Tiếng Việt...rắc rối ?

 

ngoc dung
Nguyễn thị Ngọc Dung

Tôi yêu tiếng nưóc tôi...” (Tình Ca- Phạm Duy)

Tôi yêu tiếng Việt từ lúc nào, tôi cũng không nhớ rõ. Chỉ biết ngay từ lúc còn nhỏ, mỗi lần nghe những bản nhạc Việt Nam, tôi đã biết thích. Và nghe say sưa. Có lẽ vì đó là tiếng mẹ đẻ, quen thuộc và gần gũi. Tôi yêu tiếng Việt qua những câu chuyện kể của mẹ tôi những khi ngồi kim chỉ vá may; hoặc từ những chị giúp việc, anh làm bếp, những vú em, những khi bố mẹ tôi đi vắng.

Ngày còn nhỏ,tôi cũng thích nghe truyện cổ tích, những bài ca dao chan chứa tình dân tộc trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Tôi yêu những câu đố, những bài học thuộc lòng... từ trong sách vở, hay ở ngoài cuộc sống. Chăm chú đọc, thích thú nghe. Tôi đặc biệt say mê những bản nhạc trữ tình ngay từ hồi lên bảy, lên tám. Mỗi lần chợt nghe một bản nhạc vang lên từ máy thâu thanh thì dù tay có mải bận gì đi nữa, nhưng tai thì không ngừng theo dõi từng lời, từng điệu của bài ca. Đọc bằng mắt, nghe bằng tai. Cho nên tất cả những chữ, những câu đều được hấp thụ … thật kỹ, để trở thành những ký ức khó quên. Cái “tật” này đeo đuổi tôi mãi cho đến khi đã lớn hơn, đã hiểu biết. Lúc ấy, việc mê nghe hát, ham đọc sách, đọc truyện lại đưọc biểu lộ dưới những hình thức khác. Có khi ngồi cặm cụi chép những bài có vần, có điệu, như thơ, nhạc hoặc những bài ca dao... để dành. Đôi khi thấy bài hát nào hay và thích, là ghi vội lời ca, trong khi tai thì lắng nghe giai điệu bài hát; và lòng thì thích thú vô cùng. Chỉ vài lần nghe và ghi xuống như thế, là tôi lại thuộc một bài hát mới. Hồi đó đâu đã có computer để mở ra, đóng lại dễ dàng như bây giờ. Nhất là những bài hát ấy chỉ đưọc nghe từ một cái radio, nên việc học thuộc một bài ca mới không đơn giản như bây giờ. Nhưng được một điều là khi nghe được một bản nhạc hay, là thích ngay, nên tôi chẳng nề hà. Có lẽ nhờ vậy mà tôi thuộc chính xác, từng lời, từng giai điệu; và khi nghe một ca sĩ hát thiếu hoặc sai một chữ, tôi có thể dễ dàng nhận ra. Những bài hát ru con mà mẹ tôi thưòng hát ru, nghe thấy êm dịu cả lòng, mặc dù ở tuổi đó tôi đâu đã biết buồn là gì...

Còn nhớ, hồi mới sang Canada, vào một buổi sáng Chủ nhật, khi trời còn lạnh, đang loay hoay sửa soạn ăn sáng, tôi chợt nghe một giọng đọc tin tức bằng tiếng Việt trong chiếc radio. Tôi tưởng nghe lộn, hoá ra đúng là tiếng Việt. Giọng của một phụ nữ, ngưòi lớn. Thích quá, đúng là một… hiện tưọng lạ. Lạ, vì tôi có thể tiếp xúc với người Việt trong cộng đồng, ngoài đường xá, chứ ngay tại nhà, lại qua Đài phát thanh thì đâu có dễ. Hỏi ra, thì đưọc biết đó là buổi phát thanh của chuơng trình Việt Ngữ, tuần một lần của Cộng đồng người Việt Ottawa. Thế là tôi đã tìm được chút nào... văn hoá mình, tưởng đã xa xôi, ngay trên xứ ngưòi ! Khi dời Sàigòn để ra nưóc ngoài, tôi cứ nghĩ “ra đi là hết rồi..." hết tất cả, nhất là nhũng gì thuộc văn hoá Việt, tiếng Việt. Hoá ra tôi còn tìm đươc chút nào mối liên hệ với người nước tôi. Thế là tôi không còn sợ cô đơn. Gia đình, cha mẹ, anh em đã đưọc đoàn tụ. Tôi lại còn được “đoàn tụ” … cả với cả văn hoá mình nữa. Còn gì quý hơn? Tôi đã yêu tiếng nưóc tôi, văn hoá tôi từ lúc nào... Cho nên, bỗng dưng nghe đưọc thứ tiếng mẹ đẻ của mình trên xứ ngưòi, dĩ nhiên là cảm thấy thân quen...là phải.

Bốn chục năm lẻ, có phải đâu mới đây, nhưng văn hoá ấy, ngôn ngữ ấy làm sao mai một được, ít nhất là trong tôi, và những người cùng thế hệ. Điểm đáng mừng là tiếng nói ấy, chữ viết ấy vẫn đựợc tiếp nối, để không đến nỗi phải tiếc nuối. Tiếp nối cho thế hệ sau, vì người Việt còn tồn tại, thì ngôn ngữ cũng được duy trì để càng trở nên phong phú hơn.

Với tôi, tiếng Việt đáng yêu là thế, nhưng cũng có cái… rắc rối riêng.
Vâng, cái rắc rối trước tiên đó là chính tả.
Một tác phẩm văn thơ thường hay bị “soi mói” cái rắc rối đó trước nhất, rồi từ suy luận, người ta nhanh chóng chuyển thành suy diễn để nhận xét cả một tác phẩm.
Chữ “dòng” hay “giòng” chẳng hạn: dòng sông hay giòng sông? Dòng dõi hay giòng dõi?

Ngôn ngữ nào cũng thế, khi viết cần chính xác, nhất là về chính tả. Chính xác, nhưng không phải là không có ngoại lệ, như tiếng Việt của ta chẳng hạn. Ngôn ngữ ba miền đôi khi có khác nhau ở một số trưòng hợp. nên ngoại lệ ấy cũng cần phải đưọc lưu ý. Khi nhìn vào một bản văn, hay một bài thơ có những chữ mà ta nghĩ là “sai”. Thì lúc đó cần phải đặt câu hỏi xem nguyên do từ đâu, có đúng là người viết sai chính tả không, hay là do tiếng điạ phưong, hoặc chữ cổ. Hoặc chữ ấy có thể viết hai cách v.v... Chứ không hẳn đã là viết sai. Vì ngôn ngữ cũng có trưòng hợp… biến hoá như thế, nên cũng khó để cho vào “khuôn phép".

Ngôn ngữ còn mang tính linh động, ước lệ, nên cứ dùng nhiều thành ra ...đúng. Đúng- Sai có những trưòng hợp thật quả là khó nói.
Trong khi đó, ngưòi đọc lại hay có khuynh huớng phê phán - thậm chí phê phán một cách vội vã-, hoặc tỉ mỉ một cách không cần thiết, nhưng lại không quán triêt mọi khiá cạnh. Đã thế, còn có những truòng hợp ý kiến của nhiều nguời chẳng qua chỉ là lặp lại ý kiến của một ngưòi, thay vì có nhận xét riêng. Cái nhìn, do đó chưa đưọc thấu đáo.
Nhưng cũng có trường hợp Đúng-Sai về chính tả nhận ra rất rõ. Ví dụ, chữ "hiu hiu” để chỉ gió thổi nhè nhẹ, thoang thoảng. Mà nếu viết là "hiêu hiêu" thì quả là sai. ("hiêu hiêu" để chỉ thái độ tự đắc, ngạo mạn).
Ngủ "thiu thiu"...không thể viết là "thiêu thiêu" (thiêu đây là đốt, khác hẳn với “thiu thiu ngủ”, hay “buồn thiu”, “thịt thiu”...

Tiếng Bắc có thể coi là "chuẩn" cho cả nước, nhưng cũng không phải là đã thập phần hoàn hảo. Vì khi viết thì thường là đúng, các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã v.v. rất chính xác...Tuy nhiên, khi nói hay đọc, ngưòi Bắc thường không phân biệt rõ những chữ như s-x, ch-tr, r-gi-d. Ở một số vùng, lại còn lẫn lộn chũ l-n. Có điều, nếu đọc không phân biệt đuợc, mà viết vẫn đúng thì không thành vấn đề, vì ý nghĩa vẫn bảo đảm. Thì không thể bảo là sai được.
"Rượu" phát âm giọng Bắc nghe như "diệu". Nhưng nếu viết là uống ...diệu" (vần “ươu” thành vần “iêu”) là không đúng. Hay, nếu là người Bắc như tôi, thường đọc “ruợu” là ”dượu” (chữ “r” thành chữ “d”), thì còn có thể thông cảm đưọc, và khi viết, tôi viết đúng thì cũng không sao. Còn nếu viết lại cũng sai như đọc: “Tôi thích uống...diệu vang” thì coi không được tí nào. Cái sai phổ biến nhất, như vừa nói trên, là chữ l-n. “Đi lối này” mà viết thành đi nối này, ngaytrên bảng chỉ dẫn cho khách đi đuờng. (Cuộc sống) “lam lũ” viết thành nam nũ, “lịch lãm” thành nịch nãm... Nói sai, thì còn thông cảm đuợc, nhưng viết sai thì khó chấp nhận. Những người trẻ lớn lên sẽ học ngay cách viết ấy, nếu không lưu ý, không khéo sẽ trở thành … truyền thống mất! Quả là không có lối thoát.

