Người ta thường coi hát Ả Đào là một loại hát Ca Trù và bỏ chung nó vào một rọ gồm Ca Trù, hát Cửa Đình và hát Ả Đào ( hay còn gọi là hát Cô Đầu ).

Cái từ Ca Trù nó có nghĩa rất mơ hồ nên bỏ Ả Đào vô đó cũng xuôi. Nhưng ở đây tôi muốn tách riêng ra để nhấn mạnh rằng hát Ả Đào được phát triển vào thời Nguyễn. Thời xa xưa người ta chỉ hát ở cửa Đình thôi. Không ai có thể xác định được nó có từ thời nào. Hầu hết các Đình gần đây (nhất là đình Lỗ Khê: Người ta nhấn mạnh đến tính cổ kính của nó) đền thờ tổ là Đình Dự và Mãn Đào Hoa công chúa. Nhưng tôi nghi ngờ tính khoa học của việc xác định thời gian đó. Nếu đời Đinh người ta có hát Thì chắc chắn giọng điệu của nó phải được cải tiến hàng trăm lần cho đến giọng điệu ngày nay. Tuy vậy so với hát Ả Đào thì khác xa lắm. Ngày nay hát Cửa Đình vẫn còn ở nhiều nơi vẫn với giọng i, e, a nguyên thuỷ của nó ( mà các bạn trẻ không thích thì nói là nhạc đám ma ), trong khi hát Ả Đào thì coi như tiêu rồi.

Tôi nghĩ nên trả lại tên gọi chính thức, tên gọi gốc của hát Ả Đào là HÁT NÓI. Hát nói được hình thành vào thời Nguyễn. Ta không thể xác định được ai đề xướng vào năm nào nên có thể tạm lấy cụ Nguyễn Công Trứ làm mốc để nghiên cứu vậy. Đây là thời kỳ Đại Thống Nhất. Sau khi đã dẹp tan dư đảng Tây Sơn,diệt tận gốc các đám giặc cỏ và chiêu hồi các dân tộc thiểu số. Đất nước thái bình được 20 mươi năm. Giang san mênh mông với các miền văn hoá lớn,trên đất nước đã định hình một nền văn hoá Đại Nam rực rỡ.

Hát nói đã khác hẳn thi ca trước từ câu chữ cho tới giọng điệu.

Câu thơ không hề hạn chữ ( tôi đã thấy những câu dài mười mấy hai mươi chữ ) câu dài và bằng, trắc luân chuyển kỳ diệu không hề có dấu vết của lục bát biến thể hay song thất lục bát. Một số nhà nghiên cứu nói rằng song thất lục bát tiến lên thành hát nói, e sai rồi! Hai câu thất ngôn xen vào giữa bài một cách tài tình không hề giống với hai câu song thất ở giữa hai câu lục bát trên và lục bát dưới trong bài song thất lục bát.( tuy nhiên ý kiến này cũng đáng để tham khảo vì thơ song thất lục bát thịnh hành ngay trước thời hát nói ).

Giọng Hát nói rất hào sảng,rất tung hoành chứ không như tiếng hát cửa đình. Tôi không rành âm nhạc cổ nên không biết Bình Bán, Kim Tiền...hay Nam Bình, Nam Ai, Sa Mạc, Bồng Mạc nó lên bổng xuống trầm lưu thuỷ hành vân...ra làm sao. Nhưng xin hỏi quý vị như giáo sư Trần Văn Khê rằng có phải âm nhạc trong Hát nói nó phong phú hơn hẳn các điệu hát trước đó không ?

Không biết những câu hát cao và mạnh trong Hát nói có ảnh hưởng những ông tướng sĩ Tây Sơn hú cao trong thời gian qua không.

Không biết có phải mấy Ả đào quen hát Cửa đình, hát xẩm, hát quan họ, hát chầu văn quen giọng rồi, bây giờ gập thất ngôn, mà lại thất ngôn chữ hán nên mấy cô “nói” chăng. ( nếu vậy thì ngày nay ta gọi hát nói là nhạc RAP ).

Một điều nữa chúng ta cần biết là chính những nhà trí thức ( 100% ) sáng tác ra Hát nói chứ không phải người bình dân. Và chính “Tác giả dậy các cô Ả Đào hát “. Vậy đây là Văn chương (và Âm Nhạc) Bác học chứ không phải là Dân gian hay Đồng quê...

