lieu truongLiễu Trương sống ở Pháp từ năm 1963.
Tiến sĩ Văn học đối chiếu, Đại học Paris III, Sorbonne Nouvelle.
Đã xuất bản:
- Les canons tonnent la nuit
Bản dịch truyện Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca - Nxb Philippe Picquier, Pháp, 1997
- Một cuộc đi chơi ở đồng quê -Bản dịch 16 truyện ngắn của Guy de Maupassant) Nxb Đà Nẵng, 2007
- Tiếp cận văn học Pháp - Nxb Văn Học, Hà Nội, 2007
- Phân tâm học và Phê bình Văn học - Nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 2011.


VÕ PHIẾN VÀ TÂM TRẠNG KẺ LƯU ĐÀY

Liễu Trương

Sau biến cố tháng 4, 1975, đông đảo người Việt Nam đột ngột rời xa quê hương để tìm đến một bến bờ tự do. Cả một cuộc đời bỗng nhiên bị đảo lộn, nếp sống cũ bỗng nhiên tan biến. Kể từ nay trên đất khách, người Việt di tản phải tập sống với những người khác chủng tộc, khác văn hóa. Vấn đề thích nghi, hội nhập được đặt ra, và người di dân ý thức rằng lìa cuống rún là cả một sự đau đớn. Thích nghi về vật chất như ăn uống, đổi nghề nghiệp, đổi lối sống, v.v… những điều này đều có thể làm được, nhưng thích nghi về tinh thần thì sao? Tâm hồn vẫn còn mang nặng hình ảnh quê hương, vẫn còn quyến luyến với những truyền thống, tập quán xưa, vẫn còn tha thiết với cái không gian đã bị tước đoạt một cách tức tưởi.
Về phía văn giới, cuộc sống lưu đày còn có một chiều kích sâu xa: nó ảnh hưởng đến việc sáng tạo của người cầm bút. Nhà văn vốn đã quen sáng tạo trong xã hội Việt Nam, trong môi trường văn hóa Việt Nam, với một ngôn ngữ đã từng được dân tộc nuôi dưỡng, nay bị bứng gốc làm sao tiếp tục sáng tạo? Cây bút đã trở nên vô dụng chăng?
Võ Phiến là một trong những nhà văn đã thấu hiểu tình trạng đó. Đương nhiên ông không tránh được những giây phút chao đảo, mất hướng, không tránh được khủng hoảng tinh thần. Nhưng rồi ông nhanh chóng cầm bút trở lại, lòng nặng trĩu ưu tư. Những năm đầu ông viết: «Thư gửi bạn» (1976), «Ly hương» (viết chung với Lê Tất Điều, 1977), «Nguyên vẹn» (1978), «Lại thư gửi bạn» (1979). Đó là thời kỳ Võ Phiến cảm thương người đồng cảnh và khám phá cái nơi chốn xa lạ mà ông gửi thân, ông thấm thía nỗi buồn cô đơn xa xứ. Rồi vượt khỏi những cảm xúc riêng tư, ông ý thức một nguy cơ lớn lao: sự tan biến của nền văn học miền Nam. Ông cảm thấy cần gấp rút cứu vãn, gìn giữ cái nền văn học đã đột ngột rơi vào quên lãng, cái nền văn học bất hạnh như ông nói. Chẳng bao lâu ông đơn thương độc mã lao vào cái công việc bảo tồn văn học miền Nam, trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, quá thiếu thốn về tư liệu. Và như ông nói: «… thời đại nó đã uốn mình theo hướng nào mình làm theo hướng ấy thôi.» (Võ Phiến Tuyển tập, tr. 1005) Kết quả là năm 1987, cuốn «Văn Học miền Nam Tổng quan» của ông ra đời. Ông cũng tiếp tục sáng tác và cho xuất bản cuốn «Truyện thật ngắn» (1991).

Với thời gian mọi việc đều lắng dịu. Năm 1992, nhà Văn Nghệ ở California xuất bản một tập tùy bút của Võ Phiến mang tựa đề «Quê». Chúng ta tạm dừng ở tập tùy bút này, để đọc bài tùy bút dài nhất: «Khách xá qui tâm». Tạm dừng là vì sau tập «Quê» còn có nhiều tác phẩm khác tiếp theo. «Khách xá qui tâm», trên đất khách lòng nhớ nhà muốn về, phải chăng là nỗi niềm của Võ Phiến? Tùy bút là thể loại đã cho phép ông tự do triển khai tài năng của mình, Võ Phiến rất thoải mái trong thể loại này, với cách nói duyên dáng, dí dỏm và thâm thúy của ông, và cách liên tưởng từ chuyện này sang chuyện khác rất tự nhiên.