Tiếng Nam, tuy không có cái sai giống như thế, nhưng lại sai ở chỗ khác. Những chữ đọc sai, nhiều khi đưa đến viết sai thông thuờng là hỏi, ngã, v d, c-t; qu-gu. Đặc biêt, những chữ khó phân biệt đối với đa số người Nam, là những phụ âm cuối n hay ng. Chẳng hạn, hai chũ choán (không có g ở cuối)và chữ choáng (có g): Chữ “choán ngợp” đọc sai, rồi viết sai thành “choáng ngộp”, “choáng váng” thành choán ván. Uốn nắn viết thành "uống nắng"; quá trong “quá độ” đọc thành "goá độ").
Nhưng điều quan trọng tôi muốn nói ở đây là dù tiếng Nam hay tiếng Bắc, dù nói đúng hay nói không chính xác đi nữa, vẫn có thể chấp nhận được. Và hơn nữa, vẫn có thể cảm thông được với “tính cách điạ phưong” của ngôn ngữ một vùng (phương ngữ), miễn là, khi viết, phải cần viết đúng. Nếu không, sẽ vô nghĩa; hoặc hoá ra nghĩa khác, làm sai ý của ngưòi muốn viết, hay muốn nói. Đọc sai cũng còn có thể chấp nhận được, chứ viết sai: “Tôi ăn cơm... gồi”, thì làm sao hiểu?

Thực ra, ngôn ngữ nào cũng có những cái rắc rối ...lặt vặt như thế. Và những nhận xét trên đây chỉ là tổng quát. Ngoài ra, vẫn có những ngoại lệ. Đã có những trưòng hợp, ngưòi Trung hay người Nam viết chính tả rất chính xác, dấu hỏi, dấu ngã đâu vào đấy, n hay ng, đặt đúng chỗ... Cho nên cũng còn tuỳ. Nóí chung, theo quan điểm cá nhân, ngưòi viết cần viết cho đúng, chính xác về ngữ vựng (vocabulaire) trước tiên. Còn văn phong lại là chuyện khác. Gọn gàng, nhưng không có nghĩa là phải đóng khung, cứng ngắc. Nhất là khi luận bàn văn chương thôi, chưa nói đến phê bình văn học, thì cũng chẳng nên phê phán theo kiểu “tầm chương”, dễ trở thành máy móc, mà không khéo sẽ... hết cả chất văn chương.
Tôi quan niệm đơn giản, đọc một áng văn, tôi thích có một cái nhìn “thoáng” hơn, để còn chú ý đến cái hồn của bản văn. Chú ý nhiều về tư tưởng, tình cảm gói ghém trong đó. Và, lẽ dĩ nhiên là cách viết văn có hay, có khúc chiết, lôi cuốn hay không.

Mặc dù không chấp nhận những kiểu viết bừa bãi, sai chính tả trầm trọng, tôi vẫn dành sự thông cảm cho những tiếng điạ phương, những chữ cổ, và không tính (count) những tiếng lóng (slang). Nói sai thì còn thông cảm được, do giọng điạ phưong. Thành thử cũng không dám phê phán họ, Dù rằng, chính bản thân dùng từ ngữ, thì vẫn phải cẩn thận ...cho chính mình. Nhưng viết sai là do cách đọc sai, do giọng nói điạ phương - như đã nói trên- khiến cho sai lạc cả ý nghĩa, thì thật là khó chấp nhận được. “Bút sa, gà chết” là ở chỗ đó.

Nêu lên những vấn đề trên về ngôn ngữ Viêt Nam không phải để phê phán; mà là để lưu ý, và nếu cần, ngăn ngừa cho cái sai khỏi phổ biến ngày càng trầm trọng. Bởi lẽ điạ phương nào cũng có cái sai, cái đúng, nên luôn phải công bình và tinh tế. Chỉ cẩn một chút quan tâm với ngôn ngữ Việt cũng đủ ý thức đuợc trách nhiệm trong lời nói và chữ viết hàng ngày. Và mặc dù ngay chính bản thân có tự tin đi nữa, cũng vẫn phải cẩn thận... cho chính mình. Nhưng quan tâm thế nào cho chính đáng?. Một áng thơ nổi tiếng như Truyện Kiều mà cũng đã từng bị người ta đem ra mổ xẻ bằng một cái nhìn méo mó, và đòi phải sửa thế này hay thế kia xem ra đã là quá đáng .

Đứng về mặt ngữ học mà nói, thì vì ngôn ngữ bao giờ cũng có tính cách phổ biến và ưóc lệ, nên có những trường hợp một chữ dùng mới đầu có thể không đúng, nhưng vì "đại chúng" dùng nhiều, dùng miết thành quen. Thế là "người đúng" không kịp ...lên tiếng, thì chữ dùng "sai" hay "thiếu chính xác" kia dã bay quá xa, thế là đành châp nhận luôn. Từ đó, chữ đó trở thành thứ ngôn ngữ được dùng trong đời sống và khi viết cũng viết (sai) như thế....
Giá như Việt Nam có đưọc một quy luật cụ thể về ngôn ngữ thì còn gì bằng; vì như vậy chỉ việc căn cứ vào đó để tìm ra đáp số, đỡ mất công phải tìm kiếm. Nhưng điều này nếu có thì lại ..."phản " với quan điểm ngữ học (là ngôn ngữ đôi khi không cố định, hay bất biến ; mà là ước lệ, và thay đổi để thích ứng vơi hoàn cảnh).

Xét cho cùng thì ngôn ngữ chỉ có tính tương đối. Những chữ mới "sáng tạo" mà không có nghĩa lắm, thì dù có phổ biến đưọc một thòi gian, từ từ cũng sẽ bị... đào thải.
Trở lại với chữ "dòng" hay "giòng", nếu suy ra từ chữ Nôm thì dùng chữ "Dụng" thêm bộ "Thuỷ" vào thì thành chữ Nôm "Dòng" nghe có lý hơn là "giòng".
Mặc dù tôi vẫn quen dùng với chữ "Dòng" để chỉ "dòng sông" hay "dòng đời.". Và chữ "giòng' để chỉ giòng dõi". Tuy nhiên, theo thiển ý, dù là "giòng đời" hay "dòng dõi" cũng vẫn được. Điều quan trọng là không sai về ý nghĩa.

Văn chương có cái... phiền là không chính xác như Toán, để có thể kết luận là... "dòng dõi" hay "giòng dõi", "dòng sông" hay "giòng sông" là sai hay đúng.
Dùng suy luận toán học Đúng-Sai về "dòng" hay "giòng" để kết luận về một tác giả, hay giá trị của toàn tác phẩm thì e rằng hơi vội vã, và không chính xác. Ý nghĩa là quan trọng trong trường hợp này. Và sự nhạy bén đối với ngôn ngữ, khi xét toàn diện - bằng một cái nhìn nhân bản - cũng quan trọng không kém.

Vậy thì, phải chăng tiếng Việt rắc rối, hay người... rắc rối?

Nguyễn Thị Ngọc Dung

 

 


Gần đây rất nhiều tác giả VN bắt chước nhau dùng toàn chữ hoa để viết tựa các bài viết, các phân đoạn... cũng như dùng chữ hoa bất cứ chỗ nào trong bài viết để nhấn mạnh các ý muốn nói.  Điều này khiến người đọc mất dần ý thức phân biệt danh từ chung, danh từ riêng, chữ đầu câu hay chữ trong câu... chưa kể là những chữ viết hoa không đúng chỗ đã làm nặng nề hình thức trình bày của bài viết. Thêm nữa, phần đông các tác giả nầy lại ít chú trọng đến lỗi chính tả, dấu hỏi hay ngã, i dài (y) hay i ngắn (i), ở cuối chữ là chữ c hay chữ t, có g hay không có g, v.v... được họ sử dụng tùy ý. Trước khi có Word processor thì các bài bình luận, biên khảo... vẫn được viết theo nguyên tắc chính tả truyền thống từ lâu nay của tiếng Việt - tức là không cần viết hoa những chữ thông thường (danh từ chung), không cần tô đậm và gạch đít chữ tùm lum như bây giờ - mà người đọc vẫn hiểu tác giả muốn trình bày điều gì. Vậy thiết nghĩ chúng ta không cần và không nên biến đổi hình thức trình bày các bài viết mà nên chú tâm nhiều hơn vào cú pháp và lỗi chính tả để giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt.

