Đi nhận xác Thầy

Tôn Thất Sang

Kính dâng hương hồn các vị Giáo Sư Đức Quốc:

Giáo Sư Gunther Krainick và Phu Nhân:
- Thạc sĩ Y Khoa Đại Học Greifswald 1943
- Thạc sĩ Y Khoa Đại Học Freiburg 1951
- Giáo Sư Nhi Khoa Đại Học Freiburg 1954
- Giáo Sư Nhi Khoa Đại Học Y Khoa Huế

Giáo Sư Raymund Discher:
- Giáo Sư Bệnh Lý Nội Thương Đại Học Y Khoa Huế
- Trưởng Khu Bệnh Lý Nội Thương Đại Học Y Khoa Huế

Bác Sĩ Alterkoster:
- Phụ Tá Giáo Sư Bệnh Lý Nội Thương
- Bác Sĩ thường trú khu Truyền Nhiễm

Là những vị đã đóng góp công lao và tâm trí rất nhiều vào việc khai sáng Đại Học Y Khoa Huế...
Những vị, với lương tâm chức nghiệp cao quí và lòng vị tha vô bờ đối với bệnh nhân, đã mãi là gương sáng của chúng tôi.
Những vị đã bỏ mình nơi quê người vì tâm hồn bác ái và tình nhân loại (Tết Mậu Thân 1968)

***

Lần giở những trang trân trọng đầu tiên của cuốn luận án Y Khoa; nhìn tên, tước vị của các Giáo Sư người Đức, bỗng nhiên tôi thấy lòng bồi hồi dâng lên niềm đau xót vô vàn với những tiếc nuối khôn nguôi. Những thương yêu, kính mến, với biết bao kỷ niệm và lòng tri ân với các vị; đã vì thiện tâm, chấp nhận hy sinh, xa gia đình, xa bạn bè, xa tổ quốc thân yêu, để đem sở học và nguyện ước của mình, đi truyền rao để khai hóa tận một xứ sở kém mở mang, xa xôi hẻo lánh, đầy dẫy hiểm nguy, ở tận bên kia bờ Đại Dương. Ước nguyện của quí vị thật dễ thương và hiền hòa là làm sao tạo dựng những bác sĩ Y Khoa tài năng, để đem sở học phục vụ bệnh nhân, phục vụ con người, phục vụ Y đạo ở ngay xứ sở họ.
Thế nhưng, những hy sinh cao quí, từ những con người nhân ái đó, đã bị trả một giá quá đắt - bằng chính mạng sống của họ - bởi một chính quyền gọi là phát xuất từ nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân “chính quyền Cộng Sản”; đã lạnh lùng ra lệnh thủ tiêu họ, không chút tiết thương, trong biến động do chúng gây ra, cái gọi là “Mặt trận Toàn dân nổi dậy tổng công kích”vào cố đô Huế; trong dịp hưu chiến Tết Mậu Thân!?

Hạ tuần tháng 4 năm 1968.
Khoảng gần hai tháng, sau Tết Mậu Thân, cố đô Huế đã được quân lực VNCH tái chiếm (25 tháng 2 – 1968 dựng lại cờ tại kỳ đài chính của cố đô Huế; VC khai hỏa trong đêm Giao Thừa 29- 1- 68)
Huế, sau những ngày bị bọn quỉ đỏ tràn ngập, đã nhuộm máu đào và nước mắt!
Không có phường nào, xã nào, không có xóm nào, không có gia đình nào, là không có người thân ngã gục, cha xa con, vợ mất chồng hoặc bằng viên đạn, hoặc bằng con dao, hoặc bằng cán cuốc...Có hàng loạt ngưòi bị chôn sống, sau khi bị cột thành từng “xâu người”, nối kết lại bằng dây dừa, dây điện thoại...
- Nào Phú Thứ oán khí ngất trời, với tiếng khóc và màu tang phủ trắng cánh đồng!
- Nào chùa Áo Vàng (Tăng Quang Tự), nào lăng Tự Đức.
- Nào Trung Học Gia Hội, với hầm chôn tập thể, nơi mà trường học biến thành lò sát sinh, nơi mà bọn “phản sư diệt tổ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân...và Lê Văn Hảo (Chủ Tịch Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình tại Huế), đã triệt để vâng lời bác Hồ dạy: “Trăm năm trồng người” để chôn sống hàng loạt con người bằng xương bằng thịt với nỗi đau kinh khiếp, rợn người mà oán khí chất ngất của họ chắc sẽ đời đời theo níu chân bác và gia đình mà đòi nợ xưong máu!..
- Nào Khe Đá Mài, Bãi Dâu, Tây Lộc... mà mỗi địa danh là một âm vang của loài quỉ đỏ!
Huế tang thương lầy lội
Huế rách như xơ mướp!
Huế tiêu điều với tường xiêu, mái đổ
Huế với thép gai giăng mắc
Huế như mặt kẻ bị đậu mùa!
Huế với B40, với AK47, với CKC báng đỏ,
Huế đầy nước mắt với khăn tang,
Máu đỏ tanh hôi chảy ngập đàng,
Hoa cúc, mai vàng sao chẳng thấy?
Chỉ còn hoang lạnh với ly tan!
Trong cái cảnh hổn mang ấy, tôi đi giữa kinh thành Huế tang thương, đổ vỡ, lạc lỏng, bơ vơ, không định hướng như bị mộng du. Tôi đi mà lòng ngậm ngùi thương tiếc như lạc mất người yêu xưa! Tôi đi, nhìn, nghe, phân vân, bồng bềnh như trong cơn ác mộng!


Mậu Thân 1968: “Huế đầy nước mắt với khăn tang”

