Quốc hội VN "không hề bị tiếm quyền"

 

Nguyễn Quang Duy 

Trong bài viết gần đây Luật sư Ngô Ngọc Trai tìm cách trả lời câu hỏi “Quốc hội đã bị tiếm quyền?” Bằng cách phân tích thực trạng chính trị 20 năm qua, 1992-2013, ông chỉ rõ Quốc hội đang càng ngày càng yếu kém đã bị Chính phủ lấn quyền.

Từ đó ông đưa đến kết luận: “Chính phủ trở thành một trung tâm quyền lực kinh tế lớn mạnh mà đến Đảng hiện nay cũng không kiểm soát nổi.” Theo ông việc sửa đổi hiến pháp vừa qua chỉ nhằm phù hợp với thực tế và hợp thức hóa những việc làm sai trái trước đây.

Ông cũng so sánh các quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyền chi tiêu ngân sách, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia giữa Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam để chứng minh sự khiếm khuyết trong nghành lập pháp và hành pháp tại Việt Nam. Nếu giai đọan nghiên cứu được bắt đầu từ thời lập hiến và nhìn sâu vào cơ chế của guồng máy cầm quyền thì câu trả lời sẽ khác đi. Nhưng qua đó sẽ hiểu rõ hơn nguyên nhân và kết quả của vấn đề này.

Việt Nam Lập Hiến

Nhận rõ vai trò quan trọng của hiến pháp, ngay khi lên ngôi, vua Bảo Đại đã tỏ ý muốn có một hiến pháp, xây dựng một thể chế Quân Chủ Lập Hiến cho Việt Nam, nhưng ý nguyện của nhà vua không được người Pháp đồng ý.

Nhật đảo chánh Pháp, ngày 11-3-1945 nhà vua cho công bố bản Đế Quốc Việt Nam Tuyên Bố Độc Lập và cho thành lập chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ này chỉ tồn tại đến tháng 19-8-1945 thì Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền. Vua Bảo Đại phải thóai vị.

Sau khi thoái vị, vua Bảo Đại đã giữ một vai trò trong việc soạn thảo Bản Dự Thảo Hiến Pháp. Bản Dự thảo được phổ biến trên báo vào cuối tháng 11 năm 1945. Bản Dự Thảo được sửa đổi và được Quốc Hội Lập Hiến thông qua vào tháng 11 năm 1946, nhưng lại không được Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cho ban hành.

Ban hành hiến pháp là một thủ tục luật pháp để xác nhận rằng hiến pháp đã được biểu quyết một cách hợp lệ. Hiến pháp sẽ chỉ có hiệu lực từ lúc được ban hành và mọi người phải tuân theo.

Trên tạp chí Bách Khoa, Đoàn Thêm - một người chuyên ghi lại các sự kiện lịch sử, một chứng nhân trong việc xây dựng và thông qua Hiến pháp 1946, cho biết Hiến pháp 1946 chỉ có giá trị ba ngày, nhưng ông không cho biết lý do vì sao hiến pháp này chỉ có giá trị ba ngày. Trên thực tế trong một thời gian dài, Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản chỉ sử dụng những sắc lệnh và nghị quyết của đảng, không hề đếm xỉa đến những điều ghi trong Hiến Pháp 1946.

Mấy hôm nay ở Hà Nội triển lãm “Cải cách ruộng đất 1946-1957”, người ta quên nhắc đến việc đảng Cộng sản đã không màng đến Hiến pháp 1946 để tiến hành cuộc cải cách ruộng đất “long trời lở đất này”.

Đến kỳ họp thứ 11 Quốc Hội, Hồ Chí Minh ra thông báo dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1946. Ngày 31-12-1959, Quốc Hội đồng ý thông qua hiến pháp sửa đổi. Ngày 1-1-1960, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố, mà không màng đến việc “đưa ra toàn dân phúc quyết” theo đúng khoản Cc điều thứ 70 của Hiến pháp 1946.

Rõ ràng quyền lập hiến cuả người dân đã bị đảng Cộng sản sang đoạt qua Hiến pháp 1946.