 

Quy tắc viết hoa trong tiếng Việt

 I. VIẾT HOA TRÊN CƠ SỞ CÚ PHÁP
1. Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của một câu hoàn chỉnh:
Sau dấu chấm câu (.); sau dấu chấm hỏi (?); sau dấu chấm than (!); sau dấu chấm lửng (…); sau dấu hai chấm (:); sau dấu hai chấm trong ngoặc kép (: “…”) và khi xuống dòng.
Nói chung, phần lớn những người có trình độ THPT trở lên đều hiểu và áp dụng đúng các quy tắc cụ thể này.
2. Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của mệnh đề sau dấu chấm phẩy (;) và dấu phẩy (,) khi xuống dòng:

II. VIẾT HOA DANH TỪ RIÊNG CHỈ TÊN NGƯỜI
1. Tên người Việt Nam
a. Tên thông thường: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết của danh từ riêng chỉ tên người.
Ví dụ:
– Triệu Thị Trinh, Lý Công Uẩn, …
b. Tên hiệu, tên gọi nhân vật lịch sử, truyền thuyết: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết.
Ví dụ: Vua Hùng, Ông Gióng, Bà Trưng, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Trạng Trình…
Chú ý: Tên danh nhân, nhân vật lịch sử được cấu tạo bằng cách kết hợp bộ phận vốn là danh từ chung với bộ phận tên gọi cụ thể cũng được coi là tên riêng và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên người.
2. Tên người nước ngoài được phiên chuyển sang tiếng Việt
a. Trường hợp phiên âm qua âm Hán – Việt:  Viết theo quy tắc viết tên người Việt Nam.
Ví dụ: Thành Cát Tư Hãn, Tưởng Giới Thạch…
b. Trường hợp phiên âm không qua âm Hán – Việt (phiên âm trực tiếp, hoặc phỏng âm sát với cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất trong mỗi thành tố.
Ví dụ: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, Phri-đrích Ăng-ghen…
* Chú ý: Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề phiên âm tên riêng trực tiếp...
Rất nhiều cơ quan báo chí giữ nguyên các tên riêng loại này như trong nguyên gốc Âu-Mỹ, viết qua ngôn ngữ trung gian như tiếng Anh, tiếng Pháp (Barack Obama, François Hollande) hoặc phiên âm La-tinh của tiếng Hán cho các tên riêng Trung Quốc, Hàn Quốc (Li Tie, Xi Jinping).

III. VIẾT HOA TÊN ĐỊA LÝ
1. Tên địa lý Việt Nam
a. Tên đơn vị hành chính được cấu tạo giữa danh từ chung (tỉnh, huyện, xã…) với tên riêng của đơn vị hành chính đó: Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành tên riêng và không dùng gạch nối.
Ví dụ: thành phố Thái Nguyên, tỉnh Nam Định, tỉnh Đắk Lắk…; quận Hải Châu, huyện Gia Lâm, phường Nguyễn Trãi, xã Ia Yeng…
b. Trường hợp tên đơn vị hành chính được cấu tạo giữa danh từ chung kết hợp với chữ số, tên người, tên sự kiện lịch sử: Viết hoa cả danh từ chung chỉ đơn vị hành chính đó.
Ví dụ: Quận 1, Quận Hai Bà Trưng…
c. Trường hợp viết hoa đặc biệt: Thủ đô Hà Nội.
d. Tên địa lý được cấu tạo giữa danh từ chung chỉ địa hình (sông, núi, hồ, biển, cửa, bến, cầu, vũng, lạch, vàm v.v…) với danh từ riêng (có một âm tiết) trở thành tên riêng của địa danh đó: Viết hoa tất cả các chữ cái tạo nên địa danh.
Chú ý: Với trường hợp danh từ chung chỉ địa hình đi liền với danh từ riêng, không viết hoa danh từ chung mà chỉ viết hoa danh từ riêng (chợ Đông Ba, hồ Than Thở, vịnh Vũng Rô…)
e. Tên địa lý được cấu tạo bởi danh từ chỉ hướng hoặc bằng cách kết hợp bộ phận vốn là danh từ chung hay danh từ chỉ hướng với bộ phận tên gọi cụ thể: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết tạo thành tên gọi. Đối với tên địa lý chỉ vùng miền riêng được cấu tạo bằng từ chỉ phương hướng kết hợp với danh từ chỉ địa hình thì phải viết hoa các chữ cái đầu mỗi âm tiết.
Ví dụ: Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Nam Kỳ, Nam Trung Bộ…
2. Tên địa lý nước ngoài được phiên chuyển sang tiếng Việt
a. Tên địa lý đã được phiên âm sang âm Hán Việt: Viết theo quy tắc viết hoa tên địa lý Việt Nam.
Ví dụ: Hoa Thịnh Đốn,  Hòa Lan, Thụy Sĩ, Ai Cập, Bồ Đào Nha…
b. Tên địa lý phiên âm không qua âm Hán Việt (phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa theo quy tắc viết hoa tên người nước ngoài quy định tại Điểm 2b, Khoản 2, Mục II bên trên)
Ví dụ: Mát-xcơ-va, Men-bơn, Sing-ga-po, Cô-pen-ha-ghen, Béc-lin…
* Xem thêm phần Chú ý ở Điểm 2b, Khoản 2, Mục II.

IV. VIẾT HOA TÊN CƠ QUAN, TỔ CHỨC, ĐOÀN THỂ
Tên gọi của các cơ quan, tổ chức, công ty… là một đơn vị định danh, tức là một tên riêng nhưng chúng lại không phải là danh từ riêng. Phần lớn tên gọi lại này là một chuỗi từ bao gồm cả danh từ riêng là danh từ chung (hoặc toàn danh từ chung).
Chẳng hạn: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Đây là tên riêng nhưng rõ ràng không thể coi nó là danh từ riêng để có thể viết hoa tất cả các thành tố kết hợp thành tên gọi.
Nguyên tắc viết hoa như sau:
Viết hoa chữ cái đầu của các từ, cụm từ chỉ loại hình cơ quan, tổ chức; chức năng, lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Cụ thể:
(a) Theo quy tắc chung của chuẩn chính tả tiếng Việt, viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu của cả tên gọi.
(b) Viết hoa chữ cái âm tiết đầu của bộ phận danh từ chung chỉ loại hình cơ quan, nhiệm vụ, chức năng…
(c) Viết hoa bộ phận lấy làm danh hiệu dù nó là danh từ chung (vì đã được riêng hoá).
(d) Địa điểm, địa danh… viết hoa như quy định ở Mục II.
Ví dụ: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
1. Tên cơ quan, tổ chức của Việt Nam
Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và các âm tiết đầu của các bộ phận tạo thành tên riêng.
Ví dụ:
– Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
– Bộ Giáo dục và Đào tạo;
– Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
– Nhà máy Cơ khí Nông nghiệp I;
– Công ty Cổ phần Đầu tư Tư vấn và Thiết kế xây dựng Nam Bình;
– Phòng Nghiên cứu khoa học.
2. Tên cơ quan, tổ chức, công ty nước ngoài
a. Tên đã dịch nghĩa: Viết hoa theo quy tắc viết tên cơ quan, tổ chức của Việt Nam.
Ví dụ: Liên hợp quốc (UN), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)…
b. Tên được sử dụng trong văn bản ở dạng viết tắt: Viết bằng chữ in hoa như nguyên ngữ hoặc chuyển tự La–tinh nếu nguyên ngữ không thuộc hệ La-tinh. Tuỳ từng trường hợp, có thể ghi thêm tên dịch nghĩa hoặc ghi thêm tên nguyên dạng không viết tắt
Ví dụ: WTO, UNDP, UNESCO, NATO, APEC, WB (Ngân hàng Thế giới), hoặc WB (World Bank).
c. Tên như một thương hiệu:Viết như nguyên ngữ hoặc chuyển tự La–tinh nếu nguyên ngữ không thuộc hệ La-tinh.
Ví dụ: Apple, Microsoft, Facebook, Huawei.

