Tâm thư gởi các bạn già

 

chautienkhuong

Ls Châu Tiến Khương

Nếu có dịp họp mặt nhìn nhau, ta cùng thấy những mái đầu, tóc đã trở bạc rối bời như tơ nhuyển, trắng phau tợ tuyết mai, để lộ vừng tráng hói bóng loáng.  Ta đã bước qua tuổi thất thập cổ lai hy, đã nhiều lần tự hỏi do duyên số nào và nhờ ai, ta vượt qua năm 2000 để nhận biết lụt Hồng thủy nếu không phải giai thoại cũng chỉ truyền thuyết. 
Mỗi sáng khi mở mắt nhìn bình minh nắng sớm dịu hiền ta cám ơn Thượng đế đã ban cho ta thêm một ngày trong một cơ thể còn như hôm qua để sống, nhìn đời đang bước thêm một bước.  Tương lai đối với ta chỉ đếm từng ngày; ta biết tới lúc nào đó ta, cũng phải bước lên chuyến tàu suốt đi vào cõi xa xăm vĩnh viễn. Tương lai đâu còn nữa.    Mộng ngày xanh đã qua rồi.  Niềm vui của ta là tìm về quá khứ, nhớ lại bóng dáng mình trong thời thuở đã qua.   Tương lai không còn xa vời, ta sống với kỷ niệm ngày qua để nhớ để thương. 
Xin các bạn trẻ chớ ngỡ chúng tôi tuổi già sanh tật gặp nhau toàn nói chuyện xưa và từ đó nghĩ rằng chúng tôi lạc hậu lỗi thời cứ nhắc chuyện cũ không xóa bỏ quá khứ, hướng về tương lai.  Các bạn hãy trẻ đang mơ nhiều mộng đẹp.  Các bạn đang vươn lên với tuổi xuân thì, tưởng như đủ tài đủ sức trở xoay thế cuộc, chuyển hóa cơ trời, hể muốn là được.  Đẹp thay hoài bảo của tuổi trẻ ấp ôm mộng đẹp thời xanh tóc.  Các bạn nhìn tương lai với thân thể tráng kiện tâm trí tràn đầy nghị lực, vững tin rằng chướng ngại nào mà không thể vượt qua để xây dựng cuộc đời theo như ý muốn.    Yêu đời và tự tin, bạn mơ chuyện vá trời lấp biển.  Đời sao đẹp quá với tuổi hãy thanh xuân! 
Chúng tôi tuổi già bạc nhược đâu mong gì ở tương lai. Chúng tôi chỉ có dĩ vãng để hoài niệm.  Mỗi thế hệ có mỗi hoàn cảnh nên hoài bảo có khác nhau.  Chúng tôi sanh ra là dân thuộc địa, khi ở tuổi vào đời nhận thấy rằng không gì quý hơn độc lập tự do nên nuôi mộng ước đánh đuổi thực dân cứu nước nhà.  Chúng tôi nguyện vì dân vì nước, thề hy sinh thân thế một ra đi là không trở về.  Lãnh đạo lợi dụng tấm lòng bất cầu danh lợi và bầu nhiệt huyết đó, để xô chúng tôi vào cuộc chiến không phải để cứu quốc mà để dấn thân vào diễn trình giai cấp đấu tranh nhằm xây dựng xã hội chủ nghĩa.   
Có trải qua gian nguy, ta tha thiết yêu đời, biết cuộc sống rất quý báu nên nhìn thời thuở đã qua để tự hỏi sao mình vẫn sống đây khi bao nhiêu bạn ngày thơ đã ra người thiên cổ.  Thương nhớ họ chúng ta phải làm gì đây trong đoạn ngắn của tháng năm còn lại.  Lúc thanh thiếu chúng ta đâu có được thanh bình an lạc như ngày nay, đâu được học hỏi như các bạn trẻ bây giờ.  Mới vừa mười chín hai mươi, chúng tôi đã bỏ học, bỏ gia đình cha mẹ em thơ lăn vào cuộc chiến giành độc lập.  Nghe tây giết bạn đâu đau lòng bằng nghe bạn xưa bị thủ tiêu chôn sống vì bị ngờ làm gián điệp cho Pháp.  Rồi uất ức oán thù muốn trả hận cho cha mẹ anh em, bè bạn, kẻ oán thực dân, người thù Việt Minh, chia đôi hàng ngũ  đánh giết nhau.  Lớp trẻ làng tôi, người chết, kẻ bỏ đi, bóng dáng tên họ chỉ là di ảnh lờ mờ trong tâm khảm mỗi khi tôi nhớ lại chuyện xưa. 
Trong cảnh loạn ly hơn 30 năm, người chết nhà tan ruộng hoang đồng vắng có bạn già tin rằng nhờ mình ăn lành ở hiền nên được ơn Trên ban cho phước thọ.  Riêng tôi nghĩ phải chăng các bạn xưa đã mất vì trả xong nghiệp thế mà đời đã giao phó?  Mình hãy sống phải có nhiệm vụ gì đây?  Phải chăng người sanh ra mang theo sứ mạng hay tại mình quan trọng hóa đời mình nên gán vào mình nhiệm vụ tưởng tượng đấy thôi?  Nếu đời là vô lý, sống hay chết, có khác chi làn gió thổi, áng mây tan, có đấy rồi mất đấy, tất cả đều vô nghĩa.  Nhưng hình như ta nhận biết cuộc sống là chuổi ngày xen kẽ niềm vui nỗi buốn.  Những nỗi vui buồn ấy là những kỷ niệm mà còn sống là ta còn nhớ.  Ta nhớ cảnh cũ.  Ta nhớ người xưa, trước kia, đã cùng ta sống chung trong cảnh ấy.  Vậy phải chăng nhờ ta hảy sống mà người xưa vẫn sống trong ta.  Ta còn sống đây thì người xưa chưa chết hẳn:  hình bóng họ vẫn còn trong tâm tư ta.


