KÝ ỨC SƠ SÀI

KỲ HAI MƯƠI BỐN

Tôi về Hội An cuối thu. Không biết mùa thu đất Bắc nó ra sao, chỉ thấy người ta làm thơ, hát hỏng nghe ra thơ mộng lắm. Tôi hơi ngờ họ thêm mắm dặm muối vì hồi trung học, đọc Trường Ca thấy Xuân Diệu  dường như thành thật – thành thật lúc này thôi chứ cả quãng đời dài của ông sau 54 không mấy khi thật nữa:
 Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh, ấy là mùa thu đã về. Mùa thu mới về yểu điệu thục nữ, trời bớt nóng và thêm mát, có ai thổi cơm mà khói nhẹ mơ hồ đâu đây. Chưa có sương mù, chưa  hẳn có sương mờ, chỉ là đôi thoáng sương mơ mỏng như chiêm bao. Mặt trời nhạt vừa khuất mây thì khối lá biếc hơi nhòa, mặt trời vừa ló lại ánh vàng thì khối lá lại hiện nguyên sắc biếc. Không biết có phải sương thu mới nhóm hay đó chỉ là sự huyền ảo của chính hồn tôi.

Hội An, theo tôi, thời tiết không khác miền Nam bao nhiêu. Đám bông bươm bướm trước sân, buổi sáng mới trông tươi tắn sởn sơ, trưa đã đứng rũ trong nắng hanh khiến nhớ lại mùa nóng dữ dội hằng năm ở đây còn vương vất lại. Chỉ khi trời chiều, để ý ta mới nhận ra trong gió thoảng hơi lạnh khô se da thịt. Đầm nước miệt Cẩm Hà, Lai Nghi la liệt những cọng sen bị vặt đài để hái hạt, bày trơ ra những cọng khẳng khiu già héo. Cạnh đám lá úa vàng rũ rượi một nỗi tàn phai, vẫn còn sót rải rác xa kia những đóa sen muộn hồng nhạt, lẻ loi trên mặt nước im ru. Con cò trắng lom khom cần mẫn mò tôm cá, thỉnh thoảng ngẩng nhìn quanh quẩn rồi  như nghi ngại điều gì bỗng nhẹ nhàng cất bay, đôi cánh trắng phau loang loáng dưới ánh chiều.

