Khi con người muốn làm con bò

Hoàng Lân
2015-03-13
 
30-4-19752.png
Trình diện ngày 30/4/1975

Tôi là một bác sĩ y khoa. Thời chiến ở miền Nam, hầu hết các bác sĩ đều phải vào quân đội, nhiệm vụ săn sóc sức khỏe cho quân nhân và gia đình, đôi khi làm dân sự vụ khám bệnh miễn phí cho người dân. Trên mặt trận, ngoài việc điều trị thương binh, có lúc tôi gặp bộ đội hoặc cán bộ cộng sản bị thương và bị bắt, tôi vẫn chăm sóc cho họ mà không cần biết trước mặt mình là ai, bạn hay thù.

Sau  ngày 30 tháng 4 năm 1975, như số phận nổi trôi của đất nước, như hoàn cảnh của hầu hết người dân miền Nam, tôi được lệnh phải trình diện chính quyền mới được gọi là “chính quyền cách mạng” để được đi “cải tạo” trở thành “người mới xã hội chủ nghĩa”. Theo thông cáo của ủy ban quân quản, các sĩ quan như tôi cần mang theo tiền bạc đủ cho 30 ngày ăn. Mọi người hăm hở tranh nhau “đăng ký” mong rằng đi sớm sẽ về sớm trong vòng một tháng.

Sau thời gian dài được gạn lọc, tra hỏi, và khi đã hoàn tất “9 bài học căn bản” tôi được tàu đổ bộ cũ của hải quân VNCH đưa từ Trà Nóc (Cần Thơ) xuống vùng U Minh, thuộc An Giang Rạch Giá Cà Mau với nhiệm vụ dựng lên những lán trại dành cho các toán tù cải tạo khác xuống trụ lâu dài. Chỗ ở chúng tôi là những căn chòi xiêu vẹo mất nóc, xung quanh trống trơn dựng trên các mô đất cao chống ngập, chúng tôi phải cấp tốc sửa chữa che mưa che nắng, đêm đêm rắn bò dưới chiếu nằm không dám nhúc nhích.

Mỗi ngày chúng tôi phải rời trại thật sớm lên rừng tràm xa 5 cây số và trở về trước 5 giờ chiều. Ở đây trời sập tối rất nhanh, muỗi  bay vo vo trên đầu như chuồn chuồn, chúng liều mạng bám vào da thịt hút máu không thể đuổi kịp. Mỗi ngày mỗi người chúng tôi phải mang về nhà 3 cây tràm từ 5 đến 10 thước, bề tròn khoảng một ôm nhỏ dùng làm cột trại chờ đón các toán khác.

Rừng tràm U minh dầy đặc, ẩm thấp, tối tăm, đầy rẫy sinh vật rắn, rết, bò cạp.. cực độc. Đường lưu thông chỉ là những con kinh rạch ngang dọc được đào trước đây sâu tới ngực, ngang cỡ vài mét, lâu ngày không xử dụng nước màu đen sẫm như nước cống, bốc mùi sình hôi hám, ruồi nhặng bay vo ve.

Chúng tôi chui vào rừng đẫm nước màu đỏ của cây tràm, dùng rựa đốn mỗi người 3 cây, cùng xúm nhau kéo từng cây ra bờ kinh. Trong rừng có loại dây leo gọi là dây “trại” giống  như dây mây, dẻo dai, tôi dùng bó 3 cây thành một rồi đẩy xuống lòng kinh. Tuy nặng nhưng cây nổi dưới nước, tôi quàng vào cổ rồi cố sức kéo bồng bềnh theo dòng kinh, chẳng khác gì con trâu kéo cày bì bõm dưới ruộng nước.

Một hôm trời mưa tầm tã, tôi trầm mình dưới dòng kinh hôi hám cố kéo khối cây về trại cho kịp ngày. Trên bờ, hai bộ đội du kích lầm lì tay cầm súng AK như sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ tù nhân nào có ý trốn trại.

