Thư góp ý về bài “ Dân chủ hóa Việt nam”

của Giáo sư Stephen Young

 

Dương Thu Hương          

Anh Stephen thân mến,            
Tôi vừa nhận được bài báo của anh, đã đọc ngay và bây giờ, viết thư này.
Trước hết, chân thành cảm ơn anh về tất cả những gì anh đã làm cho công cuộc chung. Tôi nhắc lại một lần nữa rằng nếu như trước đây, cuộc chiến tranh Mỹ- Việt để lại cho hai dân tộc nhiều mất mát và hối tiếc thì ngày nay, tôi hy vọng chúng ta có một cuộc hợp tác lâu dài, cần thiết, căn để và tốt đẹp. Vì lẽ giản dị, giờ đây, quyền lợi của chúng ta đồng nhất và những nghiệm sinh trong quá khứ đã bảo đảm cho chúng ta hiểu nhau hơn, có thể đi đến những thỏa thuận một cách dễ dàng hơn.       

Bài viết của anh công phu, nhiều điểm đánh trúng vào tâm lý cộng đồng người Việt trong nước, trước hết là các điều khoản bảo đảm cho tài sản của họ. Đây là một hiện thực vô cùng phức tạp mà nếu không giải quyết một cách khéo léo, chúng ta sẽ không lôi kéo được dân chúng. Muốn hay không, phải hiểu rằng một số đông cán bộ, sĩ quan cấp trung của quân đội cũng như công an được hưởng lợi từ sau tháng 10 năm 1954 và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nói cụ thể, họ được phân phối nhà ở, mà số nhà này giành giật từ những gia đình làm việc cho các chính quyền cũ.  Nếu bây giờ đòi hỏi tất cả phải trả lại thì họ sẽ co cụm lại với bọn cầm quyền cho dù chúng thối nát và bán nước. Đây là lý do đầu tiên tôi phản ứng với chính sách của đảng Việt tân. Các bài viết của họ nhan nhản khẩu hiệu : “ Giả nhà cho chúng ông! ” . Cũng vì chính lý do này mà tôi đã tuyệt giao với toàn bộ gia đình nhà tôi ở Mỹ. Ông bác tôi là nhà thầu lớn. Tài sản của ông mất cho cộng sản không thể kể hết, ngoài tiền vàng và kim cương ở ngân hàng còn có bốn ngôi nhà nhiều tầng và các loại máy giá hàng triệu đô-la dùng trong việc xây đập chắn nước. Tôi không thể làm hả lòng mọi người nếu không đòi lại được số gia sản đó. Nhưng tôi biết chắc chắn ấy là điều bất khả. Anh và tôi, những người tranh đấu cho dân tộc của mình, vì lợi ích của dân tộc, chúng ta phải hy sinh tình riêng. Như thế, tôi nhắc lại, chúng ta phải tạo ra sự an toàn về mặt tâm lý cho đám đông và bài viết của anh đã đạt được mục đích ấy. Phổ biến một cách rộng rãi và công khai là hợp lý.     

Tuy nhiên, song song với bài viết này, chúng ta cần chuẩn bị một chính sách cụ thể để tóm bắt bọn cầm quyền, không chỉ trên phương diện con người mà còn phải thu hồi ráo riết tài sản mà chúng đã cướp của dân chúng. Như thế, cần phải phân chia đám đông thành nhiều lớp và phải có chính sách thích hợp với từng lớp người đó. Ví dụ, không thu hồi nhà của những người bình thường và giá trị tài sản trung bình nhưng phải có chính sách thuế đặc biệt với những kẻ chiếm đoạt những ngôi nhà gía 2000 ( hai nghìn ) cây vàng như loại nhà của Trần bạch Đằng hoặc Lê nguyên Hãn, con trai vợ cả Lê Duẩn. Tóm lại, phải làm một sự Lọc lựa chính xác và phải có các Biện pháp hiệu lực. Những kẻ biển thủ tài sản quốc gia phải được xử một cách công khai và tuyên truyền rộng rãi, càng rộng rãi càng tốt. Thế kỉ 20 là thế kỉ tiêu biểu cho các cuộc cướp giật khổng lồ. Ở tất cả các nước chậm tiến, đặc biệt là châu Phi, bọn vua chúa, bọn tướng lĩnh, bọn độc tài đội lốt dân chủ...đều thả sức vơ vét tài nguyên lẫn tài sản quốc gia rồi sau rốt chạy trốn khỏi biên thùy, sống vương giả với tiền ăn cắp. Lũ cầm quyền cộng sản cũng không nằm ngoài mưu tính ấy. Chúng đã chuẩn bị cho cuộc tháo chạy từ lâu. Thế nên, sự vô hiệu lực một cách triệt để các hành vi cướp bóc này là hành động đầu tiên lấy lại lòng tin cho dân chúng. Đồng thời đó cũng chính là lời cảnh cáo cho những người cầm quyền tiếp theo.

Về mặt chính trị, việc anh nêu rõ tên Hoàng Trung Hải trong số bè lũ thân Tầu của chính phủ cũng có nghĩa như một sự mặc cả: Hoặc là chúng phải gạt bọn này khỏi hệ thống cầm quyền, hoặc là lực lượng đối lập sẽ hành động. Tôi nghĩ đây là một biện pháp khá thẳng thắn. Nhưng chúng ta không thể ngồi chờ câu trả lời của chính quyền Hà nội. Theo tôi biết, hai vụ thủ tiêu nhân sự vừa rồi chứng tỏ đám thân Tầu đang chuẩn bị quyết liệt để bảo vệ miếng ăn của chúng. Chúng hiểu rõ rằng, nếu có sự thay đổi, tất thảy bọn Ngụy Hán, những kẻ kí kết hội nghị Thành Đô, những kẻ kí việc bán mỏ Bô-xít...đều phải xử công khai trước nhân dân. Đương nhiên với những chánh án và thẩm phán có năng lực và uy tín chứ không phải bọn quan tòa chuyên ăn cướp và ăn của đút lâu nay làm lâu la cho chúng. Chớ quên rằng kẻ cầm quyền Hà nội có thể ngu dốt trên phương diện quản lý kinh tế, nhưng trong việc đàn áp nhân dân và bảo vệ quyền lợi của bản thân thì trái lại, chúng cực kì nhạy cảm và đầy thủ đoạn. Anh đừng hy vọng tìm thấy ở lũ này thứ tướng lãnh cao bồi dở như Nguyễn cao Kì hoặc gã chơi gái om sòm kiểu Nguyễn văn Thiệu. Để đánh gục bọn này, không thể chơi trò múa gươm của  Công tử con nhà giàu mà phải dùng võ Lục lâm. Sự thích ứng với hoàn cảnh cụ thể, biện pháp hiệu lực với thời điểm cụ thể là hai điều kiện mấu chốt trong chính trị. Xưa thế, mà nay cũng thế.  

Điều tối quan trọng giờ đây là phải tìm được các biện pháp thực thi tối ưu để có được một sự đổi thay. Sự đổi thay này, tôi xin nhắc lại, là vô cùng khẩn cấp, cho cả các anh và cho cả chúng tôi.

Việc anh nêu tên 61 đảng viên ký kiến nghị là việc nên làm, sự khích lệ đáng kể với cộng đồng người Việt trong nước. Nhưng không có sự khích lệ nào đủ làm cho một đám đông đứng dậy, phất cờ khởi nghĩa. Con số 61 là con số quá bé nhỏ so với trên 90 triệu dân. Nó là con số Khởi đầu ( Initial), không phải con số Phát triển ( Développé) và Hiệu Ứng (Efficacité). Nó đòi hỏi phải có sự Hỗ trợ mạnh, thậm chí bạo liệt. Tuy nhiên, số người này có thể coi là Hạt nhân cho một sự Vận hành ( Déclencher) thuộc về Lực lượng bề mặt ( Apparence ). Đặc  biệt là các nhân vật có tư cách kêu gọi và huy động binh lính như tướng Nguyễn trọng Vĩnh, tướng Lê duy Mật. Thứ nữa, các nhân vật có thể có ảnh hưởng rộng rãi đối với tầng lớp trung gian vì họ đã từng tham gia vào bộ máy cầm quyền, có thể nêu vài tên như Đào xuân Sâm, Trần đức Nguyên, Vũ quốc Tuấn, Tô Hòa, Lữ Phương, Hồ Uy Liêm, Huỳnh tấn Mẫm, Đỗ gia Khoa, Đào công Tiến, Nguyễn hữu Côn...Hoan nghênh, cổ võ tinh thần phản kháng của họ nhưng chớ nên quá tin vào năng lực cũng như phạm vi tác động của họ. Dù chỉ là Lực lượng bề mặt, họ cũng chưa thể trở thành một lực lượng cần và đủ. Theo tôi biết, khởi sự, họ định cổ võ 2000 người ra đảng. Họ cũng đã thu thập được lời cam kết của 100 người quyết định kí kiến nghị. Nhưng đến phút chót, 39 người rút lại chữ kí, nên chỉ còn 61. Và hai nghìn người hứa ra đảng cũng rút lại với lý do : “ Làm thế cũng chẳng được tích sự gì”. Tôi không ngạc nhiên. Từ ba chục năm nay, tôi chưa từng nghĩ đến khả năng cách mạng hoa hồng, hoa nhài hay bất cứ thứ hoa gì gì đó ở Việt nam. Bởi vì, ở những xứ mà bóng ma Khổng tử đã ngự trị, không có trí thức, chỉ có quan lại. Quan lại, nói nôm na là lũ chó quanh quẩn trong sân của kẻ cầm quyền. Con số 61 người kể trên là những người yêu nước mãnh liệt và tinh thần quốc gia đã khiến họ thắng lướt được sự tòng phục cố hữu đối với kẻ cầm quyền chính thống. Nói cách khác, họ là những người đang tập sự làm Trí thức, cho dù họ có kiến thức (Lettré). Châu Á chưa bao giờ có một đội ngũ trí thức ( L’intelligentsia) theo quan niệm của châu Âu. Cũng vì thế, người phương Tây thường có sự Hiểu nhầm, hoặc Những quan niệm lệch lạc khi đánh giá xã hội châu Á.  Người Mỹ cũng như dân châu Âu tin rằng một khi giai cấp trung lưu hình thành thì cùng với họ, tư tưởng dân chủ cũng hình thành và phát triển theo. Suy nghĩ của các anh dựa trên mô hình cuộc cách mạng tư sản phương Tây. Giai cấp tư sản nảy sinh trong lòng chế độ phong kiến và trở thành kẻ đào mồ cho giai cấp quý tộc cũ. Theo lô-gic ấy, các anh tin rằng giai cấp trung lưu hình thành trong các xã hội chậm phát triển sẽ trở thành lực lượng đối nghịch, sẽ đào thải dần dần bọn cầm quyền cũ và thay thế họ. Các anh nhầm lẫn một cách trầm trọng. Bởi, có những quy luật chung cho nhân loại và có những điều KHÁC BIỆT THẬM CHÍ ĐỐI NGHỊCH phân cách họ. Không hẳn cái gì đúng với phương Tây cũng đúng với phương Đông. Ông Peter Navarro, tác giả cuốn “ Chết dưới tay Trung quốc” đã nhận định một cách chính xác rằng giai tầng trung lưu Trung quốc có thể ăn Big-Mac và đi xe hơi Mercedes nhưng không hề có một chút khái niệm nào về dân chủ. Để làm sáng tỏ hơn ý kiến của ông Peter Navarro, tôi phải nói rằng giai cấp trung lưu ở các nước cộng sản là đám nha lại may mắn trong nghề con buôn, hoặc liên kết với con buôn. Hoặc là, vế thứ hai, đám con buôn may mắn trong cuộc kết hôn với bọn cầm quyền. Muốn trở thành kẻ có tài sản, cuộc “ Làm tình” này là không thể tránh được. Giai cấp mới giàu phải chia chác lợi nhuận và được tận hưởng sự bảo trợ của những kẻ trong tay có súng. Vả chăng, đa số bọn mới giầu cũng là bọn nằm trong Thái ấp ( Fief), Lãnh địa của cường quyền. Thế nên, hy vọng giai tầng này đứng lên chống lại “ Liên minh vàng ngọc” của họ là điều khờ khạo. Giai cấp tư sản phương Tây chống lại tầng lớp quý tộc vì họ là con đẻ của một nền văn minh mà mấy ngàn năm trước đã từng có Nền dân chủ thành A-ten. Giai cấp ấy được hình thành trong một quá trình thông thường, tiệm tiến và hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế. Quá trình này hoàn toàn khác quá trình tạo dựng lớp trung lưu trong các xã hội ở giai đoạn cuối của chủ nghĩa cộng sản bao gồm ba đặc tính sau đây :