«Khách xá qui tâm» nói về cuộc sống ở Los Angeles của một cặp vợ chồng người Việt, ông bà Nguyễn. Khởi đầu bài tùy bút là chuyện của một cô đội xếp, tức một nữ cảnh sát viên, trẻ trung xinh đẹp. Chuyện cô này không liên quan gì đến ý nghĩa bài tùy bút, nhưng nghệ thuật viết tùy bút của Võ Phiến là thế: ông bắt đầu từ cái xa xôi, cái vô nghĩa, rồi ông đi vòng vèo khá lâu để dần dần tiết lộ cái chính. Có điều là lối viết của ông có sức thu hút khiến người đọc, thay vì nhàm chán, lại tò mò muốn đi tới, muốn biết thêm. Chuyện cô đội xếp dài dòng, cô có hình khỏa thân đăng trên báo, cho nên cô bị sa thải. Nhưng chuyện của cô lại được giới điện ảnh khai thác, làm thành phim. Ông Nguyễn thường xem tivi buổi tối ; sau một ngày làm việc, ông cảm thấy mệt mỏi, ông không thuộc hạng khán giả chăm chú theo dõi chuyện phim ảnh. Một hôm, giữa hai giấc ngủ chập chờn ông thấy trên màn ảnh hình cô đội xếp ngồi thu mình trong góc một chiếc limousine, cô ta ngước mắt nhìn lên trời, vẻ mặt hân hoan, rạng rỡ. Số là cô ở xa đến, cô đang khám phá thành phố Los Angeles, gọi tắt là Eo Ê (L.A.). Nhìn gương mặt rạng rỡ của cô, ông Nguyễn bỗng nở một nụ cười. Thế là nụ cười bắt đầu câu chuyện riêng của ông Nguyễn. Nụ cười là cách nhập đề. Qua nụ cười, ông Nguyễn muốn tỏ cho cô đội xếp biết cái Eo Ê mà cô đang ngắm nghía một cách thích thú chính là sở hữu của ông đấy ! Chính ông là chủ và cô là khách. Thì ra ông Nguyễn đã chiếm hữu Eo Ê? Và từ lúc nào? Có một thời ông đau khổ vì đã bỏ xứ ra đi. Nhưng thời đó đã qua, nay ông nghiễm nhiên chiếm hữu Eo Ê. Trước ông, người Mễ cũng đã từng đổ máu trong cuộc tranh chấp với người Da Đỏ để chiếm hữu vùng này. Đến lượt ông Nguyễn thì không có chuyện đổ máu. Từ cái xứ An nam xa xôi ông khăn gói đến chiếm hữu Eo Ê một cách êm ru. Nhưng ông chiếm hữu Eo Ê hay chính Eo Ê chiếm hữu ông mà ông không kháng cự? Điều này khiến ông suy nghĩ miên man. Lúc đầu sự chọn lựa nơi cư ngụ của vợ chồng ông Nguyễn chưa dứt khoát, vì ở Eo Ê có cái nạn động đất, và những trận lụt kinh hồn. Nhưng rốt cuộc hai vợ chồng ở hẳn nơi đây.