Xin đừng nghe người đời xui dại bảo ta nên chôn vùi quá khứ.  Chôn vùi quá khứ là chôn vùi ta đó!  Chôn vùi ta là chôn luôn những người hãy sống ở trong ta.  Không quên quá khứ, ta vừa sống cho ta, vừa sống cho những người, mà ta chưa quên hình bóng.  Phải chăng đời muốn ta sống để làm chứng nhơn thời đại của ta? Chôn quá khứ là lấp tội ác.  Ta có thể đang tâm quên những oan ức mà bao kẻ vì ta, vì gia đình, hạnh phúc dân ta, đã hy sinh nơi chiến trận  để mỗi tháng 4, ta lại phải cùng với người Cộng sản hô to khẩu hiệu chiến thắng và thống nhất đất nước.  Tôi đã trải qua tủi nhục đó, thương thân phận kẻ hàng thần lơ láo lắm khi cố cầm nước mắt, thẹn với những người xưa kia từng gục ngã nơi chiến trường nên hay đỏ mặt khi cùng kẻ chiến thắng hô to khẩu hiệu liên hoan,đến độ chị bạn đồng cảnh ngộ nhỏ nhẹ nhắc nhở hãy giữ mình đừng lộ liễu quá chúng để ý khổ thân. 
Nếu hiện tại chuẩn bị mở rộng tương lai cho thế hệ trẻ, thì cuộc sống những ai thuộc thế hệ già, từng tận mắt chứng kiến bao biến thiên thời cuộc làm sao có thể quên được khi quá khứ vẫn còn lưu giữ những nhục nhã của lớp người già sống trong uất hận của thân phận đầu hàng.   Phải nhớ chứ!  đó là kinh nghiệm của cuộc sống, khúc ráp nối không thể thiếu của dòng tiến hóa cuộc đời.  Nó là giai đoạn suy tư cho sự chuẩn bị tương lai.  Không rút kinh nghiệm những người đi trước, vội vã hợp tác, lạc quan  sẽ dễ lọt vào cạm bẩy khi giựt mình tỉnh ngộ thì việc đã rồi.  ‘‘Việt Nam no more’’ tuy là Nixon nói với dân Mỹ; nhưng ta cũng nên khắc ghi lời dặn dò đó.