Không gian tĩnh lặng quá khiến tôi không tin, không hình dung được sẽ có bão bùng, nghe nói mấy bữa nay. Chúng tôi đang đợi cơn bão nhiệt đới rất mạnh Nari, mặt mày dân chúng chưa gì đã hớt hơ hớt hãi. Xem hình mô tả trên TV, cứ mong nó không nhắm vào Hội An Đà Nẵng. Thật xấu xa bỉ ổi, chỗ nào cũng “đồng bào” cả nhưng tự thâm tâm, ai cũng mong thoát nạn, miễn mình thoát, miệt nào hứng chịu thì cứ để…tính sau!  Một ngày trước khi tràn vào đất liền mà truyền thông CS gọi là đổ bộ, ngồi lê đôi mách café mái hiên, nghe thiên hạ mừng rơn nói mới có tin bão (phức tạp) đang lệch hướng tây bắc! Từ ngày ông N.B.TH cho xây tượng Phật Bà chỗ vịnh Sơn Trà, bão nào cũng né Đà Nẵng. Hội An kế bên nhờ vậy được hưởng sái! Nhưng tối về mới biết nó không còn né nữa mà nó… ghé. Tôi độ chừng Phật Bà nay cũng chỉ còn cách đứng ngó, riêng “bản thân” tượng không bị gió mạnh…đổi tư thế là giỏi rồi, vì con tôi (làm kiểm soát không lưu) từ SG gọi, nói trung tâm mắt bão chắc chắn ngay chóc Đà Nẵng – Hội An, nó biểu chuẩn bị đối phó. Tôi hỏi đối phó kiểu gì.
- Thì ba chèn cửa nẻo lại, mua mì gói, bình nước uống, coi lại bình gaz…
Nếu vậy thì dễ, 30 giây! Chống bão rứa thiệt khỏe không thua gì ủy ban chống bão lụt trung ương với vị đại thần mặt mày oai phong lẫm liệt cùng toán quan lại đô con bụng bự họp bàn chỉ đạo bằng công điện cho thuyền vào bến, neo thuyền vào trụ, khiêng ghe lên bờ, hướng dẫn đàn bà con nít lên chỗ khô ráo an toàn… Làm như các ông không chỉ đạo thì mấy tay tài công không biết cột ghe cho chắc. Đàn bà con nít không thích chỗ khô ráo an toàn. Mỗi năm mấy đợt bão, mấy cây lụt thì bấy nhiêu cuộc họp chỉ đạo trực tiếp truyền hình, rồi đến họp tổng kết rút kinh nghiệm, mai mốt lại họp triển khai chống cơn mới, ra văn bản mới (mới ngày tháng thôi chớ nội dung xem ra y chang lần trước). Họp xong… ăn lấy sức, họp nữa, họp mãi. Quan lại cấp tỉnh thì truyền hình “trực tuyến”, không chịu đứng nơi khô ráo mà phải cứ đội nón cối ra đứng ngoài gió báo cáo tình hình. Mưa thì đã đành, không mưa cũng bận áo mưa (chưa qua sử dụng!) cho nó có cảnh!  Ông thần thủy lợi của giai cấp vô sản thì trốn biệt, chẳng thấy đứng lên làm trời như từng tự xưng cho thiên hạ nhờ.
Viết vậy tôi không khỏi thấy mình soi mói quá. May mình không được làm quan cho chế độ toàn trị, nếu làm chắc gì mình khác. Đọc thánh kinh, Chúa phán ngươi chớ chỉ trích, xét đoán kẻ khác hầu khỏi bị xét đoán. Nhưng chỉ mỗi mình Chúa mới có quyền xét đoán thì con người cũng chỉ con vật người sao? Họa có thánh nhân mới thực hành được kinh thánh.

Mới đầu hôm mọi người đã thấp thỏm đợi bão, có cái đợi chờ chẳng mong muốn vẫn cứ bồn chồn, kỳ cục. Đêm phố Hội gió như vẫn mát lành khiến nghĩ tới mấy câu thơ gió vui phơi phới hiếm hoi của Tô Thùy Yên: Còn ở đâu ngọn gió thênh thang/Thổi mới trần gian mùa rộn ràng/Tiếng biển lời rừng nao nức giục/Ta về cho kịp độ xuân sang. Mưa rải nhẹ trên ngói những tiếng thanh bình gợi nhớ xa xôi chốn cô thôn ngày cũ. Về Hội An như kẻ lạ đi giữa phố Tây đêm khuya tĩnh mịch bỗng nhớ bạn bè một thuở. Căn gác xếp ngó ra bụi tre chờ trăng lên với Phùng Tiến, hình như Phùng Tiến suốt đời đợi một vầng trăng. Ngang qua nhà buôn Phi Yến cửa đóng then cài im ỉm, sống dậy những ngày học thi với Mạc Phi Hoàng trên lầu cửa hậu nhìn ra sông Hoài. Nhớ Hoàng là nhớ thầy Phan Khôi khả kính (nay đã là người thiên cổ), giờ littérature Francaise, mỗi lúc điểm danh, thầy nhìn chỗ ngồi hay bỏ trống của Hoàng, giọng nói không chút ác cảm, lại như có vẻ khôi hài: il est toujours absent, (chắc cũng tại Hoàng học giỏi). Một bữa tối bốn năm đứa hái trộm dừa trên đường bảy cây dừa gần chùa tỉnh hội, quả dừa bự rớt trúng đầu Trần Văn Căn, hắn đứng im như trời trồng có vẻ chuẩn bị ngả xuống, bắt kinh. Cả bọn xúm lại hỏi, hắn ta nói mắt tau nháng lửa, tau tập trung nhớ lại đề toán hồi sáng coi mất trí chưa! Căn mắt to bảnh trai, sau làm quan lớn hải quân. Mọi chuyện suông sẻ, hắn lên tới đô đốc không chừng, nay ở Mỹ chắc chưa quên trái dừa của tuổi thơ nghịch ngợm. Hội An vẫn vậy gần nửa thế kỷ sau cơn loạn ly ngả nghiêng sông núi. Điều kỳ diệu thần thánh không tin nổi là chẳng ngôi nhà cũ nào bị bom đạn gì trong cuộc phân tranh ác nghiệt.  Có lẽ đây là thành phố duy nhất ở VN không một nét khác đi sau cơn phong ba dai dẳng khùng điên trên dải đất đầy tai ương của tộc Việt. Những con hẻm gạch tàu vắng hoe quen thuộc, những dãy phố cổ khuất tối trầm mặc dưới ánh trăng lưỡi liềm hằng mấy trăm năm trước, nay vẫn y nguyên. Dường như thời gian nơi đây chưa hề nhích tới, trôi đi, chỉ có cố nhân biệt mù tăm tích mà thôi.