I. Thiên nhiên và tình người
Ông Nguyễn chiếm hữu Eo Ê một cách rất thi vị: ông chiếm hữu bằng cây gồi, một loại cọ. Buổi chiều đi làm về, đi giữa hai hàng gồi ông có cảm tưởng chúng đang chờ đón ông. Đối với ông, cây gồi gồm hai phần, phần dưới thuộc về nhà cửa, xe cộ, hoa bướm, chim chóc, đó là phần của đời sống tạp nhạp ; phần trên là phần của gió, của trời xanh, mây trắng, của sự thanh thản. Khi ngước mắt lên «Bạn như vừa từ bỏ một thế giới, bước sang một thế giới khác. Rời bỏ cái thế giới chất chứa những vui buồn phiền tạp, bước sang thế giới không hư của các tiên ông đạo sĩ.» (tr. 57) Theo ông, gồi phải gồi già mới đẹp, và những ngọn gồi là những đạo sĩ già, những bô lão. Đám gồi ở Eo Ê đã mọc từ ba phần tư thế kỷ để chờ vợ chồng ông Nguyễn đến. «Cho nên ông đồng hóa gồi với Eo Ê. Rồi ông từ từ chiếm hữu Eo Ê. » (tr. 60)
Ngoài cây gồi, ở Eo Ê còn có tình người. Dân cư ở Eo Ê là dân đa chủng. Các món ăn bày bán thuộc tứ xứ. Ông Nguyễn có cảm tình nhất với cô gái bán các món ăn Phi Luật Tân, vì ngoài việc buôn bán, cô còn tha thiết muốn làm người khách yêu món ăn của xứ cô. Tình người đẹp nhất là giữa bà Nguyễn và hai bà láng giềng Mỹ trắng đã lớn tuổi: bà Betty và bà Nannette. Bà Betty tuy không còn trẻ nhưng đôi mắt thường mở to, tròn xoe, đầy vẻ ngây thơ, hằng ngày bà chờ bà Nguyễn đi làm về để thỏ thẻ kể chuyện linh tinh qua hàng rào. Bà Nannette, ngoài giờ làm việc thì trò chuyện với con mèo và hùng hục cuốc đất trồng cây, bà qua cả vườn bà Nguyễn để giúp việc trồng trĩa. Hãy nghe Võ Phiến nói về bà Nannette: «Người đàn bà dềnh dàng to lớn ấy di chuyển đến đâu là nghe tiếng lộc cộc lạc cạc đến đó: bà kéo theo nào xe cút kít chở phân chở đất, nào chậu nhựa chậu gỗ, nào cuốc xẻng, kéo, cưa…» (tr. 69) Còn bà Betty có lần mời bà Nguyễn vào nhà chơi, bà Nguyễn khám phá ngôi nhà trống trơn, bày biện sơ sài, và sự khám phá lớn nhất là tấm ảnh của George, đứa con trai của vợ chồng bà Betty, đã bỏ mình trong cuộc chiến ở Việt Nam, một xứ sở mà bà Betty chưa hề nghe nói tới và không biết ở đâu. Rồi bà Betty khoe sẽ cùng chồng sang năm đáp máy bay lần đầu tiên đi Hoa Thịnh Đốn, vào mùa hoa anh đào, để thấy tận mắt tên tuổi đứa con trên đài tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng rồi bà Betty chưa kịp đi một chuyến đi lịch sử thì đột ngột từ trần. Bà Nguyễn thương tiếc bạn khóc nức nở.