Người biết tự xét phải thừa nhận ít nhiều rằng mỗi chúng ta đều có lỗi đối với những ai đã chết cho ta được sống.  Sở dĩ các nước nhận ta đến tỵ nạn vì có biết  bao người Việt đã chết cho Tự do và vì Tự do.  Nhờ các tử sĩ và những nạn nhân, xấu số trong trận chiến và vượt biển tìm Tự Do đó, nhờ tấm gương anh dũng của họ, mà nhiều quốc gia, khi xưa, ủng hộ Cộng Sản giờ nhận ra họ bị lừa bịp, nên hối hận, mở rộng vòng tay đón người Việt tỵ nạn giúp ta làm lại cuộc đời để vơi đi ở họ nỗi hối hận đã sai lầm tiếp tay với bạo lực giúp cho kẻ thắng có cơ hội trả thù trả oán, hiếp đáp dân lành gieo tang tóc thương đau cho dân tộc Việt nam khốn khổ, đến độ chấp nhận đánh cuộc với tử thần tìm đường thoát đi, hy vọng sống lại đời của con người tự do. 
Lớp trẻ hướng về tương lai vì hầu hết họ đâu có kỷ niệm gì trong quá khứ.  Họ may mắn được sanh hay được đến xứ tự do ở thuở chưa ý thức để có kỷ niệm đau buồn như ta.  Được may mắn sống và lớn lên trong xã hội tự do dư ăn, dư để, họ nhìn môi sinh nơi tỵ nạn mà ngỡ rằng xã hội ngày xưa của Việt Nam  ta cũng hiền hòa như thế thôi.  Lớp trẻ mới trải qua đoạn ngắn của những bước đầu cuộc đời.  Ở giai đoạn thuần lương êm ả đẹp đẽ trong xã hội tình người, họ đâu biết những bão tố trầm luân trong quá khứ đời ta.  Ta kể sao họ nghe vậy nhưng vẫn dửng dưng, vì họ đâu phải người trong cuộc, để đau thấm thía cái đói khổ bị ức hiếp đọa đầy,những tủi nhục mà ta đã trải qua trong kiếp sống không ra người.   
Làm sao ta không xốn xang cho thân phận cho xứ sở cho đồng bào khi ruộng vườn ta họ chiếm, nhà cửa ta họ ở, tài sản ta họ cướp đoạt, thân nhân ta họ nhốt trong: lao tù, trại cải tạo, hay vùng kinh tế mới rồi lại còn mon men sai con ta xài vợ ta.  Cái ác họ đem đối xử với ta - đồng bào của họ - hơn cả cái ác mà dân da trắng đối xử với nô lệ da đen từ thuở xa xưa?.   
Trong chế độ thực dân Pháp,  người quốc gia và ngay cả người cộng sản làm chánh trị đi tù, nhưng nhà cửa vườn tược vợ con, ông bà, cha mẹ họ vẫn đâu còn đấy, Thực dân đâu ác như họ.  Thời thuộc địa ai làm nấy chịu.  Cha làm  cách mạng vào tù, con vẫn sống tự do, đâu có việc truy xét ba đời  để ghi lý lịch.  Bằng cớ thân sinh ông Hồ, phó bảng Nguyễn sinh Huy vẫn sống ở miền Nam  (Cai Lậy?) anh chị ông vẫn sống tại làng Kim Liên.  Không nghe nói ông Hồ, khi tại quyền, có về thăm quê xưa nhà cũ.  Phải chăng là người Cộng sản thoát ly, với quan niệm vô gia đình, ông đâu cần biết ông anh bà chị hãy sống tại nơi sanh thành? Phải chăng  làng ông nhỏ bé, quê mùa, trong khi ông có dinh thự nguy nga ở thủ đô? Phải chăng ông sợ người làng biết rõ giòng họ gia đình cội rể nên e ngại nỗi  ‘‘bụt nhà hết thiêng’’!