Lúc đó tôi cảm thấy buồn và nhục. Một người bình thường cũng không thể bị đối xử như vậy huống chi một bác sĩ như tôi. Ít ra trong xã hội tôi cũng giúp ích được cho bệnh nhân, chăm sóc sức khỏe cho nhiều người, chưa nói được kính trọng, nâng niu.

Vậy mà hôm nay dưới chính quyền được gọi là cách mạng, hứa hẹn mang hạnh phúc ấm no về với nhân dân, sự thật phũ phàng cho thân phận người dân miền Nam được xếp vào thành phần “Ngụy”, từ nông thôn đến thành thị, tất cả đều hưởng một cuộc “đổi đời” đích đáng. Tôi không cầm được giọt nước mắt, nước mắt chan hòa lẫn với nước mưa lạnh giá, cố nuốt trôi đi nỗi chua xót đắng cay của kiếp con người.

Cùng lúc ấy trên bờ kinh có đàn bò đang gặm cỏ. Những con bò thư thái, bình yên hình như chúng không biết cảnh đau lòng xung quanh, của loài người mà chúng từng hợp tác kéo cày sản xuất lúa gạo; chúng vẫn ung dung, lâu lâu ngước nhìn những con người đang hì hục kéo cây tràm dưới dòng kinh rồi tiếp tục cúi đầu nhai cỏ.

Trước cảnh đàn bò ăn cỏ, cảnh bộ đội cầm AK sẵn sàng nhả đạn, nhìn số phận của mình và các bạn tù, tự nhiên tôi có ý tưởng muốn được đổi đời, một cuộc đời mới hạnh phúc hơn: tôi muốn được trở thành con bò để được tự do gặm cỏ, lâu lâu ngước nhìn thế thái nhân tình mà không phải lo âu, tủi nhục như chúng tôi hiện nay.

Một làn gió mạnh thổi tạt qua. Những hạt mưa nặng trĩu làm da mặt tôi buốt rát, tôi chợt tỉnh. Tôi đang là con người, đang được “cải tạo” để trở thành người của xã hội mới.

Năm 1979 khi ca sĩ Joan Baez phỏng vấn trên đảo tỵ nạn ở Nam Dương, tôi thuật lại câu chuyện “muốn làm con bò” ở trên cùng một số câu chuyện mà tôi trực tiếp kinh nghiệm dưới chế độ ở Việt Nam sau 1975. Joan Baez cũng hỏi nhiều người tỵ nạn khác. Tất cả đều thuật lại những câu chuyện tương tự nhưng khác hoàn cảnh, tất cả đều nói lên tiếng nói như nhau: chế độ ở Việt Nam sau 1975 thật sự chỉ là một chế độ tàn bạo, nhà cầm quyền khéo léo che dấu từ nay đã lộ rõ. Người ca sĩ từng hoạt động phản chiến, từng ca ngợi Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, từng chống Hoa Kỳ có mặt tại miền Nam đã phải cảm động, bà đã thức tỉnh, bà cùng nhiều trí thức trên thế giới đăng thư ngỏ trên tờ Washington Post phản đối nhà cầm quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam làm bừng tỉnh lương tâm nhân loại.

Hôm nay tôi viết lại câu chuyện này trên đất nước người, không còn phải cực khổ như xưa, nhưng tôi có thể hình dung được vẫn còn biết bao nhiêu đồng bào của tôi tại quê nhà đang muốn được làm con bò như tôi trước đây.

Tháng 3, 2015.

(Câu chuyện thật của một bác sĩ ở Việt Nam sau ngày 30-4-1975)