1 - Về mặt danh nghĩa chính thức là cộng sản độc quyền. Nhà nước cụ thể là nhà nước cảnh sát.

2 -  Trên thực tế các chính phủ này ngoài tính cực quyền còn mang tính Mafia đột khởi, khi mà hệ thống cộng sản chủ nghĩa trên toàn cầu đã tan rã, lý thuyết cộng sản Utopie đã sụp đổ. Và đặc biệt : Đạo đức Utopie cũng sụp đổ theo. Điều này vô cùng hệ trọng vì các chính thể này từng thống trị dân chúng trong một thời gian dài với thứ Đạo đức Utopie ( nối tiếp thuyết Đức trị, Lễ trị của Khổng tử ), cho dù thực chất đó chỉ là thứ đạo đức giả, nhưng với hệ thống tuyên truyền theo kiểu Hitler, với chính sách ngu dân kèm theo một  cách ráo riết, thứ Đạo đức Utopie này đã từng có thời hiệu nghiệm. ( Tôi xin phép được giải thích thêm về nhóm từ Đạo đức Utopie. Phải thừa nhận rằng không thiếu những trí thức cánh tả ở phương Tây bị quyến rũ bởi Tính chất tuẫn đạo của chủ nghĩa cộng sản nên đã tình nguyện đi theo nó. Chỉ đến khi thực tế đập vào mắt họ, họ mới thức tỉnh. Có thể đơn cử nhà văn Pháp Andrei Gide làm ví dụ. Hoặc như gián điệp Phạm xuân Ẩn ở Việt nam. Đó là những người giữ một tư cách cá nhân trong sạch , không tham tiền, không tham gái, thậm chí có thể hiến dâng toàn bộ tài sản cá nhân cho cách mạng. Ông Phạm xuân Ẩn, chỉ đến khi ra Hà nội, tiếp xúc trực tiếp với bộ máy cầm quyền cộng sản mới vỡ mộng mà thôi.)

3- Các thuộc tính của Phong kiến phương đông chưa bao giờ hết hiệu lực trong các xã hội này.

Thế nên, áp dụng những quy luật lịch sử thuộc về ba thế kỉ trước ở phương Tây với các xứ chậm tiến ở phương Đông giờ đây là hoàn toàn lầm lạc.

Nói như vậy, phải chăng không hề có lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở Trung quốc ? Có !  Thiên an môn là ví dụ điển hình.

Nhưng tỉ lệ vài ngàn người trên một tỉ rưỡi dân Trung hoa là một thứ muối bỏ biển. Cũng như giờ đây ở Việt nam, con số 61 người kí kiến nghị yêu cầu nhà cầm quyền thay đổi chính trị trên 90 triệu dân Việt nam là một thực tế đáng nhục và đáng buồn. Các cuộc biểu tình chống Tầu ở Việt nam được thực hiện do sinh viên và một số ít những người có hiểu biết nhưng chưa kịp, hoặc chưa có điều kiện để trở thành giai cấp trung lưu, có tài sản. Nói tóm lại, họ là thứ quả quá hiếm hoi và họ chưa thể trở thành một lực lượng đáng tin cậy.

Vì sao ? Vì tư tưởng dân chủ chỉ có thể hình thành khi có con người dân chủ, mà loại người đó chưa là cư dân chính thức trên các vùng đất này.

 Bây giờ, để hiểu rõ Tinh thần Trung quốc, làm con tính đơn giản sau :

          1- Hãy so sánh con số những người tham gia biểu tình đòi dân chủ ở Bắc Kinh với con số những sinh viên Trung hoa, được ăn học ngay trên đất Mỹ nhưng hoàn toàn bị điều khiển bởi tinh thần quốc gia và chủ nghĩa Đại Hán. Đám người “ trẻ trung”này đã phản ứng ra sao để bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc vĩ đại của họ ?

        2 -  Hãy so sánh con số những người Trung hoa quyết tâm đi theo nền dân chủ với đám Tin tặc mũ đỏ, Hắc khách đến từ lục địa của Mao trạch Đông. Theo tư liệu của ông Peter Navarro thì Tin tặc Mũ đỏ của Trung quốc đã thâm nhập vào NASA, lầu Năm góc và Ngân hàng thế giới, đã tấn công Phòng công nghiệp và An ninh của bộ thương mại Mỹ dữ dội đến mức Bộ phải vứt bỏ hàng trăm máy tính bị hỏng, đã copy sạch ổ cứng của dự án Chiến đấu cơ kiêm Oanh tạc cơ F-35 của hãng Lokheel Martin...Hiện nay Trung quốc có hàng trăm trường đào tạo tin tặc để dạy ma thuật cho những phù thủy trẻ tuổi, một lực lượng khổng lồ đã, đang và sẽ tấn công toàn thế giới.

      3 -  Hãy điều tra xem trong đám dân Tầu tị nạn chính trị trên đất Mỹ, có bao nhiêu phần trăm dissident thật sự và bao nhiêu phần trăm Lính Nằm vùng ? Đừng quên rằng Khổ nhục kế là sáng tạo của người Trung hoa chứ không phải của người Mỹ. Từ nhiều thế kỉ nay, chiến thuật đó đã được sử dụng đi sử dụng lại một cách linh hoạt và vô cùng hiệu quả.

Vậy thì,  với sự thực không thể bác bỏ như đã nêu, có thể kết luận rằng tư tưởng dân chủ đủ sức mạnh chinh phục hay chính chủ nghĩa Đại Hán mới là Tư tưởng Lớn ( Noble idéal), Tư tưởng Chính thống ( Idée orthodoxe de vieille souche ), tư tưởng thống trị ( La pensée écrasante) trên tuyệt đại đa số gần một tỷ rưỡi dân Trung quốc hiện nay ?

Thêm một ví dụ nữa, trong cuốn sách của ông Peter Navarro có nhiều đoạn nói về cảnh những công nhân Trung quốc bị bóc lột thậm tệ, sẵn sàng ngủ gục bất cứ nơi đâu sau giờ làm việc. Phía sau những nhận xét này là mối thương tâm. Tôi hiểu cảm xúc ấy vì nó là điều hiển nhiên trước những cảnh đau lòng. Thế nhưng, cũng chính những người công nhân khốn khổ ấy sẽ sẵn sàng trở thành đội quân tàn bạo nhất khi được điều động đi xâm chiếm các lãnh thổ khác. Đó là một thực tế không thể chối bỏ. Đó cũng là MỘT HIỂN NHIÊN. Họ là hậu duệ của những tên lính Trung hoa thời xưa, chỉ vì húp thêm một bát cháo đã bị Tào Tháo hạ lệnh chém ngang lưng nhưng cũng chính họ là bọn côn đồ khát máu và bọn vơ vét tham tàn nhất một khi vượt khỏi biên thùy. Hãy nhìn lại những chùa chiền bị cướp bóc và phá hủy ở Tây Tạng. Đâu phải bọn vua chúa Bắc Kinh thực hiện các hành vi man rợ ấy, đó là dân con của  chúng, những người Trung hoa không dám chống cường quyền nhưng phóng chiếu toàn bộ bản năng hiếu sát lẫn sự tham tàn, độc ác của họ lên đầu “Thiên hạ”. Ngoài biên thùy, Vua chúa và Dân đen Trung hoa trở thành khắng khít vì hai bên có một mục tiêu chung. Chiến lược  ĐỔ LỬA RA NGOÀI là chiến lược có từ ngàn năm, một thứ Màn thầu đặc biệt của dân Tầu. Điều này, chắc chắn người Việt chúng tôi biết rõ hơn người Mỹ. Cần phải đưa thêm một con số : Trong cuộc thăm dò ý kiến của bộ trưởng bộ quốc phòng Trung quốc cách đây không lâu, trên 95 phần trăm dân Trung quốc nhất trí : “Đánh lũ chó Việt nam để thu hồi lãnh thổ!” Chỉ có trên 4 phần trăm người không trả lời hoặc không đồng ý. Như thế đủ hiểu, sức mạnh Truyền thống lớn đến đâu. 