Các hiến pháp sau

Hiến pháp chỉ là một phương thức để đảng Cộng sản thể chế hóa các sách lược cai trị trong từng giai đọan, luật hóa nhiệm vụ chính trị và bảo đảm vai trò lãnh đạo. Các sách lược và nhiệm vụ của Đảng Cộng sản đều được Bộ Chính trị họp kín quyết định, được ra các đại hội, hội nghị của Đảng thông qua, đưa ra Quốc Hội thông qua cho có lệ để đưa vào Hiến pháp.

Dưới chế độ cộng sản Hiến Pháp không khác gì Cương lĩnh của đảng Cộng sản. Quyền lập hiến cuả người dân đã hoàn tòan bị chiếm đoạt trong các hiến Pháp sau này. Ngay Hiến pháp 1946 mô hình chính trị chỉ duy nhất một viện vừa lo việc hành pháp vừa lo việc lập pháp.

Các Hiến pháp sau thể chế hóa mô hình đảng trị: Đảng, Quốc hội, Nhà nước chỉ là một. Hầu hết đại biểu nếu không là thành viên Bộ Chính trị, ủy viên trung ương Đảng thì cũng là đảng viên. Quốc hội hình thức, các đảng viên “đại biểu” không thể làm trái những gì Bộ Chính trị đề ra. Như thế mãi đến năm 1986 thực quyền vẫn còn trong tay Bộ Chính trị.

Mô hình Quốc Hội hình thức chỉ gặp vấn đề khi Việt Nam phải mở cửa giao thương với thế giới tự do (1986) và xây dựng một nhà nước pháp quyền. Càng mở cửa quyền lập pháp càng lọt vào tay chính phủ như bài viết của luật sư Ngô Ngọc Trai dẫn chứng. Trên thực tế việc lập pháp tại Việt Nam tệ hại hơn bài viết của luật sư Ngô Ngọc Trai rất nhiều.

Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường, trong phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội ngày 11-6-2014, đã nhìn nhận: “Hệ thống pháp luật Việt Nam có lẽ phức tạp nhất thế giới. Vì theo quy định, rất nhiều chủ thể, thậm chí tới cả chủ tịch xã cũng được ban hành văn bản quy phạm pháp luật và một chủ thể được ban hành rất nhiều loại văn bản”.

Như vậy không phải chính phủ tiếm quyền của quốc hội, mà chính cơ chế và sự chuyển đổi mô hình đã biến đổi chính phủ thành một trung tâm quyền lực kinh tế lớn mạnh mà đến Đảng cũng không còn khả năng kiểm soát.

Nhận xét về luật Việt Nam

Ngày 14-5-2014 tại Quốc Hội Liên Bang Úc chúng tôi đã tổ chức một cuộc Hội Thảo về quyền lao động, quyền dân sự và nhân quyền với sự tham dự của 14 dân biểu và nghị sĩ. Mọi người tham dự đều đồng ý nếu muốn tham gia Hiệp ước xuyên Thái Bình Dương Việt Nam cần phải có những đạo luật rõ ràng, như Luật Công đoàn, Luật Tổ chức dân sự...

Dân biểu Chris Haynes cho biết ông hiểu rõ việc thi hành luật pháp tại Việt Nam. Bởi thế điều quan tâm của ông không phải là việc có luật hay không có luật, vì nhiều đạo luật đã có nhưng không được thi hành.

Tác giả đại diện Khối 8406 phát biểu tại cuộc hội thảo ở Quốc hội Úc hôm 14 tháng 5

Ngày 28-8-2014, một lá thư gởi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng do 31 Dân biểu Úc đồng ký tên. Các Dân Biểu Úc kêu gọi trả tự do cho hai nhà họat động cho quyền của người lao động ông Đoàn Huy Chương và ông Nguyễn Hoàng Quốc Hùng. Các dân biểu nhận định: “Mặc dù họ đã bị khép án vi phạm an ninh quốc gia, chúng tôi hiểu rõ những việc làm của họ đơn giản chỉ nhằm hỗ trợ quyền công nhân trong cuộc đình công.”