Làm sao chúng ta quên những hành vi thâm độc của người Cộng sản. Họ muốn ta quên nhưng riêng họ, họ vẫn nhớ,  ‘‘và họ nhớ rất dai’’.  Họ nhớ để căm thù ‘‘và họ thù rất độc’’.  Thuở mở chiến dịch đấu tố địa chủ  (cải cách ruộng đất), sau khi tập hợp một số thanh niên nam nữ hầu hết đều có căn bản đại học huấn luyện nhuần nhuyễn rồi tung họ xuống thôn quê vào ở nhà của thôn dân để ba cùng  (cùng ăn cùng ở cùng làm) cố nghe tâm sự, khơi gợi bần cố nông căm thù, thúc đẩy họ đấu tố địa chủ.  Chị Tú Vân có thuật chuyện một nữ cán bộ có tiếng ở Paris theo chồng về Hà nội được tuyển vào đội ngũ tam cùng, viết báo khoe bản lãnh của chị ta trong sự thành công chuyển một bà lão nông dân, từ  mến yêu sang căm thù, đứng ra đấu tố người  địa chủ mà khi xưa bà rất kính mến vì đã đối xử tử tế với bà.   
Làm theo ý họ, ta nhập vào họ, chớ họ đâu hoà giải hoà hợp với ta.  Hòa hợp trong cách đó có khác chi ta chấp nhận đầu hàng  kẻ chiến thắng; ta chỉ nghĩ đến ta mặc cho vong hồn bao tử sĩ đã vì dân chủ, tự do, từng đem xương máu  bảo vệ đồng bào trong đó có ta hay cha ông ta.  Phải nhìn nhận Cộng sản phần nào có lý  khi họ khinh bọn tư sản trí thức coi bọn người nầy như  là một lũ hiếu lợi hiếu danh.  Cứ đem danh lợi, cuộc sống giàu sang danh vọng ra nhữ là họ quáng mắt lên chui ngay vào rọ.  Bằng cớ?  Liên minh Trịnh đình Thảo vào khu được đối đải như thượng khách, có lương cấp bộ trưởng nhưng đâu có dự bữa cơm thanh đạm thường ngày của cán bộ Cộng Sản ?  Và khi về thành họ có được giao công tác nào ra hồn nào đâu?  Là khách họ chỉ chuyện vãn tào lao để giải buồn vậy thôi.  Ngay cả Mặt trận sớm biết thân nên đã âm thầm tự giải tán như Trương như Tảng, tổng trưởng Tư pháp của Mặt trận Giải phóng miền Nam đã thuật lại trong Hồi ký của một Việt cộng.


Nếu chỉ mới 30 năm qua, cả triệu người Việt hãy còn tỵ nạn cùng khắp địa cầu đã vội quên tất để chui vào hoà hợp với kẻ chiến thắng mà không cần hoà giải nỗi oan khiên để sám hối lỗi lầm làm sao tin nhau đề có thành tâm đoàn kết trong tình thương và danh dự.  Nếu không mặt đối mặt để cùng nhau trao đổi, làm sao biết được ý muốn chân thành hay mưu toan chánh trị.  Bàn việc đoàn kết mà không đưa định nghĩa và nguyên lý đoàn kết như thế nào, không biết chuyên chính vô sản và lập trường giai cấp đấu tranh có chấp nhận tự do dân chủ hay không, làm sao tránh được lo âu tự đưa mình vào bẩy vào rọ mà lớp người tiền nhiệm của đảng Cộng sản đã cùng đi với ta rồi phản bội ta?
Ta đem tiền của và sở học về đầu tư cho đất nước chứ đâu cho người Cộng sản.  Hãy dè chừng vì biết đâu tự thâm tâm, họ đã từng khinh ta, bây giờ  thêm lý lẽ để càng khinh hơn, coi kẻ về như bọn hám lợi ham ăn chơi thỏa thích ham đầu tư làm giàu theo đúng tâm địa tư bản thấy lợi là ham sống chết mặc bây tiền thầy bỏ túi.  Cá nhân chủ nghĩa là nỗi khinh, niềm khi, mà họ từng buộc vào tiểu tư sản trí thức vẫn còn trong tâm tư họ không?  Hãy minh bạch vì quá khứ đã bao lần cống hiến cho ta nhiều kinh nghiệm để biết  mưu toan tinh xảo của họ trong sự phân biệt chiến lược bất biến và chiến thuật giao thời thích ứng vào từng giai đoạn  nào đó thôi.  Họ ký Hiệp định 06-03-1946, Hiệp định Geneve và ngay cả Hiệp định Paris đều nằm trong thế vừa đánh vừa đàm dùng chiến thuật từng giai đoạn một để thực hiện cứu cánh của thế chiến lược.