Thế nên, Stephen thân mến, tôi nói điều này mà không sợ làm anh phật ý, nếu anh có nghĩ đến Cách mạng Hoa nhài, Hoa hồng, Hoa tuy-líp...như một cách vui chơi, hoặc làm đẹp ngôn từ thì tôi đồng ý. Nếu là một ý nghĩ nghiêm chỉnh ( như niềm sung sướng nghiêm chỉnh và chân thành của dân Pháp, những người từng nhảy cỡn lên vào Mùa xuân Arabe ) thì xin anh bỏ ý nghĩ ấy đi. Bởi vì, đó chính thực là một thứ Utopie. Ngày xảy ra cuộc cách mạng Hoa nhài, khi nghe đám dân Pháp hò hét, tôi có nói với họ : “ Chớ nên cười quá sớm! Đó là kinh nghiệm của tôi”. Đến khi thành quả cuộc cách mạng rơi vào tay đảng Islam, họ đã phải thú nhận : “ Chúng ta mừng hụt” . Tôi lại xin cung cấp cho anh thêm một tư liệu của năm vừa rồi, theo điều tra thì trên 70 phần trăm những người Tunisi làm việc trên đất Pháp từ vài thập kỉ nay bỏ phiếu cho đảng của Islam. Điều đó có nghĩa gì ? Hố thẳm trong óc não con người là nơi sâu nhất, khôn dò. Tunisi là nước có đường biển thông thoáng, là đất nước cởi mở nhất với phương Tây trong toàn khối Arabe, hàng nghìn năm có quan hệ thương mại với châu Âu, vậy mà phản ứng của họ còn bảo thủ đến như thế, huống hồ Việt nam, mảnh đất bị kẹp dưới nách của Trung hoa, hàng nghìn năm sống trong thứ ao tù nước đọng ? Với một thực tiễn đáng buồn như vậy, làm sao có thể tin được một sự chuyển hóa “ nhung lụa, hòa bình” ở Việt nam?

Vì cái thực tiễn ấy, tôi xin nhắc lại với anh, chỉ có một con đường có thể đưa đến thay đổi ở Việt nam. Con đường ấy không có hoa hồng, hoa nhài và các thứ hoa khác. Còn muốn bước chân đến vườn hoa thì phải chờ kết cục ở một ngày nào đó, khi con Rồng phương Bắc bị đâm nát. Nếu Bắc Kinh còn phẳng lặng, ắt các Kinh đô nước khác phải tan tành, bởi vì Trung hoa đã được tạo dựng trên xác chết của các dân tộc khác, biên giới của họ hiện nay rộng gấp năm lần đất đai gốc là vì nó thâu gộp các xứ sở bị họ tàn sát và đồng hóa. Cái phương cách sinh tồn này đã thấm đẫm trong nếp nghĩ, nếp sống của người Hán và trở thành sức mạnh tinh thần to lớn của họ. Chủ nghĩa Đại Hán không thể ra đời ở một xứ như Thụy sĩ hoặc Nay-uy. Chủ nghĩa Đại Hán phải ra đời ở một miền đất mà các cư dân sống trên đó phải được vũ trang bằng những thứ vũ khí đặc biệt về mặt tinh thần. Tính cách đặc thù này là một HẰNG SỐ, nhưng trong một thời gian khá dài, nó đã được ngụy trang, chôn cất tạm, hoặc giấu diếm, bởi vì trong thời gian này, người Trung hoa cùng khốn, họ rơi vào cảnh nô lệ, bần hàn. Hiện nay, Trung hoa đã trở thành cường quốc trên toàn cầu, do đó tính cách Trung hoa đang được khai triển với một ý chí mãnh liệt, thậm chí điên rồ.

Tôi xin dẫn vài ví dụ :

        1 – Ông Trần ngọc Vượng, từng có thời gian giảng dạy tại đại học Bắc kinh  và đang tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu và tìm hiểu văn hóa Trung quốc cho biết : Trong cuốn tiểu thuyết viết theo lối khảo cứu, đề xuất luận điểm, có tên Lang Đồ Đằng ( Tô tem sói), tác giả Khương Nhung của Trung quốc xác định thuộc tính có tính chất căn tính của người Trung quốc là sói tính. Sói là con vật ranh mãnh, thủ đoạn, độc ác, thâm hiểm nhất của thảo nguyên, bình nguyên và cao nguyên. Người Trung quốc đặt căn cước của mình khởi đi từ đó. Mấy năm liền, người Trung quốc in đi in lại cuốn tiểu thuyết này, cổ vũ Tính chiến đấu, tinh thần Quật cường của đồng bào họ.

       2 - Theo lời kể của một phóng viên Pháp vừa đi New York về thì hiện nay, tại New York, có Restaurant Trung quốc treo tấm biển : Không có nĩa ! Anh hãy nhờ cảnh sát ở New York tìm xem địa chỉ chính xác của Restaurant này ở đâu ?. Một thông báo như vậy đồng nghĩa với lời tuyên bố rằng ở đây, nền văn hóa cầm đũa là kẻ thống trị. Ba mươi năm trước, chắc chắn những người Trung hoa nhập cư phải là những chủ nhân lịch sự tuyệt vời, họ sẽ ân cần mang dao, nĩa đến tận bàn một ông khách da trắng khi ông này lóng ngóng chưa quen dùng đũa. Nhưng bây giờ, gió đã xoay chiều, và họ tuyên bố thẳng thừng : kẻ nào không biết cầm đũa thì cút đi chỗ khác.

       3 - Những thập kỉ trước đây, người nhập cư Trung hoa ở Paris được tiếng là cần cù, nhũn nhặn. Nhưng vào thập kỉ cuối cùng, từ năm 2000 trở lại đây, thái độ của họ đã đổi thay. Khi tiền của người Tầu đủ mua các công ty, các hãng lớn thì họ cũng mua luôn từng khu phố để làm nơi cư ngụ. Cuộc mua bán này diễn ra với quy mô rộng lớn và rầm rộ khiến dân Pháp lo ngại. Dù chính phủ không có chỉ thị chính thức, nhiều chính quyền quận có phản ứng. Theo tôi biết, vào những năm đầu thế kỉ mới, chính quyền quận 3 ( khu Marrais) ở Paris cố gắng hạn chế cuộc mua nhà đất của người Tầu nhưng không có hiệu quả. Ngược lại, giờ đây khi ông Tầu nào muốn mua một cửa hàng, mà chủ nhà không muốn bán, họ thuê du côn đến gây sự, đập phá, quấy rối dưới các hình thức khác nhau và sau rốt, chủ nhà đành phải đóng cửa hàng, bán lại. Nước Pháp suy đồi đến mức khi một sinh viên Việt nam viết bài tố cáo chính sách xâm lấn biển của Trung hoa thì liền bị giáo sư phụ trách gọi lên yêu cầu chấm dứt ngay  hành vi phản kháng, nếu không sẽ bị buộc thôi học. Tôi có nói chuyện này với một bà giáo sư đại học Paris 7, bà ấy đáp lại : “ Chúng tôi có một nước Pháp của De Gaule và một nước Pháp của Pétain. Tôi ngờ rằng nước Pháp thời hiện tại là nước Pháp của Pétain !”

Chủ nghĩa quốc gia là thứ khát vọng mãnh liệt nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử loài người. Nếu như trước đây hơn nửa thế kỉ, thanh niên Đức bị cuốn vào chủ nghĩa phát-xít của Hitler như bông bồ công anh cuốn theo chiều gió, thì giờ đây các thế hệ Trung quốc sẽ còn bị cuốn vào chủ nghĩa Đại Hán với một sức mạnh điên rồ trăm lần hơn nữa. Bởi vì, chủ nghĩa phát-xít Đức là khát vọng quốc gia mới tạo lập, còn chủ nghĩa Đại Hán là thứ cây cổ thụ, sau những năm tàn úa giờ đây xanh tươi trở lại, nguồn sống của nó được dung dưỡng thâm sâu gấp bội phần. Thêm nữa, Trung quốc là phương Đông, phương Đông muôn vàn bí hiểm với phương Tây. Chúng tôi đây, những người Việt nam khốn khổ hàng nghìn năm chiến đấu chống lại họ, ăn uống, phong tục cận kề mà còn không hiểu được họ, huống hồ các anh, những người Mỹ ? Vì thế, mới có câu : “ Thâm như Tầu”. Hoặc là “ Bụng người Tầu, còn lâu mới biết”. Nhớ lại thời cách đây vài thập kỉ, khi mỗi tuần, người ta giết hàng nghìn con trâu rồi mang móng sang bán bên kia biên giới, không ai hiểu vì sao. Dân chúng còn thì thào :” Người Tầu mua móng trâu làm thuốc chống ung thư” . Rồi sau đó vài tháng, lại có chiến dịch đào rễ hồi, rễ quế bán cho “ các thầy thuốc Tầu”. Ba năm sau, dân các vùng biên giới đói vàng mắt, miền xuôi phải đem gạo và ngô cứu tế, lúc ấy mới rõ người Tầu không chế thuốc men nào hết, họ chỉ có một mục đích là phá sạch kinh tế các tỉnh phía bắc Việt nam mà thôi.

Người Mỹ các anh, bắt một ông tổng thống ra trước tòa xin lỗi dân chúng, chỉ vì ông ta trót nhảy lên bụng một cô thư kí Nhà trắng rồi nói dối, nghĩa là các anh coi Sự trung thực là phẩm tính cốt yếu mà bắt buộc mọi người, trước hết là các nhà lãnh đạo phải có. Với tâm thế ấy, các anh làm sao hiểu được người Tầu, một dân tộc đã viết ra cuốn Phản kinh ?...