Bỗng tôi hoảng hồn vì tiếng Vespa rít lên bên cạnh, đồng thời với cái vỗ vai làm tôi giật bắn người:
- Đã biết tin gì chưa?
Tôi định thần nhìn lại, thì ra Đặng Ngọc Hồ, tôi hỏi.
- Tin gì mà có vẻ gấp rút thế?
- Tìm thấy xác của các thầy Krainick, Discher, Alterkoster và cả xác bà Krainick nữa!
- Trời ơi, có chắc không, ở đâu?
- Nghe đâu gần chuà Tường Vân, phía trên dốc Nam Giao. Rồi Hồ nói luôn:
- Ban đầu dân họ tưởng Mỹ, họ báo với tiểu khu. Tiểu khu liên lạc với Lãnh sự Mỹ, thì biết Mỹ tuy có thiệt hại khá nhiều, nhưng không có mất tích. Sau liên lạc với viện Đại Học mình và với Lãnh Sự quán Tây Đức thì biết Đức bị mất tích 4 công dân: 3 nam và 1 nữ. Bây giờ thì trùng khớp.
Tôi chưa kịp đình thần, thì trong tiếng còi inh ỏi, đã trông thấy Bùi Hửu Út xuất hiện như một cơn lốc trên chiếc xe gắn máy, lạng và thắng nhanh như chớp! Tôi và Hồ vừa vội vàng nhảy tránh cú lạng vừa nói cho Út biết...Đằng xa lại thấy Lê Đình Thiềng, chở Nguyễn Quang trờ tới...
Bọn tôi, vội vàng làm cuộc họp “bỏ túi” trên lề đường Trần Hưng Đạo, gần chi Thông Tin ở chân múi cầu Trường Tiền, bay giờ đã gãy một nhịp – vết ô nhục do đoàn cán binh Bắc Việt để lại, khắc một vết nhơ sâu đậm trong lòng người dân xứ Huế.
Khi đó vào khoảng mười giờ sáng, cái lạnh của những ngày đầu Xuân len lén như dao cắt vào da thịt, lại thêm cái nắng quái của ngày Xuân, sao hôm nay lại khác thường, nó nhợt nhạt, vàng vàng, tai tái như da của một xác chết. Nó như bàn bạc mùi tử khí của một thành phố đang ung mủ, đã có lắm người chết oan khiên uất hận; chúng tôi chợt nghĩ đến các thầy và thương quá là thương.
Tôi đề nghị anh Hồ qua tiểu khu hỏi lại tình hình an ninh vùng đó đã ổn chưa; Còn chúng tôi, lên xe, chở nhau, nhắm vùng Nam Giao trực chỉ.
Một hồi sau, Tiểu Khu cho một tiểu đội, trên chiếc xe Dodge, với vũ khí đầy đủ đi mở đường, nhắm hướng vùng chùa Tường Vân. Anh Thiếu úy bảo bọn tôi ngồi chờ ở ngã ba đường Nam Giao, ngả rẻ vào chùa Tưòng Vân để chờ họ báo tin. Khoảng nửa giờ sau, viên sĩ quan trở lại bảo tình hình an ninh an toàn, ụ không có mìn bẩy và hiện tiểu đội ông vẫn bám sát địa hình.
Đột nhiên ông buồn bã, ngậm ngùi nói:
- Quân tôi, cùng một số dân trong xóm, đang đào đất, thấy nhô lên bốn đầu tóc, trong đó có một đầu tóc màu bạch kim, thật tội nghiệp quá!
Bọn tôi nhìn nhau thở dài:
- Chắc là thầy Discher rồi!
Mái tóc màu bạch kim, hơi dợn sóng của người thầy tài ba thưong mến học trò, xem học trò như con, không ngừng ám ảnh tâm hồn chúng tôi đến xót xa.
Bọn tôi cám ơn viên Sĩ Quan và tất cả lên xe, nhắm hướng chùa Tường Vân trực chỉ.
Chùa Tưòng Vân nằm về hưóng tây nam núi Ngự Bình (hưóng Nam Giao, từ phố đi lên), đi quá chùa Sư Nữ một quảng xa thì rẽ phải, con đừờng mòn đất đỏ, thoai thoải dốc với nhiều ổ gà và nhiều bụi rậm.
Ngôi chùa với mái rêu phong, cỗ kính, chung quanh sân rộng là những ngọn trúc la đà. Ở giữa là ngọn giả sơn Ngư Tiều Canh Độc. Xa xa, về phía dưói ruộng là hàng tre bao phủ, xanh ngắt một màu, xen kẻ mấy cây lồ ô, thân vàng có sọc xanh, dịu dàng lay động trứoc gió. Cảnh chùa tuy đẹp, nhưng bọn tôi không còn lòng dạ nào thưởng ngoạn khung cảnh nên thơ! Vừa xuống xe tại sân chùa, đã nghe tiếng cuốc xẻn và thấy vài người dân địa phưong tụm năm tụm ba, cùng một vài anh em quân nhân đang xúm xít đào bới tận bờ hào tre, cách sân chùa khoảng 200 mét. Bọn tôi vội vàng chạy lại.
- Tội quá các anh ôi, 3 ông, 1 bà. Tất cả đều bị bắn giống nhau. Tụi VC thật quá dã man, côn đồ! tiếng một quân nhân phát biểu.


“... Trong chiếc hầm chật hẹp đó, 4 ngưòi ngoại quốc đều bị trói thúc ké, hai tay bị bẻ quặt ra sau lưng, bị siết chặc bằng giây điện thoại truyền tin...”

Tôi vội vàng nhìn theo tay anh chỉ, thấy ba quân nhân đang cùng một vài ngưòi dân, tay cuốc, tay xẻng, nhẹ nhàng xúc đất và cát lên từ một chiếc hầm đào vội; bề dài khoảng 3.0m, bề ngang khoảng 1.0m và bề cao khoảng 1.0m, vừa đủ cho thế quì thẳng đứng của một ngưòi ngoại quốc! Trong chiếc hầm chật hẹp đó, 4 ngưòi ngoại quốc đều bị trói thúc ké, hai tay bị bẻ quặt ra sau lưng, bị siết chặt bằng giây điện thoại truyền tin. Nhìn mặt họ đều bị biến đổi. Thái dưong trái là lổ đạn vào, thái dưong phải là lổ đạn ra, nên bị phá ra toang hoát; mắt lồi hẳn ra ngoài! Đưòng đi ngọt xớt của viên dạn do chính kẻ luôn luôn rêu rao lấy lưọng khoan hồng và nhân đạo làm nền tảng để xử thế, đã làm méo mó, biến dạng những khuôn mặt hiền hoà của các vị thầy chúng ta. Các Thầy đã “được giải phóng” bởi cái gọi là Mặt trận Giải phóng miền Nam của Bắc Bộ phủ!!! Chúng đã đang tâm đi “giải phóng” những con ngưòi chỉ biết đem tình thương và lòng nhân ái ra cứu chữa cho mọi ngưòi bệnh tật, nghèo đói.
Sau đó, chúng tôi cùng nhau, ngươi một tay phụ giúp anh em chuyển xác quí thầy lên xe của tiểu khu và đưa vào nhà xác của Bệnh Viện Trung Ương Huế.

“... Các Thầy đã “được giải phóng” bởi cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Bắc Bộ Phủ!!!...”
Cả thành phố Huế xôn xao, cả bệnh viện xôn xao! Nhiều ngưòi đã khóc nức nở. Có nhiều tiếng khóc thầm lặng ở khu nội thưong, phòng cấp cứu, khu truyền nhiễm, khu nhi đồng…

- Ôi, còn đâu nữa vị Bác Sĩ trưỏng đoàn, luống tuổi, hồn nhiên, thưong yêu sinh viên, đã luôn luôn tận tụy trong bài giảng, trong lâm sàn, suốt đêm ngày khám bệnh ở khu Nhi Đồng. Thân mật với sinh viên, vui đùa, xem như con; chúng tôi thưòng gọi ông là Bon Papa.
Có lần, trong khi chuông reo, chờ giáo sư đổi giờ vào giảng, chúng tôi thuờng nghịch ngợm “câu giờ”; mặc dầu chuông reo, nhưng chưa chịu vào lớp. Tôi cùng Lê văn Mộ, Trần Xuân Thắng, Hoàng Thế Định…đứng cheo leo trên mép thành cửa sổ lầu hai, nói chuyện phiếm. Ông đi lại nhắc nhở:
- C’est l’heure!
Chúng tôi giả bộ không nghe, ông vội trờ tới, nheo mắt, lo lắng mỉm cưòi nói:
- N’avez vous pas peur de tomber du ciel?
Tôi làm bộ sắp rơi từ cửa sổ đáp:
- Si, mais je veux voler dans le ciel plein de beaux nuages, mon bon papa.
Ông vội vàng chạy lại, hai tay nhẹ nhàng nhấc bỗng tôi lên, đặt xuống sàn nhà, hào hển nói:
- Oh, Il faut faire attention, mon pauvre enfant!
Bọn chúng tôi cười sảng khoái vì câu đựoc giờ, ù chạy vào phòng học. Bon Papa mệt nhọc theo sau!
Còn đâu những kỷ niệm êm đềm bên ngưòi Thầy yêu quí, ngưòi đã đem hết cuộc đời tận tuỵ để phụng sự khoa học. Lẽ ra Thầy phải về nước dưõng bệnh một thời gian, sau khi bị cơn bệnh “Japanese Encephalitis” vật vã một thời, tưỏng như gần “đi đứt”. Tuy nhiên ông đã ở lại vào dịp Tết Mậu Thân nghiệt ngã và bọn quỉ đỏ đã bắt Thầy cùng vị phu nhân can đảm, yêu thưong chồng, xin được đi theo để chăm sóc chồng, cho đến ngày cuối cuộc đời thì Bà cũng bị xử bắn luôn!
Xin vĩnh biệt thầy cùng phu nhân.
Nguyện cầu Thầy cùng phu nhân thanh bình trong cõi vĩnh hằng, ở nơi không còn hận thù, ở nơi mà bọn quỉ đỏ phải lánh xa.

