Mạn đàm:

Thế đứng-Hướng nhìn

chautienkhuong

Ls Châu Tiến Khương

‘‘Tất cả đều chuyển hóa’’ đó là nguyên lý triết học của Karl Marx. Các môn đồ ông nhận thấy cần khẳng định tính tuyêt đối của quy luật, nên thêm vế ‘‘ngọai trừ quy luật nầy’’. Do vậy cơ bản chỉ đạo của học thuyết Mác-xít được xem như hoàn chỉnh với câu:

Tất cả đều chuyển hóa, duy quy luật nầy tuyêt đối bất biến.

Tận suy, ta thấy vế thêm là thừa, nhưng nghĩ lại, nhận ra nó cần thiết để các đê tử Mác xít dứt khoát tin tưởng và ghi tâm tính tuyêt đối của nguyên lý chỉ đạo.

Nhận xét tế nhị trên thực tại, nhưng mơ hồ trong viễn ảnh tương lai. Ta có thể tự hỏi sự chuyển biến theo quy luật sẽ hướng mọi vật về đâu? Nó có tiến bộ hơn, đẹp hơn không? Trên thực tế cái đẹp nào rồi cũng tàn phai. Lắm khi tiến bộ quá mức dễ đem đến tàn phá quá mức.

Trái đất rồi sẽ diễn biến như thế nào và hướng về đâu? Hiện nay, nhân loại đang lo âu địa cầu bị ô nhiễm bởi những bước tiến quá đà của kỹ thuật được áp dụng bừa bãi vào cuộc sống hằng ngày, khiến bầu khí quyển bị soi thủng, thời tiết thay đổi bất thường, gây lũ lụt, giông bão, mưa tuyết trái mùa, khắp nơi.

Với thời gian, có chi vĩnh cửu? Tất cả đều hướng về vô thường? Dù có biến chuyển, đến lúc nào đó, sự vật sẽ tàn lịm trở thành cát bụi để trở về ‘‘không’’ như Phật đã dạy từ mấy ngàn năm về trước? Theo quy luật thiên nhiên, trái đất hãy còn sống rất lâu trong diễn trình tự hủy, nếu con người đừng vì lợi ích bản thân, khai thác bừa bãi tài nguyên, bất kể tương lai nhân loại mà hậu quả là thúc đẩy sự sống trên địa cầu chóng hủy diêt hơn so với khuynh hướng diễn biến tự nhiên của nó.

Khi tóc bạc hóa tơ, trở rối trắng phau, ta mới ý thức kiếp người rất ngắn. Ta đang chung sống cùng người đương đại gồm ba bốn thế hê. Lớp con, lớp cháu đang quây quần bên ta. Nhưng ta vẫn bơ vơ trong hiên tại. Sau ta là quá khứ; trước ta là tương lai. Tuy cùng chung ‘‘thế đứng’’, mỗi cá nhân lại có ‘‘lối nhìn’’ riêng về đời mình, về những sự viêc đã thấy để nhận ra những hoài bảo mà thuở thanh thiếu ta ngỡ nằm trong tầm tay chẳng qua chỉ là ảo vọng.

Hướng về quá khứ, ta bồi hồi xúc động. Ta có Tổ quốc.Tổ quốc ta hãy còn đây, bên bờ Thái bình dương. Theo truyền thuyết vốn có từ tổ tiên, dân tộc ta thuộc ‘‘con Rồng cháu Tiên’’ đã hiên diên trên mảnh đất nầy hàng ngàn năm về trước. Đồng bào ta vẫn còn đấy, vẫn sinh sống tại đấy, trên lục địa Đông Nam Á nầy.

Đã về hưu, ta đang ở trong giai đoạn cuối đời. Tương lai ta đâu còn là viễn ảnh xa xôi vời vợi. Rồi ta phải bỏ xác nơi đất toe nạn nầy thôi ! Một khi ta mất, con cháu ta có quên nguồn cội không? Có đồng hóa hẳn để thành dân bản xứ với nếp sống khác, mất đi sắc thái dân tộc, nhìn truyền thống cha ông như lạc hậu, nhìn quyến thuộc và người cùng sắc tộc như thể nhìn người không quen.