Để anh rõ chi tiết, tôi xin trích vài dòng của người đang dịch cuốn Phản kinh ra tiếng Việt, giáo sư Trần ngọc Vượng :

... “ Cuốn thứ hai tôi cũng đang dịch mang tiêu đề Phản kinh, tức là Cẩm nang, bí kíp của những thủ đoạn chính trị và người ta quảng cáo cuốn sách là : Lịch đại thống trị giả - Mật như bất ngôn- Dụng như bất tuyên kì ( Tạm dịch : Bộ kì thư mà kẻ thống trị ở tất cả các nơi phải giữ bí mật- Làm theo nhưng không nói ra, không công bố ). Bộ sách này được một nhân vật đỗ tiến sĩ đời Đường viết ra, sau đó tìm cách dâng cho vua rồi trốn biệt, về sau không ai biết ra làm sao. Ngay đến cái tên của tác giả cũng là điều kì bí. Tôi mua bộ sách này lần đầu vào năm 1998, lúc tôi dạy ở đại học Bắc kinh. Đọc tên tác giả, tôi hơi ngỡ ngàng vì chưa biết chữ ấy bao giờ. Nghĩ mình là người nước ngoài, học tiếng Hán có hạn chế, ai dè hỏi các giáo sư Trung quốc cũng không ai biết. Hai ba hôm sau, kỉ niệm 100 năm đại học Bắc kinh, gần 10 xe chở các chuyên gia đại học Bắc Kinh ra Đại lễ đường Nhân dân, giáo sư Phó thành Cật cầm chữ trên tay đi hỏi cũng không ai biết. Cuối cùng, ông về tra Trung quốc đại từ điển, ra tên này nằm ở phần đuôi của chữ ghép. Phiên âm Hán-Việt phải đọc là Nhuy. Cái tên này còn chưa có trong thư tịch Việt nam, chỉ đọc theo nguyên lý thôi. Thật lạ !

Bộ sách được cất trong kho chứa sách của triều đình, nhưng thi thoảng lại lọt một phần nào đó ra ngoài nên đời Minh, Thanh đều có chỉ dụ cấm tàng trữ, đọc cuốn sách đó. Mãi tới năm 1998, lần đầu tiên nó được in ra, mà lại in ở nhà xuất bản Nội Mông cổ, theo kiểu in để thăm dò. Nói vậy để biết đó cũng là loại bí kíp kì thư. Kiểu bí kíp ấy, Trung quốc rất có truyền thống nên tôi muốn giới thiệu để chúng ta, nhất là giới chính trị, hiểu họ hơn....”

 (Trích cuộc phỏng vấn của báo Người Đô thị với giáo sư Trần ngọc Vượng)

 Ông Trần ngọc Vượng đã gõ cửa một loạt các cơ quan nhà nước có chức năng và trách nhiệm nghiên cứu chính trị và văn hóa. Không nơi nào trợ cấp cho ông dịch cuốn cẩm nang quý báu này. Vì giới cầm quyền cộng sản Việt nam muốn giữ lòng trung với Mẫu quốc. Dịch Cẩm nang, tức phơi bầy bộ mặt Lang sói của kẻ cầm quyền phương bắc, cũng có nghĩa gián tiếp tố cáo thân phận nô bộc và phản bội tổ quốc của chính họ. May thay, hiện nay cuốn sách vẫn đang được dịch, nhờ tài trợ của một doanh nhân.  

Cuốn Phản kinh là bằng chứng đầy thuyết phục cho tính cách độc đáo Trung hoa. Một hiện tượng cũng độc đáo tính Trung Hoa không kém là  nhân vật Dịch Nha. Dịch Nha là đầy tớ của Tề Hoàn Công, một ông vua thời Đông Chu. Một ngày, Tề Hoàn Công đùa bỡn Dịch Nha, nói rằng :

- Ta đây, món ngon vật lạ trên rừng, dưới biển đều đã nếm đủ. Chỉ có mỗi thịt người là chưa biết đến mà thôi.

Ngay hôm sau, Dịch Nha dâng cho vua một mâm thịt ngào ngạt hương thơm. Tề Hoàn Công thưởng thức một cách khoái trá, sau đó hỏi :

- Thịt gì mà ngon vậy ?

Dịch Nha đáp :

- Thịt người.

Tề Hoàn Công hốt hoảng :

- Lấy đâu ra ?

Dịch Nha đáp :

- Bẩm chúa công, đó là thịt đứa con trai cả của thần, nó vừa đầy ba tuổi. Vì chúa công chưa bao giờ được dùng thịt người nên thần thịt nó cho chúa công xơi.

Quả nhiên, Dịch Nha trở thành sủng thần, cùng với Thụ Điêu và Khai Phương, khuynh loát triều đình sau khi Quản Trọng chết. Đây là lời của Tề Hoàn Công nói với Quản Trọng khi ông tể tướng này can vua chớ nên gần gũi bọn nịnh thần :

- Dịch Nha làm thịt con cho tôi ăn, thế là yêu tôi hơn yêu con, còn nghi ngờ gì nữa ?     

Một kẻ, vì cuộc đầu cơ chính trị, tự tay giết con đẻ của mình, lại tự tay xào nấu thành món ngon tuyệt vời để dâng vua nếm, kẻ đó là sản phẩm độc nhất vô nhị trên toàn cõi đất. Ngoài Trung quốc, không một dân tộc thứ hai nào trên hành tinh này có được. Thời xưa, các bộ tộc man di có tục ăn thịt người, và ngày nay, cũng có những Kẻ ăn thịt người do Hiện tượng Lại giống, hoặc bọn ăn thịt người do kích thích của ma túy, những kẻ còn duy trì bản năng dã thú ở mức độ quá cao. Nhưng đám người man dã này không thể so được với Dịch Nha vì Dịch Nha Chống lại Tính người không phải do bản năng dã thú mà do sự tính toán kĩ lưỡng. Vì Mưu lợi mà có thể Hủy diệt tính người, đó là đặc sản Trung quốc. Cũng như vì muốn tăng cường thể lực, họ có món óc khỉ sống của bà Thái hậu Từ hy. Cái đặc tính này bộc lộ trên nhiều phương diện. Ngay trên các địa bàn thuần túy tình cảm và đạo đức, người Trung hoa cũng có lối thể hiện độc đáo của họ. Ví dụ, có thể bàn về tình hiếu đễ. Dân Tầu vẫn tự hào được dạy dỗ bởi đức thánh Khổng và thường khoa trương các món hàng Truyền thống của họ. Tuy nhiên, chính ngay trên cái địa hạt đầy tinh thần đạo đức này, cũng có thứ gì đó khiến ta Dựng lông tóc, sởn da gà. Xin anh hãy đọc lại chuyện “Vì mẹ nguyện chôn con”, in trong cuốn Thái Ất tử vi năm Quý Tỵ 2003 do Vương Dung Cơ luận giải ( P.O Box 9585 – Fountain Valley. CA 92728-9585 ). Nội dung được ca ngợi : Muốn có đủ thực phẩm nuôi mẹ, chồng yêu cầu vợ đào huyệt để chôn sống đứa con sáu tuổi để bớt đi một miệng ăn ! Hình mẫu này, được tuyên truyền, phổ biến như món Dầu cháo quẩy trong các quán bình dân.

Thế giới của các anh được định vị bằng các luật. Trung hoa chưa bao giờ sống theo luật, cho dù có cả một trường phái mang tên Hàn phi tử. Luật chỉ làm cho vua và vì thế, đổi thay theo một cái gật đầu hay vẫy tay của vua. Vả lại, từ hàng nghìn năm nay, nền văn hóa vĩ đại của Trung hoa vốn được nuôi dưỡng bằng nhân cách đúp : Người ta có những tư tưởng đẹp đẽ và cao siêu của Lão và Trang để mơ mộng và ngâm ngợi (để nhìn lên cung trăng) và giờ đây, để làm lóa mắt đám trí thức ngoài biên giới. Họ có một hệ thống đạo đức dưới nhãn hiệu Khổng Khâu lẫn Mạnh tử để rao giảng, dậy dỗ ( để rọi sáng đường đi dưới ánh mặt trời), và giờ đây, để chiêu dụ tâm lý những cư dân thuộc các nền văn minh khác. Nhưng cuộc sống thường hằng diễn ra cả ban ngày lẫn ban đêm lại được nuôi dưỡng bằng món Bánh bao chấm máu người, và vì là cuộc sống thường hằng nên con người cứ việc tuân theo mà không ai nói năng gì hết. Nhà văn Lỗ Tấn, một cách vô thức đã phản ánh trung thành tính cách dân tộc của ông. Lịch sử Trung hoa đã được nuôi dưỡng với món BÁNH BAO CHẤM MÁU đặc biệt  ấy, và nó sẽ tiếp tục phát triển với cùng nguồn dinh dưỡng đậm đà bản tính dân tộc, cho dù hình thức biến  thái đi.  

Với tất cả những gì đang diễn ra hiện nay, tôi nghĩ các anh không còn nhiều thời gian nữa. Tôi không tin rằng các anh chần chừ cho đến lúc tất cả đám dân Trung hoa buôn đồ cổ ở New York tuyên bố thẳng thừng là thành phố này từ nay thuộc về họ, và rằng đội quân thứ năm của Hoàng đế Trung hoa nhất tề đứng lên, khẳng định các anh, những người mang dòng máu bình thường của nhân loại, còn họ, những kẻ mang Máu Rồng, nên họ có quyền thu hồi lại lãnh thổ vốn thuộc về người da đỏ, những tổ tiên có cùng sắc da vàng như họ ( Tôi nhắc lại ý chính trong một bài báo của người Trung quốc trên Internet cách đây gần một thập kỉ). Không có sự điên rồ nào được coi là điên rồ hoặc là đáng kinh ngạc với người Trung hoa, một thứ người đã thịt con đẻ của mình như thịt gà hay thỏ, hạng người ấy không gì không làm được.

Tôi tin rằng các anh sẽ tìm được biện pháp hiệu lực trong thời gian ngắn nhất, trước khi mọi sự trở nên quá muộn màng. Dân tộc các anh là dân tộc tiêu biểu cho khát vọng tự do của nhân loại, các anh có đủ phẩm chất và tư cách để Hành động.

Hành động, để cứu chính nước Mỹ trước hết, và sau đó, cứu cả các dân tộc có nguy cơ bị nghiền nát dưới bánh xe của bọn Tần thủy Hoàng thời hiện đại. Đó chính là Lý tưởng cho người Mỹ ngày hôm nay.    
Chúc anh chị vui và khỏe.
Khi nào có dịp ghé Pháp thì nhớ báo cho tôi.  