Sau đó, khi loại thơ điệu nhạc này lên đến cực thịnh,rất nhiều người biết hát rồi , các Ả đào hát tại nhà hoặc đi hát mướn cho bất kỳ nhân vật văn võ nào (dù họ không biết làm thơ). Và thế là nghề Hát Ả Đào ra đời. Từ đó người ta gọi là hát “Ả Đào” chứ không gọi là Hát nói nữa.

Từ Nguyễn Công Trứ với đủ giọng hào hùng, sảng khoái, đạo đức, tự hào, trào lộng...tới Cao Bá Quát thoát tục, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê bình dị, nhẹ nhàng... càng về sau càng diễm lệ và đa tình, nhất là với Chu Mạnh Trinh. Đành rằng vẫn còn là thanh tao nhưng... đã nghiền mất rồi! Mà đã nghiền thì bị động, say mê, đắm đuối. Đến nỗi Dương Khuê mê một cô Đào hát, có chồng chết,c hít khăn tang, vẫn bắt hát :

“ Xưa nay nghề nghiệp thế thường “

Nhưng những cuộc đời gian truân của những người đẹp,có bao giờ khiến cụ nhỏ lệ Tầm Dương không ?

Thiếp tự thân khinh lang vị khí

một cố nhân, sau sáu, bẩy năm mới gặp lại, nhìn người đẹp tiều tụy, chắc cụ nao lòng, muốn vỗ về an ủi kiểu như :

Ra đường thấy cánh hoa rơi

Hai tay nâng lấy cũ người mới ta

( Có lẽ cũng như Vũ Hoàng Chương thôi :

Mười phần xuân có gầy hao

Tấm lòng xuân vẫn dạt dào như xưa )

Càng về sau,bộ môn Văn Nghệ này càng đi vào con đường thương mại hoá. Hồi tôi còn bé, mỗi lần có chuyện vui : Nhà mới, cưới hỏi, người ta đón cô Đầu về hát, thì cô Đầu ra giá rõ ràng: Hát một đêm bao nhiêu, hai đêm bao nhiêu chứ không tuỳ hỉ, muốn thưởng bao nhiêu cũng được.

Không biết hai tiếng Cô Đầu thay thế hai tiếng Ả Đào hồi nào. Không biết người ta có kiêng tên ông lớn nào là Đào không? Nhưng tôi chắc một điều là hai tiếng Cô Đầu thịnh hành thời xóm Khâm Thiên Hà Nội : Làm ăn phát đạt.

Các cô đã có ông chủ hẳn hoi. Không biết là đầu nậu hay Bảo kê hay nhà Tài trợ. Không biết là trả lương tháng hay trợ cấp khi các cô vắng khách (tôi không biết vì khi đó tôi còn bé, không thấy tác giả nào viết về lợi tức của các cô). Nếu khi nào ông chủ có vấn đề thì các cô đói :

Cô đầu cô đít cô đuôi

Ông chủ đi vắng ai nuôi cô đầu

Lúc này thì nhà cô Đầu cũng như nhà thổ,nhà chứa, nhưng những khách sính chữ nghĩa thì gọi một cái tên xóm Bình Khang cho nó nho nhã hơn. Nhưng dù có gọi tên văn hoá gì thì khách tới càng ngày càng ít văn chương và càng thô tục. Người ta mượn văn chương để xỏ xiên nhau cũng lắm. Có một ông Võ biền, xấu xí, đen đủi, nhưng tới nghe hát nhiều, thưởng lắm tiền. Một văn nhân bèn xúi cô Đào hát mừng đón quan bằng hai câu lẩy Kiều

Đến bây giờ mới thấy đây

Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình

Và dặn cô Đào khi nào hát tới hai mặt sắt thì nhấn mạnh và nhìn ông,cho ông thích.

Một vị khách làng chơi khác rất già,nhưng khi đến hát thì cứ chọn cô gái rất trẻ. Ông thi sĩ thầy dùi nhà ta bèn xúi cô gái trẻ hát câu Kiều :

Đã cho vào bậc Bố Kinh

Và dặn khi hát đến chữ Bố thì ngừng một chút cho quan thấm...rồi hãy hạ chữ Kinh.