V. VIẾT HOA CÁC TRƯỜNG HỢP KHÁC (VIẾT HOA TU TỪ)
1. Danh từ chung đã riêng hóa
Viết hoa chữ cái đầu của từ, cụm từ chỉ tên gọi đó trong trường hợp dùng trong một nhân xưng, đứng độc lập và thể hiện sự trân trọng.
2. Tên dân tộc tại Việt Nam
a. Tên dân tộc:
Ví dụ: Kinh, Tày, Hà Nhì, Chứt, La Hủ, Vân Kiều…
b. Tên người, tên địa lí và tên các dân tộc Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu số anh em có cấu tạo từ đa âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết.
Ví dụ:
– Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng, Tà-ôi.
Tuy nhiên, xu hướng viết như điểm (a) ngày càng được sử dụng rộng rãi.
3. Tên các huân chương, huy chương, các danh hiệu vinh dự
Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết của các thành tố tạo thành tên riêng và các từ chỉ thứ, hạng.
Ví dụ:
– Huân chương Độc lập;
– Nhà giáo Nhân dân.
4. Tên chức vụ, học vị, danh hiệu
Viết hoa tên chức vụ, học vị nếu đi liền với tên người cụ thể.
Ví dụ:
– Đại tướng VNG
– Tổng thư ký Liên hợp quốc BKM
– Giáo sư HT
– Tiến sỹ LPM
5. Tên các ngày lễ, ngày kỷ niệm
Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên gọi ngày lễ, ngày kỷ niệm.
Ví dụ: ngày Quốc khánh , ngày Quốc tế Lao động 1/5, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
6. Tên các sự kiện lịch sử
Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành sự kiện và tên sự kiện, trong trường hợp có các con số chỉ mốc thời gian thì ghi bằng chữ và viết hoa chữ đó.
Ví dụ:
– Phong trào Cần vương.
– Tên các triều đại: Triều Lý, Triều Trần, Nhà Nguyễn.
7. Tên các loại văn bản
Viết hoa chữ cái đầu của tên loại văn bản và chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên riêng của văn bản trong trường hợp nói đến một văn bản cụ thể.
Ví dụ:
– Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ...;
– Bộ luật Dân sự;
– Luật Giao dịch điện tử.
Trường hợp viện dẫn các điều, khoản, điểm của một văn bản cụ thể thì viết hoa chữ cái đầu của điều, khoản, điểm
Ví dụ:
– Căn cứ Điều 10 Bộ luật Lao động;
– Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 5 Luật Giao dịch điện tử.
8. Tên các tác phẩm, sách báo, tạp chí
Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên tác phẩm, sách báo
Ví dụ: tác phẩm Đường trăng, từ điển Bách khoa toàn thư, tạp chí Cộng sản…
9. Tên các năm âm lịch, ngày tiết, ngày tết, ngày và tháng trong năm
a. Tên các năm âm lịch: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết tạo thành tên gọi.
Ví dụ: Kỷ Tỵ, Tân Hợi, Mậu Tuất, Mậu Thân….
b. Tên các ngày tiết và ngày tết: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên gọi.
Ví dụ: tiết Lập xuân, tiết Đại hàn, tết Đoan ngọ, tết Trung thu, tết Nguyên đán…
Viết hoa chữ Tết trong trường hợp dùng để thay cho một tết cụ thể (như Tết thay cho tết Nguyên đán).
c. Tên các ngày trong tuần và tháng trong năm: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết chỉ ngày và tháng trong trường hợp không dùng chữ số:
Ví dụ: thứ Hai; thứ Tư; tháng Năm; tháng Tám;…
10. Tên gọi các tôn giáo, giáo phái, ngày lễ tôn giáo
Tên gọi các tôn giáo, giáo phái: Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành tên gọi.
Ví dụ: đạo Cơ Đốc, đạo Tin Lành… hoặc chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên gọi như: Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo…
Tên gọi ngày lễ tôn giáo: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên gọi.
Ví dụ: lễ Phục sinh, lễ Phật đản…
11. Từ và cụm từ chỉ các con vật, đồ vật, sự vật được dùng làm tên riêng của nhân vật
Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên riêng.
Ví dụ:
– (chú) Chuột, (bác) Gấu, (cô) Chào Mào, (chị) Sáo Sậu;
– (bác) Nồi Đồng, (cô) Chổi Rơm, (anh) Cần Cẩu;
– (ông) Mặt Trời, (chị) Mây Trắng;
– Dế Mèn phiêu lưu ký;
Như vậy, vấn đề viết hoa tên riêng quả thực không hề đơn giản chút nào. Đa phần chúng ta viết theo thói quen, mà thói quen đó không phải lúc nào cũng tuân theo các quy chuẩn do các cơ quan chức năng có thẩm quyền ban hành.
Có những hình thức viết hoa hiện chưa được coi là chuẩn (như viết nguyên dạng tên riêng theo nguyên ngữ hoặc chuyển tự La-tinh – David Cameron, Vladimir Putin) nhưng lại chứng tỏ được tính hợp lý của nó trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, và do vậy được đông đảo mọi người sử dụng. Song cũng có hình thức viết hoa cũng được nhiều người viết nhưng lại không dựa trên các căn cứ ngôn ngữ học xác đáng (như Nhà máy Thuỷ Điện Hoà Bình, Trường Đại học Kinh Tế).
Thái độ tiếp cận đúng đắn với vấn đề viết hoa tên riêng là cần phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Nội vụ về vấn đề này. Song song với đó, tiếp tục nghiên cứu vấn đề chuẩn hoá cách viết hoa tên riêng trên tình thần kế thừa những thành tựu đã đạt được đồng thời sẵn sàng đổi mới trong những trường hợp thực tế đời sống yêu cầu.
Viết hoa đúng cũng là góp phần làm trong sáng tiếng Việt của chúng ta.