- Ôi, còn đâu nữa, Bác Sĩ Raymund Discher - ngưòi BS trẻ tuổi, điềm đạm và trầm tĩnh, vui tính và nhân hậu nhưng nghiêm khắc, ngày đêm ở khu truyền nhiễm, với tương lai đang rực sáng, Nhớ lại những “Family Party” thầy và cô thỉnh thoảng mở ra, mời sinh viên một vài lớp đến dự trong căn apartment nhỏ ấm cúng, bên bờ sông Bến Ngự. Thầy và cô hạnh phúc bên nhau như đôi vợ chồng mới cưói, thức ăn nhẹ, ruợu chát đỏ, vừa chuyện trò với đám sinh viên và nghe những tấu khúc bất hủ của Mozart trong không gian của buổi chiều đang tắt nắng, chỉ còn lại ánh đèn vàng của gian phòng ấm cúng.. Hạnh phúc của thầy cô bình yên và miên viễn đến chừng nào.
Tuy nhiên định mệnh năm Mậu Thân đã khắc nghiệt cướp đi mạng sống của người chồng tài hoa. Thầy vừa mới đưa vợ về nước, và đáng lẽ thầy còn được nghỉ, mọi ngưòi đều khuyên nên ở lại, nói tình hình ngoài Huế không an ninh, nhưng thầy lại tìm đủ mọi cách ra Huế để giảng dạy sinh viên cho kịp thời khoá biểu riêng mà thầy đã lập sẳn!
Bọn quỷ đỏ đã nhẫn tâm hành quyết thầy bằng viên đạn xuyên thái dương đầy thù hận!
Nguyện cầu linh hồn Bác Sĩ Raymund Discher sẽ mãi mãi bình yên ở chốn vĩnh hằng.

- Ôi, còn đâu nữa Bác Sĩ Alterkoster, ngưòi Bác Sĩ trẻ tuổi, đẹp trai, tận tâm ở khu truyền nhiễm. Alterkoster với bộ râu quai nón đầy vẻ giang hồ của một tay hải tặc khí phách “Le Viking”, đôi mắt xanh biếc ánh lên nét thông minh và nhân từ; nhìn chung rất lôi cuốn và nhất định phải là một “good guy”. Alterkoster rất thân mật và hoà đồng với sinh viên, ông thưòng rũ sinh viên lên Kim Long, Thiên Mụ ăn chè, ăn bánh bèo...Tướng ông rất tốt, xem qua không thể chết yểu được, ngờ đâu lại bại dưới tay “sát thủ” của đảng và bác!
Nguyện cầu BS. Alterkoster sẽ mãi mãi ở nơi chốn Thiên Đàng.

Tối hôm đó, chúng tôi, hầu như tất cả các sinh viên Y khoa còn tại Huế, đều tề tựu đến bệnh viện trung ưong. Từ Đại Học Xá Nam Giao, trung tâm Xavier, trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Cán Sự Y Tế... các bạn ở mọi nơi trong thành phố, lần lượt biết tin, tập trung tại phòng trực bệnh viện để phân chia công việc và trực xác quí thầy, đang tạm quàng tại nhà xác bệnh viện.
Mờ sáng hôm sau, quan tài quí thầy được đưa lên quàn tại Toà Viện Trưỏng Viện Đại Học Huế.
Sinh viên Y khoa chúng tôi, quần sẩm, áo chemise trắng dài tay, cravat đen; nghiêm trang vòng tay đứng thành hai hàng, trực bên quan tài quí thầy. Những tràng hoa phúng điếu rải rác của các Toà Lãnh Sự, các Trưòng, các Hội Đoàn, Đoàn Thể, các Phân Khoa bạn...


Thầy Cô và Sinh Viên Y Khoa Huế bên cạnh bia tưởng niệm các GS, BS đã bị thảm sát trong biến cố Mậu Thân 1968

Đức Tổng Giám Mục Địa Phận Huế Nguyễn Kim Điền chủ tế.
Không khí lắng đọng, cảm xúc và trang nghiêm. Mắt mọi ngưòi đều rưng rưng, tiếng máy quay phim đều đều, âm thanh trầm buồn như lời nguyện cầu. Đột nhiên, có tiếng thổn thức ở phía cửa chính, mọi ngưòi xôn xao nhìn ra; nhiều ống kính hưóng theo, ánh sáng máy ảnh lập loè: Một thiếu nữ, trong bộ đồ đen tuyền, khăn tang trắng bịt ngang đầu, nức nở lảo đảo tiến vào; hai tay ôm chặt vòng hoa tím – Couronne Mortuaire – kết cườm đen có đính dãi băng màu tím với giòng chữ trắng “To You With All My Sacred And Humble Love”. Đức Tổng Giám Mục lặng lẽ nhìn, nét mặt ngài dịu đi. Mọi ngưòi xúc động bàng hoàng cùng với nhiều tiếng nức nở. Ai đây? Ngưòi thiếu nữ nhẹ đặt vòng hoa trước linh cửu của BS. Alterkoster rồi phủ phục xuống, ôm quan tài khóc nức nở!
Mắt tôi mờ đi, cảm xúc đến lặng ngưòi; nhìn người thiếu nữ, không còn trẻ lắm, với nét thuỳ mị, đoan trang và kín đáo, kín đáo như trong tình yêu thiêng liêng của chị, thắm thiết và buồn như màu tím của vành Couronne mortuaire. Những giọt nước mắt xót thương chị đang gởi cho ngưòi mình yêu vừa ngã gục trên mảnh đất của quê hương nầy. Máu đào của anh, vô tình đã tô thắm lên quê hưong Việt Nam mến yêu của chị!
Tình yêu của hai người kín đáo và thầm lặng như giòng sông xứ Huế, rất ít người được biết.
Ở đây, tôi xin phép chị Thảo – vâng, người ấy chính là chị – cho tôi viết ra điều nầy, phải chăng đó là những kỷ niệm cao quí nhất và thiêng liêng nhất của cả cuộc đời chị mà tôi tin rằng, nếu mọi người biết đến, cũng sẽ làm tâm hồn họ thăng hoa, bâng khuâng và xúc động, như khi họ khám phá ra một khu vườn hoa đầy hương sắc, kỳ bí, mong manh, dễ vỡ. Họ sẽ ngạc nhiên thích thú và trân trọng giữ gìn...
(Chị là chuyên viên phòng thí nghiệm trường Y, nhưng chị thường lên thư viện để tìm sách đọc nghiên cứu, và trò chuyện cùng chị Hưòng nên nhiều người cứ tưởng chị là quản thủ thư viện - là chị Hường).
Sáng hôm sau, hai chiếc máy bay màu trắng bạc “Air America”đưa bốn quan tài vào phi trường Tân Sơn Nhất. Ở đó, ngoài phái đoàn Đại Học Y Khoa Huế, còn có phái đoàn của sinh viên Đại Học Y Khoa Saigon chờ đón với vòng hoa phân ưu và biểu ngữ lên án bọn quỉ đỏ đã ra tay thảm sát những người làm công việc y tế, chỉ biết phụng sự khoa học, phụng sự nhân loại.
(**) Linh cửu của bốn vị được đưa ra phi cơ về cố quốc trên chiếc xe có bốn ngựa kéo, theo sau là 250 sinh viên Y Khoa Huế và Saigon, đội đưa tang và đội quân danh dự của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sinh viên cầm biểu ngữ nói lên lòng biết ơn công lao của quí vị...