Dương thu Hương
Paris, ngày 30 tháng 10 năm 2014

_____________

Nhắc lại một đề nghị  “Dân chủ hóa Việt nam”

Stephen B. Young

Năm 2016, Đảng Cộng sản hà nội sẽ tổ chức Đại hội lần thứ XII để sẽ đưa ra một đường lối mới cai trị Việt nam . Nhưng Đảng ấy có toàn quyền cai trị nhân dân Việt nam nên đường lối của Đảng sẽ ấn định vận mệnh luôn cho toàn dân . Vận mệnh đó tốt hay xấu sẽ tùy theo khả năng, trí tuệ của các đảng viên lãnh đạo mới .

Vì Đảng Cộng sản cho tới nay vẫn chưa có kinh nghiệm sanh hoạt dân chủ và lắng nghe ý kiến của dân để thấu hiểu nguyện vọng của dân mà chỉ biết áp đặt dân theo một thứ chủ nghĩa đem từ ngoài vô hoặc theo những chỉ thị cá nhơn của những người có quyền hành mạnh trong Đảng nên chúng ta cần đưa ra nhiều ý kiến về qưản trị đất nước khác hơn và tốt hơn cho họ .

Mới đây, tại quê nhà, rất may đã có 61 đảng viên đã làm việc này rồi . Tôi mong đợi sẽ có thêm nhiều đảng viên nữa và cả nhiều người dân ngoài Đảng sẽ lần lược đóng góp ý kiến mạnh dạng thay đổi và xây dựng như vậy nữa .

Ai mà muốn toàn dân được “ tự do, dân chủ, hạnh phúc” thì phải nghĩ đến một chương trình “ Dân chủ hóa Việt Nam ”, một diển tiến ôn hòa và nghiêm chỉnh, theo ý trời và đất, phù hợp theo qui luật vũ trụ, tức hiện đại hóa xã hội, văn hóa, kinh tế, mang lại nhiều phúc lợi cho dân và đất nước .

 Vì mục đích này, tôi xin phép gửi những ý kiến riêng của tôi sau đây cho ban lãnh đạo đảng Cộng sản ở Hà nội hiện nay.

Nhắc lại chút chuyện cũ

Năm 1992, lần đầu tiên tôi về Việt nam qua sự thu xếp và hướng dẫn của Cụ Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Bộ trưởng Kinh tế của Chánh phủ Việt nam đầu tiên Hồ Chí Minh năm 1945 . Theo lời Cụ Hà, khi tới Hà nội, tôi sẽ gặp vài người lãnh đạo Việt nam mà Cụ đã được sự đồng ý, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ông Đỗ Mười, …

 Tôi phải qua Paris để đi Việt nam .  Cụ Hà lấy chiếu khán cho tôi rất dễ dàng. Nhưng tới chiều, Sứ Quán Hà nội ở Paris điện thoại Cụ Hà yêu cầu ủy bỏ chiếu khán của tôi. Cụ Hà không đồng ý và tôi cũng không đồng ý. Sáng hôm sau, chúng tôi lên đường đi Hà nội.

Tới Hà nội, tôi chỉ phải chờ vài phút để nhơn viên an ninh phi trường làm thêm một thủ tục nhỏ. Cụ Hà và tôi rời phi trường, vào Hà nội .

Giấc mơ Ba-lan không thành

 Theo ngày giờ hẹn, tôi sẽ gặp Tướng Giáp, Ông Đỗ Mười, …nhưng lúc tới tư dinh của họ thì tất cả đều đi vắng. Tôi đành tới thăm gia đình bên vợ tôi, những người không kịp di cư vào Nam sau 1954. Tôi đi dạo Hà nội rất thú vị vì lần đầu tiên tôi biết Hà nội. Trước giờ tôi chỉ biết qua sách vở.

Tôi đi Hà nội và được vài vị lãnh đạo ở Hà nội hứa gặp tôi vì lúc đó Hà nội muốn Huê kỳ bỏ cấm vận, họ còn mang nổi lo sợ do biến cố Liên-xô sụp đổ ám ảnh.

Hai nước chưa có bang giao, mọi gặp gở chánh thức đều không được phép. Tôi không phải nhơn viên Chánh phủ Huê kỳ nên không bị cấm kỵ. Nếu gặp gỡ có nội dung tích cực, tôi sẽ trình lên Chánh phủ Huê kỳ. Tôi sẳn lòng đóng vai trò trung gian không chánh thức nhưng hữu hiệu. Và tôi, lúc đó, cảm thấy rất thiết tha mong làm được điều gì có ích lợi thật sự cho Việt nam là đất nước mà lúc thanh niên tôi từng phục vụ và tôi vẫn hằng yêu quí.

Một vấn đề nữa giữa hai nước là chiến tranh Cam-bu-chia. Việt nam ủng hộ phía Hun Sen, Trung Quốc ủng hộ phe Pol Pot . Tại Hoa kỳ, tôi đã đưa ra một kế hoặch hóa giải và chấm dứt chiến tranh đó. Tôi đã đề nghị Liên Hiệp Quốc nên tổ chức một Chánh phủ Lâm thời cho hai bên Việt nam/Tàu lui ra và các phe phái Khmer thương lượng với nhau để hòa giải chuyện đất nước khờ-me mà họ đã làm chiến tranh với nhau.

Vì có hẹn gặp Thủ tướng Đỗ Mười, tôi được đưa vào văn phòng Thủ tướng nhưng để gặp ông Phó Ngoại trưởng. Ông xin lỗi tôi về sự thay đổi bất ngờ này vì Ông Đỗ Mười bị mệt nên không gặp tôi được. Ông Mười mới từ Hải Phòng trở về Hà nội và nhức đầu vì đi đường xá không tốt .

Trong lúc nói chuyện vui vẻ, tôi đưa ra kế hoạch chấm dứt chiến tranh Cao miên. Ông hỏi tôi kế hoạch đó của ai ? Tôi trả lời : “Của tôi”. Đã được đệ trình với Cựu Tổng thống Nixon lúc ông đã về hưu nhưng ông đã trở thành bạn của tôi. Ông Nixon đã giới thiệu tôi cho Phó Ngoại Trưởng Mỹ Larry Eagleburger và ông ấy đồng ý ủng hộ đề nghị của tôi. Tôi giải thích thêm rằng Bộ Ngoại giao Bush đã lấy lại kế hoạch đó làm chánh sách của Hoa kỳ hiện nay. Tôi nói tiếp các lý do thi hành kế hoạch đó sẽ có lợi cho Việt nam đối với Bắc kinh. Ông ấy rất hài lòng và cảm ơn tôi cho biết sự thật về chánh sách đối ngoại của Mỹ. Vài tuần sau, Chánh phủ Việt nam chấp thuận kế hoạch đó và tranh chấp Việt/Tàu tại Cao miên đi đến chấm dứt.

Thật tình tôi muốn gặp Ông Giáp và hi vọng ông sẽ có vai trò như Tướng Jaruzelski của Ba-lan vì có rất nhiều cụu quân nhơn, cả cấp Tướng, còn giữ cảm tình với ông do quá khứ cùng chiến đấu trong hai cuộc chiến ở Việt nam. Nhưng sau này, tôi biết mình đã lầm do sự hiểu biết qua sách báo bị tuyên truyền sai lạc. Tướng Giáp chỉ có hia mảo chớ không có tầm vóc của một ông Tướng bình thường. Kém hơn cả nhiều Tướng của Miền nam trước kia.
Sau khi tôi ra về, Cụ Nguyễn Mạnh Hà còn ở lại thêm tuần lễ nữa. Cụ gặp lại đủ những người lẻ ra tôi đã gặp như dự tính. Mọi người đều ở nhà mà né tránh. Cụ Hà tỏ vẻ khó chịu vì sự sai hẹn. Những người này xin lỗi cụ với lời giải thích “anh em chưa thật sự thống nhứt ý kiến”.


Đề nghị 6 điểm

Năm sau, qua sự giàn xếp của Luật sư Dương văn Đàm, nguyên Đổng lý Văn phòng của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà, vài lãnh đạo đảng ở Hà nội lại muốn gặp tôi.
Lần này, quả thật chúng tôi, hai bên gặp nhau. Nhưng trong một tình huống khác hơn. Những người gặp tôi, tôi đều không biết họ là ai, chức vụ gì. Họ thay phiên nhau gặp tôi. Thái độ lịch sự theo xã giao. Họ muốn biết về vai trò thật của tôi, về đường lối của Huê kỳ đối với họ . Đặt biệt là các vị lãnh đạo Mặt Trận Tổ quốc.
Tôi cho họ biết Huê kỳ sẽ bỏ cấm vận, tái lập bang giao nếu hai bên thỏa thuận một số điều kiện trao đổi với nhau. Làm được việc này chắc chắn sẽ có lợi cho dân tộc Vìệt nam, cho đất nước Việt nam.

Nhơn đây, tôi đưa cho những người nói chuyện với tôi bản đề nghị 6 điểm để dân chủ hóa Việt nam do tôi soạn. Một người, có lẻ có địa vị quan trọng nhứt ở đây, nhận lấy, đọc qua. Sau vài phút suy nghĩ, ông ta trả lời với tôi là những ý kiến của tôi có giá trị.
Vài tháng sau, Ông Dương văn Đàm đi qua Hoa kỳ gặp tôi. Ông ở nhà tôi tại St Paul, Minnesota. Chúng tôi thảo luận một chương trình cho Việt nam “tiến bộ và theo kịp tình hình thế giới ”. Tôi tạm thời đưa ra trước một chương trình 6 điểm để dân chủ hóa Việt nam. Sau đó, Ông Dương văn Đàm mời tôi đi qua Việt nam chuẩn bị một hội thảo để nhơn dịp đó Tướng Westmoreland đi Việt nam và gặp Ông Giáp. Sự kiện này nói lên như một dấu hiệu tích cực rằng Việt nam sẽ từ từ thay đổi và đồng thời sẽ mở cửa Mặt Trận Tổ quốc cho những người Quốc gia có thể cùng sanh hoạt chánh trị chung trong chương trình dân chủ hóa đất nước.
Phía Ông Dương văn Đàm, thì muốn cựu Tổng Thống Mỹ Nixon qua Việt nam. Tôi hỏi ý Ông Nixon. Ông trả lời “khi nào Việt nam có dân chủ, tôi sẳn sàng đi”.
Tôi đi Việt nam tháng 11 - 1993 để thảo luận thêm chi tiết nhưng việc không thành. Trong lúc tôi ở Hanoi, Ông Lê Đức Anh ở Bắc Kinh. Ông vâng lời các lãnh đạo Bắc kinh phải dẹp ngay chương trình ôn hòa nhằm mở đường cho Hà nội đi với Mỹ. Và còn chống quyết liệt mọi âm mưu hiểm độc làm “diễn biến hòa bình”.
Hậu quả là Việt nam bị yếu đi trong nhiều mặt.


