lieu truongLiễu Trương sống ở Pháp từ năm 1963.
Tiến sĩ Văn học đối chiếu, Đại học Paris III, Sorbonne Nouvelle.
Đã xuất bản:
- Les canons tonnent la nuit
Bản dịch truyện Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca - Nxb Philippe Picquier, Pháp, 1997
- Một cuộc đi chơi ở đồng quê
Bản dịch 16 truyện ngắn của Guy de Maupassant - Nxb Đà Nẵng, 2007
- Tiếp cận văn học Pháp - Nxb Văn Học, Hà Nội, 2007
- Phân tâm học và Phê bình Văn học - Nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 2011.


VẤN ĐỀ VĂN CHƯƠNG NHẬP CUỘC Ở PHÁP

Liễu Trương

Ở thời đại nào những biến cố trầm trọng cũng có thể xảy đến cho một quốc gia: chiến tranh, đảo chánh, cách mạng, tranh chấp lãnh thổ hay hải phận, sự đàn áp tôn giáo hay một dân tộc thiểu số, v.v… hay những biến cố thông thường như cuộc bầu cử một đảng chính trị lên nắm chính quyền chẳng hạn. Người dân chọn lựa lập trường theo lý tưởng chính trị, xã hội hay theo cảm tính riêng của mình. Sự chọn lựa của giới cầm bút lại càng quan trọng hơn, vì những gì họ viết ra đều có thể gây tiếng vang trong quần chúng. Do đó vấn đề văn chương nhập cuộc được đặt ra.

Theo tự điển Dictionnaire des termes littéraires (Nxb Champion, Paris, 2005) thì văn chương nhập cuộc là văn chương phục vụ một chính nghĩa về chính trị, xã hội hay tôn giáo, một chính nghĩa được chính quyền bênh vực hay chính nghĩa của một thiểu số bị đàn áp. Trong số những nhà văn nhập cuộc trên thế giới phải kể: Doris Lessing, Bernard Shaw, Bertold Brecht, Alexandre Soljenitsine, Vaclav Havel, André Malraux, v.v…
Nếu nói theo Jean-Paul Sartre thì không có văn chương nào mà không nhập cuộc. Một nhà văn dù muốn dù không, dù nhìn nhận mình nhập cuộc hay giấu kín điều đó, đều thuộc về một thời đại và không tránh khỏi việc có một lập trường về những cuộc tranh đấu trong thời đại đó.
Ở Pháp, ngay sau Đệ nhị thế chiến vấn đề nhập cuộc được đặt ra một cách cấp bách đối với những nhà văn sống trong vùng bị chiếm đóng. Họ phải có thái độ nào? Im lặng hay tiếp tục viết, và viết một cách mạnh mẽ? Có cần vượt ngôn ngữ để chuyển qua hành động, hay chính ngôn ngữ là hành động? Vậy phục vụ phe nào?
Một số nhà văn như Drieu La Rochelle, Brasillach, Céline đứng về phía kẻ xâm lăng, tức Đức Quốc Xã, vì thống chế Pétain quyết định nước Pháp sẽ hợp tác với Đức Quốc Xã. Trái lại những nhà văn, nhà thơ như Albert Camus, René Char, Paul Eluard thì theo kháng chiến. Sự chọn lựa có tính vừa chính trị vừa văn chương.
Văn chương có còn là văn chương không khi nó phục vụ một chính nghĩa chính trị dù là chính đáng? Đây là một vấn đề đạo đức được đặt ra cho những nhà văn tự do nhất bị bắt buộc phải lựa chọn, đó là các nhà văn thuộc phái siêu thực. Sự lựa chọn không tránh được, vì nước Pháp đang tranh đấu cho tự do của dân tộc. Cuối cùng thơ siêu thực trở nên thơ kháng chiến.
Vấn đề nhập cuộc làm cho văn giới Pháp trăn trở trong thời Đệ nhị thế chiến, và trở nên mãnh liệt hơn khi thế chiến chấm dứt, vì một mặt các nhà văn đã từng hợp tác với kẻ xâm lăng nay bị hành quyết hay tù đày, mặt khác các nhà văn đã từng theo kháng chiến, nhờ cuộc giải phóng, đã có thể lên tiếng mạnh dạn hơn. Như thế trách nhiệm của đôi bên đã được nhìn nhận rõ ràng.