RFA.org /Vietnamese


MIỀN NAM VÀ MIỀN BẮC

Nguyễn Hưng Quốc

Mới đây, đọc trên blog của nhà phê bình Vương Trí Nhànở trong nước, tôi bắt gặp một đoạn nhan đề “Gợi ý từ một nhà kinh tế” với một số nhận xét bất ngờ và thú vị. Đoạn viết khá ngắn, tôi xin phép được chép nguyên văn:
“Ông Đặng Phong, một nhà lịch sử kinh tế qua đời. Tôi biết ông nhân một lần đọc cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 do ông chủ biên, thấy có nhắc thoáng qua một điều gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết: trước 1975, kinh tế miền Nam đã ở trình độ cao hơn kinh tế miền Bắc.
Tự ngẫm nghĩ, thì thấy đúng thế, không thể khác được, không thể nói ngược như chúng tôi vẫn nói, hoặc lảng tránh cho là cấm kỵ, và lấy những chuyện khác nói át đi.
Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.
Như vậy dễ dàng công nhận là trình độ sống của bà con trong ấy cao, nhất là dân thành phố. Dấn thêm một bước, trong đầu tôi thấy vụt lên cái ý, liệu có thể nói rằng, xét trên phương diện hiện đại hóa, là con đường tất yếu mà xã hội phải trải qua, nhân dân miền Nam đã đi xa hơn, đạt tới tầm mức văn hóa cao hơn? Như vậy bản thân khái niệm văn hóa mà lâu nay tôi vẫn hiểu cũng phải được xem xét lại chăng ?
Tôi sẽ tự phản bác lại nhiều lần trước khi đi đến kết luận …
Nhưng càng đọc Đặng Phong ý tưởng trên càng không rời khỏi tôi.”
Đúng như Vương Trí Nhàn nói, điều Đặng Phong và ông nhận xét “gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết”. Bản thân tôi đã nghe một nhận xét như thế từ một bậc tài hoa nhưng nổi tiếng bảo thủ ở miền Bắc: nhà phê bình Hoài Thanh. Sau năm 1975, Hoài Thanh và bà vợ dọn vào Sài Gòn ở. Có hai hay ba lần gì đó, đâu khoảng 1980, một người thầy cũ thường rủ tôi đến thăm ông. Câu chuyện thường lan man từ văn học đến xã hội. Một lần, Hoài Thanh chép miệng nói, đại khái: “Bản chất của chế độ nguỵ là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào.”
Đặng Phong so sánh về kinh tế, Hoài Thanh nói về văn hóa ứng xử, còn Vương Trí Nhàn bàn về văn hóa nói chung. Người ta có thể thắc mắc: Vậy, ở những lãnh vực khác thì sao? Như văn học, mỹ thuật hay âm nhạc, chẳng hạn? Có gì khác giữa miền Nam và miền Bắc cũng như giữa miền Nam trước đây và cả nước bây giờ?
Trong một bài phỏng vấn do Thụy Khuê thực hiện, in trên tạp chí Hợp Lưu số 103 ra vào tháng 1 và 2, 2009, sau, đăng lại trên trang Viet-studies của Trần Hữu Dũng (http://www.viet-studies.info/VTNhan/VTNhan_VanHocMienNam.htm), cũng chính Vương Trí Nhàn đã nêu lên một nhận xét sơ khởi. Theo ông, so với văn học miền Bắc, văn học miền Nam thể hiện “rõ hơn” và “đầy đủ hơn” những “đau khổ của con người” và những “tình thế bi thương, đau đớn, cả sự bơ vơ, bất lực, trong đời sống”. Khác với văn học miền Bắc, văn học miền Nam, một mặt, tiếp nối được truyền thống cách tân trong văn học tiền chiến; mặt khác, tiếp cận được với văn học thế giới, “sử dụng các quan niệm các phương thức của văn hóa phương Tây để diễn tả đời sống con người hiện đại”. Văn học miền Nam cũng có những yếu tố hiện thực và nhân đạo mà văn học miền Bắc không có.
Tất cả những nhận xét nêu trên, về kinh tế, văn hóa hay văn học đều khá sơ lược. Một sự so sánh công bằng và chính xác cần nhiều nỗ lực hơn nữa. Vần cần xuất phát từ một tầm nhìn cao hơn nữa. Tiếc, những nỗ lực và tầm nhìn ấy, cho đến nay, vẫn còn tiềm ẩn đâu đó. Trên sách vở cũng như trong học đường, văn học và văn hóa miền Nam vẫn còn để trống, không ai nhắc đến, hoặc nếu nhắc, cũng nhắc với sự xuyên tạc và mạ lị như trong thời kỳ còn chiến tranh.