Những ai đến ti nạn ở xứ người vào lứa tuổi trên dưới năm mươi kể từ năm 1975 đều nhớ rõ họ phải bỏ xứ, đi tìm tự do và tình người ở những nơi xa lạ vì trên quê hương họ có kẻ đã xây pháo đài ‘‘chuyên chính’’, dạy đồng bào ý niệm giai cấp đấu tranh, phân biệt bạn thù, diệt cho gọn, giết cho sạch những ai chống lại giáo điều mà Lenine và Staline đã giảng dạy. Trên quê hương ta, còn đâu nghĩa đồng bào, tình tương thân tương ái; còn đâu những con người biết khổ với cái khổ, đau với cái đau của kẻ khác, theo như đạo lý từ ngàn xưa đã khắc ghi tâm khảm:
Thương người như thể thương thân
hay
Tứ hải giai huynh đệ
Có khi ta cảm thấy mình như vong quốc. Có ai lúc biết đã già cỗi, lại không có ý muốn về quê, hay tự an ủi với hy vọng mỏng manh: rồi đây ta sẽ về quê, thăm gia đình, bè bạn, tưởng niệm bên mộ người xưa tại nghĩa trang gia đình. Tình quê ray rứt, kỷ niêm ngày thơ vẫn còn đậm nét trong tâm hồn !

Nhìn các lớp con cháu hoặc lớn khôn hay sinh ra ở xứ người, có điều kiện (lắm lúc còn nhiều hơn người bản xứ) để học hành khai sáng thông minh trí tuệ, trở thành học sinh xuất sắc, sinh viên ưu tú...ra đời rất thành công.. làm sao ta không hãnh diện !

Thế nhưng ta cảm thấy sao ấy ! Lạ thật? Trong cuộc sống hằng ngày hình như mỗi lúc con cháu mỗi xa ta. Có đứa hoàn toàn đồng hóa với môi trường sinh hoạt nên dù nó còn nhìn ta với đôi mắt thương yêu đến đâu, ta cũng cảm nhận dường như trong ánh mắt đó loé lên vài tia sáng là lạ, tợ thầm bảo tại sao các cụ lại thẫn thờ, ngớ ngẩn trong một thế giới văn minh đầy đủ tiện nghi và đẹp đẽ như thế nầy? Sống ở nơi văn minh không lo đói khát, sao thần hồn như ở đâu đâu ! Dường như chẳng tha thiết gì cả?

Nếu chúng nhìn ta như thế hãy tốt đấy ! Ta cảm thương thân thế ngay trong ánh nhìn trắc ẩn của chúng !

Cái khổ là có những đứa không quên nguồn gốc. Khi thành tài ở xứ người chúng vẫn hướng về quê hương, thèm đem sở học phụng sự đất nước. Biết mình mơ, nhưng không về, thay vì tìm hiểu, trong lòng chúng có đôi chút ta thán, chê trách. Sao không về mà lại cứ phàn nàn? Hãy quên quá khứ đi. Xóa bỏ hận thù đi. Người ta đổi mới mình cũng nên đổi mới. Hãy nhìn tương lai và quay về đoàn kết dân tộc, cùng nhau xây dựng đất nước.

Có hay không cảnh huống đó? Có buồn không khi các lớp con cháu coi ta hoặc như lạc hậu hoặc như cố chấp; tựu trung dưới mắt chúng, ta vẫn là kẻ lỗi thời lỡ vận, thần hồn lạc lõng bơ vơ.

Biết thế, chúng ta lại càng buồn thêm, càng khép kín tâm hồn hơn, giữ riêng mối u tình, chỉ mong gặp được bạn bè cũ hay cùng lứa tuổi, hé lộ nỗi lòng, trút bớt ưu tư phiền muộn, nhắc chuyện cũ người xưa, bên ly cà phê, cạnh chung trà trong một quán vắng quạnh hiu nào đó.

Cũng có thể, ngay trong lúc ấy, một số không ít con cái chúng ta đi họp bạn để nghe những người về V.N. ‘‘tham quan’’ trở qua tán dương cảnh hào nhoáng xe cộ dập dìu của Sài-Gòn, hoa lệ hơn trước, Hội An chật ních du khách, vịnh Hạ Long kỳ quan thế giới, động Phong Nha, cảnh Hoa Lư, Hồ Tây, Hồ Gươm thơ mộng của thủ đô Hà Nội, những món ăn vừa tươi vừa lạ vừa ngon của từng địa phương, các cô gái đẹp, xinh, ăn vận đúng thời trang và nhứt là...cái giá quá rẻ của đời sống. Đôi khi cũng có người gợi chuyện, thuật cảnh nghèo khó ở thôn quê, đói ăn thiếu mặc, bênh tật không được chăm sóc, đau ốm không tiền mua thuốc, mỗi người phải quần quật cả ngày mới kiếm được một hay hai đô la. Những xóm có nhà khang trang đều nhờ tiền con em ở ngoại quốc gởi về...

