TẤM LÒNG MẸ

Đỗ Bình

mary cassat

Người xưa đã nói: «Nếu hỏi điều kỳ diệu nhất trong thế giới này là gì, thì đó là trái tim của mẹ».
Mẹ là tiếng gọi đầu đời của trẻ thơ, là dòng sữa ngọt nuôi nấng con thơ lúc chào đời, dạy con bắt đầu học nói, hát ru ngủ, chăm sóc lúc con thức và tập cho con những bước đi đầu tiên. Người xưa còn nói: «Thượng Đế không thể có mặt ở khắp mọi nơi nên ngài đã sinh ra các bà mẹ để thay mặt ngài chăm sóc đàn con». Tình mẹ diệu vợi luôn luôn nồng ấm hòa nhập với mạch sống hạnh phúc đau khổ của con. Lòng mẹ hân hoan sung sướng khi thấy con khôn lớn, thành đạt trong xã hội, và sãn sàng chia sẻ những muộn phiền lo âu khi con gặp những thất bại trên đường đời. Trong lịch sử Việt Nam những gương hy sinh của mẹ cho con trong thời loạn và thời bình những chuyện đó nhiều vô kể. Tình mẹ được thể hiện trong những tác phẩm văn học và nghệ thuật qua thi văn, âm nhạc, điêu khắc, hội họa, điện ảnh, sân khấu... Người nghệ sĩ dù đã đem tài năng, tim óc để diễn tả về khối tình tuyệt vời đó nhưng vẫn không tả hết về tấm lòng cao cả bao la sâu thẳm của người mẹ! Hình ảnh người mẹ trong lãnh vực tôn giáo: Phật Giáo có đức Quan Thế Âm được tôn sùng dưới hình thức Mẹ. Thiên Chúa Giáo có đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong kho tàng văn hóa Việt Nam những truyện cổ tích, ca dao, tranh họa, cải lương, kịch... viết về mẹ không nhiều, nhưng lại thắm tình dân gian nên lưu truyền đến ngày nay. Có người ví: «Trái tim của người mẹ là một kỳ quan tuyệt hảo nhất trong số những kỳ quan trong vũ trụ và cũng là trường học cho đứa con».

Nói về tình mẹ và đức tính hy sinh thì trên thế gian quả chẳng có bút mực nào kể hết. Theo tiến trình thời gian kể từ thuở hồng hoang đến nay vạn vật đã có nhiều sự biến mất và thay đổi, nhưng tình mẹ thương con vẫn không hề biến dạng. Vìệt Nam từ thời xa xưa cho tới hiện nay, nghèo đói, thiên tai, chiến tranh, chế độ hà khắc, quan liêu… vẫn triền miên đè nặng lên đôi vai những người dân lam lũ, đó là những cái ách của dân tộc!
Có một năm quê miền Trung bị thiên tai bão lụt nặng, dòng nước tràn như biển cả, ngập lên nhà và cuốn đứa con đi. Người mẹ nhìn thấy đã lao mình xuống dòng nước chảy thác lũ để cứu đứa con đang bị cuốn trôi. Người mẹ một tay cố nâng cao đứa con, một tay cố bơi tìm chỗ bám. Khi bơi vào được bờ, đứa con được cứu sống nhưng người mẹ đã chết vì kiệt sức! Trong thời chiến tranh đất nước mịt mù khói lửa đạn vì xảy ra những cuộc giao tranh khốc liệt. Người dân gồng gánh kéo nhau đi tản cư, trong số đó có nhiều người mẹ tay ôm sát con thơ vào lòng như muốn che chắn lằn đạn, tay dắt con nhỏ chạy đi lánh nạn. Sau năm 1975 trong chế độ Cộng Sản, thiên đường của tem phiếu, nhiều bà mẹ vì mưu sinh phải đi bán máu để lấy tiền nuôi con. Sau khi đã bán máu, có người vì muốn có thêm tiền phải đến nhà thương liên tục nhưng bị từ chối. Quá cần tiền nên bà lại đi chỗ khác bán,và cứ nhiều lần như thế bà đã chết vì kiệt sức do mất quá nhiều máu!
Chẳng biết câu ca dao sau đây có từ bao giờ đã diễn tả nỗi lòng người mẹ, bài ca dao thành bài hát ru tả bi kịch đời nghe ray rứt, bùi ngùi mà âm còn vọng mãi hôm nay:
«Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi, mẹ dắt con đi.
Con thi trường học, mẹ thi trường đời».

(Ca Dao Việt Nam)
Nhưng tấm lòng cao vợi của người mẹ đâu phải lúc nào cũng được hưởng hạnh phúc, đôi khi gặp những nghịch cảnh đau lòng:
«Gió đưa bụi chuối sau hè,
Anh theo vợ bé bỏ bè con thơ.
Con thơ tay ẵm tay bồng,
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông».

(Ca Dao Việt nam)

Ở những trường hợp ấy người mẹ đành nuốt nước mắt cắn răng chịu đựng nuôi con, hy vọng mai sau đàn con sẽ chóng nên người hữu dụng. Nhưng đời có lắm nghịch cảnh cười ra nước mắt, người đời thường bảo: «Nước mắt chảy xuôi, chứ nào chảy ngược!». Lúc các con còn bé sống chung với cha mẹ, nhưng đến khi lớn khôn thành đạt thì có cuộc sống riêng và bắt đầu làm cha làm mẹ, và tình thương dành hết cho con nhưng lại quên người đã sinh ra mình! Sự thờ ơ đó khiến cõi lòng người mẹ đau xót, chỉ biết im lặng vì sự hạnh phúc của các con. Trên môi người vẫn nở nụ cười cho các con an tâm, và cũng muốn che dấu một nỗi buồn sâu kín!
«Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,
Con nuôi mẹ con kể từng ngày!»
(Ca Dao Việt Nam ) Danh sĩ Lamartine đã nói về mẹ:
«Hạnh phúc thay cho những người nào được thượng đế ban tặng một hiền mẫu»
(Lamartine).

Nhà danh họa người Mỹ Mary Cassat cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thuộc trường phái ấn tượng đã vẽ một bức tranh sơn dầu mang chủ đề Tình Mẫu Tử là một trong những bức tranh gía trị của thế giới. Tình mẹ không những bao la như biển trời thể hiện ở con người mà, mà tình mẹ cao cả còn thể hiện ở loài cầm thú về lòng hy sinh cũng vô bờ bến.

