc đông đủ lãnh đạo các nước từng là đồng minh trong Đệ nhị Thế chiến. Đương nhiên có mặt cả Tổng thống Vladimir Putin của Nga – thay mặt cho lãnh tụ Josef Stalin qua đời năm 1952. Đại diện cho Mỹ là Tổng thống Barack Obama – thay mặt cho cố tồng thống Franklin Roosevelt. Đại diện cho Anh là Nữ hoàng Elizabeth II. Chắc chắn người dân Anh nào cũng vô cùng tự hào về Thủ tướng của mình thời đó – Winston Churchill. Đại diện cho Pháp là Tổng thống Francois Hollande – nguyên thủ thời nay của đất nước của Tướng Charles DeGaulle thời xưa. Ngay cả nước bại trận cũng có người thay mặt: bà Thủ tướng Angela Merkel. Và Tổng thống tân cử của Ukraine, ông Petro Poroshenko, cũng có mặt. Chẳng có ai vắng mặt, cho dù mối quan hệ giữa Nga và phương tây đang căng thẳng vì những biến động ở Ukraine. Đất nước này vừa trải qua một cuộc bầu cử quan trọng ngày 28-5 để chọn người lãnh đạo mới trong tình hình nóng bỏng hiện nay, thế nhưng mặt trận miền đông Ukraine nào yên tĩnh. Lực lượng chính phủ Kiev vẫn chưa đi xa mấy trên con đường giải phóng, bình định, vì những nhóm vũ trang thân Nga vừa tinh nhuệ vừa có vũ khí của Nga cung cấp còn hiện đại hơn chính phủ. May thay, hai ông Putin và Poroshenko gặp nhau mà còn bắt tay nhau thay vì đánh nhau ngay trên bàn tiệc, nhờ sự hứa hẹn “thử mở ra một chương mới” để xem tình hình thế nào!

Bảy thập niên đã trôi qua từ khi chấm dứt cuộc chiến tranh kinh hoàng ấy, chưa từng có trong lịch sử nhân loại, ở qui mô toàn cầu (diễn ra trên châu Âu, châu Á, châu Phi) và con số tử vong. Riêng đối với Liên Xô, con số người chết lên đến 8.7 triệu. Trên toàn cầu, hơn 60 triệu người bỏ mình – tương đương với 2.5% tổng dân số thế giới hồi đó (khoảng 2.4 tỷ). Châu Âu tan hoang, kiệt quệ, bao nhiêu thành phố đổ nát vì bom đạn, sống lại được chính là nhờ chương trình viện trợ hậu chiến (Marshall Plan) của Mỹ. Mạc Tư Khoa lợi dụng thời cơ để nhuộm đỏ các nước Đông Âu được Liên Xô “giải phóng” (Đông Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Rumani, Hungari, Bulgaria) đang ở trong tình trang hỗn quân hỗn quan, vô chính phủ….

Bảy mươi năm đã trôi qua từ cuộc đổ bộ lịch sử đó. Một thời gian dài đăng đẳng cho loài người rút được bao nhiêu bài học để có thể tránh được một đại thảm họa tương tự tái diễn. Bài học rất đơn giản: Tư tưởng phát xít là điều tồi tệ, và cực kỳ nguy hiểm nếu vướng vất, ám ảnh trong đầu của những người lãnh đạo quốc gia - bất cứ nuớc nào. Muốn chống lại sự thống trị của chủ nghĩa phát xít, chỉ có một con đường dân chủ hóa và sự trưởng thành của người dân - để cho tư tưởng quá khích không trở thành một ý thức hệ chính thống, giáo điều – có thể dẫn đến cả một phong trào khủng bố trong nước và chủ nghĩa bành trướng lãnh thổ nhằm đạt mục tiêu thống trị. Bài học quá đắt giá, loài người không thể trưởng thành hơn được! Một chương mới cho nhân loại, cho thế giới đã mở ra. Sự tìm kiếm dân chủ ở những nước đang chịu sự chuyên chính, độc tài. Cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc ở những nơi đang còn dưới ách cai trị của thực dân. Nỗ lực lao động cho kinh tế phát triển ở những nơi còn nghèo đói, lạc hậu. Và trong bối cảnh đó, nổi lên vai trò của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, nước giàu mạnh số 1 thế giới, tự do dân chủ số1 thế giới, chẳng bao lâu sau đó nổi lên là đầu đàn của Thế giới Tự do.