http://nguyenvietkhoa.edu.vn


CÁCH SỬ DỤNG DẤU TRONG TIẾNG VIỆT

Dấu câu là một trong những phương tiện ngữ pháp (thay cho ngữ điệu khi nói). Nó có tác dụng làm cho nội dung của câu văn mạch lạc, khúc chiết; ngăn cách các thành phần trong cấu tạo câu.
Dùng dấu câu không chuẩn xác hoặc dùng dấu câu không phù hợp trong văn bản sẽ làm cho câu sai hoặc có nội dung mơ hồ.
Trong tiếng Việt có các dấu câu sau đây:
1. Dấu chấm
Dấu chấm dùng để kết thúc câu tường thuật (câu kể) trên văn bản.
VD: Anh ấy nói rằng: “Sẽ tới một ngày ta đòi nợ non sông!”.
2. Dấu chấm hỏi
Dấu chấm hỏi dùng trong câu nghi vấn (câu hỏi) nhất là trong trường hợp đối thoại.
VD:
- Bạn có biết gì về tình hình Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay?
- Tôi không biết. Còn bạn?
Cần chú ý:
a/ Dấu chấm hỏi có thể dùng trong câu tường thuật, đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị sự nghi ngờ.
VD:
- Chúng ta đã mất Trường Sa (?)
- Chúng ta vẫn còn giữ được một số đảo!
b/ Không dùng dấu chấm hỏi trong trường hợp có từ nghi vấn trong cấu tạo của câu ghép với nghĩa nêu lên một tiền đề cho ý kiến tiếp theo.
VD: Trung Quốc là nước như thế nào, ai cũng biết.
c/ Nếu muốn tỏ thái độ khinh bỉ, mỉa mai, đồng thời hoài nghi thì dùng dấu chấm than và dấu hỏi trong một ngoặc đơn.
VD: Người ta đồn rằng hắn là kẻ lừa đảo (!?).
3. Dấu chấm than
Dấu chấm than thường được đặt cuối câu cảm thán, câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh.
VD:
- Câu cảm thán: Trời! Biển đảo Tổ quốc ta đẹp quá!
- Câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh: Việt Nam ơi! xin nắm chặt tay!
Dấu chấm than còn có thể đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị thái độ mỉa mai hay dùng cùng với dấu chấm hỏi trong ngoặc đơn để vừa biểu thị thái độ mỉa mai, vừa hoài nghi.
VD: Hắn tự hào vì người ta không tìm được hắn (!)
4. Dấu chấm lửng
Khi nói, dấu chấm lửng được thay thế bằng từ vân vân. Khi viết cũng có thể dùng từ này (viết tắt “v.v…”) hoặc dùng 3 dấu chấm (…). Dấu chấm lửng dùng để:
a. Đặt cuối câu khi người nói không muốn nói hết ý mình.
VD: Sự thể là vậy nhưng hắn nào có muốn…
b. Đặt cuối đoạn liệt kê khi người nói không muốn liệt kê hết sự vật, hiện tượng,… trong một chủ đề.
VD: Câu trên cũng là 1 ví dụ.
VD khác: Năm nay, các loại rau cỏ như: rau muống, mồng tơi, su hào, bắp cải,… đều lên giá.
c. Đặt sau từ, ngữ biểu thị lời nói đứt quãng.
VD: Tôi… không… còn… đủ… sức… nữa!
d. Đặt sau từ tượng thanh để biểu thị sự kéo dài âm thanh.
VD: Phù… Thế là xong!
e. Đặt sau đoạn biểu thị sự châm biếm, hài hước.
VD: Đẹp trai không bằng… chai mặt.
5. Dấu hai chấm
Dấu hai chấm dùng để:
a/ Liệt kê thành phần vị ngữ của câu đơn có động từ là hoặc trong thành phần vị ngữ có các từ biểu thị sự liệt kê ở sau các từ: sau đây, như sau, để,…
VD: Một số yêu cầu khi viết bài trên diễn đàn là:
- Viết đúng chính tả;
- Trình bày dễ nhìn;
- Không sử dụng các ngôn từ thiếu văn hóa.
b/ Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh cho một phần trước đó
VD: Cầu vồng có bảy màu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.
c/ Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay với lời đối thoại (dùng với dấu gạch ngang)
VD:
Bạn tôi hỏi:
- Cậu rảnh hay sao mà lại tham gia vô mấy cái rắc rối đó?
Tôi đáp:
- Tôi không rảnh lắm nhưng tranh thủ chút thời gian vì tôi thấy mình cần phải làm một cái gì đó cho Hoàng Sa Trường Sa, cho đất nước.
6. Dấu gạch ngang
Dấu gạch ngang dùng để:
a/ Chỉ ranh giới của thành phần chú thích
b/ Đặt trước những lời đối thoại
c/ Đặt ở đầu những thành phần liệt kê
d/ Đặt giữa hai, ba, bốn tên riêng, hay ở giữa hai con số ghép lại để chị một diên danh, một liên số
VD: Cầu truyền hình Hà Nội – Huế – Sàigòn đã sẵn sàng.
e/ Dùng trong trường hợp phiên âm tiếng nước ngoài
7. Dấu ngoặc đơn
a. Dùng để ngăn cách thành phần chú thích với từ ngữ trong thành phần chính của câu.
VD: Tôi quen anh (rất tình cờ) qua một người bạn thân.
b. Sự khác nhau giữa dấu gạch ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ. Theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia đối với thành phần chú thích. Tuy vây, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu này có sự khác nhau như sau:
- Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùng dấu ngoặc đơn.
VD:
Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
(Giang Nam)
- Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để giải nghĩa cho một từ hoặc một yếu tố ngôn ngữ không thông dụng.
VD: – Italia (Ý), Hàn Quốc (Nam Triều Tiên)
8. Dấu ngoặc kép
a/ Dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp. Trước dấu ngoặc kép, trong trường hợp này, thường dùng dấu hai chấm.
VD: Thiếu úy Trần Văn Phương đã hô: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”.
b/ Dùng để trích dẫn một danh ngôn, một khẩu hiệu. Trong trường hợp này không dùng dấu hai chấm trước đó. Chữ cái đầu âm tiết của từ trong danh ngôn, tục ngữ, lời dẫn… cần được viết hoa.
VD: Câu “Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ” là có ý khuyên người ta cẩn trọng trong ăn ở, đừng để tiếng xấu ở đời.
c/ Dùng để biểu thị thái độ mỉa mai, chế diễu của người viết hoặc trích dẫn từ, ngữ của người khác hoặc đánh dấu một từ được dùng với nghĩa đặc biệt, khác với nghĩa thông thường..
VD: Xem chừng các anh chị ở đây đều theo chiều hướng “trăm năm cô đơn” hết cả rồi!
Khoảng cách sau các dấu câu bao giờ cũng là một (1) khoảng trắng, sau đó bắt đầu đến ký tự đầu tiên của câu (vế) tiếp theo.
Sau dấu chấm câu thì viết ký tự in hoa. Sau dấu phẩy ( , ), dấu chấm phẩy ( ; ) ngăn cách các vế của một câu thì không viết hoa.
Đầu mối câu viết hoa ký tự đầu tiên. Tên riêng thì viết in hoa ký tự đầu.
Các dấu bỏ ngay sau ký tự cuối cùng của câu (vế) mà không có khoảng cách.
1. Dấu chấm
1.1. Dấu chấm dùng ở cuối câu tường thuật.
1.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm. Dấu chấm là chỗ có quãng ngắt tương đối dài hơn, so với dấu phẩy, dấu chấm phẩy.
2. Dấu hỏi
2.1. Dấu hỏi dùng ở cuối câu nghi vấn.
2.1.1. Thường gặp là trường hợp dấu hỏi dùng trong đoạn văn đối thoại, có người hỏi, có người đáp.
2.1.2. Có trường hợp tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời, trong lời đối thoại nghệ thuật.
2.1.3. Có trường hợp, một vế của câu ghép được cấu tạo theo kiểu câu nghi vấn nhưng không phải để hỏi mà để nêu lên tiền đề; trong trường hợp này không dùng dấu hỏi.
Ví dụ:
Văn học nghệ thuật là gì, xưa nay người ta định nghĩa nhiều rồi.
2.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu hỏi, và nói chung, có lên giọng.
2.3. Dấu hỏi có thể đặt trong dấu ngoặc đơn (?) để biểu thị thái độ hoài nghi đối với một lời trích thuật. Nếu dấu chấm (hay tương đương) ngắt câu ở cùng chỗ, thì dấu này đặt sau dấu chấm.
3. Dấu than (dấu cảm)
3.1. Dấu than dùng:
- Ở cuối câu cảm xúc.
- Hay ở cuối câu cầu khiến.
3.2. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu cảm và có thể hoặc lên hoặc xuống giọng, tuỳ hoàn cảnh.
3.3. Dấu than có thể đặt trong dấu ngoặc đơn: (!), để biểu thị thái độ mỉa mai; hay dùng kết hợp với dấu hỏi rồi đặt trong dấu ngoặc đơn: (!?), để biểu thị thái độ vừa mỉa mai, vừa hoài nghi.
Những dấu này cũng thường đặt sau dấu chấm, nếu có dấm chấm (hay tương đương) ngắt câu ở cùng chỗ.
4. Dấu lửng (ba chấm)
4.1. Dấu lửng dùng ở cuối câu (hay giữa câu, hay có khi ở đầu câu) để biểu thị rằng người viết đã không diễn đạt hết ý.
4.2. Dấu lửng còn được dùng:
4.2.1. Để biểu thị bằng lời nói bị đứt quãng vì xúc động, hay vì lí do khác.
Ví dụ:
Sâm đè tay lên ngực, hít lấy mấy hơi mới nói được:
- Quên... rút chốt...
4.2.2. Để biểu thị một chỗ ngắt đoạn dài giọng với ý châm biếm, hài hước.
Ví dụ:
Giơ tay hàng tuốt quân ta
Té ra công sự chỉ là công... toi
4.2.3. Để ghi lại một chỗ kéo dài của âm thanh.
Ví dụ:
Ù... ù... ù... Tầm một lượt
4.3. Khi đọc, phải tuỳ trường hợp mà ngắt đoạn. Nói chung, ở dấu lửng, sự ngắt đoạn kéo dài...
4.4. Hiện nay có cách dùng dấu lửng trong ngoặc đơn: (...), để chỉ ra rằng người trích dẫn có lược bớt câu văn trích dẫn.
5. Dấu phẩy
5.1. Dấu phẩy được dùng để chỉ ranh giới bộ phận nòng cốt với thành phần ngoài nòng cốt của câu đơn và câu ghép.
Thành phần ngoài nòng cốt có thể là các thành phần than gọi, chuyển tiếp, chú thích, tình huống, khởi ý.
Đáng chú ý là:
- Khi thành phần tình huống đặt ở đầu câu, dấu phẩy có thể được lược bớt, nếu thành phần đó là một danh ngữ có cấu tạo đơn giản dùng để chỉ thời gian, nơi chốn.
Ví dụ:
Lời trăn trối mang hồn người sắp chết
Vọng qua vách, trang nghiêm và thống nhất.
5.2. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong liên hợp, nhất là liên hợp qua lại.
Giữa các yếu tố của một liên hợp song song, khi đã dùng kết từ thì thường lược bớt dấu phẩy.
Giữa các yếu tố của một liên hợp song song có tính chất ổn định hoá, dấu phẩy cũng thường được lược bớt.
5.3. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép (song song hay qua lại).
Đáng chú ý là:
Khi có dùng kết từ trong câu ghép song song hay qua lại thì có thể lược bớt dấu phẩy giữa các vế.
Ví dụ:
Chú Hai đã đi làm phu cao su ở Hớn Quản, lại ra làm thợ mỏ ở Đông Dương và chú còn đi những chân trời góc bể đâu khác.
5.4. Dấu phẩy có thể dùng để chỉ ranh giới giữa phần đề và phần thuyết trong những trường hợp sau đây:
5.4.1. Khi phần đề làm thành một đoạn khá dài.
5.4.2. Khi lược bớt động từ là trong câu luận.
5.4.3. Khi phần thuyết được đặt trước phần đề
Ngoài những trường hợp vừa kể thì giữa phần đề và phần thuyết của nòng cốt câu đơn, nói chung, không dùng dấu phẩy.
5.5. Dấu phẩy còn dùng vì lẽ nhịp điệu trong câu, nhất là khi nhịp điệu có tác dụng biểu cảm.
5.6. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu phẩy. Nói chung, quãng ngắt ở dấu phẩy tương đối ngắn, so với những dấu đã nói trên.
6. Dấu chấm phẩy
6.1. Dấu chấm phẩy thường dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép song song, nhất là khi giữa các vế có sự đối xứng về nghĩa, về cả hình thức.
Trong câu ghép song song mà vế sau có tác dụng bổ sung cho vế trước, cũng có thể dùng dấu chấm phẩy giữa hai vế.
6.2. Dấu chấm phẩy cũng có thể dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong một liên hợp song song bao gồm những ngữ.
6.3. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm phẩy; quãng ngắt dài hơn, so với dấu phẩy, nhưng ngắn hơn, so với dấu chấm.