mary cassat mary cassat

Hình ảnh chim Bồ Nông (Pélican) trong thánh kinh đã kể rằng: «Vì không tìm được mồi, sợ con đói, chim Bồ Nông đã tự rỉa thịt mình cho con ăn.» Thật là cao đẹp thay cho tình mẹ! Ở động vật khác cũng có một loài nhện, khi con còn bé nhện mẹ đi tìm thức ăn nuôi con, nhưng khi con lớn nhện mẹ không thể đi tìm mồi nên đã nằm để cho nhện con ăn thân mình!
Nỗi lòng của người mẹ được giới nghệ sĩ trân trọng và đã diễn tả tâm tình qua nhiều phong cách khác nhau, trong đó có Âm Nhạc. Đây là bộ môn nghệ thuật dễ gây rung cảm lòng người qua giai điệu, tiết tấu, ca từ. Những hình ảnh trong lời ca gợi cho người thưởng lãm hòa vào cõi âm thanh đầy sắc màu để sống với giây phút riêng, nhớ về một kỷ niệm. Phải chăng trong tâm hồn mỗi nhạc sĩ đều có chất thơ nên nhạc phẩm đã giao hưởng lời thơ ý nhạc? Ở ngiữa thập niên 60 thế kỷ trước, ca khúc Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân làm ray rứt lòng người. Ca từ và giai điệu quyện nhau kết thành một nghệ thuật, ca từ như một bài thơ diễn tả nỗi lòng tuyệt vời của người mẹ, còn giai điệu là những nốt nhạc buồn làm thổn thức con tim nên đã ghi dấu ấn muôn đời về tấm lòng tuyệt vời của người mẹ:«Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào, tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Lời ru êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru trăng tà soi bóng mẹ yêu….Thương con thao thức bao đêm trường, con đà yên giấc, mẹ hiền sung sướng biết bao. Thương con khuya sớm bao tháng ngày, lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn. Dù cho mưa gió không quản thân gầy mẹ hiền. Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền. Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm. Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên.. » (Lòng Mẹ) Thời đất nước ở giai đoạn chống ngoại xâm, nhạc sĩ Nhị Hà viết lên ca khúc Mẹ Tôi mà ca từ có lẫn những giọt nước mắt thấm vào hồn người nghe như tiếng chuông vọng buồn từ cõi xa: «Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày. Mẹ tôi đau buồn nặng chĩu đôi vai, bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại, cầu mong con mình có một ngày mai. Mẹ tôi nắng mưa chẳng ngại nhọc nhằn, Mẹ tôi mỉm cười nhìn bóng con ngoan. Không than không phiền dù lâm hoạn nạn. Lòng mong con mình xứng thành người dân…Nhưng nay con nên người, thì nay còn đâu bà mẹ hiền xưa! Chiều nay đốt hương tưởng niệm trước mồ, Nhìn khói đau lòng tưởng nhớ năm xưa. Công ơn sinh thành ngày nao đền trả. Mẹ ơi con mẹ nhớ lời mẹ khuyên.» ( Mẹ Tôi)
Hình ảnh người mẹ được gắn liền với sự thăng trầm của đất nước. Người nghệ sĩ đã nhân cách hóa người mẹ với quê hương để ca ngợi những đức tính nhẫn nại, hy sinh, và sự gian khổ. Trong thời chống ngoại xâm không một ai không bị ảnh hưởng của ly loạn, thân phận người đàn bà có lẽ chịu nhiều thiệt thòi, đắng cay nghiệt ngã nhất! Nhạc sĩ Phạm Duy đã viết lên ca khúc Bà Mẹ Gio Linh, bài ca mang tính biểu tượng, một biểu tượng đẹp về bà mẹ Việt Nam chống ngoại xâm:
«Mẹ gìa cuốc đất trồng khoai, nuôi con đánh giặc đêm ngày. Dù cho áo rách sờn vai, cơm ăn bát vơi bát đầy.. (Bà Mẹ gio Linh)

Thời kỳ đất nước mịt mù khói lửa đạn bom vì cuộc chiến Quốc Cộng, nhạc sĩ Lam Phương đã xúc cảm viết lên ca khúc như tiếng ru buồn diễn tả nỗi lòng cô quạnh của thiếu phụ chờ chồng và tấm lòng của người mẹ trong thời chiến:
« Đêm khuya rồi à ơi. ...con yên ngủ. Trăng xa vời đèn gầy nào soi kiếp người. Mái tranh nghèo lạnh lùng hắt gío sương rơi, được nhìn con thân mẹ dường ấm cuộc đời. Hận loạn thù tình cha dứt bước ra đi, tháng năm qua thôn nghèo chờ mối duyên quê. Rồi một ngày người người lừng chiến công về, mừng thầm mẹ hỏi tin cha, ngờ đâu bóng đã khuất xa!» (Tình Mẹ)
Chiến tranh nào mà không gây máu lửa phân ly, những nỗi buồn chất thành núi. Làm sao đếm hết được những giọt nước mắt của mẹ già, con dại hay vợ hiền? Nhưng có lẽ sự thống khổ của người mẹ là tột độ! Thời ấy xuất hiện một nhạc sĩ với dòng nhạc phản chiến, những ca khúc phẫn nộ như muốn nói lên nỗi niềm của thân phận làm người trong một đất nước chiến tranh. Quả thật chiến tranh đã gieo vào tâm hồn Trịnh Công Sơn một ấn tượng mạnh khiến dòng cảm xúc tột độ nên ông viết được những tác phẩm làm xao xuyến lòng người. Tuyển tập Ca Khúc Da Vàng, trong ca khúc có những câu:
«Mẹ gìa lên núi tìm xương con mình…Mẹ ngồi ru con nước mắt nhục nhằn, xót xa đời mình…Thôi ngủ yên đi con, ngủ đời yên đi con che dấu thân đau rã mòn…». Giai điệu và ca từ sâu lắng đó réo rắc, trầm bổng như tiếng kinh gọi hồn nghe ai oán bi thương đến rợn người, làm xói mòn tâm thức của những người trai cùng thế hệ đang cầm súng làm nhiệm vụ bảo vệ sự tự do quê hương! Người ta tự hỏi có nên trách người nghệ sĩ sáng tác về những nỗi buồn chiến tranh? Làm sao cấm được dòng cảm xúc của người nghệ sĩ? Thế nhưng sau cuộc chiến, trước những thực trạng quá đen tối của đất nước, rất tiếc người nhạc sĩ phản chiến ấy đã không đi hết hành trình của tâm thức nghệ sĩ để nói lên nỗi thống khổ của dân tộc dù người nghệ sĩ đó ở phía nào, hay nhìn một góc độ nào. Những bi kịch ấy dưới ngòi bút tài hoa có thể viết lên những tác phẩm để đời mang dấu ấn thế kỷ. Tiếc thay nét nhạc tài hoa ấy bị nỗi sợ hãi làm nhòe!
Chiến tranh đã qua nhưng niềm đau của đất nước vẫn còn! Minh Đạo người nhạc sĩ có thời làm cựu thẩm phán đã chẳng than trách và đổ thừa cho ai khi thế sự đã thay đổi, mà chỉ ngậm ngùi cho những năm tháng tù đày và cuộc đời phiêu bạt. Nhớ mẹ Minh Đạo đã mượn nốt nhạc để giải nỗi sầu như một lời tạ tội với mẹ:
« Hôm nay ngày giỗ mẹ, nhớ từ thuở ấu thơ cha đã không còn nữa, mẹ con cùng bơ vơ. Miếng cơm hòa nước mắt, những tủi nhục kiếp người. Mẹ nửa con một nửa cùng chia sớt dòng đời. Đời con giờ phiêu bạt, bạc đầu vẫn trắng tay. Cúi đầu xin lỗi mẹ, con nghe mẹ thở dài!»
(Con Nghe Mẹ Thở Dài)
Trong dòng thi ca Việt Nam từ xưa đến nay những bài thơ nói về mẹ thể hiện một sắc thái độc đáo, đặc sắc mang dấu ấn riêng không nhiều. Tùy theo tâm trạng, hoàn cảnh của từng nhà thơ nên cảm xúc diễn đạt bài thơ tuy có khác nhau về nội dung và hình thức, nhưng vẫn có điểm chung là giữ được tính chất: Chân và Thiện về người Mẹ. Bước vào cõi thơ là để lắng nghe tiếng lòng thỏ thẻ của thi nhân, tùy theo tâm cảnh mỗi nhà thơ hòa nhập với ngoại cảnh. Danh sĩ Tản Đà đã trải tấm lòng để diễn tả nỗi lòng người mẹ qua lời ru trìu mến trong đêm khuya thanh vắng:
« Con ơi con ngủ đêm tàn,
Một hai giấc điệp muôn vàn tình thâm.»
Hình ảnh người mẹ hiền là chất liệu tạo cảm xúc trong thơ của Nguyễn Hữu Nhật.
Nhà thơ đã tả lại khung cảnh gia đình:
«Mẹ ngồi tụng kinh Liên Hoa
Làm thơm suốt cả dãy nhà ba gian.
Mình con ngủ gật cạnh bàn,
Bài chưa thuộc hẳn, mộng toàn hoa sen. »