Và họ kêu gọi: “Xét rằng Việt Nam là một hội viên của Hội Nhân quyền Liên hiệp quốc, do đó có trách nhiệm cổ vũ và bảo vệ quyền làm người trên tòan thế giới, nay chúng tôi tìm kiếm sự cộng tác, chúng tôi cùng kêu gọi ông thả ngay hai nhà họat động này.”

Bạn có thể tự hỏi tại sao các dân biểu gởi cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà không phải người khác. Theo tôi không phải họ không biết Việt Nam vẫn là một quốc gia cộng sản, nhưng họ đã phần nào nhận ra sự thay đổi của Việt Nam và đã gởi lá thư đến đúng người có thực quyền.

Quyết định mới về ngân sách

Đến nay mọi chi thu của đảng Cộng sản đều nhập nhằng chồng chéo vào con số chi thu ngân sách nhà nước. Thông tin và số liệu chi thu ngân sách là căn bản để nền kinh tế thị trường tự do có thể họat động một cách hiệu quả và hội nhập vào nền kinh tế tòan cầu. Chính vì thế, Việt Nam càng ngày càng phải minh bạch mọi thông tin về chi thu ngân sách nhà nước.

Ngày 4-9-2014 vừa qua, thủ tướng ban hành Quyết định về danh mục bí mật nhà nước. Điều 3 của quyết định xếp loại các tài liệu về dự trữ ngân sách và các khoản thu, chi đặc biệt của đảng Cộng sản là tuyệt mật hay tối mật.

Quyết định là bước đầu của việc tách con số chi thu của Đảng Cộng sản khỏi con số chi thu của nhà nước.

Hệ thống ở Việt Nam đặt ra các chức đều cùng có quyền lực cao.  Về lâu dài một số công việc guồng máy đảng đang điều hành sẽ được nhà nước hóa để ngân sách của các cơ quan này có thể công khai. Cụ thể là Thành Phố Hà Nội sẽ giảm biên chế.

Ngày 14-9-2014, Infonet đưa tin: “Đối với đơn vị hoạt động kém hiệu quả, Hội Đồng Nhân Dân thành phố Hà Nội yêu cầu giải thể, đồng thời có lộ trình chấm dứt tình trạng ký hợp đồng lao động làm nhiệm vụ chuyên môn thuộc trách nhiệm của công chức.” Điều này đồng nghĩa với việc vai trò và quyền lực của đảng sẽ càng ngày càng ít đi.

Như phân tích của luật sư Ngô Ngọc Trai và thực tế đã chứng minh quyền lực kinh tế chính phủ càng ngày càng lớn mạnh, đã trở thành một trung tâm quyền lực, Đảng Cộng sản đang mất dần kiểm soát. Khi kinh tế càng mở cửa thì quyền lực của nhà nước càng tăng thêm và quyền lực của đảng càng mất đi. Từ đó đã dẫn đến sự phân hóa nội bộ giữa phe đảng và phe nhà nước, phân hóa này càng ngày càng tăng thêm.

Để duy trì mô hình đảng trị, Đảng Cộng sản sẽ phải tái cấu trúc. Kết quả của việc tái cấu trúc thì đã được ông Trần Xuân Bách từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, tiên đoán như sau: “… quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.”

Bài học được rút ra là muốn xây dựng lại Việt Nam cần phải làm lại từ đầu. Quyền lập hiến phải thuộc về tòan dân. Một Quốc hội lập hiến phải được thành lập qua một cuộc bầu cử tự do với sự giám sát quốc tế. Một Hiến pháp mới với tam quyền phân lập rõ ràng, được đưa ra trưng cầu và được đồng thuận của đa số người Việt trong và ngoài nước, sẽ là giải pháp tốt đẹp nhất cho toàn dân tộc.

Muốn thế người Việt chúng ta cần đồng tâm, đồng chí, đồng lực vận động một hiến pháp tự do dân chủ cho Việt Nam.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, Nguyễn Quang Duy, Melbourne, Úc Châu.

BBC - 12/09/2014

________________

 

VIỆT NAM VỚI NHẤT NGUYÊN VÀ ĐA NGUYÊN.
 