_________________

Cách sử dụng dấu câu

Một nguyên tắc quan trọng của nghề báo là quan tâm tới bạn đọc (tạo sự dễ dàng cho bạn đọc khi họ đọc báo). Nguyên tắc này hay bị xem nhẹ. Một số phóng viên chỉ viết sao cho thuận tiện cho mình, không chịu sửa lỗi, cho rằng đó là việc của tòa soạn. Một số biên tập viên, vì nhiều lý do - trong đó có lý do được viện dẫn nhiều nhất là “không có thời gian” - đã để cho các sai sót xuất hiện trên mặt báo. Các ban biên tập thì chưa chú ý đúng mức đến chuyện này.
Nhà báo có thể quan tâm tới bạn đọc bằng nhiều cách, trong đó chủ yếu là bằng cách kiểm tra hình thức, kiểm tra nội dung. Ngoài ra, còn phải kiểm tra mức độ dễ hiểu, khó hiểu của thông tin, kiểm tra những vấn đề thuộc phạm vi luật pháp và đạo đức, và kiểm tra cấu trúc bài báo.
Trong kiểm tra hình thức, có kiểm tra việc sử dụng dấu câu; sử dụng có đúng hay không, có lạm dụng hay không. Và đây là chủ đề chính của bài này. Những vấn đề khác sẽ được trình bày vào dịp khác.
Theo nhà văn Pháp Henri de Montherlant, đánh dấu câu đúng là dấu hiệu cho thấy “nhà ta ngăn nắp”. Dấu câu cũng quan trọng như là văn bản. Lúc còn sống, ông cũng cho biết ông rất muốn dạy ở Sorbonne (đại học hàng đầu của Pháp) một lớp về dấu chấm và dấu phẩy.
Dấu câu là một công cụ ngữ pháp được dùng để diễn đạt bài viết sao cho rõ ràng. Về mặt cú pháp và ngữ nghĩa, người ta dùng dấu câu để phân ranh giới các câu, vế câu (của câu ghép), thành phần câu và các yếu tố tạo ra cụm từ và ngữ. Về mặt ngữ điệu, dấu câu được dùng để ngắt các quãng nghỉ dài, ngắn khi nói.
Có lúc dấu câu là bắt buộc, có lúc không. Có những dấu câu có thể thay thế nhau khi đảm nhiệm cùng một chức năng. Thế nhưng lắm người cầm bút không chịu học cách dùng dấu câu. Một số còn không biết phân biệt các loại câu của tiếng Việt. Thường mỗi loại câu phải đi với dấu câu tương ứng ở cuối câu. Tùy theo mục đích của lời nói, người ta phân biệt bốn kiểu câu: tường thuật, nghi vấn, mệnh lệnh (hoặc cầu khiến) và cảm thán.
Dùng không đúng dấu phẩy
Dấu phẩy là một chỉ dẫn về nghĩa rất quan trọng nhưng lại được dùng không đúng cách nhiều nhất. Một dấu phẩy đặt không đúng chỗ có thể gây chết người, thiếu một dấu phẩy có thể mất người yêu.
Giáo sư Nguyễn Đức Dân có kể một giai thoại hiện đại về dấu phẩy như sau: Một chàng trai nghèo đi xuất khẩu lao động để kiếm tiền cưới vợ. Do những biến động xã hội ở xứ người, thư từ giữa chàng trai với người yêu không đều đặn. Sau vài tháng không nhận được tin, cô gái viết thư qua đòi anh cho biết dứt khoát. Được thư, chàng trai hốt hoảng viết vội ba chữ: “Đừng chờ anh!” Cô gái được thư bèn đi lấy chồng. Một thời gian sau, chàng trai về nước. Anh trách cô gái bội ước. Cô mới lấy thư ra. Chàng trai té ngửa. Anh đã viết thiếu một dấu phẩy. Thực tế anh muốn viết : «Đừng, chờ anh! » (1)
Người ta dùng dấu phẩy để phân chia các thành phần của câu, đặc biệt là thành phần bổ túc nghĩa, chú thích và xen. Dấu này cũng được dùng để ngăn cách những từ đồng một nhiệm vụ với nhau. Khi đọc đến dấu phẩy phải ngừng một lát. Thời gian nghỉ của dấu phẩy ngắn hơn so với dấu chấm và các dấu khác.
“Chúng tôi đã chuyển thư của ông phản ảnh về việc doanh nghiệp chậm trễ phát quà khuyến mãi đến báo Sài Gòn Tiếp thị, là tuần báo phục vụ người tiêu dùng.” Dấu phẩy sau từ “Tiếp thị” và từ “là” không được chỉnh. Nên viết “...Sài Gòn Tiếp thị là tuần báo phục vụ người tiêu dùng.”; hoặc “...Sài Gòn Tiếp thị, tuần báo phục vụ người tiêu dùng.”
“Ông Trần Kiều, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục cho biết, từ năm 1990, Bộ GD - ĐT đã triển khai thực nghiệm môn tin học tại hơn 100 trường PTTH.” Ở đây, “Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục” là thành phần chú thích cho “ông Trần Kiều”. Trước và sau cụm từ này đều có dấu phẩy để làm ranh giới.
Có báo dùng không đúng cả dấu phẩy lẫn dấu ngang: “Trước thềm năm học mới, chúng tôi đã trao đổi với ông Bùi Đức Tráng - Giám đốc BHYT TP Hồ Chí Minh, về một số vấn đề liên quan đến hoạt động bảo hiểm y tế học sinh sinh viên năm học 2001 - 2002 ...” Ở đây, đã dùng dấu ngang ở đầu thành phần chú thích thì phải tiếp tục dùng dấu này ở cuối thành phần chú thích, chứ không thể dùng dấu phẩy. Cũng có thể dùng dấu phẩy thay thế cho dấu ngang.
Ngoài ra, còn gặp trên các báo những kiểu sai và lạm dụng dấu câu như sau:
1. Đánh dấu chấm hỏi sau những câu không phải là câu hỏi; không đánh dấu hỏi sau những câu nghi vấn trực tiếp
“Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào người ta cũng hỏi ý kiến Văn phòng KTST ?” Cuối câu này phải dùng dấu chấm. Đây không phải là câu hỏi trực tiếp. Không phải cứ thấy “hỏi” là tự động đánh dấu chấm hỏi (KTST là viết tắt của kiến trúc sư trưởng).
“Tiền đâu để đền bù giải tỏa, di dời, xây dựng khu ở mới cho cả ngàn hộ dân ...” Câu này thiếu dấu hỏi, thừa dấu chấm lửng. Đây là câu nghi vấn trực tiếp, từ “đâu” biểu hiện cho loại câu hỏi.
“Học sinh làm bài xong chưa ?” thì phải đánh dấu hỏi, còn “Thầy giáo muốn biết học sinh đã làm xong bài chưa” thì không cần vì là câu nghi vấn gián tiếp.
2. Đánh dấu chấm than sau những câu không phải là câu cảm thán hay cầu khiến
“Nếu hướng dẫn của các bộ ngành liên quan chưa phù hợp hoặc trong quá trình thực hiện có những vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền các bộ ngành thì Bộ Thương mại phải tổng hợp báo cáo Thủ tướng xem xét quyết định!”. Câu này là câu tường thuật.
Câu cảm thán là loại câu được dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khác thường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ.
3. Không biết dùng dấu hai chấm
“Trong nỗ lực tìm kiếm thị trường mới và đẩy nhanh các cuộc xúc tiến thương mại tại Campuchia, trong 4 ngày từ ngày 2 đến ngày 5-7, một đoàn cán bộ, doanh nghiệp thành phố Sàigòn gồm: Sở Thương mại, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Ban chủ nhiệm CLB Hàng Việt Nam chất lượng cao do bà Huỳnh Thị Nhân, Phó Chủ tịch dẫn đầu đã đi thăm và làm việc tại các tỉnh: TàKeo, Candal và thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia)”.
Sau “gồm”, sau “các tỉnh” không cần thiết phải dùng dấu hai chấm. Câu trên còn nhược điểm là quá dài (88 chữ), cần phải được ngắt ra làm ba.
Thông thường, sau “rằng” và “là”, người ta cũng không dùng dấu hai chấm. Theo giáo sư Cao Xuân Hạo, trong tiếng nói bình thường, hai từ trên, khi được dùng làm liên từ sau các từ nhận thức – phát ngôn như biết, nghĩ, cho, nói, bảo, không.
http://vhtaybac.forums.gs


Dấu « Hỏi Ngã » trong văn chương Việt Nam

Cao Chánh Cương

Văn hoá Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngần mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu « hỏi ngã ». Thật thế, dấu « hỏi ngã » trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu «hỏi ngã» sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hoá Việt Nam.
Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau. Danh từ «nhân sĩ», chữ «sĩ» phải được viết bằng dấu «ngã» để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hoá chính trị... nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân «sỉ», chữ «sỉ» với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn. Một chữ thông thường khác như là hai chữ sửa chữa, nếu bỏ đi dấu «hỏi ngã» sẽ có nhiều ý khác nhau : sửa chữa ( sửa dấu hỏi, chữa dấu «ngã» ) tức là chúng ta sửa lại một cái gì bị hư hỏng, thí dụ sửa chữa xe hơi. Nhưng nếu cho dấu «ngã» vào thành chữ sữa và dấu hỏi trên chữ chửa tức có nghĩa là sữa của những người đàn bà có thai nghén.
Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu «hỏi ngã» là người miền Nam và Trung ( người viết bài này là người miền Trung ). May mắn nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và viết dấu «hỏi ngã» không cần phải suy nghĩ gì cả. Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu «ngã» thì họ lại không cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi...
Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài quy luật về dấu «hỏi ngã» của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng ta.
Dấu «hỏi ngã» được căn cứ vào ba quy luật căn bản : Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các quy luật ngoại lệ.