(Thơ Hoa Sen)
Lời ru, tiếng hát của mẹ vang vọng đêm khuya, những buổi trưa hè, những chiều nắng tắt, tthanh âm lời ru ngọt ngào dỗ con vào giấc ngủ. Một khoảng không gian như ngừng lại chỉ còn tiếng ngân trầm bổng, quen thuộc đầy trìu mến. Lời ru tiếng hát của mẹ đã thấm vào hồn con, ẩn trong tiềm thức và hiện trong giấc mơ, đó là món qùa thiêng liêng vỗ về tinh thần ta suốt cuộc đời. Nhà thơ Mạc Phương Đình đã viết lên vần thơ về lời ru đó:
«Nửa khuya giọng hát nhà ai
âm ba tiếng Mẹ ru dài phố đêm
lời ru khi nổi khi chìm
mang mang hoài niệm cho tim bồi hồi.
Ta thầm gọi nhỏ: Mẹ ơi !
tháng ngày thơ ấu đẫm lời Mẹ ru
nghe trong tiềm thức sa mù
giọng xuân đầm ấm, giọng thu dịu dàng
trưa hè giọng Mẹ nhặt khoan
đêm đông lời Mẹ như than lửa hồng…
Một đời thân Mẹ long đong
lời ru vẫn mãi thanh trong ngọt ngào
lời ru như giấc chiêm bao
chắp con đôi cánh bay vào tương lai…»
(Lời Ru Của Mẹ)
Thời xưa trong dân gian lưu truyền một bài thơ: «Khóc Bằng Phi » rất trữ tình trong giới hoàng tộc, mà tác giả là Vua Tự Đức (1848-1883). Ngài có người thứ phi tên là Thị Bằng qua đời nên tiếc thương đã làm một bài thơ thể Đường luật, trong câu luận(5,6):
«…Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi…»

Nhà thơ Phan thị Ngôn Ngữ nhớ mẹ đã xúc cảm qua bài: Niềm Thương, bài thơ diễn tả nỗi nhớ, niềm thương về sự cô đơn của mẹ. Nhà thơ hình dung dáng mẹ với nỗi lòng héo hon mong ngóng đứa con xa cách. Câu thơ:«Mong con về ấm lại chiếu giường xưa…», tấm lòng của người mẹ thương con diệu vợi, bà đã chắt chiu giữ lại từng kỷ niệm của người con yêu dấu, và nhà thơ lòng cũng xót xa muốn trở về mái nhà xưa tìm lại hơi ấm, bên mẹ hiền.:
«Thương mái nhà tường xiêu vách lệch,
Dăm đám lục bình tim tím phủ ao nông.
Mùa đông cắt da, mùa hạ ói nồng,
Thương mẹ già nua mỏi mòn mắt đỏ.
Mong con về ấm lại chiếu giường xưa.
Tuổi lắt lay như chiếc lá cuối mùa
Đêm trở gió một đèn khuya đối bóng.. »

(Niềm Thương)
Nhà thơ Ý Nga bày tỏ nỗi lòng về mẹ qua bài thơ:
Quê mùa, mộc mạc Mẹ hiền
Nuôi con vui sướng, muộn phiền Mẹ riêng
Thương thay là phận thuyền quyên
Một đời tần tảo, một duyên, vô phần.
Thật thà, chân chất vô vàn
Mẹ đi chân đất cho con dặm ngàn.
(Chân Đất)
Nhà thơ Tô Giang gởi chút tâm sự qua bài thơ ca ngợi đức tính hy sinh của người mẹ:
«Thuở con mới chào đời,
Mẹ tuổi trăng mười tám…
Tóc xanh mẹ góa chồng
Tháng năm dài còm cõi
Mẹ con sống âm thầm
Mái tranh nghèo dột nát,
Gío lùa những đêm đông..»

(Kiếp Mẹ)
Nhà thơ Nguyễn Ngu Í đã phác họa chân dung người mẹ bằng những giọt lệ từ nhịp đập con tim mình qua bài:
«Con nhìn má, má gầy nhiều, má hỡi,
Xương, gân này rõ rệt ở tay chân,
Má, lại đây, má, cho con má nhìn gần,
Coi tóc má bạc nhiều hay ít… »

(Má)
Sau chiến cuộc, người mẹ Việt Nam lại một lần nữa khóc cho số phận của đất nước khi nhìn thấy quê hương biến thành những trại tù đày ! «Hòa bình ơi bạo lực chắn lối về, tàn chiến cuộc khói ngút bay trần thế ! ». Mặc dù đất nước không còn chia cắt bến bờ, nhưng bạo lực và tội ác lan tràn, người người đành phải bỏ nước ra đi xa lánh bao quyền, đánh đổi sinh mạng vượt biển để đi tìm tự do. Những người ở lại sống trong hoàn cảnh nghèo đói khốn cùng, biết bao bà mẹ dầy nước mắt tiễn con đi lưu đày! Nhà thơ Phương Triều xúc cảm làm vần thơ để diễn tả nỗi lòng của người mẹ. May mắn cho nhà thơ ngày ra tù vẫn còn gặp được mẹ, và nay ông đã cùng mẹ về cõi vĩnh hằng!: «Mẹ gìa tóc bạc hơn sương
Hái cho con trái quýt đường đầu năm
Bà con giòng họ hỏi thăm
Rằng con luân lạc mấy năm lưu đầy?
Núi cao, biển thẳm, sông dài
Những thân tù rạc biết ngày về chưa?
Mẹ ơi, chiều nay không mưa
Sao nghe ướt mặt như vừa tiễn ai!
Con về xơ xác hình hài
Mẹ không khóc được như ngày cách xa!
Mẹ tôi nay đã quá già
Nước mắt đã cạn, xót xa lại đầy!... »
(Đã Cạn)
Người ta cứ tưởng đến tuổi già là được an nghỉ, nhưng sau chiến tranh trong chế độ tem phiếu đời sống kinh tế khó khăn, tuổi già lại càng cơ cực hơn. Những bà mẹ Việt Nam đã cơ cực lại phải chắt chiu để có thể nuôi những đứa con trong tù. Nhà thơ Song Nhị nhớ mẹ mà lòng đau xót, trong tù đã mượn vần thơ như một lời tạ lỗi với mẹ:
«Ngoài bảy mươi chưa hết nỗi đoạn trường,
Đau thương chất lên tuổi gìa sức yếu. ..
Mẹ chắt chiu dành dụm trong tay
Từng đồng bạc để nuôi con cải tạo.
Con ngồi trong bốn bức tường trân tráo
Từng đêm dài tiếng mẹ vọng yêu thương. …»
(Bài viết về Mẹ)
Bài ca dao được nhiều nhạc sĩ lấy ý, có bài phổ theo thể ngũ cung âm hưởng điệu Tứ Đại Oán nghe não nề. Giai điệu buồn vọng thấm vào hồn người về thân phận mong manh con người!:
«Mẹ già như chuối chín cây,
Gió lay mẹ rụng, con phải mồ côi. »
(Ca Dao Việt Nam)
Có niềm đau nào hơn niềm đau ly biệt, mẹ như vầng trăng tròn tỏa sáng, người mất mẹ cuộc đời chỉ nhìn thấy nửa vầng trăng. Trăng trên trời là tính thể, trăng trong thi văn hội họa là biểu tượng cho cái đẹp trong sáng nhẹ nhàng đầy thơ mộng. Trăng có lúc tròn có lúc khuyết, cái khuyết trong sự vật là hình thể bị biến dạng méo mó như khối pha lê vỡ, còn cái khuyết trong tinh thần là sự mất mát không bao giờ tìm lại được! Hình ảnh người mẹ là bóng mát là chỗ dựa cho người con dù ở tuổi nào. Nhà thơ Phan Ngọc An đã khóc mẹ qua bài thơ:
« Đêm nay giữa chốn phồn hoa,
Có hồn thơ nhỏ chan hòa giọt châu.
Trắng đêm thao thức vì đâu,
Năm canh đối mộng vương sầu biệt ly.
Mẹ đành bỏ trẻ ra đi
Hồn nương theo gió mẹ đi không về.
Sương khuya bàng bạc sơn khê,
Hồn đơn vất vưởng ủ ê trăm chiều.
Sống đời một kiếp cô liêu,
Mẹ buồn mẹ khóc bao điều thở than…
….
Mẹ ơi, giòng lệ con trào,
Thương con thương mẹ ruột đau chín chiều.
Giọt châu khóc mẹ đã nhiều,
Chỉ mong hồn mẹ tiêu diêu cõi phàm.»
(Bài Thơ Khóc Mẹ)