Ngày nay, có nên nhắc lại 6 điểm ấy không ?

Tình hình Việt nam ngày nay vô cùng khẩn trương hơn lúc nào hết. Xã hội phân hóa nghiêm trọng, các giá trị đạo đức thật sự không còn nữa, nhiều viên chức tôn giáo trở thành công cụ an ninh của chế độ, kinh tế suy trầm, chánh trị cường điệu với Tây phương, lệ thuộc Bắc kinh. Những người ái quốc lương thiện, nhứt là tuổi trẻ, bị bộ máy kìm kẹp khổng lồ của đảng cộng sản đàn áp thô bạo, dả man hơn thời thực dân, chỉ nhằm phục vụ quyền lợi bắc kinh . Đảng do chính Hồ Chí Minh thành lập nay đã thật sự trở thành một công cụ của Hán Ngụy.

Trước tình hình đó, nhiều người yêu nước chơn chánh, cả trong đảng, lần lượt lên tiếng đòi hỏi nhà cầm quyền Hà nội phải thay đổi sớm để kịp tránh đất nước mất trọn vẹn vào tay Tàu.
Ngày 28/7/2014, 61 người, đứng đầu là Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, ký tên chung một bức thư gỏi đảng cộng sản Hà nội kêu gọi đảng hảy từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong những người ký tên, có Ông Nguyễn Đắc Xuân, nhà nghiên cứu về Huế, hung thần ở Huế trong vụ Mậu Thân 68, nay lên án chế độ một thời ông hết lòng phục vụ “đảng Cộng Sản Việt Nam không thể tiếp tục nhân danh chủ nghĩa xã hội để nắm độc quyền nữa, vì làm như thế là bất chính”.
Mà “ bất chính ” không có nghĩa khác hơn, mà rõ hơn, đúng nghĩa hơn là “ bất lương ”. Con người bất lương là cá nhơn bị xã hội đề phòng, xa lánh, bị luật pháp dòm ngó . Còn cả cái đảng mà lại đảng lãnh đạo toàn xã hội, đại diện cho quyền lợi của dân tộc mà bất lương thì xã hội trở thành “đểu ”, đất nước suy vong và khó tránh sẽ bị giải thể.

Tiếp theo, Thiếu Tướng Lê Duy Mật, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu II, Tư lệnh Mặt trận đánh Tàu năm 1979-1984, yêu cầu đảng cộng sản và Nhà nước Hà nội hảy tổng kết cuộc chiến biên giới 1979-1984 để rút kinh nghiệm cho mục tìêu phục vụ Tổ quốc và nhất là phải công khai hóa đầy đủ nội dung việc ký kết Thành Đô tháng 9/1990 theo đó Vìệt nam thật sự lệ thuộc Tàu mà tới nay sự thỏa thuận này vẫn còn giử kín với nhơn dân.

Việc tổng kết trận đánh Tàu bảo vệ Tổ quốc vô cùng cần thiết và sẽ rất hữu ích khi mà kẻ thù vẫn là một, đang cận kề chứ không xa xôi. Bên cạnh đó, cần có các chính sách đối với gia đình liệt sĩ và những người chống xâm lược năm 1979 – 1984 . Đề nghị nhìều lần nhưng vẫn không được giải quyết . Không phải vì không có tiền mà vì đảng và chính phủ không dám làm trái ý Bắc kinh.

Dân chúng đều biết mọi tiêu cực trong xã hội hiện nay đều do Tàu đem tới làm cho xã hội băng hoại, kinh tế suy thoái . Đã thế, nhà cầm quyền Tàu lại còn sỉ nhục cả dân tộc Việt nam mà đảng cộng sản Hà nội vẫn cúi mặt, không biết nhục : “Việt Nam là con hoang, loại vô liêm sỉ, phải cho thêm vài bài học”.

Thêm một thư tố cáo nữa được phổ biến lại trong vài hôm nay ( ngày 6/8/2014). Lão thành cách mạng 91 tuổi, 67 tuổi đảng, Cụ Phạm Hiện (số nhà 5, hẻm 2/245/6, Đt : 04 38 583 750) Phố Khương Trung, tố cáo Phó Thủ tướng hiện nay Hoàng Trung Hải là người tàu chệt làm nội gián cho Bắc kinh.

Cụ nói rõ Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương đã cho điều tra và xác nhận lý lịch của ông khai vào đảng là hoàn toàn ngụy tạo. Sự thật ông Hoàng Trung Hải, Phó Thủ tướng tại Hà nội hiện nay, là người Tàu, quê tại Long Khuê, Chương Thâu, Phúc Kiến, Trung Quốc. Bố đẻ của ông Hoàng Trung Hải là người Trung Quốc tên là Sì Sói (tên Việt là Hoàng Tài), trong lý lịch Đảng viên năm 1952 còn lưu trữ ở Cục Cán bộ Bộ Quốc phòng đã khai dân tộc Trung Hoa, trong lý lịch khai lại tháng 4/1954, khai Hoa Kiều.

Một đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, không trung thực với Đảng, với tổ chức, dấu giếm, khai man lý lịch, vi phạm Điều 1 Quy định số 57-QĐ/TW ngày 03-9-2007 của Bộ Chính trị khóa X, thông thường phải bị đuổi khỏi đảng mà sao lại được cho giữ đến chức Phó Thủ tướng ? Phải chăng Hoàng Trung Hải được giử ở địa vị đó theo chỉ thị của Bắc kinh để thật sự cai trị Việt nam?
Hoàng Trung Hải còn khoe : “Cụ Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh ủng hộ tôi và nói đã đưa vấn đề lịch sử chính trị bản thân và gia đình tôi (nội gián Tàu Chệt) vào két sắt khóa lại vĩnh viễn. Từ nay sẽ chẳng còn một ai “dám” hoặc “có thể” lật lại được vấn đề nữa …”.

 
Trước sự phẩn uất của những nhà cách mạng ái quốc thật sự, của đông đảo dân chúng khi biết sự thật đảng cộng sản bán nước cho Tàu, nhiều người đã không ngần ngại đòi hỏi đảng cộng sản phải từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa , thay đổi dân chủ để cứu nước, tôi thấy tôi phải nhắc lại đề nghị “Dân chủ hóa Vìệt nam” của tôi đã một lần đưa ra năm 1993 để hiến dâng cho đất nước và dân tộc Việt nam như một đóng góp nho nhỏ hiện nay. Với tôi, đề nghị này có được cho là có giá trị đem lại dân chủ cho Vìệt nam hay không, có thực hiện được hay không, điều đó không quan trọng lắm. Điều quan trọng với tôi là tôi được dịp thật lòng đóng góp vào đại cuộc Việt nam một lần nữa.

Chương trình 6 điểm

Tôi biết chắc chắn cho tới nay vẫn chưa có nhiều người cộng sản có thật lòng muốn thay đổi Việt nam có dân chủ . Người cộng sản quen nghĩ nếu thay đổi chế độ, tức không còn độc tài để kiểm soát xã hội, sẽ bị dân chúng nổi dậy trả thù, cướp đoạt lại tài sản mà họ có được nhờ làm cộng sản.
Họ không hiểu được trong một xã hội dân chủ pháp trị mọi người đều được luật pháp bảo vệ . Vì hiểu người cộng sản nên tôi đã đưa ra một chương trình thay đổi từng bước để giử ổn định xã hội,bảo vệ đời sống mọi người .

Hơn nữa, họ không tin rằng nhân dân có thể tha thứ cho họ những việc làm bất nhân, bất nghĩa trước kia mà Đảng đã làm đối với Miền Bắc sau 54 và đối với dân cả nước Việt nam từ sau 75 . Vì vậy, muốn dân chủ hóa chế độ ở Việt nam, ta phải cần có một chương trình nặng tính khoan hồng, nhân đạo, có đạo đức, có tâm hồn như Cụ Nguyễn Du nói : Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Bước Một :
Mặt Trận Tổ Quốc, sau khi thỏa thuận với đảng cộng sản, điều này rât dể vì Ban lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc gồm đảng viên Trung ương đảng cộng sản, đứng ra tổ chức một Dân tộc Đại hội để tiến tới thực hiện Đại đoàn kết toàn dân . Khi chuẩn bị làm việc này, chánh phủ bắt đầu trả tự do cho tất cả tù chánh trị, tôn giáo, bất đồng chánh kiến, nhứt là những thanh niên, sinh viên, học sinh chống giặc tàu xâm lược, đồng thời mời những người, những nhóm, những Diển đàn dân sự cùng tham dự Đại hội Dân tộc để cùng suy nghĩ chuẩn bị cho những bước kế tiếp.

Bước Hai :
Thực hiện Đại Đoàn kết Dân tộc, Mặt Trận Tổ quốc sẽ phục hồi vai trò của thành viên trong Mặt Trận để họ sanh hoạt đúng theo luật pháp, chu toàn nhiệm vụ đúng theo thiên chức của họ . Tự do sanh hoạt Tôn giáo, tự do báo chí, tự do nghiệp đoàn, tự do lập hội và hội họp . Trước giờ, các tổ chức xã hội này bị bắt buộc đứng trong Mặt Trận Tổ quốc để chịu sự kiểm soát của đảng cộng sản mà thôi . Xã hội nhờ đó sẽ nảy nở . Đất nước sẽ trở lại với đời sống hoàn toàn bình thường và tự nhiên . Mặt trận Tổ quốc sẽ không cần thiết tồn tại nữa hoặc không cần giử vai trò củ khống chế xã hội nữa . Có thể tồn tại mà phải sanh hoạt bình thường như một tổ chức xã hội dân sự trong thể chế dân chủ tự do.

