TÌNH BẠN (phần 1)



tuyết lê
Trần thị Tuyết Lê là cựu sinh viên ĐHSPSG ban Sử Địa, khóa 1974-1977. Hiện đang định cư tại Sydney - Úc.
Ái hữu ĐHSP Sàigòn hân hạnh giới thiệu bài viết sau đây do Tuyết Lê biên soạn và diễn đọc trên đài SBS Radio - Sydney.
( SBS Radio: http://www.sbs.com.au)
(Xin bấm vào: Radio - Language - Vietnamese - Go)



Có một điều gần như chắc chắn là không nhiều thì ít, ai cũng có bạn. Ngay từ thủa nhỏ, tình cảm đầu tiên chúng ta dành cho một người ở ngoài vòng quyến thuộc chính là một người bạn. Bạn ấy có thể là một cô bé từng nhảy dây, chơi chuyền, chơi giải danh với chúng ta ngày cả hai còn ở chung một xóm và sát cạnh nhà nhau; bạn ấy có thể là một người bạn chung lớp, tuổi lên mười, thông minh, nghịch ngợm, từng xúi dại ta trốn học đi bơi ao bơi sông, thậm chí đi đánh nhau, bị người lớn lôi về và bị quỳ, bị ăn roi sấp lượt. Đây là một thứ tình chỉ khác với tình máu mủ một chút ở chỗ nó phải chịu sự thử thách của thời gian, để nếu không tàn đi thì nó cũng dễ rơi vào tình trạng gọi là xa mặt cách lòng, hoặc sẽ trở thành một mối tình lớn và sống với chúng ta có thể suốt cả cuộc đời.

Sở dĩ gọi tình bạn có thể trở thành một mối tình lớn vì chính người xưa đã nhìn thấy vai trò người bạn thật quan trọng trong mỗi đời người. Khi còn ở tuổi học hành thì “học thầy không tầy học bạn,” và khi trưởng thành, ra đời lập thân, sự thành công của mỗi người đàn ông phần lớn tuỳ thuộc vào hai thành tố chính là bạn và vợ, và chính vì thế chúng ta mới có câu “Giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ.” Nhưng lẽ tất nhiên không phải ai ai cũng may mắn ra đời có toàn bạn tốt, bạn hiền, bạn chia cơm sẻ áo, trung thành với mình khi mình thất thế, gặp hoạn nạn.

Điểm qua kho tàng văn chương Việt Nam chúng ta sẽ thấy có nhiều tác phẩm nói đến tình bạn. Nhưng chẳng may sao xem ra đa phần lại là bạn xấu. Dẫu sao đó cũng chỉ là những tình bạn nằm trong truyện cổ tích Việt Nam, hoặc truyện cổ tích Tàu được Việt hoá, hoặc những sáng tác văn chương chúng ta từng học ở nhà trường, hoặc cũng có thể chúng ta từng được biết qua một tuồng cải lương được trực tiếp truyền thanh hay truyền hình. Những tình bạn này dù có nội dung khác nhau, nhưng chung quy phần lớn đều giống nhau ở chỗ nói lên việc bạn bè cần thuỷ chung và đừng hại nhau. Ai làm ngược điều đó ắt rước họa vào thân; ai làm phải sẽ được hưởng phúc; mà gần nhất là được ngay độc giả, thính giả hay khán giả bình dân chân chất sẵn sàng tặng cho những giọt nước mắt cảm thương.
Vâng, ngày còn bé làm sao chúng ta không thương cái anh Thạch Sanh chém chằng ấy cho được? Anh nghèo đến nỗi chỉ có mỗi cái khố và cái rìu đốn củi nuôi thân. Nhưng tính chân thật, nhân từ, và năng cứu giúp của anh đã làm động lòng đến cả quỷ thần. Anh bị bạn là Lý Thông lừa tới lừa lui nhiều lần và lần sau cùng lừa anh vào chỗ chết nhưng cũng nhờ dịp này, anh chém chết chằng tinh, cứu được công chúa. Lý Thông một lần nữa tìm cách giết anh để cướp công, nhưng sau cùng nhờ ngư thần, công Thạch Sanh được vua biết đến và gả công chúa cho. Khi vua băng hà Thạch Sanh được nối ngôi, còn mẹ con Lý Thông trên đường về bị sét đánh chết.

Thạch Sanh tình nghĩa dạt dào
Lỗi anh lỗi mẹ hơi đâu để lòng
Nhưng trời con mắt có tròng
Cho sét đánh chết ngoài đồng cả hai.