Nhà thơ Uyên Phương Minh Nguyệt cũng đồng cảnh nhưng làm thơ khóc mẹ chồng:
«……………………..
Mẹ ơi về cõi thiên thai
Dòng châu có chảy, sớm mai có buồn?
Nợ trần Mạ có vấn vương?
Thì xin theo gió tỏa hương chốn này.
......................
Chiều nay mây lững lờ bay,
Chim sầu lìa tổ, cỏ cây cũng buồn
Mạ giờ bên suối xa nguồn,
Chúng con nhớ Mạ lệ tuôn chảy dài!!
Âm dương cách biệt từ đây,
Bụi trần thôi vướng, đường mây đón chào.
Vẫy tay Mạ bước nghẹn ngào,
Con vương tay níu chìm vào hư không!!!

(Thương Nhớ Mạ)
Nhà thơ Trần Trung Đạo ôm một nỗi bất hạnh khủng khiếp khi mới chào đời ông đã mất mẹ! Có lẽ do nỗi buồn to lớn ấy đã giúp ông có những nhạy bén về cảm xúc hơn người. Thơ ông có một sắc thái riêng :
«Con chẳng về đâu dù mưa hay nắng
Sông Thu Bồn trăng tháng bảy còn in
Mười năm trời con làm mây viễn xứ
Mười năm dài biền biệt dấu chân chim
Ngày mẹ chết con chưa tròn một tháng
Cha tảo tần sớm nắng với chiều mưa
Thiếu sữa mẹ đời con thành đại hạn
Thiếu lời ru con lớn với lọc lừa…»

(Chuyện Đời Mẹ)
Nghịch cảnh đất nước làm đau lòng người. Nhà thơ Tùy Anh sau nhiều năm tù đày, nay làm kiếp lưu vong đã viết những lời thơ thống hối tạ lỗi với mẹ:
“Trắng tay tự thuở vào đời

Cũng hoàn tay trắng khi rời thế gian.
Mẹ ơi, biền biệt non ngàn
Giờ thương khóc mẹ muôn vàn xót xa. »
( Khóc Mẹ)

Thời thế hỗn mang, có những ước mơ tưởng bình thường nhưng không bao giờ toại nguyện, chỉ là nỗi niềm, như những sợi tóc trắng rụng theo thời gian! Hết chiến tranh, lòng người đố kỵ nhau gây thêm hận thù ly tán khiến bao cảnh đời tan tác phiêu bạt khắp nơi! Mẹ tôi tuổi đã quá cao, lúc còn chiến tranh hằng cầu nguyện cho quê hương sớm thanh bình để con mình khỏi chết trận. Sau khi hết chiến tranh lại cầu nguyện cho con thoát khỏi lao tù. Và giờ đây lại cầu nguyện quê hương được tự do dân chủ để con trở về cố hương. Tôi một đời tha hương vì tự do, viết bài này như một lời tạ tội suốt đời làm cho mẹ buồn!
«Trước ngõ tuyết giăng màu tóc mẹ,
Quê người xuân đến mắt buồn se!
Ðược tin mẹ bệnh lòng nôn nóng,
Lời hứa chưa nguôi chẳng thể về!

Thuở giặc tràn vào gieo nỗi sơ...
Cảnh nhà tan tác mẹ bơ vơ
Thân gìa còm cõi dầm sương nắng,
Lặn lội tìm con, ngóng với chờ...

Thế sự xoáy theo dòng thác lũ,
Ðời con biền biệt mấy xuân thu!
Bóng gầy thui thủi soi trên vách,
Mỏi mắt trông con thoát ngục tù.

Viễn xứ mây chiều vương dáng mẹ,
Mắt buồn u uẩn mấy hàng tre
Tuyết rơi tê tái hồn vong quốc,
Mẹ xá cho con tội muộn về !»
( Mẹ)

Đỗ Bình
Paris 13.05.2017



CHẶNG ĐỜI

Đỗ Bình

Thời gian như gió thoảng mới ngày nào tóc còn xanh hồn mộng mơ đầy hoa bướm, chớp mắt tóc đã phai màu! Chiều trên phố Paris nắng nhuộm vàng không gian làm rực rỡ cảnh sắc, những cánh hoa vàng thắm, những chiếc lá non ửng hồng lóng lánh. Trời xanh ngát, nhìn áng mây chiều lờ lững tôi chợt thấy cô đơn, lòng dâng cảm một nỗi buồn xa vắng!
Từ ngàn xưa cho đến nay ít có dân tộc nào lại không có một lần chiến chinh ? Khi đất có chiến tranh người dân phải chịu nhiều đau khổ vì nó như một cơn hồng thuỷ tàn phá thiên nhiên huỷ diệt con người và mầm sống! Lịch sử của mỗi dân tộc tuy khác nhau nhưng mỗi dân tộc đều có những trang thiên hùng ca ghi dấu những chiến công hiển hách, những trận đánh lẫy lừng, và những cuộc chém giết thật hãi hùng. Ngày nay khoa học tiến bộ những vũ khí xử dụng rất tối tân thì sinh mạng con người càng dễ bị đe doạ. Những ai đã từng trải qua trong khói lửa chiến chinh chắc không khỏi tự hào xen lẫn ngậm ngùi mỗi khi nhắc đến chiến tranh? Cuộc chiến ý thức hệ Quốc Cộng xảy ra trên quê hương kéo dài trên hai mươi năm dù đã qua lâu nhưng vết thương chiến tranh vẫn để lại trong lòng quê hương những nét hằn sâu đậm, những rạn nứt tình người mà thời gian chưa hàn gắn được! Làm sao có thể đếm hết được những giọt nước mắt của mẹ gìa vợ hiền con dại đã khóc vì những người thân đã hy sinh! Tôi lớn nên trong thời chiến làm sao tránh khỏi dấu binh lửa? Bằng hữu và thân nhân của tôi cũng nằm trong số ấy, người thì chết, kẻ bị tàn phế, may lắm vài người còn lành lặn! Chiến tranh quái ác thế nhưng các bạn tôi sau khi học xong rời ghế nhà trường đều theo tiếng gọi lên đường vào quân đội, và tình nguyện phục vụ ở những binh chủng oai hùng. Họ không sợ chết, nói đúng hơn họ xem nhẹ cái chết nhưng lại sợ tiếng đời cho là hèn yếu, trốn tránh nghĩa vụ thiêng liêng khi tổ quốc cần. Họ là những anh hùng vô danh nguyện đem xương máu trải khắp trên quê hương. Ôi thật là cao cả!