Nguyễn Quang Duy
 
Năm 1945 Việt Minh đã sử dụng các sách lược tiêu diệt đối lập một cách dã man tương tự phiến quân Hồi Giáo (IS) đang thực hiện tại Trung Đông. Nhiều tín đồ Cao Đài, tín đồ Hòa Hảo, các thành phần không cộng sản, cộng sản đệ tứ và ngay cả người dân đã bị thẳng tay tàn sát.
Sau đó những sách lược chỉnh quân, chỉnh huấn, tòa án nhân dân, cải cách ruộng đất, trăm hoa đua nở, xét lại chống đảng,… biến xã hội miền Bắc thành một xã hội nhất nguyên đảng trị.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, những trại cải tạo, những khu kinh tế mới, những chiến dịch cải tạo xã hội… đều nằm trong sách lược biến miền Nam thành một xã hội nhất nguyên.
Nhưng hoạch định của những người cộng sản đã không bao giờ đạt được.
Hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi, những người ở lại vẫn tự xem mình có trình độ phát triển xã hội và dân chủ cao hơn miền Bắc.
Người miền Nam theo cộng sản quan sát xã hội miền Bắc bắt đầu phủ nhận chủ nghĩa Marx và con đường cộng sản.
Người miền Bắc tự chuyển biến tư tưởng khi tiếp xúc với xã hội đa nguyên miền Nam.
Ngay trong Bộ Chính Trị đảng Cộng sản các tư tưởng đa nguyên chính trị cũng đã hình thành.
Ông Võ Văn Kiệt đặt vấn đề cần chuyển “tập trung dân chủ” thành “dân chủ tập trung”, tôn trọng và bảo vệ ý kiến của thiểu số, chấm dứt việc "đảng hóa" xã hội và sự lạm quyền của Bộ Chính Trị.
Theo ông Kiệt mọi chính sách thay vì từ Bộ Chính Trị đưa xuống, phải phát xuất từ Trung Ương Đảng hay từ đa số đảng viên đưa lên. Khi đã có dân chủ trong đảng sẽ mở rộng dân chủ ngòai dân.
Ông Trần Xuân Bách có một tầm nhìn chính trị rõ hơn:
“Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ (mở rộng). Đó là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ hóa là khơi động trí tuệ của toàn dân tộc để tháo gỡ khó khăn và đưa đất nước đi lên kịp thời đại.”
Ông Trần Xuân Bách cũng cho rằng hai lãnh vực chính trị và kinh tế phải được phát triển nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân.
Tiếng kêu hai ông Võ Văn Kiệt và Trần Xuân Bách là những tiếng kêu lẻ loi từ phía bên trên của thể chế nhất nguyên đảng trị.
 
Đa Đảng hình thức và đa đảng đối lập
Trước năm 1986, đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội được đảng Cộng sản lập ra để tô điểm cho thể chế nhất nguyên. Đứng trước đổi mới kinh tế và đòi hỏi đa nguyên, hai đảng này trở thành nỗi đe dọa cho giới cầm quyền nên đều bị giải tán.
Tại Trung Quốc, ngoài Đảng Cộng sản vẫn còn tám đảng hay tổ chức “chính trị”. Các tổ chức này không giữ vai trò đối lập. Như các tổ chức trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, họ chỉ góp ý đường lối do Đảng Cộng sản đề ra.
Về đa đảng đối lập, Giáo sư Nguyễn văn Bông (1929-1973) thủ lãnh đối lập Việt Nam Cộng Hòa cho biết đối lập chính trị cần có ba đặc điểm:
Trước nhất, đối lập phải có sự bất đồng về chính trị, có chiến lược và chính sách đối lập.
Thứ hai, đối lập chỉ có khi nào sự bất đồng chính kiến mang tính cách tập thể và biểu hiện qua hành động có tổ chức: chính đảng đối lập.
Thứ ba, đối lập phải hoạt động trong vòng pháp luật. Các chính đảng dùng võ lực hay phải hoạt động âm thầm trong bóng tối thì chỉ được xem là những hành động đối kháng.
Dựa trên ba đặc điểm vừa nêu ra Giáo sư Bông giải thích:
“…đối lập phát sinh ở sự thực hành chính trị và liên quan đến lịch trình biến chuyển của chế độ Đại Nghị. Nói đến đối lập tức là nói đến cái gì ở ngoài đa số, ngoài chính phủ. Đối lập là khía cạnh nghị viện của vấn đề…”.
 