Những câu chuyện đó khiến một số thanh niên thích thú, mơ có nhiều tiền, đem về tung xài ăn chơi thỏa thích, để trả thù đời (?)... Cho chúng tôi xin đi các bạn. Đời có phụ các bạn đâu mà bạn đòi trả thù, vả lại nếu có chút hận lòng nào thì cố nhận chân đúng kẻ gây tội ác, chớ đừng trả thù trên thân xác các cô gái quê vị thành niên nghèo đói phải ra thành phố kiềm tiền trợ giúp gia đình. Nên nhìn...bao bạn bè khác, xúc động bởi cảnh nghèo khổ của dân quê, chỉ muốn về xứ đem sức lực, tài nghệ, chất xám, xây dựng quê hương sớm thoát cuộc sống bần hàn bữa đói bữa no trong chế độ xã hội mà lãnh đạo cố phác hoạ những viễn ảnh không tưởng của những ngày mai ca hát.

Chúng ta thấy rõ một số lớn dân ta, tuy hội nhập vào xã hội xứ người, được đối xử ngang hàng với dân bản xứ, ít khi bị kỳ thị... nhưng vẫn còn tinh thần dân tộc luôn hướng về đất nước. Chúng ta có ‘‘thế đứng’’ trên những xứ giàu có nhưng đâu quên nỗi khổ của đồng bào đang sống trong cảnh bần hàn. Nhưng ‘‘lối nhìn’’ của chúng ta có khác.

Có kẻ nhìn quê nhà với cặp mắt vị kỷ: đó là nơi ăn uống ngon rẻ, vui chơi thỏa thích với số tiền chẳng là bao? Họ về quê như đến nơi nghĩ mát lý tưởng.

Có người thích về nghiên cứu môi trường xem có hợp nguyện vọng, tài năng và cái vốn thường khi hạn hẹp của mình rồi ước tính kích thước kinh doanh liệu coi có hợp với sự phát triển và sức mua của thị trường trong xứ không?. Ở xứ người, dù có tài năng sở học, mình chỉ làm công cho người, chớ tiền đâu mà mơ lập xí nghiêp đương đại. Vì vậy bao nhiêu bạn trẻ ao ước về, đầu tư chất xám và vốn liếng trong môi trường đất nước?

Trong khi đó, tại xứ, biết bao kẻ mong ước rời bỏ chế độ hư nát hổn độn với kiếp sống tù túng, người chẳng ra người. Bực quá chưởi thề à? được đấy ! Nhưng thẳng thắn trình bày ý kiến về chế độ, phê bình chính sách dù thành tâm và khách quan đi nữa...là chuẩn bị đi tù... ‘‘cải tạo’’. Chế độ luôn tự cho là dân chủ nhưng nếu ai nhơn danh dân chủ để công khai yêu cầu duyệt xét sửa đổi lại dễ bị coi như âm mưu lật đổ chính quyền !.

Thật là cạn suy. Nếu chế độ mình tuyêt vời, chính sách mình luôn đúng...hà tất phải sợ dư luận? Tại sao lại ‘‘ngán’’ tự do ngôn luận khi mình thường nói: cách mạng nói thì cách mạng làm; với tinh thần khoa học cách mạng tính không sai và thi hành bao giờ cũng đúng... Nếu mình luôn luôn tài tình như thế cớ gì lại sợ dư luận quần chúng khi lãnh tụ đã từng căn dặn quần chúng có ‘‘trăm tai nghìn mắt’’.

Có khi nào họ chịu công khai tự hỏi, tại sao trong chế độ gọi là tốt đó, lại có người bỏ xứ sang nước láng giềng trốn chui trốn nhủi để lao động bất hợp pháp? Biết bao cô gái quê chỉ mong có chồng nước ngoài để được đi ra khỏi xứ, dù lắm cô, khi qua xứ người, bị miệt thị, khinh khi. Có cô bị đối xử tàn nhẫn, đánh đập hung bạo...có cô rơi vào mạng lưới mãi dâm...