Tôi được đưa vào Quân Y Viện Cộng Hoà trong giờ phút sinh tử của Sài Gòn và để lại nơi đó một phần ánh sáng. Thê thảm hơn chỉ vài ngày sau khi miền Nam thất thủ lọt vào tay cộng sản miền Bắc, người ta thấy một đoàn thương binh của chế độ cũ, lớp cụt què, lớp đui mù, trên thân thể họ loang lổ rỉ máu, có những vết thương lở lói chưa kịp băng, họ lếch thếch dìu nhau lê bước trông giống như đám quỷ nhập tràng từ khu nhà mồ chui ra vì vưà bị đuổi ra khỏi bệnh viện, và trong đám người khốn cùng này có tôi!

Biến cố ngày 20 tháng bảy năm 1954 đã chia đôi đất nước bằng một lằn ranh ý thức hệ thành hai nửa đối chọi nhau. Sự chia cắt đất nước làm người dân hai miền đau lòng nhưng vẫn quyết liệt triệt hạ nhau. Cuộc chiến kéo dài quá lâu, quê hương bị tàn phá bởi bom đạn, mìn bẫy, khủng bố,..vv… những thứ ấy đã cướp đi biết bao người con đất Việt, khiến núi sông chất ngất xương máu tử sĩ! Có người Việt Nam nào mà chẳng mong ngày Hòa Bình? Nhưng điều đó chỉ là ước mơ của nững người yêu qúy thật sự Tự Do, vì Hòa Bình đúng nghĩa thì vẫn chưa đến!.

Biến cố 30 tháng tư năm 1975 ngừng tiếng súng, dòng sông Bến Hải được nối liền, mẹ con, vợ chồng, anh em gặp lại nhau trong tình nghĩa ruột thịt sau nhiều năm bị phân chia trong ranh giới thù nghịch. Những tưởng chẳng có một tư tưởng, chủ thuyết nào định cắt chia tình người mà tồn tại, như thế, tại sao người dân miền Nam lại ngậm ngùi, lại sợ hãi sau khi ngưng tiếng súng?! Phải chăng phe chiến thắng vẫn dùng bạo lực để đối xử nhau! Kể từ sau ngày «giải phóng» đất nước triền miên đói khổ, người dân miền Nam sống trong phập phồng lo âu khi đã nhìn rõ bộ mặt thật của CS.

Để duy trì quyền lực nhà cầm quyền Hà Nội đã bất chấp mọi thủ đoạn: trấn áp, cướp nhà, cướp của, đốt sách báo, cấm văn hóa đồi trụy, kiểm soát chặt chẽ thông tin báo chí…khiến người dân sợ hãi tìm đường vượt biên. Ở trong các thành phố CS khủng bố tinh thần người dân bằng cách cấm hội họp tụ tập. Không khí trấn áp đè nặng lên từng khu xóm, con hẻm, góc phố… Cứ ba người tụ lại với nhau đều bị công an kêu lên tra vấn, nếu tất cả cùng trả lời ăn khớp không liên quan đến nhữngđiều quốc cấm nghĩa là bàn đến chính trị thì được thả về, nếu một trong ba người nói khác thì cả ba phải đi cải tạo tư tưởng vì vị khép tội có tư tưởng chống đối nhà nước!

Từ khi bị đuổi ra khỏi Tổng Quân Y Viện Cộng Hòa tôi trở về nhà tiếp tục điều dưỡng và mới được một tháng, vết thương của tôi chưa đóng vẩy thì đám «xu thời» đeo băng đỏ trong khu phố kéo đến nhà hạch hỏi, trong số quen mặt đó có kẻ bỗng dưng tự nhận là chủ tịch phường. Hắn lớn tuổi hơn chúng tôi, là một kẻ nhiều năm trốn lính, bị bắt quân dịch đưa ra đơn vị tác chiến, sau đó được người bạn của tôi thương tình cùng lối xóm đưa về ở hậu cứ tiểu đoàn làm việc vặt tránh những lửa đạn chiến trường. Sự ân tình đó nếu không mang ơn thì cũng không nên trở mặt đối xử nhau tàn tệ thế! Hắn vì muốn lập công với chế độ mới nên đã đến nhà bắt tôi và người bạn tôi đi tù. Bạn tôi, anh ấy vì kiệt sức đã chết ở trại tù Thanh Hóa!. Khi vừa đến nhà tôi mồm hắn oang oang kết tội, bảo tôi là thành phần phản động «nguy hiểm» trước ở đơn vị tác chiến, làm Chiến Tranh Chính Trị nên thường tuyên truyền xuyên tạc «cách mạng », do đó phải đi học tập cải tạo gấp! Nếu nghe câu đó do bộ đội nói tôi tôi chỉ mỉm cười, đằng này lại là hắn nên tôi giận rung người, muốn nhảy xuống giường đập vỡ mặt hắn ra! Không phải vì đám người này đến bắt tôi đi tù trong tình trạng giở sống giở chết mà tôi thù. Không! Tôi không thù vặt, nhưng rất ghét và khinh những con người hai mặt đón gió trở cờ, thích CS nhưng không dám bỏ thành phố vào bưng biền hay tập kết ra Bắc. Họ càng không dám cầm súng bắn lại chúng tôi mà chỉ nấp sau lưng, lén lút chờ cơ hội trà trộn, luồn lách trong hàng ngũ quốc gia để nghe ngóng, lấy tin tức báo cáo! Họ là những tên chỉ điểm hại người để tiến thân, nên lòng dạ hiểm độc tráo trở biến dạng như loài kỳ nhông! Sau ngày 30/04/1975 đám dấu mặt nằm vùng, cờ đỏ đó cũng bị đám CS Hà Nội loại bỏ!