Hay như Lục Vân Tiên, con người quá quân tử, quá lý tưởng ấy đôi khi chúng ta thấy không được gần gũi với đời thường cho lắm, nhưng anh cũng là người suýt chết vì bạn đường đi thi anh kết tình bằng hữu với nhiều người trong có Bùi Kiệm và Trịnh Hâm. Tuổi trẻ rượu vào thì lời ra, lấy thơ văn thách đố nhau khiến kẻ tiểu nhân như Trịnh Hâm đem lòng ghen tị, sợ tài Vân Tiên như thế, ví dụ mình có thi đậu cũng không thể hơn được Vân Tiên. Chẳng may sau đó Vân Tiên nghe tin mẹ mất, vì chữ hiếu anh phải bỏ thi và cùng tiểu đồng trở về quê chịu tang mẹ. Trên đường không rõ khóc mẹ thế nào đến nỗi anh ngã bệnh rồi mù cả hai mắt. Trịnh Hâm thi xong trên đường về lại tái ngộ thầy trò Vân Tiên đang lâm hoàn cảnh thê thiết này. Đã không thương xót mà tính tiểu nhân lại còn khiến Hâm thấy dịp này như một dịp may. Hâm lừa tên tiểu đồng vào rừng, trói vào cây mong cho cọp beo ăn thịt, sau đó quay lại lừa đẩy anh bạn mù Vân Tiên xuống sông cho chết đuối. Dĩ nhiên cụ Đồ Chiểu không thể nào để cho Vân Tiên chết được vì như thế thì hết chuyện rồi còn gì. Cụ phải cho lão ngư ông xuất hiện cứu sống để Vân Tiên còn đỗ trạng nguyên, còn đi đánh giặc Phiên, và nhất là còn gặp lại Nguyệt Nga. Riêng Trịnh Hâm cũng lãnh hình phạt của Trời dành cho kẻ hại bạn, nỡ đẩy bạn mù loà xuống sông. Hâm bị cá ăn gỏi.

Trịnh Hâm về tới Hàn Giang,
Sóng thần nổi dậy thuyền chàng chìm ngay,
Trịnh Hâm bị cá nuốt rày,
Thiệt trời báo ứng lẽ này rất ưng...

Một truyện khác nữa nói về tình bạn nhưng đây không phải truyện cổ tích hay truyện văn chương sáng tác mà là truyện thật trong chính sử, đó là truyện Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu. Cầu và Trọng vốn người Hải Dương, sinh ra và lớn lên thời Vua Lê Chúa Trịnh ở thế kỷ 18. Hồi còn bé cả hai là bạn học cùng thầy. Việc học chẳng ai kém ai, duy chỉ có tính khí thì khác nhau như nước với lửa. Trọng thì điềm đạm, thận trọng, còn Cầu thì nóng nảy, ngang ngạnh. Truyền rằng có lần thầy ra vế đối và bảo hai học trò giỏi của mình cùng đối thử xem sao.
Vế đối là: Mười rằm trăng náu, mười sáu trăng treo.
Trọng đối: Tháng Giêng rét đài, tháng Hai rét lộc.
Còn Cầu thì đối: Tháng Mười sấm chạp, tháng Chạp sấm động.
Thầy nghe xong nhíu mày ngẫm nghĩ, rồi bảo: “ Trọng có cái lo cho người, sau làm quan to; còn Cầu cẩn thận khẩu khí nghe con, họa vào thân đấy!”
Sau này quả nhiên Trọng được trọng dụng còn Cầu nghèo đói lập đảng đi ăn cướp. Với sức khỏe Hạng Võ và tài bơi lâu lặn giỏi như Yết Kiêu, Cầu có biệt danh quận He, được tiếng đồn là thường đi cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Sau này Cầu theo Nguyễn Cừ khởi nghĩa và làm cho triều đình ở Thăng Long phải lắm phen lo lắng. Triều đình sau đó cử chính Phạm Đình Trọng cất quân đánh dẹp vì Trọng biết rõ gốc gác và con người của Cầu. Cầu bị Trọng bắt sống và giải về kinh đô hành hình, còn Trọng được thăng tới chức Binh Bộ Thượng Thư; tuy nhiên, chỉ ba năm sau ngày Cầu chết Trọng cũng chết theo vì bệnh ở tuổi 40.
Bạn bè lúc sống thì tị hiềm nhau từ tấm bé, lớn lên thì người làm quan kẻ làm giặc, thù ghét nhau đến nỗi cả hai đều bốc mồ mả cha mẹ của nhau lên lấy cốt ném xuống sông, rồi số phận của cả hai sau cùng kết thúc tương tự với câu tục ngữ thời ấy là “Trạng chết thì Chúa băng hà!”
Bạn như Trọng như Cầu phải nói là đã vượt quá xa cái lẽ tốt xấu thường tình, mà có lẽ chúng ta phải gọi nó là oan gia nghiệp chướng thì may ra mới đúng được.