Bia tưởng niệm các GS, BS Krainick, Raymund Disher và ALois Altekoester như trong hình đã bị đập và vất xuống hồ rau muống nằm giữa trường Y Khoa Huế và trường Cán sự Điều dưỡng sau ngày đất nước thống nhất. “Qúy Thầy đã bị chôn hai lần (1968 và 1975), nhưng mãi mãi tập thể Y Khoa Huế không bao giờ quên ơn của qúy Thầy đã góp công xây dựng trường, đào tạo những Bác Sĩ tài năng và đã hy sinh đời mình cho lý tưởng phụng sự Y đạo ngay trên quê hương chúng tôi.”

Bs Tôn Thất Sang



Ăn tết bằng xương máu Mậu Thân

thì… hoà hợp hoà giải với ai?

Phạm Trần

L’image contient peut-être : 1 personne, texte
Lũ quái vật ăn mừng thành tích giết người!!!

Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã tự tay bóp cò súng vào đầu mình khi mở tiệc liên hoan mừng “chiến thắng Mậu Thân 50 năm” mà mồm vẫn bô bô kêu gọi người Việt bỏ nước ra đi từ sau 30/04/1975 hãy “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai vì mục tiêu phát triển chung của cả dân tộc".
Đây là một bằng chứng nữa chứng minh người Cộng sản luôn luôn ối trá, nói một đảng làm một nẻo và lươn lẹo có truyền thống.
Họ cũng đã quên lời nói của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt năm 2005 vào dịp kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh: "Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu." (Phỏng vấn của báo Quốc tế số ra ngày 31/3/2005)
Vậy thì khi có những cái đầu Lãnh đạo “sỏi đá nhiều hơn óc thịt” muốn lấy máu xương Mậu Thân 1968 của đồng bào miền Nam để sắp cỗ mừng Xuân Mậu Tuất 2018 thì họ có mục đích gì ngoài việc "lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu"?

Miệng lưỡi hổ mang
Là người Việt Nam, ai cũng nhớ về cội nguồn dân tộc, ông bà, tổ tiên, dòng họ, chòm xóm và bạn bè, thầy cô mỗi khi Tết về. Nhưng ngoài những người còn sống, truyền thống dân tộc còn dạy chúng ta không quên người chết vì trong số họ, có cả những người đã hy sinh cho ta được sống sau 30 năm chiến tranh huynh đệ tương tàn do đảng Cộng sản Việt Nam chủ động và nuôi dưỡng.
Trong số những nạn nhân của cuộc chiến, kinh hoàng, bi thảm và tàn ác nhất là những người bị quân Cộng sản giết không nương tay khi họ tấn công vào cố đô Huế Tết Mậu Thân năm 1968.
Số người này được ước tính từ 5,000 đến 6,000 người chết và mất tích trong 25 ngày đêm thành phố Huế nằm trong tay lực lượng Cộng sản. Họ bị quân đội miền Bắc và tay sai nằm vùng coi là “kẻ thù của cách mạng” và “có nợ máu với nhân dân” nên phải bị tiêu diệt gồm Quân nhân, Cảnh sát, Công chức và đảng viên các đảng chính trị. Số còn lại là các Nhà tu hành, viên chức làng xã, một số Bác sỹ Việt Nam và nước ngoài và dân thường chưa hề ám hại ai.
Tất cả những người này đã bị quân Cộng sản thảm sát bằng nhiều hình thức, kể cả chôn sống hay đập đầu cho chết vì muốn tiết kiệm đạn để chiến đấu.
Phía Cộng sản miền Bắc chối biến không nhúng tay vào máu người cố Đô Huế mà đổ tội cho máy bay, đại bác và Quân đội Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ.
Bằng chứng trong cuốn phim tài liệu dài 12 tập “Mậu Thân 1968”, được nhà nước đầu tư và đã chiếu trên đài Truyền hình Việt Nam từ ngày 25 tháng 01 năm 2013, Nhà Đạo diễn (Bà) Lê Phong Lan (chủ Hãng phim Bản sắc Việt) đã mồm loa mép giải rằng: "Cái gọi là "cuộc thảm sát đẫm máu” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.”
Nhưng điêu ngoa cách mấy cũng không thoát được lưới Trời lồng lộng.

Đã có hằng hà sa số nhân chứng và tài liệu chứng minh hành động sát nhân của quân Cộng sản ở Huế Mậu Thân và khắp miền Nam trong chiến tranh. Nhưng Lê Phong Lan và những miệng lưỡi hổ mang của người Cộng sản hãy banh tai ra mà nghe “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn”, của Hoàng Phủ Ngọc Tường, một người Huế có học chạy theo Cộng sản, từng bị nhiều người nguyền rủa vai trò của anh ta trong vụ thảm sát Huế Mậu Thân.
Thư này được Tường nhờ Nhà văn trong nước Nguyễn Quang Lập phổ biến ngày 10/02/2018, trong đó có đoạn nói về thảm sát Huế: "Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng."
Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng nhìn nhận đã có những sai lầm khi trả lời Burchett trong cuốn phim “Việt nam một thiên lịch sử truyền hình” (Vietnam: A Television History; Tet, 1968; Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong) năm 1981.
Tường nói trong "Lời cuối cho câu chuyện quá buồn": "Khi nói về thảm sát Huế tôi đã hăng hái bảo vệ cách mạng, đổ tội cho Mỹ. Đó là năm 1981, khi còn hăng say cách mạng, tôi đã nghĩ đúng như vậy. Chỉ vài năm sau tôi đã nhận ra sai lầm của mình. Đó là sự ngụy biện. Không thể lấy tội ác của Mỹ để che đậy những sai lầm đã xảy ra ở Mậu thân 1968."
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng là thành viên của Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế đi theo Cộng sản từ trước Mậu Thân. Vào năm 1981, khi cuộc phỏng vấn của Burchett diễn ra là thời gian Tường xin vào đảng CSVN mà chưa được nên đã "hăng hái bảo vệ cách mạng, đổ tội cho Mỹ" để lấy điểm chăng?
Nghi vấn này được Hoàng Hải Vân, một cựu Bộ đội quân Cộng sản người Huế, viết trên Facebook ngày 11/02/2018.
Nguyên văn thế này: "Tôi không dám suy đoán về những gì mà tôi không biết. Tôi chỉ nhớ lại một chi tiết mà bản thân tôi có “dính” một chút xíu vào thời điểm nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường phát biểu “mạo nhận” và “lỡ lời” trên bộ phim nói trên. Hồi ấy tôi vừa ở bộ đội về. Một hôm nhà thơ Phan Duy Nhân (người bị bắn gãy chân và bị bắt trong sự kiện Mậu Thân ở Đà Nẵng, sau này làm Quyền Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ) mang một tờ giấy đến nhờ tôi đánh máy giúp (vì tôi biết đánh máy chữ và đánh ít khi bị lỗi). Đó là bản Xác nhận quá trình tham gia cách mạng của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, do anh Phan Duy Nhân “lôi kéo” và tổ chức. Tôi hỏi anh Nhân, rằng anh Tường là nhà văn nổi tiếng, đã thoát ly tham gia cách mạng rồi thì cần cái bản xác nhận này để làm gì ? Anh Nhân nói, ông ấy đang xin vào Đảng, cần cái xác nhận này để bổ sung lý lịch. Tôi thắc mắc, ảnh nổi tiếng thế sao giờ vẫn chưa vào Đảng, anh Nhân nói người ta phải xét tới xét lui rất lằng nhằng."
Trong cuộc phỏng vấn của Thụy Khuê, Đài Phát thanh Quốc tế Pháp (Radio France International) vào dịp kỷ niệm Mậu Thân 30 năm, Tường còn nhắc lại chuyện ông Lê Minh, một trong số các tư lệnh của quân Cộng sản tại chiến trường Huế Mậu Thân đã nhìn nhận “có sai lầm” và yêu cầu “minh oan” cho những nạn nhân.
Tường nói: "Lê Minh (lúc đó đã nghỉ hưu), còn nhắc nhở rằng, điều quan trọng có thể làm, và phải làm bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ."
“Đồng chí” của Tường là Nguyễn Đắc Xuân, người cũng bị nhiều nhân chứng Huế liệt kê vào hàng ngũ sát nhân cũng nhắc lại chuyện Lê Minh với BBC ngày 12/02/2018: "Năm 1988, tôi giúp Thành Ủy Huế làm một quyển sách về Huế Mậu Thân 1968. Khi đó, ông Lê Minh, người chỉ huy hồi 1968 đó đã yêu cầu những người cách mạng bây giờ là phải tổ chức minh oan cho những người đã chết. Rất tiếc, đến giờ này, chưa ai làm việc minh oan này cả."