Đó là các cụ làng chơi bầy đặt cho đỡ buồn thôi chứ mấy cô Đầu thì hát đại, chứ chữ nghĩa gì. Nhiều cô chỉ sống nhờ trẻ đẹp để bỏ bùa mê thuốc lú cho mấy cụ thích đi hát mặn. Vâng tôi dùng chữ hát mặn để phân biệt với mấy nhà sư cũng đi nghe hát, nhưng nếu gặp người quen thì vội vàng phân bua là mình chỉ đi nghe hát chay (nghĩa là không ngủ lại qua đêm ở nhà hát ). Dù không có ngủ đêm nhưng các nhà sư này cũng không tránh khỏi những chuyện suồng sã,c huyện bù khú, chuyện tiếu lâm...của cái văn hoá trà đình tửu điếm. Tuy vậy tôi vẫn bênh vực các nghệ sĩ thứ thiệt như Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tuân. Các vị này chỉ ham vui chứ không tục tĩu đâu. Các vị đến đây để thưởng thức không khí liêu trai: Với người đẹp, tiếng đàn tiếng phách và tiếng ro ro của cái dọc Tẩu. Những vị công tử bẹp này nằm bẹp một tai xuống tay cầm nghiêng cái dọc Tẩu, để tai kia nghe tiếng ro ro giòn giã ru hồn người hưởng cái thú Phi Yến Thu Lâm ( Phiện Thú Lắm nói nhừa nhựa thành Phi Yến Thu Lâm, chứ chẳng có con chim én bay rừng thu nào ở đây ). Hồi này hầu hết các nhà hát cô Đầu đều có các nàng tiên nâu để phục vụ các chàng Công tử Bẹp. Tôi nghĩ các vị chỉ thư giãn, chỉ đi xả xì trét sau những tung hoành ở trường văn trận bút không mấy gì êm ả của thời này, chứ mấy vị chẳng để ý đến lời, đến nhạc của những bài hát (?!).

Khoảng năm 1942, bài hát Tây đã xì xồ đầy đường, Tân nhạc cũng lắm, thơ mới cũng nhiều...mà người ta vẫn còn hát cô Đầu. Ông anh cả trong gia đình tôi mê hát lắm, thường dắt tôi đi theo(!). Một bận, có ông quan Phủ sắp đổi đi nơi khác. Cô Đào muốn có một bài hát tiễn quan, nhờ anh tôi làm giùm. Bài đó như sau :

Đường quan nổi tiếng anh tài

Thương Quân đã dễ mấy người xưa nay

Ái châu trọng nhậm nay mai

Kính dâng chén rượu tiễn người đường xa

Thuỷ bả kim bôi phân lưỡng đoạn

Chúc cho người viễn hoạn cao thăng

Chốn viên môn đông đủ khách chúc mừng

.....................

Sân hoè quế đoá mây hồng thêm rực rỡ

Khúc Giang Lăng cung đàn bỡ ngỡ

Bến phi hoa ai tỏ nỗi bàn hoàn

Biết hạc nội mây ngàn.

Cô ta đặt một bữa rượu thịnh soạn, và hát rất cảm động tiễn quan. Quan thừa biết là có người gà cho. Nhưng quan rất vui, dường như là còn hãnh diện vì mình có người hồng nhan tri kỷ nữa. Thế mới hay, văn hoá nhiều khi nó giúp cho người ta gạt người và tự gạt mình một cách thoải mái!

Khoảng năm 1953. Tôi đọc trên báo, thấy có một ông nhái giọng Chu Mạnh Trinh trong bài tả cảnh Hương Tích để tả cảnh Khâm Thiên:

Tom tom, chát chát

Thú Khâm Thiên ao ước bấy lâu nay

Kìa má hồng kìa môi đỏ hây hây

Đệ nhất động cỡn hỏi rằng đây có phải

Nũng nịu bên tai lời luyến ái

...................

Thoảng bên tai tiếng đập cửa thình thình

Khách râu quặp giật mình trong giấc mộng

Này đẹp và ngoan,này êm như võng

Này thiên vạn thích, này ức muôn tình

.....................

Càng trông món hẩu càng yêu.

Không hiểu tác giả bài này có đi nghe hát rồi “tả thực“ không? Hay ông chỉ ngồi nhà làm thơ phê phán những người la cà, trụy lạc. Tôi thì cho rằng ông ta đã ban cho Hát nói một “Coup de grace“ cho nó đi vào cáo chung một thời đại. Một nhà có óc trào phúng nào đấy có thể thấy bài đó ngồ ngộ, hay hay, đọc lên khiến người ta vui cười, nhưng không thể xếp nó vào “Văn Hoá Hát Nói “ được vậy !

Chân Diện Mục