Bao nhiêu người trong nước đang ngóng nhìn hải ngoại, coi việc bỏ xứ như là cơ may để sống đời tự do, thoát khỏi hăm dọa ức chế... để rồi khi có tiền gởi về cho gia đình sẽ được chế độ cưng chiều, ve vuốt như ‘‘khúc ruột ngoài ngàn dặm của quê hương’’.

Bao người với thế đứng trong xứ, lại có lối nhìn hướng ngoại ! Trong khi ở hải ngoại, với ‘‘thế đứng’’ ngoài xứ, bao kẻ hướng nhìn về cố hương ! Sự đời sao lắm trái ngang. Phải chăng thế đứng, lối nhìn đem đến nhận định khác nhau với những giấc mơ khác nhau? Nhưng thực tế chắc hẳn không bao nhiêu việt kiều chịu đổi chổ đứng của mình với người trong xứ và ít kẻ dám từ bỏ quốc tịch ngoại vì đó là nguồn sống và là lá ‘‘bùa hộ mạng’’ nếu gặp cảnh trái ngang.

Riêng chúng ta, gốc người tị nạn, tuy chưa về hay không muốn về, nhưng với tinh thần dân chủ tự do, ta không nên tị hiềm với bạn hay con cháu nếu vì lý do nào đó muốn về xứ.

Mỗi cá nhân có sở nguyện riêng. Chưa biết thâm tâm và ý đồ thì không nên vội phê phán. Vả lại ta căn cứ trên tiêu chuẩn nào để đánh giá họ? Đặng tiểu Bình khi gởi 2.000 sinh viên Trung Quốc du học hải ngoại có nói: ‘‘Trong số người đi ấy, ta chỉ ước mong được một kẻ về thôi. Với người về đó ít ra ta cũng có được cái nhìn xác đáng biết được kỹ thuật và xã hội bên ngoài’’. Thiết tưởng chúng ta nên có quan niệm tương tợ. Trong hàng vạn người về quê hương nghỉ hè vui chơi thoả thích hay để nhìn lại xóm làng, thăm hỏi bà con thân quyến, biết đâu chẳng có vài người nặng tình quê hương với biết bao hoài bảo. Nhờ họ, ít ra ta cũng biết qua thực chất của chế độ, có thật sự đổi mới không và nhất là biết rõ dân có thực sự hạnh phúc không? Có thật nhiệt tình với chế độ không? Có thế ta mới có chất liệu suy tư.

Các bạn già ơi ! Đừng thất vọng khi con cháu có ý nghĩ khác mình.

Mình có lý do để không về. Chúng có lý do để về. Không nên vì khác ý nhau mà buồn trách. Đôi khi mình nên trách mình. Tại sao mình không ghi chép lại nỗi éo le khúc mắc liên hệ đến những sự kiện mình biết để các em cháu lướt qua, đọc qua, hầu rút nhiều kinh nghiệm hữu ích. Nếu mỗi cá nhân chúng ta đều cố gắng làm được viêc ấy chẳng những có ích mà còn lưu lại những sự kiên lịch sử đó, để cho thế hệ mai sau tránh được những nhận xét a dua, hồ hởi của cán bộ cung đình với dụng tâm thần thánh hoá chiến thắng cũng như cố tâm giấu nhẹm những mưu gian kế độc nhằm hãm hại loại trừ đối thủ để đạt sở nguyện dù đối thủ đó xưa kia chính là bạn cùng tranh đấu với mình trong hàng ngũ chống thực dân, giành độc lập.

Có thế hỏa mù mới tan đi để chân lý hiện rõ.

Ước chi các cộng đồng ở khắp nơi có người Việt ti nạn đều lập câu lạc bộ để tổ chức các buổi hợp đều đặn, khuyến khích mọi cá nhân trình bày những kinh nghiệm sống, những nỗi tủi nhục đã trải qua và những đau buồn, gian truân khiến họ phải bỏ xứ ra đi.

Những ước mong nầy dù có ai cố thực hiện được đi nữa, liệu có người tham dự không? Ngày nghỉ của chúng ta quá hiếm, mấy ai chịu bỏ thời giờ quý báu đó để ’’đau đầu’’ với ưu tư của kẻ khác, khi chính mình cũng muốn quên đi những đắng cay đời mình để thanh thản tinh thần vui sống trong cô đơn của số kiếp lưu vong. Toàn hư ảo cả !

Châu Tiến Khương

(Trích đăng: Đặc san Xuân 2012 -Pétrus Ký Pháp)