Gương bà Nguyễn Thị Năm
Làm gì có 2 chữ “minh oan” trong từ điển sắt máu của người CSVN, như lịch sử đã chứng minh tội ác của đảng cầm quyền thời ông Hồ Chí Minh trong bi kịch Cải cách Ruộng đất 1953-1956?
Tài liệu chính thức ghi: "Tổng số người bị quy trong Cải cách ruộng đất đã được thống kê là 172.008 người; số người bị oan sai là 123.266 người, chiếm tỷ lệ 71,66%."
"Người đầu tiên bị dân chúng địa phương buộc tội chết trong cải cách ruộng đất là bà Cát Hanh Long, tức Nguyễn Thị Năm ở Thái Nguyên; bà bị người dân địa phương quy tội địa chủ gian ác, bị xử bắn mặc dù trong thời kháng chiến đã có nhiều công lao lớn với cách mạng Việt Nam.” (theo Bách Khoa Toàn thư mở)
Tài liệu của báo Luật sư Việt Nam (LSVN) ngày 18/09/2017 viết về công lao của bà Năm thế này: "Trước khi CM thành công, bà Năm đã ủng hộ Việt Minh 20.000 đồng tiền Đông Dương (giá trị bằng 700 lượng vàng) không kể vải vóc, lương thực. Tại “Tuần lễ vàng” ở Hải Phòng theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 9/1945, bà Năm cũng đã ủng hộ 100 lạng vàng nữa. Bà được cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Nguyên ba năm liền. Các ngôi biệt thự của bà ở Hà Nội, Hải Phòng, ở đồn điền Đồng Bẩm đều là nơi qua lại, ăn ở, địa điểm liên lạc của cán bộ Việt Minh cao cấp. Hai con trai bà là Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Văn Cát đều theo Việt Minh đi bộ đội. Nguyễn Hanh từng tháp tùng đoàn đại biểu Chính phủ do các ông Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận... vào Huế nhận ấn kiếm khi vua Bảo Đại thoái vị."
Trong số những người được bà Năm nuôi ăn, cho chỗ ở và giúp đỡ trong nhiều năm có Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh v.v…
Người bị dư luận lên án vô ơn bạc nghĩa nặng nhất trong vụ án bà Nguyễn Thị Năm là Hồ Chí Minh, người cầm quyền khi thi hành Cải cách Ruộng đất. Ông Hồ đã không dám cứu bà Năm vì nhu nhược trước áp lực của cố vấn Trung Hoa muốn đưa bà Năm ra xử làm gương.
Nhà báo Bùi Tín kể: "Ông Hoàng Quốc Việt kể lại rằng hồi ấy ông chạy về Hà Nội, báo cáo việc hệ trọng này với ông Hồ Chí Minh. Ông Hồ chăm chú nghe rồi phát biểu: "Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức."
Cũng có lời kể lại: "Hồ Chủ tịch đã nói với nhiều đồng chí Trung ương: “Người ta không nên đánh phụ nữ dù bằng một cánh hoa hồng, huống hồ phát súng đầu tiên của cải cách ruộng đất lại nhằm vào một phụ nữ, mà người ấy lại rất có công với cách mạng".
Chuyện kể là như thế, nhưng thật hư khó chứng minh. Chỉ có điều chắc chắn là ông Hồ, vì sợ mất lòng cố vấn Tầu Lã Quý Ba nên đã “làm ngơ” để cho Bà Nguyễn Thị Năm bị đưa ra pháp trường thi hành án tử hình tối ngày 29/5 năm Quý Tỵ (ngày 9/7/1953) tại Thái Nguyên khi 47 tuổi. (báo Luật sư Việt Nam (LSVN), ngày 18/09/2017)

Phục hồi danh dự cho ai?
Vẫn theo báo LSVN, cho đến năm 1987, khi đất nước bắt đầu đổi mới theo Nghị quyết Đại hội 6 của Đảng, bà Nguyễn Thị Năm mới được minh oan, sửa lại thành phần giai cấp sau 1/3 thế kỷ bị oan sai.
“Theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Tổ chức Trung ương đã đề nghị Tỉnh ủy Bắc Thái (tháng 4/1987) sửa lại thành phần giai cấp cho bà Năm do hai con trai bà đầu đơn, đến tháng 6/1987 UBND tỉnh Bắc Thái đã quyết định ghi rõ: “Bà Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long trước bị quy là “Tư sản địa chủ cường hào gian ác” nay sửa lại thành phần giai cấp cho bà Năm là: “Tư sản địa chủ kháng chiến”.
Đáng lẽ ra, sau khi đã sửa sai như thế thì bà Năm phải được “Nhà nước khen thưởng (truy tặng) như ngàn, vạn người có công với cách mạng theo Nghị định 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ, mặc dầu con bà đã nhiều lần gửi đơn xin các cơ quan cứu xét, nhưng vẫn chưa được một cơ quan nào trả lời”, báo LSVN đặt vấn đề.
Thắc mắc là chuyện của dân nhưng quan tâm hay không là chuyện của đảng và nhà nước. Vì vậy “Dù đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu từ năm 1995 đến năm 2014 qua những lá thư gửi lên địa phương và trung ương đòi phục hồi danh dự cho mẹ nhưng gia đình hoàn toàn không được hồi âm.”, báo LSVN than vãn thay cho gia đình bà Năm.