Ta là ai?  Các bạn già ơi!  Chẳng lẽ ta lại quên ta sao? Quên thế hệ ta sao?  Thế hệ ta?  Thế hệ bất hạnh nhất trong lịch sử nước ta.  Sanh ra là dân thuộc địa.  Nhật lật Pháp trao trả độc lập cho ta.  Chẳng bao lâu sau Việt minh cướp chánh quyền thừa dịp Nhật đầu hàng.  Pháp theo Anh trở lại chiếm Sàigòn. Toàn dân đứng lên lên chống Pháp; Việt minh thừa cơ giết sạch các nhơn vật lãnh đạo miền Nam trong khi đó Hồ chí Minh ký hiệp định sơ bộ  (06 / 03/ 1946) để quân Pháp đổ bộ lên miền Bắc, dựa vào Pháp đuổi Tàu, rồi nhơn đó triệt tiêu Việt nam Cách mạng đồng minh và Việt nam Quốc dân đảng theo kế sách thõa hiệp với thực dân hầu củng cố chánh quyền, thanh toán bọn thù trong coi đồng bào là địch xem thực dân như  đồng minh  để rồi khi tiêu diệt thù trong xoay qua  đánh giặc ngoài, bộc lộ bản chất cộng sản có nhiệm vụ quốc tế chống thực dân Pháp đế quốc Mỹ mặc dù Mỹ từng áp lực trên Pháp buộc Pháp trã độc lập cho Viêt Nam.   
Nại cớ cứu nước họ mở cuộc chiến đánh Mỹ vu cáo Việt nam Cộng hoà là Ngụy lộ hẳn bộ mặt thật Cộng sản để với sự yểm trợ Nga Tàu, xoay chiến tranh giành độc lập qua chiến tranh cách mạng xã hội chủ nghĩa kéo dài nội chiến thêm 20 năm tạo lắm đau thương khiến gần chục triệu người chết, biến xứ sở thành nơi chiến trường tại đó hai khối to quốc tế: Cộng sản và Tự do sử dụng  dân ta làm lính đấu tranh, phân thành hai đạo binh, một bên được trang bị bởi Nga-Tàu mở lối Nam chinh dưới ngọn cờ Xã Hội Chủ Nghĩa,vượt Trường sơn, hùng hổ xung kích tàn sát đồng bào áp đặt chuyên chính vô sản trên toàn quốc; bên khác dưới cờ  quốc gia, được Mỹ cung cấp khí giới đạn dược để vì  dân chủ tự do chiến đấu bảo vệ  tổ quốc VIệt Nam, được coi như tiền đồn của thế giới tự do ngăn làn sóng đỏ.  Kẻ xâm lăng đánh rất hăng, người tự vệ chống trả mãnh liệt rốt cuộc chỉ là nội chiến tàn nhẫn người Việt hăng say giết người Việt, Bắc quân quyết áp đặt chuyên chính vô sản, Nam quân quyết tâm giữ gìn xứ sở phá vỡ địch quân bảo vệ dân chủ tự do.   
Bên nào có chính nghĩa?  Kẻ tiến đánh hay người cố thủ? Bên tiến công cách mạng hay bên phòng vệ tự do dân chủ.   Đâu cần phải trả lời vì ai cũng biết kẻ xâm lăng là thủ phạm rất tự hào làm lính tiền phương của Xã Hội Chủ Nghĩa.  Lá bài tẩy đó, họ hãnh diện lật ra sau khi thắng cuộc để cho dân Việt nam và toàn thế giới biết họ chính là người cộng sản.  Bao người đã phải ngơ ngác nhận biết mình bị gạt.  Thì ra dưới khẩu hiệu vì tổ quốc, vì nhân dân Việt nam, họ đem người Việt hy sinh cho Xã Hội Chủ Nghĩa, cho tổ quốc cộng sản như bà Nguyễn thị Thập đã từng  tuyên bố sẳn sàng hy sinh dân Việt cho Cộng sản quốc tế  (1).