Bước Ba :
Luật pháp quốc gia quản lý xã hội. Mọi người, mọi tổ chức đều sanh hoạt trong luật định . Nhà nước thi hành luật pháp nhưng phải tuân thủ luật pháp . Không có một cá nhơn hay một tổ chức nào có thể đứng trên luật pháp.
Đảng cộng sản vẫn sanh hoạt như một chánh đảng, tôn trọng qui chế chánh đảng do Quốc hội ban hành. Có luật chánh đảng và luật hội họp, nhiều tổ chức quần chúng ra đời, hoạt động theo mục đích riêng của từng tổ chức nhưng phải chấp hành tuyệt đối luật pháp quốc gia . Các chánh đảng khác sẽ cạnh tranh với đảng cộng sản cùng tranh cử để nắm chánh quyền. Chánh quyền do dân chọn lựa như vậy mói đúng và thật sự là chánh quyền của toàn dân.
Sanh hoạt xã hội sẽ như trăm hoa đua nở . Người người tranh đua phát triển khả năng của mình để mưu cầu phúc lợi tối đa cho gia đình . Đất nước do đó sẽ phát triển tối đa, sớm vượt lên với hàng cường quốc. Dĩ nhiên những người cộng sản sẽ không thiếu cơ hội và điều kiện thi thố tài năng phục vụ đất nước hoặc kinh doanh làm giàu một cách chánh đáng .

Bước Bốn :
Thi hành quyền dân tộc tự quyết bắt đầu từ cơ sở . Chánh quyền xã ấp sẽ thành lập trước do dân tự do ứng cử và bầu lên . Các tổ chức đưa người ra tranh cử . Ủy ban tổ chức bầu cử sẽ theo dỏi, quan sát diển tiến bầu cử cho đúng theo luật pháp. Nếu muốn, Mặt Trận Tổ quốc có thể vẫn giới thiệu ứng cử viên cho một hay hai kỳ bầu cử.
 Xã hội khi tự tổ chức chọn người cai trị chính mình là xã hội trưởng thành và thật sự văn minh . Tới đây, công an, quân đội bắt đầu trở về đúng cương vị của mình vì mọi người đã ý thức được vai trò và nghĩa vụ công dân của mình . Ngân sách các ngành an ninh tiết giảm, nhơn viên nghỉ hưu nếu cao tuổi , ai còn tuổi lao động chuyển đổi nghành có sản xuất sau những lớp đào tạo nghiệp vụ chuyên môn . Vì từ nay, công việc theo dỏi, khủng bố, đàn áp xã hội không còn cần thiết nữa .
 Sĩ quan, lính, và nhơn viên an ninh/tình báo sẽ ra khỏi Đảng Cộng sản và không vào đảng nào cả.
Đồng thời, các công ty Quốc doanh sẽ được tư nhơn hóa lấy tiền về cho chánh phủ tái đầu tư để tăng cường phát triển đất nước.

Bước Năm :
Tổ chức bầu lại Quốc hội với sự tham gia hoàn toàn tự do dành cho mọi công dân hợp pháp . Những người củ như đảng viên cộng sản, thành viên Mặt Trận Tổ quốc, quân nhơn, cảnh sát, …có thể tham dự nếu lý lịch tốt, không tội hình sự, để góp công phát triển đất nước .
Xã hội thật sự không còn bị đảng cộng sản khống chế nữa . Chánh quyền thật sự pháp trị . Quốc hội thật sự đại diện quốc dân . Chánh quyền sẽ tổ chức theo nguyên tắc dân chủ trên nền tảng tam quyền phân lập, ba cơ quan quan độc lập nhau (Theo cộng sản, ba cơ quan tổ chức theo phân nhiệm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản).

Chánh quyền tổ chức dân chủ, các thẩm phán, luật sư, tất cả các ngành nghề,…không có thể giử đảng tịch của mình và sẽ làm việc tuyệt đối tuân thủ luật pháp . Mọi thăng thưởng tùy khả năng .
Vấn đề an sinh xã hội sẽ được ưu tiên tổ chức nhằm giải quyết đời sống cho mọi người đã làm việc từ tuổi lao động . Cán bộ đảng viên củ hưu trí đều có phụ cấp hưu trí và bảo hiểm sức khỏe .

Bước Sáu :
Quốc hội đã bầu lại mới, Hiến pháp phải được Quốc hội sửa đổi cho phù hợp với chế độ dân chủ dân bản, tức do dân và vì dân . Các nước Đông âu thuộc Liên-xô củ đã thành công tốt đẹp trong việc tổ chức lại quốc gia dân chủ mà hoàn toàn giử được ổn định, xã hội phát triển mạnh . Người cộng sản củ sanh sống hài hòa với cả những nạn nhơn trước đây của họ . Không có trả thù, cướp đoạt tài sản phi pháp như dưới chế độ công sản độc tài trước đây .
Các phiên tòa án do “ jury ” quyết định mọi sự kiện tụng.

Xin thưa lại lần nữa . Nay nhắc lại những suy nghĩ này, tôi không dám tin « 6 bước của tôi » sẽ được xem là một giải pháp dân chủ hóa Việt nam và sẽ được mọi người đồng tình chấp nhận để có cơ hội thực thi . Người cộng sản đang cầm quyền hiện nay ở việt nam có tấm lòng thật sự muốn thay dân chủ hóa Việt nam hay không là tùy họ . Họ có tự do cá nhơn suy nghĩ, cầu nguyện hạnh phúc cho dân tộc, làm việc phải trái, ác lành . Nếu họ khôn ngoan biết đánh giá đúng tình hình, tôi hy vọng họ sẽ nắm bắt được cơ hội trước mắt để phục hồi lại đất nước . Được như vậy, họ thật sự mới là những người làm lịch sử vẻ vang cho dân tộc . Tên tuổi của họ sẽ được đời sau ghi nhớ mải mải .

Thật lòng tôi chỉ ước mong những suy nghĩ của tôi sẽ được đông đảo bà con đọc qua và phê phán thật lòng . Mọi thảo luận luôn luôn sẽ đưa tới những điều hay, mới, ích lợi hơn .

 MN, Hè 2014

Stephen B. Young


Bùi Duy Tâm và Tôi


Năm 1964 ông Bùi Duy Tâm từ Mỹ trở về Sài gòn, sau khi hoàn tất học vị Tiến sĩ Y khoa và Tiến sĩ Sinh hoá (Biochemistry). Đầu tiên ông Tâm dạy tại Đại học Y khoa Sài gòn, sau đó ông ra Huế làm Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế cho đến cuối năm 1972.
Ông rời Huế về Saigon để làm Khoa trưởng Đại học Y khoa Minh Đức.
Dạo đó tôi đang làm Hiệu trưởng một trường trung học tại Saigon, cho nên nói về nghề nghiệp, thì tôi với ông cũng là … đồng nghiệp.

Vào năm 1972 ông Tâm cho mở một trung tâm huấn luyện bóng bàn dành cho thiếu nhi trong tòa nhà khánh tiết tại Vận Động Trường Cộng Hòa Sàigòn. Tòa Đại Sứ Tây Đức viện trợ 10 bàn đúng tiêu chuẩn quốc tế. Các em thiếu nhi đến tập dượt không phải trả tiền muớn bàn, mà còn được cấp banh, và nước uống. Ông Tâm cũng xin Bộ Thanh Niên biệt phái danh thủ Mai Văn Hòa và Vũ Đình Nhạc đến chỉ bảo huấn luyện cho các em.

Nhà tôi ở đường Triệu Đà (đối diện với nhà ông Trang sĩ Tấn, nguyên giáo sư trung học, nguyên Chuẩn tướng Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành Saigon). Từ nhà tôi đi bộ đến sân vận động Cộng Hoà chỉ có năm mười phút, cho nên vào những buổi chiều, tôi thường xách vợt đến đó chơi ké với các em thiếu nhi.
Từ đó tôi có dịp quen biết giáo sư Tâm, vì thỉnh thoảng sau giờ dạy tại đại học Y khoa Saigon, ông Tâm cũng thường lái xe ghé qua để theo dõi sinh hoạt trung tâm bóng bàn.

Quen biết nhau chưa được mấy năm, thì xảy ra biến cố 30 tháng 04, giáo sư Tâm và tôi không hẹn mà gặp trong trại tù cải tạo Trảng Lớn (tỉnh Tây Ninh). Chúng tôi ở trong L3/T2 tức là Trung đoàn 3 Tiểu đoàn 2. Bên kia hàng rào là Tiểu đoàn 1, có luật sư kiêm ca sĩ Khuất Duy Trác, mỗi chiều thường chỉ huy đội hợp ca Tiểu đoàn hát bè các bài nhạc cách mạng.
Bên này hàng rào, chúng tôi cũng không thiếu nhân tài. Có giáo sư Đặng thông Phong (chưởng môn Hapkido ở Việt nam), gs Vũ Đình Lục (dạy toán Võ bị Đà lạt), gs Bùi Duy Tâm (khoa trưởng Y khoa Minh Đức), Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt nam Lê Quang Uyển, hoạ sĩ Trịnh Cung Nguyễn văn Tiến, Phan Hải cháu ruột của Phan Mạch (Chủ nhiệm văn phòng Thủ tướng Phạm văn Đồng) và người bạn thân của tôi là giáo sư Phan Đình Hoài (Hoài là cháu ruột của ba ông lớn (Không dùng từ này): Lê Đức Thọ Phan Đình Khải, Mai Chí Thọ Phan Đình Đống và Đinh Đức Thiện Phan Đình Dinh).

Mấy tháng đầu trong tù, chúng tôi chỉ lo đào giếng, cắt tranh lợp nhà, xây cất hội trường và lao động trồng rau xanh. Dự tính đi học 10 ngày rồi về, mà chẳng thấy học hành gì cả.
Một buổi chiều, sau khi cơm nước xong, giáo sư Bùi Duy Tâm rũ tôi đi dạo chơi như thường lệ. Chúng tôi đi luồn lách giữa các vườn rau xanh. Khi chỉ còn có hai đứa, giáo sư Tâm khẻ nói: Moa sẽ về trong một hay hai tuần nữa, moa có vài lời khuyên toa

- Thứ nhất, hãy tập nhịn ăn. Trưóc kia ăn ba bát cơm thì nay tập ăn hai bát hoặc ít hơn, bên ngoài người dân cả nước còn đói, huống chi bọn tù như mình.
- Thứ hai, hãy tập nhịn nói, vì trong tù đầy rẫy bọn ăn ten. Càng nói nhiều càng mang hoạ vào thân.
- Thứ ba, toa hãy ráng giữ gìn sức khoẻ, giữ vững tinh thần, để chờ ngày về với gia đình. Có thể toa sẽ phải học tập trong hai ba năm hay lâu hơn nữa. Hãy giữ vệ sinh để tránh bệnh tật. Ở đây mắc bệnh thì chỉ có chết.