Tuy thế, trong pho cổ tích có một câu chuyện về tình bạn hết sức tích cực và nó đã biến thành nguồn cảm hứng cho những sáng tác văn nghệ truyền thống dân tộc như tuồng, chèo, hát bội, cải lương vân vân qua nhiều thế hệ. Truyện này dù cũng xuất xứ từ truyện Tàu, nặng tính ngợi ca tam cương ngũ thường của người đàn ông và coi nhẹ người đàn bà, nhưng dù thế nào, nhân vật chính của truyện đã biến thành một mẫu mực cho tình bạn, và được quần chúng bình dân Việt Nam có ảnh hưởng Nho giáo nhiều thế hệ qua đã chấp nhận.
Truyện kể rằng ngày xưa có hai người bạn học rất thân nhau. Lưu Bình con nhà giàu còn Dương Lễ con nhà nghèo. Lễ thương bạn nên mời Bình đến ở chung ăn học và lo chu đáo mọi việc. Lễ biết thân lo học còn Bình ngược lại chỉ phung phí thì giờ lo chơi. Rồi vua mở khoa thi, kết quả Lễ đậu cao được vời về kinh đô làm quan; còn Lưu Bình rớt, thất chí, lại sẵn gia sản cứ ăn chơi đến lúc khánh kiệt. Khi quá khổ, sực nhớ đến bạn cũ đã thành đạt, Bình về kinh tìm đến dinh quan Dương Lễ mong sẽ được giúp đỡ, nào ngờ bị bạn cũ hạ nhục, đối xử như với ăn mày, sai quân hầu đem cho mâm cơm, trên chỉ có bát cơm với hai quà cà thâm đựng trong chiếc bát mẻ, một đôi đũa lệch và một bát nước lạnh. Lưu Bình uất hận trở về quê, mấy lần toan tự tử. Dương Lễ thương bạn đứt ruột nhưng phải tìm cách giúp anh bạn vốn hư hỏng này sao cho hiệu quả hơn là giúp tiền giúp bạc. Nghĩ thế anh bèn nhờ người vợ thứ ba xinh đẹp tên là Châu Long, giả làm gái bán lụa, ghé đến làm quen rồi tìm cách ở lại luôn với Lưu Bình, ngăn phòng với điều kiện thi đỗ rồi sẽ thành vợ chồng. Từ đó Châu Long quay tơ dệt lụa nuôi Bình ăn học. Nhưng học thì học, thỉnh thoảng lửa cũng muốn bén rơm và vì thế dân gian ta mới có câu khuyến khích bất hủ của người đẹp Châu Long là “Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng”. Vừa nuôi chí phục thù, vừa muốn được cùng người đẹp nên duyên chồng vợ, Bình dốc chí học và quả nhiên mấy năm sau ở khoá thi mới Bình đậu còn cao hơn Lễ trước đó. Nhưng khi vinh quy bái tổ thì Châu Long đã biến đi rồi.
Sau đó, Lưu Bình được vời về triều nhận chức quan lớn hơn cả Lễ. Nhớ hận xưa, anh đến dinh Dương Lễ tìm cách trả thù, nhưng lần này Lễ lại tiếp anh hết sức nồng hậu. Bình móc mỉa cho Lễ một hồi. Lễ kiên nhẫn lắng nghe và đợi cho bạn dịu xuống mới gọi vợ là cô Ba Châu Long ra chào. Thấy Châu Long, hiểu ra chuyện, Bình sụp xuống lạy vợ chồng bạn tỏ lòng vừa hối hận vừa tri ân. Từ đó Bình gọi vợ chồng Dương Lễ Châu Long bằng anh bằng chị và tình bạn của họ thật sự trở thành bất diệt.

Vừa rồi chúng ta đã nhắc lại với nhau vài mối tình bạn hữu qua sách qua truyện. Nhưng trong thực tế cuộc đời, nói đến tình bạn thì nào chỉ có từng đó. Trong liên hệ giữa người với người chúng ta còn có biết bao nhiêu thứ tình bạn khác, nào là bạn ấu thơ hay bạn đầu đời, đồng niên, đồng tuế, bạn học, bạn đồng môn, bạn đồng khoá, bạn đồng liêu, bạn đồng nghiệp, bạn gái, bạn trai, bạn trăm năm, bạn vong niên, bạn đường, bạn đồng hành, bạn chơi, bạn buôn, bạn thơ văn, bạn văn nghệ, bạn võ nghệ, bạn già, bạn vượt biên, bạn đồng hương, vân vân.
Nhưng với riêng người Việt Nam chúng ta ở hậu bán thế kỷ 20 còn phát sinh một loại bạn rất đặc thù. Đặc tính của loại bạn này vừa cao cả, vừa bi hùng và nó không thay đổi, không mất, dù từng bị lịch sử cắt làm đôi để đầu mang một tên và cuối mang một tên khác. Đó là tình bạn chiến đấu và bạn tù cải tạo.

Tháng Tư lại đến nữa rồi, Tuyết Lê xin hẹn gặp lại quý vị với những mẩu tình bạn chiến đấu và tù cải tạo sẽ được nhiều người trong cuộc kể lại trong bài viết lần tới.


Tuyết Lê - Sydney
Tháng 4/2009