Gần nửa đêm, gió bắt đầu gầm hú rợn người. Điện đóm tắt câm. Cây cối ngả chúi trong mờ ảo. Miếng fibrociment đậy cái chateau d’eau nhỏ trên nóc nhà cứ nhớm lên đập xuống ầm ầm, sớm muộn sẽ bay xuống vườn. Gió lồng vào mái ngói vù vù như muốn bứng căn nhà nhỏ khỏi mặt đất. Tôi hết nằm lại ngồi bên cửa kiếng chờ sáng, cũng không biết chờ sáng để làm gì. Bão dường như cứ vào đất liền ban đêm hầu dễ dọa người ta hơn. Điện mất, đêm tối như trở lại hoang sơ bí mật khiến mọi sự có vẻ nguy hiểm hơn bội phần. Mấy nhánh mãng cầu cứ chờn vờn đập vào cửa sổ rắc rắc. Cây mít ốm o mới ra trái lần đầu - được tới mười mấy trái - dựa vào tường còng lưng chịu trận. Mắt đã cay xè mà không dám nhắm, mặc dù có mở thao láo dòm trân trân cây cối cũng chẳng làm gì được gió. Giữa cơn vật vã ầm ĩ cũng có khoảng lặng gây ngạc nhiên chừng năm mười giây khiến liên tưởng tới dàn nhạc đại giao hưởng lúc kèn đồng và trống ngưng nghỉ. Liền sau đó lại khởi sự đợt mới nhưng chừng như không tăng mạnh hơn. Nếu chỉ thế này thì cũng không đến nỗi.

Bình minh lên, gió bất ngờ nín bặt, cây nghiêng, cây ngả đều nằm yên theo hướng tây bắc. Cảnh vật lặng thinh cách dị thường, đến chiếc lá cũng không chút lay động. Một mảng trời xanh thấp thoáng lộ ra trên cao. Mưa cũng chỉ rắc bụi nhẹ nhàng trên đám hoa bươm bướm đã rách bươm tơi tả. Ngạc nhiên quá, chẳng lẽ bão qua dễ và lẹ vậy sao, ít ra cũng phải để lại ngọn gió hậu kỳ nào chứ? Hay trời đất chơi trò gài bẫy chi đây!

Và quả đúng vậy. Tĩnh lặng được đâu vài mươi phút, nửa tiếng, gió lại rít lên từng chặp. Giờ thì ai cũng thấy rõ mặt thật hung tàn của bão. Nó xoay tròn khốc liệt như con trốt khổng lồ đang say máu. Nó lay chuyển cây cối nhà cửa đủ bốn phương tám hướng một cách hoàn hảo. Rõ ràng nó chủ tâm lay cho nhão gốc với phương pháp “khoa học” tối ưu rồi chọn thời cơ thuận tiện mà bứng đi, cho thỏa “bản năng” tàn phá chứ đâu có mục đích gì khác. Cuối cùng nó thu hoạch mớ cây cối nhà cửa đổ nát cùng bao đau thương của người dân để làm gì, đố ai hiểu được!