Bảy mươi năm sau đó nhìn lại tất cả những bài học cùng ước mơ đó của loài người, chúng ta mới thấy con đường thật dài, nhưng loài người đi được chẳng bao xa. Đúng là nhân loại đã thành công trong việc tránh được một Đệ tam Thế chiến. Thế nhưng chúng ta đã tránh được với cái giá nào – so với cái giá từng phải trả cách đây 70 năm? Có lẽ 70 năm quá dài, chúng ta trả từ từ, mỗi năm một tí, cho nên không thấy “ngợp”. Nhưng nếu gom lại, tính toán đầy đủ các yếu tố lãi suất, lạm phát, và những giả thiết “nếu chuyện đó không xảy ra” thì sự phá sản của loài người thời nay chưa chắc đã ít hơn thời xưa.

Chiến tranh lớn toàn cầu đã tránh được, như hiện nay Mỹ cũng đang cố tránh đến mức Tổng thống Barack Obama đang bị những kẻ ngu xuẩn đổ cho tội hèn nhát, bạc nhược, gây ra tình trạng thế giới ngày nay, không hiểu được cái nào là nhân cái nào là quả giữa sự hỗn loạn trong trật tự của thế giới hiện nay trong thời hậu Chiến tranh Lạnh và những giới hạn trong chính sách của Mỹ. Chúng ta đã thấy “chiến tranh cục bộ” nơi này nơi khác, từ nội chiến đến xung đột giữa các nước bao giờ cũng có. Nổi bật nhất là cuộc Chiến tranh Cao Ly (1951-53), chiến tranh Việt Nam của chúng ta có đến 15 năm, chiến tranh Trung Đông ba bận giữa Do Thái và cả chục nước A-Rập bao quanh, chiến tranh Iraq-Iran kéo dài tám năm, chiến tranh Vùng Vịnh hai lần, cuộc chiến Afghanistan vẫn chưa xong… Cho đến nay, mục tiêu dân chủ còn xa xôi ở nhiều nước, trong khi chế độ độc tài vẫn còn nguy cơ trổi dậy ở những nơi tưởng đã an toàn. Và 70 năm sau Đệ nhị Thế chiến, người ta có thề đã thấm với những bài học, nhưng trật tự thế giới vẫn cứ biến chuyển, không ổn định được. Ngày nay người ta đang nói chuyện Tam Quốc (Mỹ, Nga, Tàu) hay Đông Chu Liệt Quốc trên thế giới.

TT Obama tham dự hội chợ sang tạo kỹ thuật tại Bạch Ốc ngày 18 tháng 6 2014.Getty Images

Biến cố Thiên An Môn là một biểu hiện cái giá đã phải trả cho việc tránh một Đại chiến Thứ ba. Vào năm 1949, Mỹ đã để cho Mao Trạch Đông nuốt cà Hoa Lục, đuổi Tưởng Giới Thạch ra đảo Đài Loan chỉ trong tích tắc - mặc dù sau khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc bốn năm, Mỹ đương nhiên là cường quốc hàng đầu của thế giới, Nga chưa so sánh được về sức mạnh nguyên tử. Sau đó là cuộc chiến Cao Ly. Mỹ vẫn còn là cường quốc nguyên tử mạnh nhất, nhưng Tổng thống Truman không chịu nghe lời của Tướng MacArthur tư lệnh chiến trường Thái Bình Dương. Cho nên, Bắc Kinh cứu được Bắc Hàn, và để xảy ra cớ sự ngày nay là một chế độ Bình Nhưỡng cực kỳ tâm thần nguy hiểm.

Năm 1989, phong trào báo tường dân chủ hóa bừng lên mạnh mẽ ở Bắc Kinh trong giới sinh viên và trí thức. Ngưòi ta mơ tưởng làn gió dân chủ đang lan tràn ở Đông Âu sẽ thổi đến Trung Quốc. Hai lãnh đạo Tổng bí thư Hồ Diệu Bang và Chủ tịch Triệu Tử Dương đang muốn có một lối thoát hòa bình. Đặng Tiểu Bình, người uy thế nhất trong hậu trường chính trị Nam Trung Hải, đã đuổi cả hai ông muốn “xét lại” này và cho lệnh đàn áp, tiêu diệt thẳng tay. Đây là vết nhơ lớn nhất trong lịch sử cận đại của Trung Cộng và người ta hết nhìn ông Đặng môt người đổi mới đáng chiêm ngưỡng. Nhưng đó lại là tấm gương sáng chói đối với những người ở bắc Bộ Phủ. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ở Hà Nội, tâm phục khẩu phục, như tìm ra đưọc cái phao, kết luận răng theo Bắc Kinh, bỏ Mạc Tư Khoa thì sống. Việt Nam Cộng sản quay 180 độ về hướng Tàu cộng. Và phải dở khóc dở cười ngày nay, khi Trung Cộng ngang nhiên cho giàn khoan DH981 và một loạt mấy chục tàu chiến chiếm cứ một góc Biển Đông trêu ngươi mà Việt Nam vẫn tranh chấp về chủ quyền lãnh hải, nhưng Hà Nội chẳng làm gì đưọc, ngoài chuyện “cái kiến đi kiện củ khoai”.