Trong lịch sử Viêt nam có thế hệ nào được chứng kiến trên đất nước có sự hiện diện của bao quân tinh nhuệ với khí giới tối tân đương đại, cả trên trời, lẫn dưới biển... phá tan bờ cõi, thiêu đốt rừng núi, người Việt Cộng sản hăm hở tiến quân say đánh người Việt Quốc Gia Tự do Dân chủ.    Từ chiến tranh chống thực dân giành độc lập mà toàn dân tích cực tham gia ai đã tựa vào Cộng sản quốc tế để mong biến Việt nam thành nước xã hội chủ nghĩa, chư hầu, chia rẽ nhân tâm vì người Việt nào yêu tự do dân chủ lại chịu để xứ sở mình trở thành chư hầu khối cộng sản chuyên chính độc đoán đâu?
Vào năm 1945, ta là những thanh niên đã thoát ly, bỏ nhà cửa, cha mẹ anh em, xếp bút nghiên dấn thân vào phong trào chống Pháp.  Ta phiêu bạt ở miền Đông (Nam phần) nơi rừng núi bạt ngàn, ma thiêng nước độc (Hớn quản, Bù đớp) xiêu lạc nơi miền Tây bùn lầy nước đọng, đìu hiu hút gió thưa vắng bóng người, kinh đào phẳng lặng xuyên bao bãi sậy rừng lau  (đồng Tháp Mười) hay xuống tận khu 9, đầy rẫy rừng tràm, tạt qua Ba lai với cù lao Minh, Bảo sầm quất vườn dừa, cửa sông to rộng, sóng biển, mây trời, mênh mông bất tận  (Bến tre.  .  ). 
Bao đêm ngủ trong rừng hoang rậm rạp, dưới tàn cây, tai nghe hạt sương rơi nhẹ trong thầm hay giọt mưa buồn lách tách trên nhánh lá cành cây, mắt nhìn nấm rừng lóng lánh lân tinh (phosphorescent) trong bóng tối màn đêm đen kịt.  Ta nhớ cha mẹ anh em, thương gia đình thương phận trai thời loạn nhưng cũng hứng khởi với khí hùng, hãnh diện với ta, những học sanh dám bỏ trường vào khu kháng chiến chống quân thù.  Trong khung cảnh ấy tôi sáng tác vài vở kịch thơ và ân hận đã vứt bỏ vởThái Nguyên liệt sĩ, trong đó qua Lương ngọc Quyến, tôi có những lời hừng hực nhiệt khí của tuổi thanh xuân:

Quân  bán nước chớ buông lời láo xược
Chưởi non sông!  bôi lọ giống Tiên Rồng
Hãy lắng nghe lời trách mắng cha ông
Đang uất hận khéo sanh quân phản quốc
Chết sung sướng!  ấy chết cho đất nước
Chết vinh quang ấy cái chết vì dân
Bức tường dầy, ngục thất, chỉ giam thân
Nào ngăn được tinh thần người yêu nước
Đang trỗi dậy vượt qua ngàn trở lực
Theo gió bay lan rộng khắp ngàn phương
Và oai hùng thổi bạt ra sa trường
Dân nứớc Việt giáo gươm say chiến thắng...
Ngày mai ấy xé mù muôn ánh sáng
Khơi lửa hồng quang đảng cõi bờ Nam
Bờ Nam Hải sạch sành quân bán nước... (2)