Mấy mẹ con tôi ngồi co ro nhìn mưa gió qua cửa kính, bỗng nước ở đâu chảy thành vòi từ khe hở sàn gác gỗ đổ xuống đầu, tôi vội trèo cầu thang lên xem sao. Một mảng lớn plafond oằn xuống, nước từ đó tuôn ra. Tôi định kiếm cây gì chống đỡ nhưng đã trễ, mấy miếng nhựa dài bung văng, đổ ập xuống nền nhà một tiếng ầm. Mái nhà bày ra một khoảng trống hoang vì bị gió dữ vừa tốc ngói đi. Tôi may mắn chỉ bị miếng gỗ xẹt ngang trước trán, chỉ phải ướt như chuột lột, lạnh run như cầy sấy. Nếu thanh gỗ chọn điểm rơi chính xác hơn, tôi đã được ghi vào danh sách thiệt hại nhân mạng tính cho thành tích bất hảo của cơn bão rồi. Đây là lúc chúng tôi thực sự màn trời chiếu đất. Không còn cách nào khác là tìm chỗ khô ráo còn lại để trú mưa. Ông bà nói bão đi té đái bão lại té cứt quả đúng. Cũng may, mọi năm, bão thường mang theo mưa tầm tã rồi hậu kỳ là nước dâng để đẩy tấn kịch tới tận cùng bi đát, nhưng lần này giống như bão khô, vì mưa không nặng hạt lắm và gần như nhẹ hẳn ngay lúc gió bớt mạnh nên thảm cảnh của chúng tôi cũng chỉ kéo dài chốc lát. Nhà cửa trong tình cảnh này mà gió vẫn sung sức như lúc sáng sớm thì coi như…xong, huề trớt! Cô em tôi vốn giàu đức tin, cho rằng Chúa gây bão nhưng không để chết chóc xảy ra là đáng cám ơn ngài lắm rồi. Chuyện này nó hơi giống dân VN định hướng XHCN, bất cứ ai, trong mọi hoàn cảnh, có dịp được phỏng vấn trên TV các thứ cũng luôn tươi cười, miệng không quên thì thào cám ơn Đảng. Đảng tạm không nhốt là cười toe. Hèn chi chỉ số hạnh phúc của dân VN cao nhất nhì thế giới là điều khả tín!

 Ngày hôm sau trời cũng chỉ mưa bụi gây gây lạnh, nắng ấm hửng lên từng chặp giống như tháng chạp gần tết, lò mò ra quán café bờ sông, (tôi ngưỡng mộ ngôi quán với hàng ghế kê dưới bóng tre La Ngà vàng óng, chỉ cần ba bước là đụng mép nước sông Thu Bồn), tình cờ gặp lại ông bạn quen làm ở tòa hành chánh Quảng Nam hồi đó, hụt đi HO vì lý do lãng xẹt. Nghe quê tôi thuộc miền núi Đại Lộc, ổng hỏi có gần An Điềm không. Tôi nói:< br/ - Cách An Điềm bốn năm cây, An Điềm toàn núi, có chi lạ mà hỏi?
      - Tôi đi tù ở đó mà.
 Tôi hỏi cay có gì vui không, bất ngờ ổng nói cũng vui, đáng nhớ lắm. Rồi ổng kể chuyện vui. Nghe ra cũng oái oăm cười ra nước mắt nhưng không chắc vui bằng bánh xe lịch sử của Ng Thế Cường. Ổng nói:
-  Hồi đó cực thiệt nhưng nay tự nhiên quên bớt cái cực, chỉ còn nhớ mấy chuyện vui. Anh có “tham gia” trực tiếp mới thấy vui, nay tôi kể lại nguội quá, nhạt nhẽo nữa. Rồi ổng kể thêm. Một bữa, trước giờ đi lao động gánh phân bắc, thấy tay nguyên quận phó, vốn tốt nghiệp cao học quốc gia hành chánh, mặt mày như bánh bao chiều, mắt đỏ hoe, tôi hỏi:
 - Chuyện chi ngồi buồn rứa anh?
Anh ta đớp tôi ngay:
 - Anh thì vui hỉ?
Tôi nói:

 - Anh em hỏi thăm an ủi nhau chút, anh cay tôi làm chi. Anh ta dịu giọng:
 - Bộ anh không thấy bọn họ bắt mình gánh cứt (phân bắc) là cố tình làm nhục mình sao. Mình quá tệ, không giữ được tư cách như bọn tù binh trong phim Cầu Sông Kwai. Tôi nói mình đâu phải tù binh, là… học viên mà. Còn tay sĩ quan người Nhựt Bổn, tuy mắng mỏ đại tá Anh Nicholson, đại khái nói chiến tranh chớ đâu phải đá banh mà mày đòi luật lệ hoài, nhưng dù sao y cũng thuộc loại văn minh, biết rõ công ước quốc tế về đối xử với tù binh chiến tranh chính phủ nó đã thò bút ký nên không dám làm càn. Còn ở đây, anh biết quá mà, công ước chi họ cũng ký, xin ký trước nhất, không cần biết dấu chấm dấu phẩy... Tôi còn nói anh ơi, chuyện phân, anh nghĩ coi, người ta không nói phân Huế, phân Quảng Nam… mà nói phân Bắc, tức “đặc sản” ngoài bắc tổ tiên họ cũng từng gánh, nay “lịch sử” khiến mình phải gánh, đáng chi mà buồn. Cũng may, ông bà mình theo chúa Nguyễn chạy dài khá sớm nên bao nhiêu đời con cháu…ngưng gánh cũng khá lâu phải hông.

 Chiều ngày thứ hai sau bão, không rõ trên nguồn thế nào chứ ở đây cũng chỉ rơi mưa nhẹ, may ra thoát lụt lội chăng? Nhưng chính quyền không nghĩ vậy. Xe phóng thanh chạy khắp phố cảnh báo lũ về cùng lúc xả bốn đập thượng nguồn nên mức nước báo động trên cấp 3. Lần này không hiểu sao họ nói thật chứ không che giấu như mấy lần trước. Chúng tôi thấy lạ, gọi hỏi bà con trên núi thì biết ít mưa nhưng nước cũng lớn rất nhanh, chắc là nước của đập thủy điện. Một phần ba thành phố Hội An thấp lụt, chuyện dọn đồ đạc lên gác xuống lầu nhiều lần hằng năm là công việc vô ích trời hành. Phải chi được ở bờ sông đẹp đẽ thơ mộng hoặc phố cổ được Tây Tàu… dòm ngó thì dọn lụt cũng đành. Nhà má tôi vốn chạy giặc từ làng quê xuống ở chỗ khuất vắng ít ai biết tới, chỉ được mỗi cái thấp lụt chẳng thua ai nên chuyện dọn dẹp hóa ra nặng nề bất tận. Tôi ngán khiêng đồ nặng quá nên nghĩ bụng họ chỉ xả nước đập chớ lụt thì đâu có mưa mà lụt. Họ cứ nói đại nước lụt nhỡ có thiệt hại cũng bớt đi tội lỗi. Nghĩ vậy mà không dám nói, ngộ lỡ mình vì lười mà nhận định trật thì tai hại lắm. Hơn nữa nếu họ thông báo ẩu vậy lần sau nói thật ai tin. Mọi chuyện về sau chứng tỏ tôi vẫn còn lạc quan quá. Nước chỉ dâng hơi cao trên phố bờ sông, hình chụp nước ngập phố xá trên báo chí hôm sau có người nhìn ra hình cũ. Hóa ra họ không nói dối mà chỉ một nửa sự thật như thiên hạ vẫn thường bảo. Thôi cũng mừng, họ ăn xổi ở thì, phỉnh dân chút cũng không sao, nước không ngập nhà là…hạnh phúc lắm rồi. Tự nhiên nhớ một câu trong truyện Huckleberry Finn: Họ mở miệng ra mà chưa nói phỉnh ai điều gì thì không thể ngậm miệng lại được.