Như ngọn đèn leo lét, tôi vẫn sống qua ngày, chống cặp nạng lê lết trong các trại tù như trái cây dập! Hơn một năm sau tôi mới bỏ được cặp nạng nhưng chân vẫn còn đi khập khễnh, mãi đến nhiều năm sau đó tôi mới đi đứng bình thường. Thời gian một ngày ở trong tù dài lê thê, đối với người bệnh mắt không thuốc men lại còn thê thảm hơn! Ngày tháng cứ lặng trôi mà tình trạng sức khoẻ của tôi ngày càng kém, con mắt bị nhiễm độc càng nặng nên mất dần ánh sáng! Tôi đâm tuyệt vọng, nghĩ mình sẽ bỏ xác trong tù nên dửng dưng với hiện tại và quay mặt vào tương lai ; nghĩa là chẳng nghĩ ngày về, nghĩ chỉ thêm buồn! Cái cao qúy nhất là sinh mạng thế mà chưa chắc đã giữ được nên tôi chẳng còn gì để sợ, do đó tôi thường hay chỉ trích, diễu cợt những điểm yếu của chế độ. Họ quy tội cho tôi là hay phát biểu « linh tinh » nên nhiều lần bị cùm vì kỷ luật! Hồi đó tôi chỉ muốn họ bắn một viên đạn cho đời giải thoát, nhưng họ chẳng bắn, không phải họ thương tình, hay tiếc một viên đạn, mà họ sợ tiếng đồn ầm ĩ trong trại tù sẽ ảnh hưởng đến tù nhân gây bất lợi cho cái gọi là «chính sách nhân đạo» của họ! Nếu tôi mà bị xử bắn thì trong trại tù này còn ai được thả? Họ không muốn giết ngay, họ muốn tôi chết lần mòn vì tbệnh tật! Ðã thế tôi lại cần phải sống để làm chứng nhân về những trại tù CS. Cuối cùng tôi cũng được đưa lên bệnh xá điều trị. Tôi nghĩ :
- «Họ có thể kéo dài sự sống của một thân xác bệnh tật, nhưng lại không thể chữa được sự bất mãn trong tâm hồn tôi ».
Bệnh xá là khu nhà kho xập xệ của thời chiến tranh sót lại. Giường bệnh là những tấm ván ghép lấy từ những két đựng đạn kê cách mặt đất một gang tay đưọc bắc trên bốn cục gạch. Giữa nhà treo một ngọn đèn tù mù không chiếu rõ nổi trần nhà. Bệnh xá được chia làm ba khu được ngăn bởi những tấm vách bằng carton cao hơn đầu người. Khu dành cho những người mắc bệnh lây nhiễm, khu tổng quát gồm đủ thứ bệnh và khu đặc biệt dành cho cứu cấp và những người bệnh thật nặng, tôi ở khu này. Vật dụng của bệnh nhân chỉ vài chiếc lon guigoz dùng đựng nước, chứa độ linh tinh mà tù nhân mang theo bên mình, cùng với một tấm vải lính khổ 2 mét được cấp khi vào trại dùng làm chăn đắp và cũng là tấm vải tẩm niệm tù nhân khi lìa đời. Tuy vật chất thiếu thốn nhưng những y sĩ của bệnh xá lại có tình người, họ không dám biểu lộ ra mặt nhưng được thể hiện qua sự tận tâm chạy chữa cho bệnh nhân, tiếc thay cơm còn không có mà ăn huống chi đến thuốc! Họ chỉ biết dùng lời trấn an và cho ít thuốc lá cây, còn thuốc tây chỉ dành cho » những ca hấp hối »!
Ở bệnh xá, tôi gặp lại người bạn học thời niên thiếu, trước kia nó viết văn làm báo. Nó tình nguyện vào binh chủng Dù, và đã để lại chiến trường Thường Đức năm xưa một chân nên giã từ vũ khí đã lâu, thế mà hôm nay nó vẫn đi tù! Gặp nhau trong cảnh ngộ này mừng ra nước mắt, nên hai chúng tôi thường dìu nhau ra góc hè tâm sự. Nó bảo:
- «Tao chán sống lắm rồi, chẳng còn tương lai... sống thêm thừa... chỉ khổ cho gia đình!».
Tôi so vai:
- «Tao tưởng mình chết đã lâu rồi chứ?!».
Chúng tôi hàn huyên về những kỷ niệm êm đềm thuở đi học, xen lẫn những bùi ngùi về ký ức chiến trường năm xưa, mà hai đứa nghẹn ngào cho hôm nay, để rồi hối tiếc không được chết trên chiến trường!
Nó trầm giọng nói:
- «Tao tiếc là bị thương tật nên không cùng anh em cầm súng chiến đấu với Việt Cộng đến cùng!».
Tôi bảo:
- «Mày đã làm xong bổn phận với đất nước».
Nó lắc đầu:
- «Chưa đâu! Đất nước bây giờ bị Cộng Sản nhuộm đỏ, dân chúng bị kìm kẹp mất tự do, dù chúng ta ở tù cũng không hết trách nhiệm!».
Tôi thở dài:
- « Biết làm sao bây giờ?! Càng nghĩ tao càng hận bọn phản chiến Mỹ và lũ con buôn chính trị quốc tế, chúng lừa đảo, nhân danh tự do rồi phản bội chúng ta!».
Nó chua chát nói:
- «Bọn con buôn chính trị thì chỉ biết đến tư lợi thôi!».
Nói đến thời cuộc mà lòng tôi ngao ngán buồn rười rượi! Bỗng một ý nghĩ táo bạo chợt lóe trong đầu, tôi đặt tay trên vai bạn và khẽ nói:
- « Nếu sống chỉ thêm hại cỏ cây kéo lê kiếp sống thừa thì, thà chết quách đi cho đỡ khổ xác?! Mày và tao nếu mình tự tử chung biết đâu sẽ gây được tiếng vang, đánh động sự trỗi dậy của anh em tù?».
Nó đang trầm ngâm hướng mắt về một cõi xa bỗng quay phắc lại, mặt tươi ra, mắt sáng quắc:
- «Mày có lý! Mình phải làm cái gì đó để phản đối chính sách phi nhân của CS».
Nó nói tiếp:
- «Tao mường tượng sau khi mình chết, anh em tù sẽ giao động, từ trại này đồn sang trại khác anh em tù sẽ vùng lên đòi quy chế của tù nhân theo tiêu chuẩn quốc tế».
Tôi cười:
- « Ðược như thế là may!».
Một thoáng suy tư kéo chúng tôi vào yên lặng, nó cúi nhặt một viên gạch nhỏ ném ra xa, tôi không thấy tầm đi của viên gạch, nhưng chợt nhớ lại kỷ niệm đẹp thời đi học chúng tôi thỉnh thoảng cuối tuần từ Sài Gòn ra Vũng Tàu tắm biển, trong lúc đùa vui thường nhặt những viên sỏi phóng trên mặt nước như muốn tâm hồn mình theo viên sỏi bay xa vượt đại dương tới cuối chân trời. Ở trong hoàn cảnh này, nỗi buồn vây tỏa, trong vô thức nó nhặt viên gạch quăng xa nhưng làm sao bay ra khỏi những hàng rào kẽm gai của trại tù! Hay nó đang nghĩ cuộc đời như viên gạch vỡ cần vứt bỏ? Tôi thở dài, nó bỗng hỏi:
-«Mày có định viết thư để lại cho gia đình không?» Tôi lắc đầu buồn bã:
- « Không! Tao không muốn để lại gì, chỉ làm gia đình buồn thêm!».
- «Còn mày? Có định viết thư không?».
- « Không! Tao cũng nghĩ như mày!».
Hai chúng tôi hẹn nhau hôm sau, tôi về giường sắp lại mớ hành trang, chọn bộ quân phục cũ được trại cấp để lao động, dùng tay vạt những nếp nhăn rồi xếp cho thẳng. Dù sao đó cũng là chút di sản cuối cùng của đời lính mang theo khi lìa trần. Sáng nay lúc gặp mặt bỗng dưng hai đứa chúng tôi chào nhau theo lối nhà binh, không bảo nhau mà cả hai cũng chọn bộ quân phục. Khám bệnh xong hai thằng kéo nhau ra ngồi góc hè cũ. Lòng tôi hớn hở vì sắp được đi xa, trong ảo giác tôi thấy cảnh vật bay nhảy, màu sắc tươi mát, bầu trời xanh ngắt lờ lững những áng mây hồng. Ðang suy tưởng, người bạn vỗ vai kéo tôi về thực tế, dù vẫn còn tiếc nuối cảnh sắc ấy, vì đã từ lâu mắt tôi chỉ toàn là những giải mây mờ giăng không còn nhìn được xa!
Người bạn đưa cho một nắm thuốc viên Clhoraquine, tôi cầm vốc thuốc nói:
- « Sức tao chỉ cần 5 viên cũng đủ chết, nhiều quá thừa, phí đi! Hãy để lại cho anh em lỡ có sốt rét còn có thuốc».
Nó cười:
-«Hay! Mày có lý, ốm như cò ma mình chỉ cần một nửa cũng đi đứt».
Nó nhún mình phóng đi như vũ trên cây nạng gỗ về cất số thuốc dư và trở ra chia nhau uống. Ttrong thời gian chờ thuốc ngấm, hai đứa im lặng nhìm khoảng chân trời, và mỗi đứa theo một ý nghĩ riêng. Tôi chợt nghĩ đến mẹ tôi, một người dân tha thiết với quê hương bằng tấm lòng, đã theo tiếng gọi non sông vào chiến khu kháng chiến chống thực dân rất sớm. Sau khi nhìn rõ bộ mặt thực của Việt Minh mẹ tôi bỏ trốn về thành nhưng bị bắt lại, bị đánh đập rất dã man, và đòi đem xử bắn. May cho bà trong lúc bị giam đã được vài người bạn cứu thoát đồng trốn về Hà Nội. Sau đó gia đình chúng tôi đã trôi theo dòng sử mệnh thăng trầm của đất nước cùng đoàn người di cư vào Nam. Tôi vẫn ghi khắc nét lo âu tiều tuỵ trên khuôn mặt mẹ, nhất là đôi mắt buồn! Bà suốt đời đã hy sinh vì tôi, cả một đời bà ước mơ và chờ đợi nhưng không bao giờ toại nguyện! Mẹ tôi lúc còn chiến tranh hằng cầu nguyện quê hương sớm thanh bình để con mình khỏi chết trận. Sau khi hết chiến tranh lại cầu nguyện cho con sớm thoát tù. Nghĩ đến đây dòng lệ trong tôi tự trào, suốt đời tôi làm cho mẹ buồn!
Dòng suy tưởng lại miên man đến nàng, người mà tôi muốn quên nhưng hình bóng ấy vẫn ẩn hiện trong tâm hồn, chợp chờn trong giấc ngủ! Tình yêu như một chiếc bóng bên tôi, có khi theo dấu chân lăn trên đường, bàng bạc trong không gian, và có khi ẩn trong tiếng thở dài! Tôi muốn quên nàng, quên những kỷ niệm đẹp của tình yêu như những chùm pháo bông rực rỡ muôn sắc, rồi tan loãng, tắt lịm vào đêm tối! Tôi sợ tình yêu làm yếu lòng, sợi giây tình ràng buộc thôi thúc lòng mong mỏi ngày về, giảm đi nhuệ khí, tính kiên trì đối kháng với CS. Tôi càng muốn quên thì hình ảnh của nàng cứ hiện ra trong trí như lời thì thầm vỗ về làm hồn tôi thêm sầu nhớ. Thuở Sài Gòn chưa đổi tên, có biết bao thiếu nữ là người yêu, vị hôn thê, vợ của Lính. Nàng cũng thế nhưng đang còn đi học. Là một cô sinh viên Sư Phạm tâm hồn đầy mộng mơ, lãng mạn, nhìn đời qua ngưỡng cửa sân trường nên hình ảnh người trai thời chiến thật hào hùng qua màu áo lính trận đi dạo phố,. Cũng như bao triệu người dân Miền Nam, nàng vẫn hằng mơ ước ngày đất nước hết chiến chinh, quê hương được thanh bình để những người lính được trở về với mái gia đình sống yên vui bên những người thân. Thế nhưng khi tàn chiến chinh, những ước mơ giản dị đó đã biến thành cơn ác mộng, những người dân chân chính đó lại càng mất mát nhiều hơn khi đất nước thay sắc màu thể chế, đổi chủ. Ánh mắt của nàng không còn nét vui tươi hồn nhiên như trước và trên môi cũng đã tắt mất nụ cười sau khi được tin tôi bị thương, tôi biết nàng chết lặng nhưng không hề hé môi than số phận. Ôi, thật cao đẹp cho ý nghĩa tình yêu, nhưng điều ấy đã khiến lòng tôi thêm buồn cho hiện tại, và tương lai mù mịt, rồi sẽ ra sao?! Trong khoảng khắc, tôi hình dung dáng nàng mong manh tha thướt trong chiếc áo dài trắng, mái tóc dài bồng bềnh mỗi khi lộng gió. Nàng có nụ cười rất tươi luôn thắm trên bờ môi mọng đỏ làm sáng gương mặt phảng phất nét thơ trong tranh; chẳng thế mà các bạn gái đều xem nàng như đoá hoa hồng của đại học sư phạm ngày nào. Chiến tranh quả tàn nhẫn đã cướp của nàng bao mơ ước! Thôi, nghĩ đến mà ngậm ngùi, tất cả những ước mơ, hạnh phúc, đau khổ; giờ cũng đành xin giã từ. Xin chào cuộc đời và những người thân yêu!
Đang triền miên trong suy tưởng, bỗng tiếng kẻng từ trại tù xa vọng lại làm tôi bừng mắt. Tôi vội quay sang nó hỏi:
- «Mày đang nghĩ gì?».
Nó thổn thức:
- «Tao đang nghĩ về mẹ tao và vợ tao».
Tôi lại thở dài… im lặng và trân trọng phút thiêng liêng của nó. Chúng tôi lại chìm vào im lặng để sống trong cõi riêng thì bỗng có tiếng la cứu cấp, hình như có người nhập viện? Chẳng ai rủ nhưng hai đứa cùng đứng dậy mò qua xem mới biết người vừa chết là tù cải tạo. Anh ấy thời trước là Bác Sĩ Quân Y, vì lao động quá nên kiệt sức!
Tôi bảo bạn:
- «Mày hỏi xem tên anh ấy là gì?».
Nó gắt lên:
- «Biết làm quái gì! Trước sau gì chẳng gặp!».
Tôi cười đùa:
- «Biết đâu ở chốn đó cũng có ‘biên chế‘ như đây thì sao!».
Nó bảo:
- « Mày điên hả? Hơi đâu mà lo xa!».
Tôi lắc đầu, định trở về giường nằm đợi thuốc ngấm «chờ đi», nhưng thằng bạn bảo hãy im lặng theo dõi lớp tuồng cuối.
Người tù nhân nằm đó còm như que củi, quần áo tả tơi, anh ta chết trong cô đơn, không thân nhân, bạn bè thân thiết. Cái chết thật trầm mặc chẳng xôn xao lay động những toán tù lao động gần đó! Số anh quả hẩm hiu! Chết ở trại còn được cỗ hòm, gục trên đường lao động đưa đến bệnh xá thì chỉ được vài miếng ván gỡ từ nhà cũ bỏ hoang ra, thêm dăm ba mảnh ván chuồng lợn ghép vội thành một chiếc hòm! Chúng tôi chứng kiến thủ tục tống táng người tù, cuộc tẩm liệm rất sơ sài, nắp quan đậy không kín vì những mảnh gỗ lệch! Mấy người khiêng là những tù nhân ở những trại khác được gọi đến, trông họ như những bộ xương biết đi! Chẳng ai còn giọt nước mắt nào để tiễn đưa người quá cố! Quan tài của người bác sĩ trẻ xấu số được vùi sâu ba thước đất một cách vội vã, những mảng đất lùa trên quan tài khua động làm lớp bụi bay. Lớp đất ấy đã vùi theo một tài năng trí tuệ của đất nước trong âm thầm vào lòng đất!
Tôi thầm nghĩ:
- «Dù sao anh vẫn còn may là được các bạn tù khắc tên trên tấm bia mộ! Thôi ngủ yên đi anh, chẳng ai có thể đày đoạ anh được nữa... anh vẫn còn được hai đứa chúng tôi đưa tiễn, nhưng lúc chúng tôi ra đi, ai sẽ tiễn đưa chúng tôi đây?!».
Chứng kiến cảnh đau lòng ấy tôi thở dài nói với bạn:
- «Ðời người thế là xong,tất cả rồi cũng trở về với cát bụi! Lúc sống mọi thứ mới đáng cần, chứ chết rồi tang lễ có to hay nhỏ nào cần thiết phải không?!».
Lòng tôi ngậm ngùi, cười chua chát nói thêm:
- «Tao cứ tưởng một người tù sống chẳng làm gì được trước họng súng, thì cái chết trong lúc lao động sẽ gây ầm ĩ,xôn xao, ai ngờ cũng chỉ là chiếc lá rụng, chẳng có đám tù nhân nào nổi dậy! Cái đói và tiếng kẻng cơm tù dã làm nhụt chí tù nhân! Chết thầm lặng như thế này, nào khác cục đất, chỉ rảnh tay bọn cai tù?! Thà là chúng ta gắng cắn răng chịu khổ sở mà sống, thì bọn đầu não CS vẫn phải phái người xuống trông coi, canh giữ mình vẫn khoái hơn phải không?».
Nó cười thích thú:
- «Mày có lý... đám tù mình chết hết ai làm nhân chứng về tội ác Cộng Sản?!».
Hai đưa tôi nắm chặt tay nhau, cái xiết tay mang ý nghĩa: chúng tôi phải sống.
Chúng tôi gặp bác sĩ bệnh xá cho biết đã dùng thuốc quyên sinh. Bác Sĩ Trưởng bệnh xá há hốc mồm nhìn chúng tôi vì đây là lần đầu tiên có vụ tự tử tập thể. Trong lúc tiêm thuốc giải chờ súc ruột, chúng tôi được «lên lớp»! Mấy ngày sau một chính uỷ chẳng biết từ đâu đến cho gọi chúng tôi lên và bắt làm tờ kiểm điểm. Họ quy tội chúng tôi là chống đối, vì tự tử là hành động tiêu cực, tiêu diệt sản xuất và bắt chúng tôi xuất viện để về trại lao động ngay hôm đó.