Sau Đệ nhị thế chiến, Jean-Paul Sartre, nhà triết học kiêm nhà văn, nhà phê bình trở nên thần tượng của tuổi trẻ ở Pháp. Ông dùng vấn đề nhập cuộc làm mục tiêu tranh đấu. Tư tưởng của Sartre được trình bày trong cuốn «L’Être et le Néant» (Bản thể và Hư vô) và «L’Existentialisme est un humanisme» (Hiện sinh chủ nghĩa là một nhân bản chủ nghĩa). Theo ông, con người bị “đày phải có tự do”, con người hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hành động của mình, hơn thế nữa, chính bởi những hành động của mình mà con người tự làm nên mình với tư cách là một cá thể. Nhà văn không thoát khỏi quy tắc đó: nhà văn chịu trách nhiệm về những gì ông viết ; qua các văn bản của ông, ông bày tỏ sự tự do của mình và gây ảnh hưởng xung quanh mình. Vậy văn chương chỉ có thể là văn chương nhập cuộc. Các nhà văn cần ý thức rằng họ phải có lập trường trong những cuộc chiến đấu chính trị của thời đại họ sống, và văn chương luôn luôn được xây dựng trong thời hiện tại.
Ở Pháp, trong số đầu của tạp chí «Les Temps modernes» (Thời Hiện đại), Sartre cho ra một bản tuyên ngôn buộc tội các nhà văn của quá khứ, họ tưởng có thể từ chối được việc bày tỏ lập trường, nhưng thật ra họ đã trở nên đồng lõa với những kẻ tàn bạo thời họ. Ông viết: «Nhà văn có một vị trí ở thời của họ: mỗi lời nói gây tiếng vang. Mỗi im lặng cũng thế. Tôi cho các nhà văn Flaubert và Goncourt có trách nhiệm về sự đàn áp xảy ra sau biến cố Paris Công xã, bởi họ không có viết một hàng nào để ngăn cản việc đó. Người ta sẽ nói đó không phải là việc của họ. Nhưng vụ án Calas (1) có phải là việc của Voltaire không? Sự kết án Dreyfus (2) có phải là việc của Zola không? Sự cai trị nước Congo (3) có phải là việc của Gide không? Mỗi tác giả đó, trong một tình huống đặc biệt của đời họ, đã đo lường trách nhiệm nhà văn của mình. Sự xâm chiếm nước Pháp đã dạy cho chúng ta trách nhiệm nhà văn của chúng ta. Bởi vì chúng ta tác động đến thời đại của chúng ta bằng chính sự hiện hữu của chúng ta, chúng ta quyết định rằng sự tác động đó sẽ là một tác động kiên quyết.»
Trong bản tuyên ngôn Sartre đã cứng rắn vạch ra một chương trình thật sự. Ông biện minh cho lối viết tiểu thuyết và kịch bản của ông, và ông phác họa những đường nét chủ yếu mà sau này sẽ làm nền tảng trí thức của ông. Hơn thế, ông trình bày trong bản tuyên ngôn cái lý thuyết của ông về việc viết, theo đó giá trị của một tác phẩm tùy thuộc ở tác động lịch sử của nó. Cần từ bỏ cái ảo tưởng cho rằng văn chương chỉ nhắm cái Đẹp, cái Thật. Lịch sử là một cuộc chiến đấu, tác phẩm văn chương là một khí giới mà nhà văn phải tập dùng để biến đổi thời đại của mình, xã hội của mình. Không phải Sartre không thừa nhận cái chiều kích thẩm mỹ của tác phẩm văn chương, nhưng ông chỉ xem thẩm mỹ như một yếu tố phụ, bằng cách buộc thẩm mỹ phải tùy thuộc những yếu tố khác, chủ yếu là yếu tố đạo đức.
Quan niệm có tính võ đoán của Sartre về vấn đề nhập cuộc đã gây nhiều tranh cãi ở Pháp. Điều mà Sartre bị chỉ trích nhiều nhất là ông đã coi nhẹ cái chiều kích thẩm mỹ là một chiều kích cơ bản trong sự sáng tạo văn chương.