A. Luật «bằng trắc»
Quy luật bằng trắc phải được hiểu theo 3 quy ước sau.
1. Luật «lập láy»
Danh từ «lập láy» tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả. Thí dụ:
vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa
mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc lặng lẽ, vẻ vang...
2. Luật «trắc»
Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ «lập láy» thì chữ đó viết bằng dấu hỏi ( ngang sắc hỏi ). Thí dụ:
- Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.
- Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi.
- Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi.
- Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi.
Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang...
3. Luật «bằng»
Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ «lập láy» thì được viết bằng dấu «ngã» ( huyền nặng ngã ). Thí dụ:
- Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu «ngã».
- Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu «ngã».
- Mạnh mẽ: chữ mạnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu «ngã».
Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng...

B. Chữ Hán Việt
Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ... tất cả đều do chữ Hán mà ra.
Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu «hỏi ngã» được quy định như sau:
Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu «ngã», các chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi.
Thí dụ:
- Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu «ngã» vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.
- Vĩ đại: vĩ có dấu «ngã» vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V.
- Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu «ngã» vì áp dụng quy luật Hán Việt nói trên.
- Lẽ phải: lẽ dấu «ngã» vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P.
- Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.
Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn...
Để có thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này: «Dân Là Vận Mệnh Nước» để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng quy luật Hán tự nói trên.

C. Các quy ước khác
1. Trạng từ ( adverb )
Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu «ngã».
Thí dụ:
- Thôi thế cũng được.
Trạng từ «cũng» viết với dấu «ngã».
- Xin anh đừng trách em nữa.
Trạng từ «nữa» viết với dấu «ngã».
- Chắc anh đã mệt lắm rồi.
Trạng từ «đã» viết với dấu «ngã».
2. Tên họ cá nhân và quốc gia
Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu «ngã».
Thí dụ:
Đỗ Đình Tuân, Lữ Đình Thông, Nguyễn Ngọc Yến...
Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu «ngã» vì đây là danh xưng họ hàng.
Nước Mỹ, A Phú Hãn...
Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu «ngã» vì đây là tên của một quốc gia.
3. Thừa trừ
Một quy ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật «lập láy» và bằng trắc nói trên.
Thí dụ:
Anh bỏ em đi lẻ một mình.
Chữ «lẻ» viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi.
Anh này trông thật khoẻ mạnh.
Chữ khoẻ ở đây có dấu hỏi vì do từ khoẻ khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khoẻ phải dấu hỏi.

D. Kết luận
Văn chương là linh hồn của nền văn hoá, viết sai dấu «hỏi ngã» có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại. Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu «hỏi ngã» không được chỉnh tề.
Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thuộc vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan trọng của dấu «hỏi ngã» trong văn chương Việt Nam. Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hoá Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.

 


Từ vô nghĩa và luật hỏi ngã

Lê Bá Vân

Những từ thuần Việt, vô nghĩa có khả năng thay đổi dấu là cơ sở của luật hỏi ngã. Chúng giúp xác định thanh điệu của các từ mà chúng láy âm. Họp thành đôi, chúng trở thành hữu nghĩa.

Lời mở đầu: Tiếng Việt phát âm không phân biệt 2 thanh uốn “hỏi, ngã” là sắc thái đặc trưng của người Việt miền Trung và miền Nam khiến giọng nói thoáng, bình dị, thân tình.
Vấn đề tồn tại là cần khắc phục chính tả 2 dấu ấy mà muốn thì luôn có cách. Tiếng Việt đơn âm, mỗi âm tiết (syllable) là một từ (word), nhưng các từ có khuynh hướng ghép đôi, thêm nghĩa, vd: kể và kể lể, non và ăn non, xe và xe lửa...
Các từ Hán-Việt thì đã có những luật về hỏi, ngã dựa theo âm khởi đầu của từ. (1)
Các từ Hán-Việt (Hán-Nôm) xưa được dạy trong cuốn sách 3 ngàn chữ “Tam Thiên Tự”:
“Thiên trời, Địa đất... Gia nhà, Quốc nước, Tiền trước, Hậu sau, Ngưu trâu, Mã ngựa...”
Các từ thuần Việt (từ nôm) thì có luật hài thanh “Trầm Bổng” dựa trên sự láy âm của các từ vô nghĩa. Về thanh điệu tiếng Việt có 6 thanh: “sắc không hỏi, huyền ngã nặng”.

Dấu hỏi ngã trong từ láy thuần Việt:
Dự trữ từ Việt vô nghĩa là nhiều, vd: ”nam nám nạm” có nghĩa, “nàm nảm nãm” vô nghĩa.
Một số tuy vô nghĩa song hữu dụng để tạo từ đôi, vd: chậm rãi, mừng rỡ, nhờ vả, xả láng...
Nếu kết hợp chức năng láy âm thì chúng quyết định luật hỏi ngã, vd: vẻ vang, vẽ vời...
Mục từ: 1)Định nghĩa. 2)Thành lập. 3)Phân nhóm. 4)Sử dụng. 5)Đánh giá. 6)Kết luận.

1- Định nghĩa từ láy: Láy là lặp lại. Láy âm là lặp lại phụ âm hoặc nguyên âm.
“Từ láy” là những từ vô nghĩa láy âm theo từ đứng trước, có nghĩa hoặc không.
Vd: gửi gắm, tròn trĩnh, vặt vãnh (từ đứng trước có nghĩa) và chễm chệ, lởn vởn, ủn ỉn.
Hệ luận: Nếu từ láy âm có nghĩa thì trái với định nghĩa nên luật bất định, vd: bắt bẻ, dẻo dai, giả dối, lỗi lầm, lẫn lộn, rã rời, trao trả, tráo trở, vung vảy... song: đầy đủ, hồ hởi, kiêng cữ, mệt mỏi, mềm mỏng, mồ mả, rò rỉ, sành sỏi, trơ trẽn, vung vãi... (xem phần 3- Phân nhóm)
Lưu ý: -Một từ trở thành vô nghĩa nếu làm nhiệm vụ láy âm, vd: “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao (Kiều). “Nhụi, bao” từ láy vô nghĩa, song đứng riêng thì “bao” có nhiều nghĩa.
-Từ Hán-Việt thông dụng không có từ nôm tương ứng thì được kể là từ nôm và thu nhận từ vô nghĩa láy âm, vd: khinh khỉnh, lễ lạt, nhục nhã, văn vẻ, võ vẽ...

2-Thành lập từ láy: Có 2 vị trí láy âm: đầu từ hoặc cuối từ.
2.1- Láy đầu từ: “Láy âm”, lặp lại phụ âm (đại đa số trường hợp) hoặc nguyên âm bất kỳ.
Ví dụ: “Bầu bĩnh, bướng bỉnh, thổn thức, thỗn thện” và “âm ỉ, ầm ĩ, inh ỏi, ưỡn ẹo”.
2.2- Láy cuối từ: “Láy âm + thanh”, lặp lại phụ âm hoặc nguyên âm, lặp lại thanh.
Vd: “bẽn lẽn, lởm chởm, lõm bõm, loảng xoảng” và “bải hoải, bỡ ngỡ, lễ mễ, lủi thủi”.
Láy cuối từ là láy vần theo luật trầm bổng, ”vần + thanh” chặt chẽ khác với láy vần theo luật bằng trắc trong thi thơ như trong câu: Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu, Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương.(Liễu và nẻo láy vần trắc,Chinh Phụ Ngâm).
Lưu ý: Một số từ láy cả đầu và cuối từ tuy chỉ 1 nơi là đủ: đằng đẵng, hổn hển, ỏn ẻn, ra rả.
Nếu vậy, đã láy cả 2 nơi thì điều kiện láy thanh không bắt buộc.