Kể từ lần chia tay đó chúng tôi chẳng còn gặp nhau lần nào, nhưng lòng tôi vẫn khắc sâu hình bóng nó. Sau này tôi nghe một số bạn tù chính trị ở Mỹ kể, nó đã được tha về nhưng gia đình không còn ai, vợ con đã vượt biên không tin tức! Nó nộp đơn chờ đi diện HO, sự chờ đợi mỏi mòn, lâu quá nên đã vượt biên, chiếc tàu của nó chẳng may gặp cơn bão nên không bao giờ tới bến! Riêng tôi may mắn hơn, người con gái năm xưa vẫn chờ đợi tôi và cùng nhau trôi giạt xứ người đến mãi hôm nay.
Có phải người ta không thể lúc nào cũng sống với quá khứ vì tương lai mới cần thiết và quan trọng hơn? Chiến tranh và tù ngục đã qua lâu nhưng nhiều đêm những hình ảnh đó vẫn len vào trong giấc mơ làm tôi bàng hoàng thức giấc, nhìn quanh mới biết mình đang ở xứ tự do mà lòng nghe nhẹ nhõm! Ở xứ lạnh thời tiết hay thất thường, nhiều lúc những vết thương cũ, những bầm dập nhọc nhằn trong tù năm xưa thường trở đau, nhất là vào tuổi xế chiều. Tôi đã quen quen chịu đựng rồi nên vẫn cảm yêu cuộc đời và lòng không oán hận. Đất nước tôi dân số tuy đông nhưng vẫn là một nước nhược tiểu, lại nằm sát một nước lớn, vận mệnh quốc gia nằm trong tay nhóm bè phái độc đảng cầm quyền thì thân phận con người có khác chi những món hàng?!