Trong số các nhà văn lên tiếng phản bác lập trường của Sartre, đứng đầu là nhà văn André Gide. Đành rằng Sartre khen Gide đã lên án chủ nghĩa thực dân ở Phi Châu, nhưng Gide bực mình vì những lời tuyên bố ồn ào của Sartre. Trong trang nhật ký đề ngày 19-1-1948, Gide khẳng định rằng thế hệ các nhà văn nổi tiếng, tức thế hệ của ông, được thừa hưởng từ Mallarmé niềm tin rằng nghệ thuật – khác với thời cuộc – phải đưa đến sự trường cữu. Vì quan niệm nghệ thuật như thế nên Gide bác bỏ quan niệm văn chương nhập cuộc của Sartre. Đối với Gide, văn chương không thể được định nghĩa bằng những mục tiêu ngắn hạn mà Sartre gán cho nó. Nếu hành động theo Sartre thì văn chương không khác gì văn báo chí, và như thế văn chương sẽ không thể vượt ra ngoài thời gian, mà vượt ra ngoài thời gian chính là mục đích của văn chương. Phải chăng Gide muốn nhà văn phải trở về cái “tháp ngà” mà sự ồ ạt của chiến tranh đã kéo nhà văn ra khỏi đấy? Hoàn toàn không phải thế. Gide đã từng tỏ ra rất quan tâm đến những vấn đề của thời đại và ông đã lên tiếng về những vấn đề đó. Ông lên án chế độ thực dân, chế độ phát xít và chế độ cộng sản. Tuy nhiên đối với ông, cái phần tác phẩm của ông liên quan đến những vấn đề thời cuộc không thuộc về văn chương mà thuộc về cái ông cho là tài liệu của một chứng nhân. Đi ngược lại với cái luận thuyết độc nghĩa của Sartre, Gide muốn đưa ra một định nghĩa đôi: định nghĩa nhà văn và định nghĩa hoàn cảnh của nhà văn trên thế giới với tư cách là một nghệ sĩ. Trong những tác phẩm văn chương của mình, nhà văn – nghệ sĩ phải từ chối sự nhập cuộc, sự nhập cuộc là một cám dỗ có hại và ngắn hạn ; nhưng với tư cách là một nhà trí thức, nhà văn, do sự làm chứng của mình, phải đứng về phía của công bằng và của chân lý, mỗi khi nhà văn có thể làm được. Như thế gạt bỏ được hai mối hiểm họa: một đằng là nghệ thuật bị một đảng chính trị chế ngự, và đằng khác là sự tránh né thời đại của mình một cách nhát gan, ích kỷ. Nhà văn chỉ dấn thân cho văn chương mà thôi.