Cũng xin nói luôn, trích lại đoạn văn của Vương Trí Nhàn cũng như kể lại lời nhận xét của Hoài Thanh, tôi không hề muốn khoét sâu vào óc kỳ thị địa phương vốn đầu độc mối quan hệ giữa những người cùng một nước.
Thứ nhất, sự kỳ thị và chia rẽ vùng miền ở Việt Nam đã quá trầm trọng; chúng ta không cần và cũng không nên làm trầm trọng thêm nữa. Nó không có ích gì cả. Ở một thời đại toàn cầu hoá như hiện nay, khi mọi người đang tìm cách xoá mờ dần ranh giới và những khoảng cách giữa các quốc gia cũng như giữa các nền văn hoá, luôn luôn đề cao sự khoan dung và cởi mở, cổ xuý cho cách nhìn liên văn hoá (intercultural) và xuyên văn hoá (cross-cultural) mà người Việt mình cứ lại nhấp nhổm với chuyện Nam/Trung/Bắc thì không những vô duyên mà còn nguy hiểm, không những lạc hậu mà còn phản tiến hoá.
Thứ hai, không nên quên, liên quan đến con người, bất cứ sự khái quát hoá vội vã nào cũng đều bất cập và rất dễ sai lầm: ở miền Nam, không hiếm người thô bạo, thậm chí, thô bỉ, ngược lại, ở miền Bắc, không hiếm người cực kỳ nhã nhặn và lịch sự, rất “hiện đại” và ở tầm văn hoá cao.
Thứ ba, cũng không nên quên, trước đây, ít nhất là trước năm 1954, ở miền Bắc, đặc biệt, ở Hà Nội, người dân nổi tiếng là thanh lịch. Sau này, gặp lại một số người Hà Nội thuộc thế hệ cũ, tôi vẫn bắt gặp cái dáng vẻ thanh lịch truyền thống ấy. Ngôn ngữ họ thanh lịch. Tác phong họ thanh lịch. Cách hành xử của họ cũng thanh lịch. Nét thanh lịch ấy không còn thấy ở các thế hệ trẻ hơn.
Cho nên, những khác biệt giữa hai miền, Nam và Bắc, không nằm ở con người. Cũng không nằm ở truyền thống, nơi ưu thế rõ ràng là nghiêng hẳn về phía miền Bắc. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở chế độ. Liên quan đến chế độ, ở khía cạnh chúng ta đang bàn, yếu tố quan trọng nhất là văn hoá, trong đó nổi bật nhất là văn hóa chính trị, tức những cách diễn dịch cũng như những quy phạm và quy ước mà mọi người cùng chia sẻ về quyền lực và trách nhiệm. Những quy ước và những quy phạm ấy không phải tự nhiên mà có. Chúng là những gì người ta thụ đắc trong môi trường giáo dục, từ gia đình đến học đường và xã hội. Trong việc thụ đắc ấy, vai trò của chế độ đóng vai chủ đạo: Chính chế độ, cụ thể là nhà nước, quyết định về chương trình giáo dục cũng như nội dung của truyền thông đại chúng, qua đó, hình thành những mẫu người mà họ cần và muốn. Trong suốt hơn nửa thế kỷ, lúc nào nhà cầm quyền cũng tuyên dương hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhìn lại, chúng ta chỉ thấy có một điểm trong mẫu hình con người mới ấy thành hiện thực và được phổ biến: tính thiếu thật thà.
Nghiên cứu về văn học cũng như văn hóa miền Nam trong tương quan so sánh với miền Bắc hay cả nước hiện nay không phải nhằm phục hồi chế độ miền Nam vốn đã thuộc về quá khứ xa lắc và cũng không nhằm gây chia rẽ vùng miền. Mà, theo tôi, chỉ nhằm hai mục đích chính: thứ nhất, công bằng với lịch sử; và thứ hai, để nhận diện đầy đủ hơn những thất bại trong chính sách văn học và văn hóa hiện nay, từ đó, tìm cách khắc phục.
Cứ quay lưng lại với thực tế và cứ ra rả với những khẩu hiệu láo khoét rỗng tuếch về những thành tựu đầy ảo tưởng, chúng ta chỉ kéo dài sự thất bại mà thôi.