Ôi đẹp thay tâm hồn yêu nước.  Nó ngây thơ trong trắng chỉ biết non sông đất nước đâu suy nghĩ sâu xa để thấu đáo mưu đồ của lãnh đạo.  Không phải cuộc sống gian khổ khiến chúng ta rời bỏ kháng chiến mà chính bởi thấu hiểu mưu toan của nhóm người lãnh đạo. Càng đi sâu vào công tác càng thấy qua cụm từ hiền lành ‘‘Hội nghiên cứu Mạc xít’’, người cộng sản ngầm thay thế lãnh đạo trong mọi ngành dân quân kháng chiến bằng cán bộ đồng chí của họ. 
Ta ý thức kháng chiến đã đổi hướng.  Giai đoạn vì nước vì dân đã qua rồi.  Qua mạng lưới ‘‘Đảng đoàn’’ giăng khắp; bí thư  rồi chính ủy ở mọi cấp mới chính là lãnh đạo thật sự.  Lúc ấy ai không phải người cộng sản lại chẳng buồn.  Bạn học xưa bên ‘‘Tân dân chủ’’ hay ghé thăm kể chuyện khiến  tôi đâm ra phân vân.  .  . 
Trong đoàn thể công tác có anh gián tiếp cảnh cáo tôi bằng lời nói bông lông:
Thà một phút huy hoàng rồi bị ngưng công tác
Còn hơn lòng buồn man mác suốt canh thâu

Cũng như bao người kháng chiến khác tôi lâm vào thế phải lựa chọn.  Vô đảng để tiếp tục công tác nhưng tôi đi kháng chiến vì nước vì dân đâu phải vì đảng Cộng Sản. 
Tôi đành chọn bỏ về rồi sau đó xuất dương sang Pháp du học.  Trong thập niên 1950 - 1960 nhờ ở Pháp tôi đã nghe biết những nỗi khổ của dân Đông Âu dưới ách độc tài cộng sản; tôi mừng cho thân phận được tự do trong chế độ dân chủ. Và cũng buồn cho thân phận của KRAVCHENKO trốn thoát Liên xô tỵ nạn tại Tây âu đã thuật cảnh ngục tù trong chế độ xô viết. Quyển sách Tôi chọn Tự do (J’ai choisi la Liberté) của ông lại bị mạng lưới Cộng sản quốc tế hùa nhau chửi trong sự dửng dưng của dư luận Tự do.  Có phải vì thế mà ông chọn kết liễu đời mình bằng tự vận?  Cái ác của Cộng sản là vậy.  Khen ghét với họ đều là chiến dịch có hệ thống giàn dựng qua cả một màng lưới quốc tế.  Họ đua nhau chửi, hùa nhau khen. Khi con người mở mắt biết cái mình ngỡ hay, giờ nhận ra đó là dở.  Kẻ còn phán đoán, ai dám tin người Cộng sản nữa? Tại Pháp trước kia đảng Cộng sản là tập thể chánh trị mạnh nhứt, bây giờ chỉ là đảng yếu nhứt hầu như mất tiếng nói ở chính trường mà dù có nói cũng chẳng ai nghe ai tin.  Ngay cả tờ báo Humanité sở dĩ tồn tại là nhờ tiền trợ cấp của Nhà nước Pháp nhận biết phải có tiếng nói của đối lập trong chế độ dân chủ tự do.


Trải qua bao biến cố, tôi cũng như nhiều bạn cùng thế hệ đành chọn cuộc đời ly hương chớ không thể sống trong không khí ngột ngạt của chế độ đảng trị độc tài. Tại đất khách quê người, tuy có buồn với tuổi già xa xứ, nhưng quen dân chủ rồi ta đâu muốn mất tự do. Thà buồn hơn là về quê hương để tù hãm thân thế trong chuyên chính; nhứt là phải lâm vào cảnh đời sống tinh thần bị kiểm soát ngặt nghèo, không nói được điều mình nghĩ, không làm được điều mình tin. 
Các bạn già ơi!  cám ơn các bạn đã đọc những dòng chữ nầy và tôi nghĩ những gì tôi kể lại cũng như  những suy tư  tôi trình bày dù có chủ quan do hoàn cảnh riêng, nhưng tôi tin chắc các bạn còn nhớ thuở vào khu kháng chiến ta không hề nuôi ước vọng gì cho tương lai ta cả.   Ta kháng chiến vì ta là thanh niên thời loạn nuôi mộng đẹp, nào phải cho ta, mà cho Tổ quốc và dân tộc.