Rồi đến thế hệ của tiểu thuyết mới trong những năm 50 thế kỷ trước. Những nhà văn của thế hệ này theo chân Gide để biện hộ cho một văn chương không nhập cuộc. Trong cuốn «Pour un nouveau roman» (Cho một tiểu thuyết mới), Alain Robbe-Grillet, nhà văn đầu đàn của tiểu thuyết mới, trước những kết quả thảm hại của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, cho rằng nhập cuộc là một khái niệm lạc hậu, cần loại bỏ. Nghệ thuật không thể kết hợp với cách mạng. Nếu văn chương là một văn chương nhập cuộc thì văn chương sẽ rơi vào lý luận, sẽ có tính dạy đời và trở nên nặng nề vì phải chứng minh. Như thế văn chương nhập cuộc sẽ từ bỏ mọi tham vọng cách tân để phục vụ một chính nghĩa, và chính nghĩa dù sao cũng ở ngoài văn chương. Robbe-Grillet khẳng định rằng phải tránh cái cạm bẫy văn chương nhập cuộc: văn chương phải là văn chương, nghĩa là sự tìm tòi mãi mãi không ngừng, vượt khỏi mọi điều xác thực, mọi niềm tin. Hiện thực của một tác phẩm không ở trong cái nghĩa của nó, trong thông điệp của nó, mà ở trong hình thức, trong sự xây dựng tác phẩm. Văn bản không được quy về một khẩu hiệu mà người ta có thể trích ra. Văn bản phải là một cuộc phiêu lưu của sự viết mà tác giả và độc giả bước vào. Chỉ với điều kiện đó văn bản mới có thể biến đổi cái nhìn của chúng ta về thế giới. Robbe Grillet viết: «Đời sống chính trị luôn luôn buộc chúng ta phải giả định những ý nghĩa đã được biết trước: ý nghĩa xã hội, ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa đạo đức. Nghệ thuật khiêm tốn hơn hay có tham vọng hơn: đối với nghệ thuật không có cái gì được biết trước bao giờ. Trước khi có tác phẩm thì không có gì cả, không có sự xác thực, không có luận đề, không có thông điệp. Nếu tưởng rằng tiểu thuyết gia có “điều để nói ra” và sau đó ông tìm cách nói ra như thế nào, thì đó là sự hiểu sai nặng nhất. Bởi vì chính cái “thế nào”, chính cái cách nói ra mới tạo thành cái dự định của nhà văn, một dự định mù mờ về hình thức trong tất cả các dự định, một dự định về sau sẽ là cái nội dung lập lờ của cuốn sách. Cuối cùng, có lẽ cái nội dung lập lờ của một dự định mù mờ về hình thức sẽ phục vụ hay nhất cho sự tự do. Nhưng đến thời hạn nào?»

Thời hạn có vẻ còn xa xôi. Năm 1968 đánh dấu một cuộc cách mạng xã hội, văn hóa ở Pháp, tưởng chừng như đã đến lúc cách mạng thơ văn và cách mạng chính trị sẽ gặp gỡ nhau và họp sức để lật đổ cái xã hội tư sản và cái ngôn ngữ mà xã hội này dùng. Đó là lập trường của nhóm Tel Quel, nhóm này đang tìm một con đường để đi xa hơn Sartre và Robbe-Grillet. Một mặt, họ từ chối cái chủ nghĩa kinh viện văn chương của Sartre, đồng thời họ giữ lại ý muốn của Sartre là dùng văn chương để phục vụ cách mạng ; mặt khác, họ muốn đi xa hơn trong việc giải cấu trúc ngôn ngữ tiểu thuyết và cách tân ngôn ngữ đó, như Robbe Grillet đã từng làm, nhưng lại từ chối luận thuyết của Robbe-Grillet cho rằng nghệ thuật không có cứu cánh gì hơn là chính nó.