Theo báo chí, đầu tháng nay, nhà chức trách Bắc Kinh vừa phải căng thẳng chuẩn bị đối phó với những cuộc xuống đường tưởng niệm những nạn nhân Thiên An Môn tại Hong Kong, vừa mạnh dạn vô liêm sĩ nói: Chẳng hề có cái gọi là “biến cố Thiên An Môn” – nơi người ta còn ghi lại hình ảnh một người đứng trước đầu một loạt xe tăng, nhũng người lính trên thiết giáp cả cười, cứ nghiến bánh xe sắt tới. Cho đến giờ chẳng ai biết nạn nhân không toàn thây này là ai.

Trong tháng này, người ta có dịp nhìn lại phong trào dân chủ ở nơi nơi. Cách hành xử quyền dân chủ cũng là một biểu hiện về dân trí, là một yếu tố vô cùng quan trọng cho dân chủ hữu hiệu, tích cực. Có vài ba nơi có bầu cử. Như ở Ấn Độ, ngưòi dân đã mạnh dạn hất đi đảng Quốc Đại của gia đình Nehru/Gandhi hùng cứ cũng gần 70 năm, để đi tìm một sự đổi mới. Ở Ai Cập, cuộc bầu cử vào đầu tháng sáu chỉ là sự diễn lại một vở kịch dở: quân phiệt mượn lá phiếu người dân để năm quyền trở lại. Ở Thái Lan, cũng có bầu cử, nhưng cũng quân phiệt liên kết với một thế lực quân chủ lạc hậu hủy bỏ lá phiếu của ngưòi dân. Ở châu Âu, người ta đi bỏ phiếu bầu Quốc Hội Liên Âu, với kết quả cho thấy có một sự tuyệt vọng trong tâm trí của cử tri khiến cho sự hợp nhất của cả khối gần 30 nước này đang lung lay triệt để. Ở nhiều nước Hồi giáo, A-Rập, người ta đang dùng chính sách khủng bố để đáp lại khát vọng dân chủ của Mùa Xuân A Rập, như lực lượng Boko Haram ở Nigeria ngay cả con nít cũng trở thành chốt thí, những tàn sát đẫm máu dân lành ở Syria, những vụ đánh bom nhằm vào người dân ở Iraq hay ở cả Afghanistan…

Chẳng phải vì trời mưa không dứt mà tháng sáu chẳng có gì vui, may thay World Cup đã đến. Người dân ở Rio de Janeiro, Brasilia, Sao Paolo… đã ngừng xuống đường tố cáo sự tham nhũng, thâm lạm trong chi tiêu đầu tư cho giải vô địch bóng đá thế giới này và sự bỏ bê của chính quyền đối với nhiều chuyện phúc lợi sống còn của dân nghèo… Cũng giống như chính trị thế giới, bóng đá thế giới dường như đang đi tìm một trât tự mới, nhưng đương nhiên hòa bình hơn, vui thú hơn, nhân bản hơn và làm con người gần lại với nhau hơn.

Quả thực chúng ta đang sống trong một thời mà chính trị dễ làm người ta điên đầu, vì cái điên, cái ngu của từ trên xuống dưới - không những của những người làm chính trị ham quyền mà cả của những người viết vẫn tưởng mình là “nhà này nhà nọ” cho dù không có nổi một cái nhà vì chưa hề thực sự hội nhập – không nhớ được mình là di dân mà cứ nghĩ mình đã trà trộn được vào Trà Hội để ăn nói lưu manh, vô văn hóa chính trị.

Bởi thế, tuy có nhiều câu hỏi về cuộc sống thời nay chúng ta không trả lời được, nhưng chắc chắn chẳng mấy ai ngập ngừng khi được hỏi: Giả dụ như ta được sống trở lại một thời đã mất, hay sống trong thời nay ở trong nước mọi giá trị nhân bản đều được dễ dãi xí xóa, thỏa hiệp, hay sống trên đất Mỹ chẳng phải lo lắng gì thực sự, ngoài những ám ảnh tâm thần, thì ta sẽ có chọn lựa như thế nào!

Hoàng Ngọc Nguyên

 

__________________