Vu cáo máu tanh
Ngược dòng thời gian, để bào chữa cho việc xử bắn bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm, báo Nhân Dân của đảng CSVN, vào ngày 21/07/1953 đã bịa đặt ra đủ thứ tội ác để buộc tội bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm. Bài viết ký tên tắt C.B. mà sau này có nhiều người suy đoán là “Của Bác” để ám chỉ Tác gỉa chính là ông Hồ Chí Minh.
Những vu oán cáo vạ đê hèn của bài viết nguyên văn như sau:
“Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:
- Giết chết 14 nông dân.
- Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.
- Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người : Năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.
- Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân : Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.
- Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.
Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!
Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:
- Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.
- Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.
- Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.
- Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.
- Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.
- Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.
Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là:
Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng,
Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!
(21-7-1953)
C.B.

Như vậy thì ông Hồ và nhiều Lãnh đạo đảng CSVN, những người đã được bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm cưu mang có “ăn cháo đá bát” không?
Nhắc lại chuyện này để chúng ta thấy chuyện phản bội trắng trợn xấu xa này tưởng như chỉ xẩy ra trong hàng ngũ đầu trộm đuôi cướp vô học, ai ngờ cũng ăn sâu bám rễ ở cung đình đảng Cộng sản Việt Nam.
Đáng chú ý hơn là chuyện gia đình bà Năm "hoàn toàn không được hồi âm" đã xẩy ra trong khoảng thời gian từ 1995 cho đến bây giờ (năm 2018), tổng cộng 23 năm qua 4 đời Tổng Bí thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.
Những người này, trong chuỗi thời gian cầm quyền, cũng đã ra rả khua môi gõ lưỡi kêu gọi hòa hợp, hòa giải dân tộc với những người Việt Nam bỏ nước ra đi trong khi họ vẫn tổ chức liên hoan, ăn mừng và “bới đống tro tàn tìm máu đổ” trước mắt các nạn nhân người miền Nam vào mỗi dịp 30 tháng Tư hàng năm.

Từ Trọng đến Phúc
Giờ đây, sau 50 năm chưa nguôi uất hận, tang thương và cay đắng của người dân Huế, đảng và nhà nước CSVN lại bỏ ra ba tháng (từ 12/2017 đến 02/2018) với không biết bao nhiều tiền của để tổ chức tiệc tùng và hội thảo để ca tụng chiến thắng Mậu Thân 1968.
Làm như vậy, không những người CSVN đã che giấu đi tội ác Mậu Thân mà còn “tiếp tục làm nó thêm rỉ máu” như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã cảnh giác năm 2005.
Vậy mà, tại Trụ sở Trung ương Đảng ngày 07/02 (2018), người cầm đấu đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng vẫn có thể hớn hở nói với số Việt kiều thân Đảng từ nước ngoài về ăn Tết rằng: "Đảng và Nhà nước luôn trân trọng những đóng góp, tấm lòng hướng về đất nước của bà con kiều bào ta trên toàn thế giới; Đảng và Nhà nước luôn giang rộng cánh tay đón chào người Việt ở nước ngoài về với quê hương cội nguồn."
Cũng với giọng lưỡi tát nước theo mưa để nịnh Kiều bào, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói: "Tổ quốc lắng nghe hơi thở của bà con kiều bào, đặc biệt lắng nghe những nguyện vọng, những ý kiến đóng góp quý báu của bà con dành cho đất nước” và “Chính phủ do dân, vì dân, trong đó có bà con Việt kiều”… kỳ vọng kiều bào ta cùng người dân trong nước đoàn kết một lòng, xây dựng đất nước ngày một phát triển hơn, thực hiện khát vọng “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".
Nhưng những lời đầu môi chót lưỡi này có ý nghĩa gì với những nạn nhân của Huế Mậu Thân khi mà vào ngày 30/01/2018, Nhật báo Nhân Dân của đảng vẫn chạy tội với những lời lẽ trong bài viết tráo trở "Sự dối trá và lừa bịp".
Bài viết mở đầu bằng câu: "50 năm qua, rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu và cả những người trong cuộc đã chứng minh, khẳng định sự việc “thảm sát ở Huế năm 1968” là sản phẩm của sự dối trá, bịp bợm."
Ai dối trá và bịp bợp thì người Cộng sản nên hỏi thẳng tên nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường để biết ăn nói ngạo ngược như thế thì hòa hợp-hòa giải dân tộc với ai ? ./.