Các phe phái trong đảng Cộng sản
Khi đảng Cộng sản đã thâu tóm hết quyền lực và quyền lợi thì người gia nhập đảng đa phần cũng chỉ vì lợi ích cá nhân. Từ lợi ích cá nhân mới sinh ra lợi ích nhóm tạo ra các phe cánh trong đảng.
Trong dịp 2 tháng 9 năm nay, ông Trương Tấn Sang gởi một thông điệp nhìn nhận:
“Chúng ta không sợ bất cứ một thế lực nào, dù là hung bạo nhất. Chúng ta chỉ sợ nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, chế độ ta.”
Chữ “chúng ta” ông Sang dùng là để trao đổi với các phe cánh trong đảng cầm quyền.
Đại Hội 12 cận kề, thực tế cho thấy các phe cánh chưa thể thu xếp lại quyền lực và quyền lợi. Họ cũng chưa thể thống nhất quan điểm và phương cách giải quyết nhiều vấn đề cả đối nội lẫn đối ngọai.
Vì thế họ mới tố nhau phe lợi ích, phe bảo thủ, hay tự xưng phe cải cách, nhưng các phe đều cùng chung mục đích là bảo vệ độc quyền đảng trị và chống lại diễn biến hòa bình.
Ngày 16 tháng 8 vừa qua, ông Nguyễn Tấn Dũng đã nhắc nhở Lực lượng công an:
“Các thế lực thù địch, phản động chưa hề từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam; ráo riết thực hiện diễn biến hòa bình, triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế để tác động, chuyển hóa nội bộ, hỗ trợ, kích động chống phá nhằm gây mất ổn định chính trị, xã hội.”
Những tuyên bố, những nghị quyết, những bài báo, những tài liệu chống diễn biến hòa bình, cho thấy đây chính là nỗi quan tâm hàng đầu của những người cầm quyền Việt Nam. Nhưng đó cũng là dấu hiệu cho thấy đa nguyên chính trị có cơ hội bộc phát từ bên trong đảng Cộng sản và có thể sẽ dẫn đến thay đổi thể chế chính trị một cách hòa bình.
 
Phát triển xã hội đa nguyên
Càng ngày đảng Cộng sản càng mất dần khả năng kiểm sóat các tổ chức dân sự, gồm cả các tổ chức do đảng lập ra, các tổ chức bị bắt buộc tham gia Mặt Trận Tổ Quốc và tổ chức dân sự độc lập (còn được gọi là tổ chức xã hội dân sự).
Các tổ chức dân sự độc lập là các tổ chức độc lập với đảng Cộng sản và đang đấu tranh để giành lại những quyền tự do, như quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do báo chí, quyền tự do nghiệp đoàn, quyền tự do chính trị… những quyền cơ bản được Quốc Tế công nhận.
Các tổ chức dân sự độc lập khác với các đảng chính trị có mục đích rõ ràng là đấu tranh giành quyền lực với đảng cầm quyền cộng sản.
Khi thể chế nhất nguyên còn tồn tại, các tổ chức chính trị, các tổ chức dân sự độc lập chỉ là những tổ chức đấu tranh chính trị, không thể xem là tổ chức hay lực lượng đối lập.
Các tổ chức đấu tranh chính trị đang đóng góp xây dựng ý thức dân chủ cho xã hội cũng như sẽ vận động xã hội tham gia các sinh họat chính trị, tham gia bầu cử, tham gia ứng cử khi thể chế đa nguyên đa đảng đã được hình thành.
Nếu ý thức dân chủ của xã hội chưa đầy đủ, thể chế nhất nguyên cộng sản có thể sẽ được thay bằng một thể chế nhất nguyên độc tài khác.
Vì thế vai trò của các tổ chức đấu tranh chính trị vô cùng quan trọng.
Nói tóm lại đa nguyên chính trị là khởi đầu và cũng là nền tảng cho tự do dân chủ.
 
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
4-9-2014
 
______________________