Blog Nguyễn Hưng Quốc/VOA Vietnamese


Nhà Thơ Đỗ Trung Quân:

Suy nghĩ về ngày30/4/1975 

Trong chương trình VHNT hôm nay (15/3/2015) khách mời của chuyên mục Ký Ức 40 năm là nhà thơ, nhà báo Đỗ Trung Quân nói về những suy nghĩ của anh về những gì xảy ra trong 40 năm qua dưới cái nhìn của một nghệ sĩ, một người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
Là một thanh niên vừa 21 tuổi trong ngày 30 tháng Tư năm 1975, Đỗ Trung Quân là một trong những thanh niên hưởng ứng sớm nhất phong trào Thanh niên xung phong lên đường xây dựng kinh tế theo sự cổ động của nhà nước và rồi sau đó cuộc sống kéo nhà thơ vào công tác báo chí cũng như sáng tác mà điểm cao nhất là bài thơ nổi tiếng “Quê Hương” của anh được Giáp Văn Thạch phổ nhạc. Đỗ Trung Quân còn được biết là người dẫn chương trình dễ mến trong các buổi trình diễn của Duyên Dáng Việt Nam và các chương trình TV khác. Trong suốt 40 năm sau ngày thống nhất đất nước ấy, Đỗ Trung Quân thú nhận rằng đôi khi anh cũng vô tình đối với những mảnh đời, những số phận cũng như những bi kịch xã hội mà trong đó anh đang sống.
Trao đổi với chúng tôi, trước tiên nhà thơ cho biết:

Đỗ Trung Quân: Thưa anh cũng không ngờ 40 năm qua nhanh tới mức như thế. Khi chúng ta trò chuyện với nhau ở đây không ngờ đã gần nửa thế kỷ rồi. Năm 1975 thì tôi 21 tuổi đang còn là sinh viên và không tìm được công việc bởi vì trong điều kiện giao thời lúc đó những người như chúng tôi xin việc rất khó. Sau đó chúng tôi gia nhập một lực lượng thay vì gọi là nghĩa vụ quân sự thì gọi là nghĩa vụ kinh tế đó là Thanh niên xung phong. Lúc đó quan niệm của tôi đơn giản là có một công việc, thứ nhất là bớt một gánh nặng cho gia đình phải nuôi mình mặc dù đã trưởng thành nhưng không có công việc. Thừ hai cũng nghĩ là thôi thì đất nước đã thống nhất, đóng góp cho sự tái thiết cho hậu chiến cũng là nghĩa vụ của thanh niên. Lúc đó suy nghĩ rất nhiệt huyết và đơn giản thôi thì đóng góp một chút không chỗ này thì chỗ khác, không khía cạnh này thì khía cạnh khác đối với đất nước sau chiến tranh. Rồi mọi thứ trôi qua tôi trở về thành phố và làm việc ở một tờ báo, trước đó thì làm việc ở một nhà in như mọi người và sau đó thì vể làm việc với tư cách một nhà báo của một tờ báo lớn sau này đó là tờ Tuổi Trẻ. Trong cái môi trường báo chí nó giúp cho mình tiếp xúc nhiều trong lĩnh vực của mình. Lĩnh vực của tôi là văn hóa xã hội. Những gì liên quan tới văn hóa, tới xã hội thì mình trực tiếp tiếp xúc với nó. Trong suốt thời gian đó tôi trở thành một nhà thơ, thành một người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật và như anh cũng biết tôi tham gia những chương trình như Duyên dáng Việt Nam hay những chương trình truyền hình. Khi ấy mọi thứ nó hiện ra bình thường, mình cũng không nghĩ gì nhiều, nhiệm vụ của mình tới đâu mình làm tới đó và tôi nghĩ rằng đối với tôi trong suốt thời tuổi trẻ của mình như thế mình đã hoàn toàn cắt đứt sự hồn nhiên giống như một người đã trả món nợ của xã hội sau chiến tranh đóng góp cho xã hội những gì mình cho là tốt đẹp.