Trong những năm 1967-68, ngay trước biến cố tháng 5 năm 68, giới trí thức trẻ ở Pháp đã xem cuộc cách mạng như cái đích mà công trình nghiên cứu triết học và văn học của họ phải tiến đến. Họ mong muốn tham gia vào những đảo lộn chính trị đang manh nha. Trong bầu không khí sôi nổi đó xuất hiện một trào lưu tiền phong, rất năng động và có óc đổi mới. Trào lưu này gồm những cây bút của tạp chí «Tel Quel» được nhà xuất bản Seuil thành lập năm 1960: Philippe Sollers, Julia Kristeva, Marcelin Pleynet và Jean-Louis Baudry. Do những bài viết về lý luận văn học, họ đã thu hút giới trẻ thời bấy giờ.
Vì trào lưu Tel Quel có một lập trường có tính Mác xít nên các nhà trí thức cộng sản tìm cách đến gần. Do đó tạp chí «La Nouvelle Critique» (Phê bình mới) của đảng Cộng sản Pháp tạo nên những đối thoại với tạp chí «Tel Quel». Kết quả của những cuộc đối thoại này là một số bài viết trong đó có bài với tựa đề: «Trả lời tạp chí La Nouvelle Critique» được đăng lại trong cuốn «Théorie d’ensemble» (Lý luận tổng thể) (1968). Cuốn sách này gồm những bài quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất của Tel Quel. Những người đại diện cho trào lưu tiền phong này trình bày lập trường của họ, đặc biệt về những mối tương quan giữa văn học và chính trị. Đối với Tel Quel, thay đổi xã hội phải đi kèm với thay đổi ngôn ngữ của xã hội: mọi giai cấp đều thiết lập một cách thức chiếm hữu ngôn ngữ. Đối với giai cấp tư sản, đối với chủ nghịa tư bản, thì đó là phép tu từ, là tiểu thuyết. Đưa ra tranh cãi các hệ thống của phép tu từ hay những hình thức tự sự là đã cáo giác ý thức hệ tư sản của thế giới, cáo giác cái quan niệm tư sản của thế giới.