II. Nơi nào là quê hương?
Rồi ông bà Nguyễn có dịp đi chơi ở Grand Canyon. «Grand» trong tiếng Anh không có nghĩa là lớn như trong tiếng Pháp, mà là mênh mông, hùng vĩ, tuyệt đẹp. Nơi đây du khách choáng ngợp trước những mỏm đá chìa ra trên vực sâu thăm thẳm do con sông Colorado xói mòn trong bảy triệu năm. Ông bà Nguyễn tha hồ ngắm cảnh mặt trời lặn ở mỏm Hopi, họ cảm thấy cái mênh mông, cái vắng lặng thấm vào tâm hồn. Và lạ thay, «ông Nguyễn tự bắt gặp mình đang lắng nghe mình. Mấy hôm nay ông đã sống những giờ phút khác thường.» Ông cảm thấy rất gần với cái Vĩnh cửu, cái Vô biên, và bắt đầu trăn trở về kiếp người. Cảnh vật ở đây tuyệt đẹp nhưng không phải là nơi sống của con người. Hai vợ chồng rời Grand Canyon sớm hơn dự định. Bà Nguyễn sung sướng trở về với khu vườn của mình. Bà reo lên: «Anh ! Ra coi kìa. Vườn nhà mình đẹp muốn khóc.» Bà đã đánh thức một cái gì nơi ông. Bà gọi ông là «anh» như thời trẻ, và bà thấy vườn đẹp muốn khóc. Cảnh hùng vĩ của Grand Canyon không gây xúc động, mà khu vườn bé nhỏ trong nắng chiều lại khiến hai vợ chồng xúc động. Nhưng có cái gì rất đẹp, rất xa xôi, mơ hồ đang khuấy động tâm hồn ông Nguyễn. Ông tỏ cùng vợ nỗi sung sướng trở về nhà, tìm lại những đồ vật quen thuộc trong nhà. Nhưng Eo Ê có phải là quê hương của họ không? Ông Nguyễn tuy vui khi trở về Eo Ê với hàng gồi bô lão, nhưng ông lắng nghe có cái gì không ổn trong tâm hồn, ông không tránh được những ám ảnh của thời xưa. Vì quê hương thật của ông là «lũ ruồi say nắng trên nền nhà xa xưa», là «ngọn đưốc lập lòe trên bờ suối đêm khuya», là «một vạt mây trắng sáng lóa trên một ngọn tre trong buổi trưa chói chang», lòng ông quặn đau vì nhớ. Ông Nguyễn dường như nghe được tiếng gọi, tiếng hú của tổ tiên bên kia Thái Bình Dương, «những tiếng hú hút hồn người lữ thứ».
Nhà thơ Tàu Giả Đảo khi lưu lạc ở Tinh Châu thì mơ về quê Hàm Dương, nhưng khi đặt chân đến Tang Càn thì ông lại nhớ Tinh Châu như nhớ quê hương của mình. Cũng như Giả Đảo, ông Nguyễn lưu lạc ở Eo Ê, ông mơ về quê hương Việt Nam, nhưng khi đặt chân đến Grand Canyon thì lại nhớ Eo Ê, vui mừng trở về Eo Ê. Có điều trong tận cùng tâm hồn của ông Nguyễn, quê hương thật sự là quê hương xa nghìn trùng.
Võ Phiến đã gửi gắm tâm tư của mình vào nhân vật ông Nguyễn chăng? Điều dễ hiểu. Thiên nhiên và tình người làm cho cuộc sống nơi xứ người có phần dễ chịu, thoải mái. Nhưng làm sao xóa được hình ảnh quê hương đã in sâu vào tâm khảm của kẻ lưu đày? Võ Phiến thường nói đến cái lạnh, một thứ lạnh thấm vào tâm hồn, đó là cái lạnh của cô đơn trên đất khách, cái lạnh vì quá xa quê hương, không mong có ngày về.
Văn hào Pháp Victor Hugo, vì chống đối với Louis Napoléon Bonaparte – nhân vật này về sau được phong làm hoàng đế Napoléon III – đã phải sống lưu đày ở đảo Guernesey gần hai mươi năm. Nhưng so với Võ Phiến có thấm vào đâu. Quần đảo Jersey – Guernesey ở biển Manche, tức ngoài khơi bờ biển Pháp, có xa quê hương của Victor Hugo là bao. Còn Võ Phiến thì xa quê hương vời vợi. Lưu đày của Victor Hugo dù kéo dài hai mươi năm, nhưng cũng có ngày chấm dứt. Lưu đày của Võ Phiến là một lưu đày vĩnh viễn.
«Bạn rằng nhớ buổi tiễn đưa
Kinh Kha, bạn hỏi, bây giờ ra sao?
– Kinh Kha bước thấp bước cao
Kéo lê kiếm bạc đi vào Hư Vô.»
(Võ Phiến, «Đáp bạn Chu Ly»)

Có lần nghe thiên hạ bàn về vấn đề trở về quê hương để chết, Võ Phiến nói đối với ông «chết ở đâu cũng tiện». Thật ra trở về quê hương để chết, để được an táng, có mộ phần nơi quê cha đất tổ, điều đó chỉ để làm vui lòng người sống. Người sống cần có nơi để tưởng niệm người chết, để tỏ lòng cung kính, biết ơn, và cái nơi có ý nghĩa nhất chính là quê nhà. Thế nhưng đối với người chết, như Võ Phiến đã nói, thì chết ở đâu cũng tiện. Điều quan trọng là những gì người chết để lại cho hậu thế. Võ Phiến đã ra đi, ông để lại những tác phẩm thuộc nhiều thể loại và những công trình biên khảo như một đóng góp lớn vào nền văn học Việt Nam.
Liễu Trương

https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com

 

Đăng ngày 12 tháng 05.2016