Mặc Lâm: Vâng anh vừa thố lộ rằng anh bắt đầu đóng góp cho xã hội, cho đời những gì tốt đẹp trong hai mươi năm đầu tiên sau khi thống nhất, vậy hai mươi năm tiếp sau đó anh có nhận thấy đóng góp của anh tác động như thế nào và anh có hài lòng không?
Đỗ Trung Quân: Vâng. Trong suốt hai mươi năm đầu tiên với tâm huyết của một người trẻ tuổi, có phần hồn nhiên tôi nghĩ rằng mọi sự rất tốt đẹp. Tôi cũng không biết được nhiều những thông tin khác, những vấn để khác, những số phận khác mặc dù tôi biết đã có những phong trào đánh tư sản. Những phong trào của người Việt phải rời bỏ đất nước làm thuyền nhân lúc đó thông tin không nhiều lắm hầu như chỉ có thông tin duy nhất của báo chí trong nước. Sau này với điều kiện của thông tin truyền thông phát triển hơn tôi dần dần được biết, được tiếp xúc, lại được biết thêm những số phận, những vấn đề khác nó liên quan đến con người. Tôi đã từng viết xum họp nơi này thì nơi kia ly tan. Trong cái linh cảm của năm 1997 tôi có viết một bài thơ nhưng rất tiếc tôi vẫn không thuộc thơ của mình nhưng trong đó có một câu là “Xum họp nơi này thì nơi kia ly tan”. Ở trong nước, hai miền thì có thể gọi là xum họp thì ở Sài Gòn có những người lại ly tan. Tất cả những điều đó khiến cho mình suy nghĩ. Nó cho tôi có một chút ray rứt rằng là có khi mình quá vô tư, có khi mình quá hồn nhiên để có lúc lãng quên đến số phận. Những số phận khác, những số phận ấy cũng là người Việt mà thôi. Cũng là bạn bè anh em đồng bào của mình mà có lúc mình đã lãng quên nó. Nếu có sự ray rứt nào đó trong 40 năm qua thì thưa anh đó là cái ray rứt trong tôi cho đến ngày tôi nhận thức ra nó. Phải thật sự xóa bỏ hận thù?

Mặc Lâm: Vâng, chắc chắn ngày 30 tháng Tư năm nay nhà nước sẽ có những chương trình kỷ niệm rất rầm rộ phải nói là rất lớn tuy nhiên tới giờ phút này thì chúng ta cũng chưa biết hình thức tổ chức của nó sẽ ra sao, nhà nước có còn coi đó là ngày đánh đuổi đế quốc Mỹ và bọn ngụy như 39 năm trước đây hay không hay sẽ có một hình thức khác nhẹ nhàng hơn, nhân văn hơn trước đây. Tôi xin đặt một câu hỏi có vẻ giả định: Nếu anh được là người toàn quyền tổ chức ngày 30 tháng Tư năm nay anh sẽ chọn hình thức nào?
Đỗ Trung Quân: Thưa anh đây là câu hỏi giả tưởng nên tôi cũng xin được trả lời bằng câu giả tưởng nếu tôi được quyền như thế, nếu tôi là người tổ chức thì nó dài lắm thưa anh. Nó phải thật sự xóa bỏ hận thù. Thực sự tìm cách để đất nước đến phồn vinh, đến cho những người dân, nói thì có vẻ công thức nhưng đến nền kinh tế phát triển hơn so với khu vực thôi chứ chưa cần phải nói đâu xa. Không bằng những khẩu hiệu vô hồn, vô giá trị nhưng hôm nay chúng ta vẫn thấy. Bằng cách nào đó thì chúng ta sẽ làm nhưng mục đích của nó là gì? Chúng ta phải thật sự đi đến xóa bỏ hận thù. Không phải gác lại mà phải quên nó đi. Chúng ta song phẳng với những gì đã sai lầm. Tôi chỉ nói đơn giản là chẳng hạn như tôi là người có sai lầm với anh Mặc Lâm thì bây giờ là lúc tôi sám hối nó. Khi tôi sám hối thì anh Mặc Lâm sẽ tha thứ còn nếu không sám hối thì mọi thứ chỉ là chuyện đùa mà thôi. Một ví dụ khái quát như vậy thay cho câu trả lời của tôi.