Năm 1965, Philippe Sollers đọc một bài thuyết trình có tựa đề: «Le roman et l’expérience des limites» (Tiểu thuyết và kinh nghiệm về những giới hạn). Trong bài này Sollers gạt bỏ tiểu thuyết truyền thống cũng như tiểu thuyết mới, và ông định nghĩa mỹ học của ông về tiểu thuyết. Theo nhóm Tel Quel, tiểu thuyết đi xa hơn cái định nghĩa mà người ta thường cho nó, tức tiểu thuyết là văn chương. Thật ra tiểu thuyết là ngôn ngữ của xã hội, dưới cái bề ngoài giải trí của tiểu thuyết, xã hội dùng ngôn ngữ để ghi lại những giá trị đạo đức, chính trị, những giá trị chung đã làm cho xã hội có cơ cấu mạch lạc. Tiểu thuyết vờ kể một chuyện mà chúng ta không chú ý đến, thật ra tiểu thuyết áp đặt cho chúng ta một cách nhìn thế giới mà chúng ta không hay biết. Một hình ảnh thường được gợi lên thời đó là chúng ta tưởng chúng ta đang nói nhưng thật ra chúng ta bị nói (hay chịu đựng một cách nói).
Cách phân tích chức năng của văn chương như thế cho phép chúng ta hiểu cái tham vọng cách mạng của Tel Quel. Thay đổi xã hội bắt buộc phải thay đổi ngôn ngữ. Bắt đầu từ đó có thể hiểu rằng vấn đề nhập cuộc đã dời đổi phạm vi. Trình độ nhập cuộc của một tác phẩm không còn tùy thuộc cái thông điệp của nó mà tùy thuộc hình thức của nó. Những thành viên của Tel Quel khẳng định điều này: Ích lợi gì nếu một cuốn tiểu thuyết kêu gọi làm cách mạng với ngôn ngữ của chính cái văn chương tư sản? Sẽ không có hiệu quả. Cuốn tiểu thuyết tưởng làm rung chuyển được xã hội tư sản bằng cách kêu gọi phá hủy nó, nhưng sự thật cuốn tiểu thuyết làm cho xã hội tư sản càng mạnh thêm vì nó đã truyền đi cái hệ mật mã của nó về xã hội, đạo đức và chính trị.
Tác phẩm thật sự có tính cách mạng là tác phẩm từ chối những quy phạm về tu từ và văn chương của xã hội tư sản. Nhưng bằng cách nào? Lời đáp cho câu hỏi đó biến đổi theo tác phẩm và tác giả. Trong những năm 67-68, các thành viên của Tel Quel tìm cách viết những văn bản chỉ đưa ra quá trình sự hình thành của các văn bản đó. Họ viết những cuốn sách chỉ phản chiếu chính họ và phản chiếu cử chỉ viết của họ. Làm như thế họ tưởng đã tố giác cái quan niệm muốn rằng một cuốn sách phải có cái chức năng “thể hiện” cái gì ở bên ngoài nó, quan niệm mà họ cho là lỗi thời. Họ tố giác cái văn chương “thể hiện” như một hình thức văn chương của chủ nghĩa lý tưởng của tư sản. Lật đổ chủ nghĩa lý tưởng này bằng cách đi vào con đường của “một văn chương không thể hiện”, như thế là chọn một “chủ nghĩa duy vật của ngữ nghĩa” song song với chủ nghĩa duy vật Mác xít và tất phải đi đến Cách mạng tận cùng, như chủ nghĩa duy vật Mác xít.
Vào những năm 1970, nhóm Tel Quel theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông, hình thức văn bản của họ thay đổi hẳn. Sự phá hoại ngôn ngữ tư sản càng trở nên trực tiếp hơn, kịch liệt hơn, nội dung tiểu thuyết của họ có tính cách mạng rõ ràng hơn. Họ vẫn có tham vọng tập hợp trong một văn bản cách mạng thi pháp và cách mạng chính trị. Như thế nhóm Tel Quel dựa vào kinh nghiệm của chủ nghĩa siêu thực, nhằm vượt hẳn tiểu thuyết nhập cuộc của Sartre và tiểu thuyết mới.
Quả thật Sartre đã đề cao một văn chương nhập cuộc, nhưng đối với ông, sự nhập cuộc phải được giới hạn vào cái nghĩa. Cho nên các tiểu thuyết của ông có tính kinh viện. Nhóm Tel Quel trách Sartre đã viết những tiểu thuyết cách mạng với một ngôn ngữ bảo thủ, thêm nữa phản động.
Ngược lại, các nhà tiểu thuyết mới đặt lại vấn đề hình thức văn chương một cách triệt để trong những năm 50. Việc đặt lại vấn đề đó đã mở đường cho nhóm Tel Quel. Tuy nhiên, đặc biệt ở Robbe-Grillet, sự táo bạo trong cách xây dựng tiểu thuyết đi đôi với sự thận trọng về chính trị, nếu không nói là với một sự dửng dưng gần như hoàn toàn. Với tiểu thuyết mới đã có cách mạng về tiểu thuyết, nhưng cách mạng tiểu thuyết không muốn trở nên cách mạng chính trị. Cho nên năm 1965, Sollers định nghĩa tiểu thuyết mới như một lý luận mới của Nghệ thuật vị Nghệ thuật.
Cuối cùng, vừa chống lại Sartre, vừa chống lại Robbe-Grillet, hành động của Tel Quel là muốn có một tác phẩm vừa cách mạng về hình thức văn chương vừa cách mạng về nội dung chính trị.
Ngày nay khi cơn sốt cách mạng đã lắng xuống, vấn đề nhập cuộc ở Pháp hơn lúc nào hết đã trở nên một khái niệm lỗi thời. Thêm nữa, chính nghĩa của sự nhập cuộc có tính lịch sử hơn là văn chương. Với cuộc khủng hoảng của các ý thức hệ mà sự sụp đổ bức tường Berlin, năm 1989, là một biểu tượng, không còn một khẩu hiệu nào có thể huy động nhà văn, nhà văn không còn tìm ra được chính nghĩa gì để phục vụ ngoài văn chương.