Tôi ngạc nhiên về những thông báo của anh, làm sao anh biết anh sẽ về, làm sao anh biết tôi sẽ học tập trong vài ba năm.
Giáo sư Tâm cho biết trước ngày mất miền Nam, anh có viết một dự án xin nước Pháp tài trợ và trang bị một phòng thí nghiệm y khoa, một thư viện cho đại học Minh Đức và Pháp đã chấp thuận. Bây giờ “Cách mạng” cần anh về để làm thủ tục nhận lãnh các quà tặng này. Giáo sư Tâm cũng cho biết trong gia đình anh có một người thân làm lớn trong chính quyền mới, người này đã báo cho anh biết rõ chính sách và thời gian cải tạo “ngụy quân ngụy quyền” và cũng chính người thân này đã “đứng tên” giùm nhà cửa, xe ô tô của anh trước khi anh đi trình diện học tập.

Quả thật, đúng hai tuần sau, giáo sư Tâm xách hành trang cá nhân lên trình diện Tiểu đoàn. Anh chỉ kịp dúi cho tôi một bao thuốc tây gồm một ít thuốc cảm, thuốc ho và kiết lỵ là những thứ tối cần cho người tù cải tạo.
Ba năm sau, tôi được tạm tha trở về thành phố mang tên Bác. Tôi gặp lại giáo sư Tâm đi dạy đại học Nha Y Dược. Anh mặc áo sơ mi trắng, bỏ bên ngoài chiếc quần tây màu cứt ngựa. Anh cỡi xe đạp đến trường, vai mang xắc cốt, trông không khác gì một anh cán ngố miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Mấy năm sau, khi đã định cư ở Úc, tôi lại nghe nhiều tin giật gân về giáo sư Tâm. Anh đã định cư ở Hoa kỳ. Anh leo lên núi Mont Blanc cao hơn 4800 mét và là người Việt nam đầu tiên lên Bắc cực (có giấy chứng nhận của Cơ quan Quản lý Bắc cực). Anh còn ra vào Việt nam nhiều lần để môi giới bán giúp (Không dùng từ này) Việt nam kho đạn Long Bình. Rồi giáo sư Tâm đi biển Đồ sơn chơi với nữ văn sĩ Dương Thu Hương và bà Hương đã thu băng những lời “hàn huyên” của ông Tâm. Chính nhờ những cuồn băng này mà bà Dương thu Hương không bị (Không dùng từ này) Việt nam “thủ tiêu”.

Đến đây tôi xin mời độc giả xem trích đoạn bài văn do chính bà Dương thu Hương viết:

“Trời đã giúp tôi thành công. Trong chuyến đi chơi Sông Ðà với các ông Bùi Duy Tâm và Bùi Duy Tuấn, tôi đã mất 3 cuốn băng ghi toàn những chuyện ba hoa, hươu vượn. Nhưng vào đoạn chót của cuốn băng thứ 4 ông Tâm đã thú nhận: Anh đã cho Dương Thông rất nhiều tiền (Dương Thông là Trung tướng Công an).
Sau chuyến đi đó chừng vài ngày, họ bắt tôi . Trong thời gian ấy tôi đã kịp sao băng ghi âm ra vài bản, gửi ra 3 nước: Pháp, Tiệp và Mỹ.
Do sự can thiệp của chính phủ Pháp, đặc biệt là bà Daniel Mitterand và phong trào nhân quyền thế giới, ngày 20/11 họ buộc phải thả tôi ra, sau gần 8 tháng giam giữ không xét xử. Lúc đó ông Bùi Thiện Ngộ là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ông Ngộ cử thiếu tá Sơn tới gặp tôi :
- Theo đúng pháp luật thì chị có quyền kiện Nhà nước. Nhưng Bộ trưởng muốn tìm một khả năng mềm dẻo hơn có lợi cho cả 2 bên.
Tôi cười . Tôi hiểu cái sự kiện tụng ở xứ sở này ra sao . Tôi yêu cầu cuộc thanh toán với Dương Thông. Bộ Nội vụ chấp thuận.
Vào mùa Xuân năm 1992, đại diện của Bộ Nội vụ là ông Bùi Quốc Huy (tức Năm Huy) - Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, tiếp tôi có sự tham gia của Ðại tá Nguyễn Công Nhuận, người ký lệnh bắt và phụ trách nhóm người tra hỏi tôi trong nhà giam. Trong cuộc gặp này, tôi nói :
- Tôi hiểu rất rành rọt tôi đang chơi trò trứng chọi đá. Bởi thế, lúc nào tôi cũng chuẩn bị cho cái chết của tôi . Tuy nhiên, tôi lại không ưa chết một mình. Nên tôi cũng trù liệu để sau cái chết của tôi, ít nhất cũng phải có dăm bảy đứa khác phải chết theo để tiếp tục chiến đấu dưới âm phủ, nếu không dưới đó rất buồn. Tôi có vũ khí của tôi. Trong tay tôi có 2 cuộn băng ghi âm. Cuộn thứ nhất liên quan tới một trong những kẻ tạo dựng ra Nhà nước này, sư tổ của những người như ông. Nó tố cáo nhân cách một trong các bậc lương đống của triều đình chỉ là loài đểu giả, tâm tính hiểm ác, vô luân. Cuộn thứ 2, chắc ông cũng đoán được, ghi lại cuộc nói chuyện của ông Bùi Duy Tâm với tôi, trong đó ông Tâm khẳng định là đã cho ông Dương Thông rất nhiều tiền. Đấy hẳn là món thù lao cho việc ông Dương Thông đã 2 lần cứu ông Tâm ra khỏi trại giam, thêm nữa, đón rước ông Tâm đi tới tất cả những lầu cao thềm rộng từ dinh cơ bà Nguyễn Thị Ðịnh tới Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng, từ nhà riêng các vị chóp bu Nhà nước xuống tới đám quan chức kề cận, để bàn định những đại sự như bán kho vũ khí Long Bình, bán dầu thô và những nguyên liệu khác... Như vậy tôi có trong tay bằng chứng về người tiền nhiệm của ông, gương mặt tiêu biểu cho quyền lực của chế độ này.

Hai băng ghi âm đó đã được chuyển tới 3 nước: Pháp, Tiệp, Mỹ. Nếu các ông đủ lực xin cứ việc truy tìm. Nhưng tôi không tin điều ấy. Các ông không có tiền. Nhân viên sứ quán Việt Nam ở nước ngoài đơn thuần là bọn buôn lậu, quay cuồng trong cơn lốc cóp nhặt đô la . Ở nước ngoài, các ông bất lực. Còn ở đây, các ông có thể tổ chức tai nạn xe máy để kẹp chết tôi, có thể đầu độc tôi, có thể làm bất cứ một điều gì khác nữa nhưng vào thời điểm tôi chết, chắc chắn phải có kẻ đồng hành. Không tức thời, nhưng sớm hay muộn cũng sẽ có. Và thêm nữa, những người thân của tôi ngoài biên giới sẽ lần lượt công bố các cuốn băng kia.
Cả 2 người đàn ông lặng thinh rồi một người mở chai nước, một người mời tôi ăn nho . Họ hỏi tôi về sức khoẻ, con cái, nhà cửa ... làm như là một cuộc tán gẫu giữa mấy người hàng xóm. Tuy nhiên, tôi chẳng phải là một đứa bé nên tôi hiểu cái thái độ người thường gọi là: đánh trống lảng... ấy . Bất cứ kẻ đạo đức giả nào cũng sợ sự thật. Tất thảy mọi quốc gia, mọi thể chế đều có bọn đạo đức giả. Nhưng chắc chắn, không ở đâu con người buộc phải trở thành đạo đức giả như ở đây, một xứ sở mang xiềng xích của 2 thể chế: Phong kiến và CS.

Trước khi về, tôi nói thêm :
Xin nhắc lại rằng, tôi đứng trước guồng máy của các ông chỉ là trứng chọi đá. Nhưng vì đã dấn thân vào cuộc chơi này, tôi bắt buộc phải học lấy vài món nghề của các ông. Vậy, các ông theo rõi tôi, tôi cũng theo rõi lại các ông. Tôi biết ông (Năm Huy) thường uống rượu ở đâu, chơi gái ở đâu . Trong hội Quý Mùi (những người sinh năm 1943) ông vẫn tụ họp với những ai và đem theo loại rượu nào. Thành thực mà nói, trên phương diện này, đôi khi trứng còn mạnh hơn đá. Các ông rất nhiều tiền, các ông thèm khát sống, thèm uống rượu Tây, thèm chơi gái, thèm xây nhà lầu ... Tôi là kẻ phá sản, tôi không uống rượu cũng không chơi điếm, tôi có thứ sức mạnh mà sư tổ của các ông thường vẫn gọi "sức mạnh của giai cấp vô sản". Riêng về luận điểm này, tôi thấy Mác đúng. Bởi vì, nói một cách sòng phẳng, với tất cả những thèm muốn ấy các ông sợ chết hơn tôi”. (Hết trích).

Đọc qua đoạn văn trên của bà Dương thu Hương, tôi quả thật nể nang giáo sư Tâm. Từ một người tù cải tạo, anh giao du với Bộ Trưởng Công an VC. Anh dùng đô la Mỹ để mua chuộc và lèo lái cái đám lãnh tụ Bắc Bộ phủ vào quỷ đạo của anh.
Cũng may nhờ cơ duyên gặp gỡ anh, mà bà Dương thu Hương đã có được những cuồn băng ghi âm quý giá. Những cuồn băng này đã giúp bà Hương tránh được cái chết (vì tai nạn giao thông như bà Nông thị Xuân, vợ bác Hồ) và được định cư tại Pháp quốc.
Ngày xưa trong tù, giáo sư Tâm đã khuyên tôi ba điều: nhịn ăn, nhịn nói và giữ gìn sức khoẻ. Ngày nay, tôi chỉ dám nhắc nhở ông Tâm một điều “tên anh là Duy Tâm, xin anh hãy cẩn trọng khi giao du với những con người Duy Vật”.

Nguyễn Đồng Danh