Tết Mậu Tuất (02/018)
Phạm Trần

danlambaovn.blogspot.com

http://bacaytruc.com



Nói chuyện với đầu gối

Tạ Quang Khôi

Có một điều tôi nhận ra thế này, sau khi tranh luận với nhiều người khác quan điểm chính trị trong tinh thần Dân chủ:
- Nếu bạn ở trong nước và viết bài so sánh giữa nước ta và nước ngoài, họ sẽ nói bạn là ếch ngồi đáy giếng và không biết gì.
- Nếu bạn ở nước ngoài và nói những điều tương tự, họ sẽ bảo bạn ăn cơm ngoại bang và quay về chống phá tổ quốc.
- Nếu bạn rời VN được 1 thời gian ngắn, họ sẽ bảo bạn chưa kịp thấy những cái xấu xa của các nước tư bản.
- Nếu bạn đã sống ở nước ngoài 1 thời gian dài, họ sẽ bảo bạn đã đi lâu rồi và không biết tình hình VN đã thay đổi và phát triển như thế nào.
- Nếu bạn nói bạn muốn tự do dân chủ, họ sẽ nói bạn ăn tiền nước ngoài, hoặc bạn là người của VNCH.
- Nếu bạn nói về những vấn nạn của VN, họ sẽ nói nước nào cũng có vấn đề và đất nước ta đang ngày càng tiến bộ.
- Nếu bạn phê bình lãnh đạo, họ sẽ nói không có ai hoàn hảo, rồi hỏi bạn có làm được như thế không, và hỏi bạn, bạn có cãi lời cha mẹ không mà lại chỉ trích những người lãnh đạo.
- Nếu bạn hỏi vì sao họ có thể làm ngơ và không quan tâm tới những vấn đề của đất nước, họ sẽ nói VN ko cần những người như bạn.
- Nếu bạn nói bạn mong muốn 1 sự thay đổi, họ sẽ bảo thật ra bạn chỉ muốn chống phá đất nước chứ không làm được gì.
- Nếu bạn nói bạn muốn có tự do thực sự cho đất nước bạn, họ sẽ nói màu sắc dân chủ mỗi nước khác nhau, mỗi nơi có chế độ khác nhau, và đất nước ta hiện nay đã được tự do, độc lập, hạnh phúc.
- Nếu bạn nói có đa đảng vẫn tốt hơn 1 đảng, vì sự cạnh tranh bao giờ cũng tạo nên sự hoàn thiện và phát triển, họ sẽ hỏi bạn có chắc như thế sẽ tốt hơn không, và đa đảng là loạn.
- Nếu bạn chê Trung Quốc, họ sẽ chê Mỹ.
- Nếu bạn nói đến yêu cầu và phản kháng, họ sẽ hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc mà đòi hỏi tổ quốc phải làm gì đó cho bạn, hoặc bạn chỉ nói và không làm được gì.
- Nếu bạn hỏi chủ nghĩa cộng sản tốt đẹp đến thế vì sao lại sụp đổở các nước Đông Âu, họ sẽ bảo vì các nước Đông Âu không theo đúng chủ nghĩa cộng sản, hoặc từ bỏ ko có nghĩa là nó ko tốt, hoặc 1 ngày nào đó những nước này sẽ quay lại con đường cũ.
- Nếu bạn hỏi vì sao họ nói tư bản đang giãy chết, hoặc tư bản ko tốt, vậy tại sao trên TG có rất nhiều nước tư bản, họ sẽ nói bạn hùa theo số đông.
- Nếu bạn muốn biểu tình chống TQ, hoăc bức xúc vì những người biểu tình bị bắt giữ, họ sẽ bảo biểu tình chẳng ích gì, và VN là nước nhỏ, phải nhún nhường trước TQ, và bắt giữ là đúng.
- Nếu bạn viết bài về chính trị, và nói VN không có tự do dân chủ, xã hội lắm bất công, họ sẽ bảo bạn là kẻ phản quốc, thất bại trong cuộc sống và đem lòng hận thù.
- Nếu bạn bức xúc vì nhiều người bất đồng chính kiến bị bắt giữ và bỏ tù, họ sẽ nói như thế là hoàn toàn đúng, và có những người thậm chí còn nói, và đem giết chết cả gia đình dòng họ mới đủ.
- Nếu bạn còn trẻ, họ sẽ nói bạn lo học và còn quá non và thiếu trải nghiệm để phán xét.
- Nếu bạn đã lớn, họ sẽ nói bạn nên lo kiếm tiền và chuyện lớn để nhà nước lo.
- Nếu bạn hỏi, xã hội bình an hạnh phúc đến thế, vì sao sau 1975 rất nhiều người vẫn bỏ đi, họ sẽ bảo những người này ko quen chịu khổ, là tay sai Mỹ- Ngụy chay đi ăn bơ thừa sữa cặn.
- Nếu bạn hỏi thế tại sao bây giờ người ta vẫn ra đi bằng hàng trăm hàng ngàn cách khác nhau, họ sẽ im lặng.
- Nếu bạn hỏi những người lãnh đạo như thế nào lại ký tên đồng ý tiến hành những dự án nguy hiểm cho môi trường và an ninh lãnh thổ đất nước, bất chấp bản kiến nghị, họ sẽ im lặng.
- Nếu bạn nói, trái ngược với luận điệu những ai muốn tự do dân chủ là dân miền Nam tay sai Mỹ- Ngụy, có rất nhiều người đấu tranh hiện nay được sinh ra trong chính xã hội này, và thay đổi quan điểm, và những người đấu tranh này cũng là người thành đạt và có vị trí trong xã hội, họ giải thích thế nào, họ sẽ giữ im lặng.
- Nếu bạn nói về việc tấm bản đồ “lưỡi bò”, và người dân VN bị đánh cướp và giết chết, nhưng nhà nước ko làm gì cả, họ sẽ giữ im lăng.
- Nếu bạn chứng minh chế độ hiện nay hoàn toàn đi ngược với lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, họ sẽ giữ im lặng.
- Bạn nói bạn đơn thuần là người yêu nước, và đau đớn với số phận dân tộc, họ sẽ nói bạn dối trá, bạn là đồ phản động, nhưng bình thường với những vấn đề chính trị, họ găn vào cái mác “nhạy cảm” và lờ đi không quan tâm.
Và những gì tôi vừa viết nói lên điều gì, ngoài việc những con người ấy được dạy dỗ và tuyên truyền để có luận điệu và lý lẽ y hệt nhau ?

T.Q.K.



Đất nước tanh bành, vì đâu nên nỗi?

Bùi Tín 

Những ngày đầu năm, tỉnh dậy là nhớ đến quê hương, đất nước, dân tộc ta, nhân dân ta.
Càng ở xa, lại càng nhớ, da diết, thiết tha.
Đất nước ta, quê hương ta tài nguyên, gia tài tổ tiên cha ông để lại gồm có những gì, nay ra sao, rất cần được cháu con ngày nay điểm lại, đánh giá tỷ mỷ kỹ càng.

Hơn 20 vụ đại án đang được đưa ra xét xử cho thấy tiền của tài nguyên của đất nước đã được quản lý tùy tiện, vô trách nhiệm ra sao, khi hàng trăm ngàn tỷ đồng bị thất thoát một cách «nhẹ nhàng» trong một thời gian dài hàng chục năm, mà những người đứng đầu chính phủ, đứng đầu đảng, đứng đầu Nhà nước, đứng đầu Bộ Chính trị phải chịu trách nhiệm trước ai hết, nay mới đưa ra xét.

Xét cho cùng, những Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh… cũng chỉ là những tội phạm kiêm nạn nhân của một chế độ chính trị lạc hậu quá mức mà ông Tổng bí thư đến nay vẫn không nhận ra, khi ông quyết định khai trừ mọi đảng viên đòi xây dựng chế độ Tam quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) phân lập và xây dựng các tổ chức xã hội dân sự. Ông định sẽ còn sống với ai trên đất nước và trên thế giới này?
Nền độc lập là cấu thành đầu tiên của đất nước có chủ quyền, đã thu lại được từ tháng Ba, 1945 sau khi Nhật Bản hất cẳng thực dân Pháp qua đảo chính 9/3, tô đậm thêm qua «cướp chính quyền 19/8/1945» và sau đó với chiến thắng Điện Biên Phủ, đến nay còn gì? Còn ít, ít lắm, khi chính quyền độc đảng vừa cam kết với chính quyền bành trướng Trung Quốc «cùng có chung một tương lai gắn bó keo sơn, núi liền núi, sông liền sông», lại còn cam kết hợp tác chặt chẽ «đào tạo cán bộ cao cấp các ngành, kể cả ngành quốc phòng và ngoại giao», cam kết hợp tác giữa 4 tỉnh biên giới Việt Nam với khu tự trị Choang tỉnh Quảng Tây / Trung quốc, cứ như trong một quốc gia thống nhất vậy! Vậy thì còn đâu là độc lập? Rõ ràng là mang chất Bắc thuộc rồi! Lời thề gìn giữ độc lập 2/9/1945 đã tan biến.

Độc lập kiểu gì mà từ Bắc chí Nam người Trung Quốc nhập cảnh đi về như trên đất nước họ, hàng giả, hàng nhái, hàng lậu, hàng độc lan tràn mọi ngả, các công ty Tàu giành mọi gói thầu béo bở nhất về khai khoáng, nhiệt điện, thủy điện, hóa chất, giao thông cầu đường, trồng rừng, gang thép, phân bón, bô-xít, thủy sản, không thiếu một ngành nào, một nơi nào. Đây là thuộc địa kiểu mới hoàn chỉnh mẫu mực của bọn bành trướng. Có người Việt nào không phẫn nộ và không cảm thấy nhục?