Bàn về vấn đề văn chương nhập cuộc mà không nhắc đến Roland Barthes là một thiếu sót lớn. Roland Barthes là một tên tuổi của giới trí thức Pháp trong những thập niên 50-60, một tiếng nói có trọng lượng. Ông là một học giả uyên bác, yêu thích và mê say văn chương đến mức muốn cầm bút làm nhà văn, nhưng rồi ông dồn hết kiến thức, nghị lực vào lĩnh vực lý luận phê bình văn học. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về văn học đã trở thành những cuốn sách gối đầu cho nhiều thế hệ sinh viên, nhiều nhà nghiên cứu. Những cuốn sách của ông được nhắc đến nhiều nhất là: «Le degré zéro de l’écriture» (Độ không của sự viết), (1953), «Essais critiques» (Tiểu luận phê bình), (1964), «Le bruissement de la langue» (Tiếng xào xạc của ngôn ngữ), (1984). Ông là người chủ động những bước tiến của các ngành cấu trúc luận và ký hiệu học. Ông đứng đầu cái gọi là «phê bình mới».
Barthes muốn trả lại cho văn chương cái tính đặc thù của văn chương mà quan niệm của Sartre có xu hướng làm mất đi, đó là tính đặc thù về hình thức. Barthes tạo ra khái niệm «viết» và cho rằng hình thức của văn chương có ba chiều kích: sự viết, ngôn ngữ và bút pháp: «Mọi Hình thức cũng là một Giá trị, cho nên giữa ngôn ngữ và bút pháp, có chỗ cho một hiện thực khác, đó là sự viết. Trong bất cứ hình thức văn chương nào cũng có sự lựa chọn một giọng nói, một tập tính, nếu muốn, và chính ở đây nhà văn tự cá biệt hóa rõ ràng, bởi vì chính ở đây nhà văn tỏ rõ đường hướng của mình.» (Le degré zéro de l’écriture, tr. 14)
Đối với Barthes, lịch sử văn chương hiện đại là sự tìm tòi không ngừng một hình thức mới, là sự cố gắng tạo nên một ngôn ngữ tự do. Chính ở điểm này Barthes đã đi ngược lại với lý thuyết của Sartre. Thứ nhất là về tương quan giữa nội dung và hình thức: đối với Sartre, vấn đề là phải biết muốn viết về cái gì, và khi đã biết thì phải quyết định viết như thế nào. Theo Sartre, thường khi hai sự lựa chọn này nhập làm một, nhưng ở các tác giả lớn, không bao giờ sự lựa chọn thứ hai đi trước sự lựa chọn thứ nhất. Có nghĩa là Sartre đưa lên hàng đầu cái nội dung, đặt nội dung lên trên hình thức. Trái lại Barthes khẳng định tính tự chủ của hình thức và khả năng của hình thức tạo nên ý nghĩa riêng, thậm chí trái ngược với chủ ý của tác giả. Barthes cho hình thức một ưu thế lớn: nhà văn không hoàn toàn làm chủ lời nói của mình, bởi vì ông không thể đo lường được những tác động của lối viết mà ông mượn hay tạo ra.
Sau nữa Barthes từ chối đặt vấn đề nhập cuộc về phương diện quần chúng. Ông viết: «Vấn đề không phải là nhà văn lựa chọn một nhóm trong xã hội để viết cho họ: nhà văn biết rõ rằng không bao giờ mình viết riêng cho một xã hội, ngoại trừ trường hợp có trù trước một cuộc Cách mạng. Sự lựa chọn của nhà văn là một lựa chọn về lương tâm, không phải một lựa chọn về hiệu lực. Lối viết của nhà văn là một cách để suy nghĩ về văn chương, chứ không phải để bành trướng văn chương.» (Le degré…, tr. 15) Barthes không nhìn nhận quần chúng có vai trò chính thức hóa sự nhập cuộc, như trong lý thuyết của Sartre. Trong cuốn «Essais critiques», ông giải thích văn chương có thể tác động như thế nào đến thế giới. Trong bài «Ecrivains et écrivants» (nhà văn và người viết), ông cho rằng: «nhà văn quan niệm văn chương như một cứu cánh, thế giới trả văn chương lại cho nhà văn như một phương tiện, và trong sự thất vọng bất tận đó, nhà văn tìm lại được thế giới, một thế giới vả chăng lạ lùng, bởi vì văn chương trình bày thế giới như một câu hỏi, rốt cuộc, không bao giờ là một lời đáp.» (Essais critiques, tr. 149) Khi từ chối tính khẳng định của ngôn từ nhập cuộc, văn chương từ bỏ tính thực chứng của sự nhập cuộc.Theo Barthes, điều mà văn chương không thể đảm nhiệm được, nghĩa là dùng một diễn ngôn có tính chính trị hay tính ý thức hệ, thì điều đó từ nay thuộc về lĩnh vực phê bình. Barthes mở đầu cho cái gọi là «sự ngự trị của phê bình» (le règne de la critique) trong những thập niên 60-70: tác phẩm văn chương có xu hướng được một diễn ngôn kèm theo, diễn ngôn này có mục đích làm sáng tỏ tác phẩm, bằng cách định nghĩa những dấu hiệu, những manh mối liên quan đến ý thức hệ và chính trị trong tác phẩm. Barthes giải thích những đòi hỏi của «phê bình mới»: «cái tội lớn của môn phê bình, không phải là ý thức hệ, mà là sự im lặng bao trùm lên ý thức hệ.» (Essais critiques, tr. 254) Vậy ở thời điểm 50-60 của thế kỷ trước, Barthes đã lên tiếng mạnh mẽ để tách rời văn chương và chính trị, bằng cách đưa ra sự cần thiết có một nền phê bình nhập cuộc, phê bình nhập cuộc đảm nhiệm thay cho văn chương sự cần thiết nói lên lập trường về ý thức hệ.
Cuộc tranh cãi về văn chương nhập cuộc, vì đã làm nảy sinh nhiều quan niệm mới, nhiều lý thuyết mới về văn học hiện đại, cho thấy thế kỷ 20 ở Pháp rất dồi dào, phong phú về lĩnh vực lý luận, phê bình văn học.
Liễu Trương