Mặc Lâm: Anh nói thì như vậy nhưng thời gian qua nhà nước chưa bao giờ chính thức tuyên bố là những người bị rượt đuổi khỏi đất nước là kẻ thù cả mà họ dùng một nhóm từ rất hoa mỹ là “khúc ruột ngàn dặm”. Họ cũng có những chính sách, những cơ quan nối liền với hải ngoại, kêu gọi kiều bào thế này thế khác… không lẽ bao nhiêu đó vẫn chưa đủ để chúng ta thấy rằng nhà nước đã mở tay đối với mọi người hay sao thưa anh?
Đỗ Trung Quân: Tôi thấy hình thức là như thế nhưng sự chân thành chưa đủ thưa anh. Sự chân thành sẽ dẫn dắt cho chúng ta có những chính sách, những thái độ nó đúng đắn hơn nếu thật sự có chân thành.

Mặc Lâm: Tôi được biết anh là một người bạn rất thân với nhà văn Nguyễn Quang Lập, trước đây bị bắt vì trang blog Quê Choa nhưng nay đã được tại ngoại. Trong ngày 30 Tháng Tư này Nguyễn Quang Lập sẽ hít thở không khí bên ngoài thay vì bên trong nhà tù, việc cho nhà văn tại ngoại có đáng được xem là một cử chỉ từng bước hòa giải hay không thưa anh?
Đỗ Trung Quân: Tôi không nghĩ rằng đấy là một sự hòa giải, tôi nghĩ đấy là thiện chí còn hòa giải thì lớn lao hơn. Hòa giải còn đòi hỏi một hình thái tích cực hơn. Hình thái đó thế nào thì trong khuôn khổ một câu trả lời ngắn chắc tôi không nói được hết nhưng trở lại vấn đề thì tôi xem đó là một thiện chí đối với nhà văn Nguyễn Quang Lập và nó chỉ dừng ở mức thiện chí mà thôi. Tôi cũng xin tiết lộ ngày 30 tháng 4 cũng là ngày sinh của nhà văn Nguyễn Quang Lập. Vâng ngày sinh của Nguyễn Quang Lập là ngày 30 tháng Tư năm 1956.

Mặc Lâm: Vâng xin cám ơn anh Đỗ Trung Quân đã cho mọi người biết điều lý thú này. Nhân đây anh có thể cho biết thêm một ít riêng tư giữa các anh với nhau…
Đỗ Trung Quân: Thưa anh chúng tôi trong những lúc chuyện trò không phải lúc nào cũng đồng ý với nhau đâu. Tôi và Nguyễn Quang Lâm tranh cãi rất thường vì anh Lập là người miền Bắc còn tôi là người miền Nam. Tụi tôi hay nói đùa là anh Lập giải phóng tôi mà. Có những quan điểm tôi tranh cãi với anh Lập nhưng tôi trông chờ nhà nước làm được như chúng tôi là tranh cãi nhưng không thù oán nhau. Tranh cãi để đi tìm những điều chúng ta đồng thuận, cho dù chưa đồng thuận chúng ta vẫn không thù oán nhau mà tiếp tục trao đổi tiếp. Nhưng chúng ta là đồng bào. Đấy là cái mà chúng tôi cho rằng đã làm được nhiều hơn nhà nước làm được đối với kiều bào của mình.

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà thơ Đỗ Trung Quân về cuộc phỏng vấn này.

Mặc Lâm - RFA