Trước khi chia tay, xin gởi tặng các bạn già tóc bạc bản phỏng dịch bài thơ của Lưu hi Di thi sĩ đời Đường tựa đề Bạch đầu ông vịnh để gọi là đồng khí tương cầu cùng nhau ta cảm nhận, dù bất cứ ở đâu, lúc về già mấy ai không nhớ quá khứ để tủi thương thân phận.

 

________________________________________________________________

(1)  Lời nói nầy đã được ghi rõ trong quyển Mộng Lam nơi trang 61-62.
(2) Đoạn nầy tôi còn nhớ rõ dù bản thảo kịch thơ Thái Nguyên Liệt sĩ  đã bỏ nữa chừng rồi thất lạc.  Lời thơ đã được soạn dành cho nhân vật Lương ngọc Quyến mắng bọn Việt gian.

 



Bạch Đầu Ông Vịnh

 

Lưu hi Di

Lạc-Dương thành đông đào lý hoa (1)
phi lai phi khứ,lạc thùy gia?
Lạc Dương nữ nhi hảo nhan sắc
hành phùng lạc hoa,trường thán tức
kim niên hoa lạc, nhan sắc cải
minh niên hoa khai, phục thùy tại?
đãn kiến tùng bách tồi vi tân
cánh văn tang điền biến thành hải
cổ nhân vô phục Lạc thành đông
kim nhân hoàn đối lạc hoa phong
niên niên tuế tuế hoa tương tự
tuế tuế niên niên nhân bất đồng
ký ngôn toàn thịnh hồng nhan tử
tu liên bán tử bạch đầu ông
thử ông bạch đầu chân khả liên
y tích hồng nhan mỹ thiếu niên
công tử, vương tôn phương thụ hạ
thanh ca, diệu vũ lạc hoa tiền
quan lộc trì đài giao cẫm tú
tướng quân lâu các họa thần tiên
nhất triêu ngọa bệnh vô tương thức
tam xuân hành lạc tại thùy biên?
uyển chuyển nga mi năng kỷ thì?
Tu du hạc phát loạn như ti
đãn khán cổ lai ca vũ địa
duy hữu hoàng hôn điểu tước phi. 

(1) tên một thành phố bên Tàu nổi tiếng đẹp

 




Ông Đầu Bạc (phỏng dịch)

thành ngoài...  rực rỡ lý đào!
gió nâng hoa rụng đưa vào nhà ai?
tiểu thơ dạo bước vườn ngoài
nhìn hoa tơi tả...   ai hoài thở than
hoa rơi!  tàn tạ sắc nhan
năm sau hoa nở...   mình sang chốn nào?
bá, tòng, cằn cỗi hư hao
ruộng dâu hóa biển!  cảnh sao đổi dời?
người xưa!  bóng vắng cõi đời
người nay!  lặng ngắm hoa rơi gió đùa
cách năm, hoa vẫn hoa xưa
cách năm, người sánh với xưa khác rồi
hởi cô tuyệt sắc xuân thời
hảy thương thân phận những người già nua
bạc phơ tóc trải  nắng mưa
nhưng xưa cũng có mấy mùa tuấn anh
vườn thơm; công tử tài danh
ca hay múa giỏi dưới làn mưa hoa
đài cao hồ rộng...  con nhà
lầu son gác tiá...  cũng là tướng quân
một hôm ngọa bệnh bất thần
ba xuân loan phượng thân gần cận ai?
qua mau!  mắt biếc, mày ngài
thoáng thôi!  tóc  đã rối bời như tơ
những nơi ca vũ ngày thơ
còn chăng? bóng sẻ lượn-lờ chiều hôm!



Ch
âu Tiếng Khương

Nội San Hè 2011 - Hội Petrus Ký tại Pháp