Thời gian lặng lẽ trôi, từng thế hệ trong thời chiến tranh đã lần lượt ra đi! Thế giới ngày nay có nhiều thay đổi, nhiều phát minh khoa học mới đã thay những cái cũ, tư duy của con người cũng đổi thay, nhưng có những điều không thể thay đổi được kể cả những tiến bộ vượt bực của khoa học hiện tại dù tỏa sáng đầy hào quang đã mang phúc lợi cho nhân loại nhưng vẫn không thể thay được lịch sử và quá khứ, trong đó có những kỷ niệm vui buồn về một giai đoạn lịch sử dù có muốn quên, hay cố xoá đi thì nó vẫn lưu lại trong dân gian, trong trang sách.

Xa quê hương đã lâu nhưng tôi vẫn chưa một lần về! Sau mấy chục năm “giải phóng(!)”xã hội Việt Nam hôm nay tha hóa, đạo đức suy đồi, bạo lực vẫn tung hoành, công an vẫn hà khắc bịt miệng người dân. Nạn quan liêu, bè phái, tham nhũng đục khoét tận xương tủy chế độ làm khốn khổ người dân! Sau bao biến cố đau thương, người dân Việt hôm nay bừng tỉnh nhận thức được cái họa mất nước gần kề vì những tài nguyên, đất đai, bờ biển đang bị lấn chiếm mất dần do mộng bá uyền của Trung Quốc. Người dân phẫn uất đảng xuống đường phản đối chính quyền, họ không còn sợ hãi trước bạo lực mà can đảm dấn thân không sợ tù đày. Rải rác khắp cả nước từ gìa, trẻ, thanh niên nam, nữ gồm đủ mọi thành phần: sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ đến người công nhân, nông dân, đảng viên ly khai, họ đứng lên đấu tranh đình công bãi thị, đòi nhà, đòi đất, đòi nhân quyền, tự do tôn giáo. Ngày xưa lúc chúng tôi còn ở tù thường gặp những người cán bộ cuồng tín giáo điều vì mê muội tà thuyết CS nên trong lòng đầy thù hận, xem chúng tôi là kẻ thù cần phải tiêu diệt do đó đã hành xử với chúng tôi không còn nhân tính! Ngày nay cách nhìn về đất nước đã thay đổi, bức tường Berlin bị đập bỏ, Liên Bang Xô Viết tan rã, chủ thuyết Cộng Sản bị cáo chung, và ở VN còn lại đám cầm quyền độc tài cố dương tấm bình phong Cộng Sản để dễ trấn áp, cầm tù những người đối kháng. Thời thế chuyển mình nên đã có những người đảng viên xé thẻ đảng, trả thẻ đảng đứng về phía dân tộc chống lại bạo uyền CS qua các phong trào dân chủ, dân oan không sợ đảng, sợ công an bắt cầm tù.
Bốn mươi hai năm sau ngày miền Nam bị nhuộm đỏ, các bằng hữu của tôi tan tác phiêu bạt muôn phương, có kẻ chết trong trại tù, có kẻ nằm sâu trong lòng đại dương trên con con đường vượt biển tìm tự do và có người lưu lạc xứ người. Người ở lại thì lạc loài chí hướng, cô đơn trên chính quê hương mình! Thế nhưng hôm nay vẫn còn có nhiều người sinh sau cuộc chiến vẫn bỏ nước ra đi vì muốn tìm miền đất tự do. Phải chăng người ta có thể chết cho quê hương, nhưng vì tự do lại dám bỏ quê hương. Paris cuối tháng tư trời gió lạnh, tâm hồn tôi cô đơn vì nhớ bạn nhớ quê hương, khiến lòng tôi càng ngậm ngùi!

Đỗ Bình
Paris 29.04.2017

 

Đăng ngày 28 tháng 08.2017