Tài nguyên cơ bản đất nước là ruộng đồng, rừng, biển thì quyền sở hữu ruộng đất của tư nhân trong nông nghiệp từ ngàn đời bị đảng nghiểm nhiên tịch thu theo cái «quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước (của đảng) thay mặt quản lý» để nông thôn xơ xác, nông nghiệp lụn bại, nông dân thành tá điền nghèo khổ làm thuê cho đảng, đến mức em sinh viên luật Đỗ Thúy Hằng phải lên tiếng khóc cho một nền nông nghiệp bị đảng nhẫn tâm bức tử, với vô vàn nông dân bị các quan chức cộng sản cướp đất, bị trắng tay.
Tài nguyên rừng từ thời nguyên thủy vốn có hằng triệu héc ta, hằng trăm loại gỗ quý, hàng ngàn động vật chim muông quý hiếm, đã bị thu hẹp hơn 2/3 diện tích chỉ trong 70 năm cộng sản cầm quyền, thành địa bàn tàn phá chia chác của các quan chức kiểm lâm – chúa sơn lâm, bọn hải quan, công an – cảnh sát, hành chính địa phưong, xuất khẩu gỗ quý theo giá rẻ mạt, đua nhau làm các biệt thự biệt phủ lỗng lẫy kiểu của các vua chúa ngày xưa.
Cô giáo Trần Thị Lam ở Hà Tĩnh đau lòng than rằng:
Đất nước mình buồn quá phải không anh?
Rừng đã hết, và biển thì đang chết!

Cả đất Việt hướng mặt ra biển cả, đại dương, cá và muối nuôi sống dân tộc từ nghìn xưa, «cơm với cá như mạ với con», nay cá chết trắng khắp dọc bãi biển miền Trung, ô nhiễm lan rộng kéo dài do kẻ tội phạm Formosa đến từ đất Tàu, ngư dân bị ngăn chặn cấm đoán, tàn phá người và phương tiện làm nghề do tàu tuần dương từ đảo Hải Nam đổ xuống.
Cho đến cát là sản phẩm tự nhiên rẻ nhất cũng bị bán đổ bán tháo đi rất nhanh, bị Tàu cho tàu hút cát khổng lồ, một giờ hút trộm 600 ngàn tấn cát để phun lên các đảo nhân tạo ở biển Đông, số cát này mỗi chuyến có thể chất đầy một sân vận động. Sau «địa tặc» – cướp đất, «lâm tặc» – cướp rừng, «hải tặc» – cuớp biển, «ngân tặc» – cướp tiền bạc, «đạo tặc» – cướp của, nay đến «sa tặc» – cướp cát, chúng vơ vét không trừ một thứ gì.

Mang danh lãnh đạo chính trị, bảo vệ đất nước, đảng cộng sản đã bảo vệ được những gì?
Mang nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ, đất đai, thì người Trung Quốc thả sức thâm nhập; chủ quyền quốc gia bị xem nhẹ dưới danh nghĩa hợp tác toàn diện cả về nội trị, quốc phòng, ngoại giao.
Mang nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên rừng biển, thì cho họ vào hợp tác trồng rừng, đánh cá, tự do khai thác cướp phá mọi thứ trên rừng, ven biển, dưới biển.
Lãnh đạo kinh tế là hướng dẫn chỉ đạo cuộc khởi nghiệp xây dựng kinh tế, phân chia thành quả phát triển cho công bằng, thu chi ngân sách hợp lý, không để rơi vãi thất thoát, thế nhưng thực tế tham nhũng lan tràn, ngân sách thất thoát hàng trăm nghìn tỷ đồng, khi xử tham nhũng không thu hồi nổi 5%, nợ quốc gia vượt quá Tài sản quốc gia PNB một năm, vậy là thất bại hoàn toàn về kinh tế. Tài chính thu không đủ chi, không đủ tiền trả lãi nợ quốc gia hằng năm, ngân hàng phá sản hàng loạt, hiệu quả lãnh đạo kinh tế tài chính hầu như là con số âm.
Lãnh đạo xã hội là xây dựng mối đoàn kết quốc gia keo sơn, cuộc sống dân chủ, tiến bộ, bình đẳng văn minh, nhưng họ nuốt lời hứa hòa giải hòa hợp dân tộc, họ cai trị miền Nam như cai trị kẻ thù theo kiểu ân oán tàn bạo ác độc nhất.
Nền giáo dục quốc gia cực kỳ lạc hậu, giáo điều, nhồi sọ cổ lỗ, bằng giả bằng dỏm tràn ngập, không một trường đại học Việt nào được xếp trong số 300 trường khá nhất ở châu Á.
Nền y tế suy đồi đi ngược với phương châm «thầy thuốc như mẹ hiền», theo kiểu tiền thầy bỏ túi, thuốc giả tràn lan, thầy thuốc giết bệnh nhân.
Xã hội đảo điên, người yêu nước chống bành trướng, bênh dân oan bị tuyên án nặng nề, trong khi các quan lớn có bồ nhí, có biệt phủ hàng vài chục tỷ đồng, tội rất nặng chỉ bị khiển trách như phủi bụi. Đạo đức lao dốc cùng cực, mất tính người, vợ chặt cổ chồng, ông và bố cưỡng hiếp cháu gái, con gái mới 5,6 tuổi.
Lãnh đạo đất nước mà lại hèn với giặc, ác với dân. Vậy mà còn huênh hoang khuyên dân ta «không nên ngủ quên trên vòng nguyệt quế». Chuyên nói phét, nói không biết ngượng, vòng nguyệt quế ai cho? Bắc Kinh à?
Có còn gì để mà «ngắm nhìn, rung đùi tự khen tự sướng đất nước ta chưa bao giờ đẹp như thế này». Khi ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên T.Ư. đứng trước mức án tử hình và tù chung thân, khi các đồng chí thù địch tìm cách hãm hại nhau, đuổi bắt nhau như những kẻ tử thù chỉ vì kèn cựa ngôi thứ và bổng lộc phi pháp.
Cả xã hội đều nhìn thấy trước năm 2018 vừa khởi đầu sẽ là năm các đồng chí cộng sản thù địch nhau sẽ làm thịt nhau không thương tiếc, không phải vì công bằng, vì lý tưởng gì cao siêu mà chỉ vì chức quyền, chiếc ghế quyền lực cùng những lợi ích vật chất phù phiếm nó mang lại.
Đảng cộng sản đến cuối năm 2017 và vào đầu năm 2018 đã lộ nguyên hình là kẻ đã tàn phá có hệ thống, tận gốc, tanh bành cuộc sống tinh thần và vật chất của xã hội ta, từ hạ tầng cơ sở – hiến pháp, pháp quyền đến thượng tầng kiến trúc – đạo đức xã hội của đất nước ta.

Nhìn lại thảm cảnh đất nước mà căm giận, mà tủi nhục dâng tràn. Đảng Cộng sản cứ như có một cơn đại hồng thủy bão quét Tsusami vừa đi qua tàn phá triệt để mọi giá trị vốn có, cứ như có một đạo quân ô hợp giặc ngoại xâm cùng giặc nội xâm hung hãn nhất trong lịch sử vừa tràn qua từ Bắc chí Nam, san bằng đất nước tươi đẹp từ ngàn xưa bỗng trở thành đất nước lụi tàn tan hoang và hấp hối.

Vì ai nên nỗi? vì đâu có cảnh đất nước điêu tàn? Bi đát hơn thời phong kiến. Lạc hậu hơn thời thực dân. Cực nhục đau đớn hơn thời chiến tranh quyết liệt.

Cả xã hội ta, trong và ngòai nước, xin bà con ta hãy bàn bạc tập thể về hiện tình đất nước tan nát tanh bành ra sao, xã hội tha hóa đến mức nào, đâu là nguyên nhân thật sự và cùng nhau hành động có trách nhiệm để cứu dân cứu nước, tự cứu mình ra khỏi cuộc trầm luân khổ ải này.
Bùi Tín

https://www.voatiengviet.com

http://www.boxitvn.net

 

Đăng ngày 20 tháng 02.2018