Chú thích:

  • Vụ án Calas (1762-1765) do sự bất khoan dung của tôn giáo gây ra. Nạn nhân là Jean Calas, một nhà buôn, theo đạo Tin Lành, bị tố cáo đã giết đứa con trai để ngăn cản con theo đạo Công giáo. Jean Calas bị lên án chịu khổ hình đến chết. Nhà văn Voltaire đã góp phần vào việc phục hồi danh dự cho Jean Calas, năm 1765.
  • Vụ án Dreyfus gây tai tiếng về pháp luật và chính trị, và gây chia rẽ trong dư luận Pháp. Alfred Dreyfus, một sĩ quan Pháp, gốc Do Thái, bị lên án sai lầm đã làm gián điệp cho Đức, năm 1894, nhưng được ân xá năm1899, và phục hồi danh dự năm 1906, sau một cuộc vận động đòi duyệt lại bản án. Trong cuộc vận động này có hai nhóm chống đối nhau: nhóm bênh vực Dreyfus chống quân phiệt và nhóm chống Dreyfus, đồng thời chống Do Thái và theo phe quốc gia quá khích. Trong vụ án Dreyfus, nhà văn Emile Zola viết, năm 1898, một bài báo nổi tiếng đăng trên báo L’Aurore với tựa đề: “J’accuse” (Tôi tố cáo).
  • André Gide, trong cuốn du ký “Voyage au Congo” (1927), tố cáo những tập tục của việc cai trị xứ Congo và thái độ của đa số người Âu đối với các thuộc địa.

Tài liệu tham khảo:
Jean-Paul Sartre, Qu’est-ce que la littérature? Gallimard, 1948.
André Gide, Littérature engagée, Gallimard, 1950.
Alain Robbe–Grillet, Pour un nouveau roman, Minuit, 1961.
Roland Barthes, Le degré zéro de l’écriture, Seuil, 1953.
Roland Barthes, Essais critiques, Seuil, 1964.
Benoît Denis, Littérature et engagement de Pascal à Sartre, Seuil, 2000.

https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com

 

Đăng ngày 11 tháng 05.2016