3- Phân nhóm từ láy: Có 2 nhóm, tuân theo luật hài thanh, trầm bổng.
3.1- Nhóm thanh bổng: SẮC KHÔNG HỎI. Dễ nhớ: người tu hành “sắc không hỏi”
Các từ của nhóm này ghép với nhau; nếu chỉ liên quan đến dấu /hỏi/ thì ta có 3 tổ hợp:
*(Sắc+Hỏi) Vd: Rả rích. *(Không+Hỏi) Vd: Rôm rả. *(Hỏi+Hỏi) Vd: Rỉ rả.
3.2- Nhóm thanh trầm: HUYỀN NẶNG NGÃ.
Các từ của nhóm này đi đôi với nhau; nếu chỉ tính đến dấu /ngã/ thì ta có 3 tổ hợp: *(Huyền+Ngã) Vd: Ròng rã. *(Nặng+Ngã) Vd: Rộn rã. *(Ngã+Ngã) Vd: Rũa rã.
Các quan hệ ngoài nhóm là nghiêm cấm, vd: dấu /hỏi/ cấm đi theo nhóm /huyền, nặng, ngã/.
Các ví dụ khác: “gióng giả, giòn giã, giục giã, giả lả”- “ha hả, hỉ hả, hể hả, hối hả, hả hê”- “lải rải, rải rác, rỗi rãi, rộng rãi”- “lửng lơ, lững chững, lững lờ, lững thững” - “mê mẩn, mùi mẫn, lẩn mẩn, tẩn mẩn”- “mủm mỉm (cười), mũm mĩm (dáng)” - “ngất ngưởng, ngật ngưỡng”- “râm rỉ, rầm rĩ, rầu rĩ, rên rỉ, rền rĩ, rủ rỉ, ri rỉ, rỉ rả”- “sửng sốt, sững sờ, sừng sững”- “tơi tả, tất tả, tầm tã, lả tả”- “vất vả, vật vã, vồn vã, vội vã”- “vơ vẩn, vớ vẩn, vờ vẫn, xẩn vẩn”…
Toàn dấu hỏi: dở dang, đảm đang, giỏi giang, hở hang, mở mang, ngổn ngang, nở nang, rảnh rang, rổn rang, sang sảng, sửa sang, trang trải, vẻ vang.
Toàn dấu ngã: bẽ bàng, cũ càng, dễ dàng, khẽ khàng, kỹ càng, lỡ làng, ngỡ ngàng, phũ phàng, rõ ràng, rỡ ràng, sẵn sàng, sẽ sàng, sỗ sàng, xoàng xĩnh, võ vàng, vững vàng.
Các từ rả/rã và “hả, giã, lững, mẫn, ngưỡng, nhẵng, nhủng, rãi, rẫy, rỉ, sửng, tả, thẫn, vả, vẫn...” có dấu thanh hỏi ngã phù hợp luật thanh dấu.
Sáu tổ kia là: (sắc không, sắc sắc, không không ) và (huyền nặng, huyền huyền, nặng nặng).
Lưu ý: Các từ láy thuộc động từ, tính từ, phó từ. Danh từ thì ít thuận lợi cho sự tạo láy âm, vd: cà cưỡng, chẫu chuộc, nghề ngỗng, xương xẩu, song: chèo bẻo, ễnh ương, mình mẩy.

4- Sử dụng từ láy: Giúp người miền Trung và Nam viết đúng hỏi ngã.
4.1- Trực tiếp. Từ láy có sẵn theo nhóm dấu, ví dụ Kiều: “người đâu gặp gỡ làm chi...” khác gặp gở (gặp điềm gở). Thổn thức: “giọng Kiều rền rĩ (khác rên rỉ) trướng loan”. Mã Giám Sinh: “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” là vắt vẻo và “tiếc thay chút nghĩa cũ càng”: Kiều khắc khoải nhớ Thúc Sinh. “Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha”: Kiều mong mỏi, thấp thỏm.
4.2- Gián tiếp. Từ đơn, ví dụ Kiều: Rút trâm sẵn giắt mái đầu (sẵn sàng). Đố ai gỡ mối tơ mành (gỡ gạc). Sượng sùng giữ ý rụt rè (giữ gìn). Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn (nghĩ: nghĩ ngợi và mỏng: mỏng manh, mỏng mảnh, mỏng mẻo). “Nể lòng người cũ vâng lời một phen” (nể nang, cũ càng, cũ kỹ), Kiều đánh đàn lần cuối.Điều 4.2 rất rõ (rõ ràng, rõ rệt).
4.3- Phân phối. Nếu một từ đã có dấu hỏi thì từ tương ứng mang dấu ngã.
Vd: bảo/bão, bửa/bữa, chửa/chữa, củ/cũ, gảy/gãy, lở/lỡ, mỏ/mõ, mở/mỡ, mủ/mũ, nổi/nỗi, nở/ nỡ, nửa/nữa, quỷ/ quỹ (từ Việt hóa), rảnh/rãnh, sửa/sữa, vẻ/vẽ, vở/vỡ... Biết được dấu thanh của 1 từ là biết cả 2.
Vd: “Gió đưa cây cải về trời...” khác “QN hay cãi, QNg hay (đôi) co, BĐ hay lo...” là cãi cọ.
Lưu ý: tiếng Hán Việt có “cải cách, cải chính, canh cải”, song không liên quan.
Điều 4.3 này phạm vi rộng. Duy chỉ nhiều khi không có từ láy, đặc biệt đối với các danh từ.
Song có thể khai thác điều 4.2. Vd: cõi/kém cỏi, gỗ/gây gổ, sữa/sửa sang.
Các kết quả không luôn đúng, phải được kiểm chứng với điều 4.1
4.4- Hoán thanh. Chuyển dấu, vd: chả chẳng/không, chưa chửa, dầu dẫu, đã đà, đỗ đậu, hẵng hãy, lóm lỏm, lời lãi, miếng miểng, mồm mõm, ngỡ ngờ, quăng quẳng, thoáng thoảng, trẫm trầm... thường dùng trong thi văn để đổi vần bằng trắc: “thất kinh nàng chửa biết là làm sao”, “thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ” (Kiều). Luật này chặt chẽ song phạm vi hạn hẹp.
4.5- Trùng thanh. Là dạng /hỏi+hỏi/ và /ngã+ngã/ không nhiều nhưng khó đoán dấu thanh vì không tìm được kẽ hở. Vd. lẽo đẽo, lẩm bẩm, lỏng chỏng, lỏng lẻo, nghễnh ngãng, tỉ mỉ, thỉnh thoảng, thủ thỉ, võ vẽ... Một vài hướng giải quyết:
-Liên hệ điều 4.2. Vd: “bỡ ngỡ có dấu ngã vì có ngỡ ngàng, dễ dãi có “dễ dàng, lảm nhảm có nhảm nhí, lẽo đẽo có lạt lẽo, lõm bõm cò bì bõm, thủng thẳng có thẳng thắn, “tỉ mỉ” có “tỉ tê”, “võ vẽ” có “vẽ vời”, thỉnh thoảng thì thoảng là thoáng (chuyển dấu, điều 4.4)...
-Sử dụng láy 4 từ bằng cách thêm “a”. Vd: đỏng đa đỏng đảnh, đủng đa đủng đỉnh, lẩn tha lẩn thẩn, lẩy ba lẩy bẩy, nhỏng nha nhỏng nhảnh song lại có lẩm cà lẩm cẩm, lủng cà lủng củng.
4.6- Gộp từ. Ở Nam bộ: “ảnh” là từ láy gộp của “anh ấy”; ổng, cổ, trỏng... cũng vậy.
“Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung” (Kiều), “nghỉ” cũng như “nẫu” có thể là từ gộp của “ông ấy, người ấy”.

5- Đánh giá từ láy:
5.1- Tồn tại. Các phạm luật. Luật từ láy về dấu hỏi ngã nói chung rất chặt chẽ, vì “đồng thanh tương ứng” gần như toàn hảo mặc dầu có luật tất có phạm luật.
Các ngoại lệ trên 20, thường gặp là: bền bỉ, chò hỏ, dòm dỏ, hẳn hòi (hẳn hoi), nài nỉ (năn nỉ, nỉ non), ngoan ngoãn, nhỏ nhặt (nhỏ nhắn, nhỏ nhẻ, nhỏ nhen, nhỏ nhít, nhỏ nhoi), phỉnh phờ (2 từ có nghĩa?), than vãn, ve vãn (nhưng ve vẩy, “vãn” từ Hán Việt = kéo lui), vẻn/vỏn vẹn...
Tuy nhiên có thể xem ngoài luật những từ đệm giảm ý, mang dấu không và đứng trước từ được láy: dê dễ, đo đỏ, khe khẽ, nho nhỏ, se sẽ, trăng trắng, xanh xanh...
Nhiều từ có đôi ba nghĩa mà toàn mang dấu hỏi, vd: “biển, chỉ, nhỏ, phở, tổ...” và “chỗ, cõng, đẽo, đĩ, giữa...” thì chỉ có dấu ngã. Từ “bỏ” thì có bỏ bê, bõ bèn và bõ già (danh từ).
Mọi kết quả (vd. điều 4.3) phải phù hợp với điều 4.1 (và điều 4.2 hệ luận) là chính thống.
5.2- Thuận lợi. Sự phong phú.
*Tính từ tiếng Việt thích hợp cho láy từ: vui thì vui vẻ, buồn thì buồn bã, đẹp thì đẹp đẽ, bé thì bé bỏng, trẻ thì trẻ trung... thêm đỏ đắn, đen đủi, võ vàng, trắng trẻo, giỏi giang, kém cỏi, chẵn chòi, lẻ loi... lại còn bủn xỉn, chững chạc, lém lỉnh, liều lĩnh, nghễnh ngãng... rất nhiều. Các tính từ láy ngoài dấu hỏi ngã thì: gầy gò, mập mạp, vàng vọt, xanh xao, xấu xa, yếu ớt...
*Động từ: bỏ thì bỏ bê, dọa thì dọa dẫm, hát thì hát hỏng, hỏi thì hỏi han, kể thì kể lể, ngủ thì ngủ nghê, phẩy thì phe phẩy, thêm mắng mỏ, rỉa rói, rủ rê, trăn trở, vẽ vời... lại còn ỏn ẻn, thỏ thẻ, thủ thỉ và dùng nhiều từ láy ngoài hỏi ngã: cười cợt, khóc lóc, ngắm nghía, ngâm nga...
*Phó từ dùng nhiều từ vô nghĩa: bỏm bẻm, đủng đỉnh, hổn hển, lẽo đẽo, loảng xoảng, lõm bõm, lỏng chỏng, lỏng khỏng, lổm ngổm, lủng lẳng, ngất nghểu, thất thểu, thỉnh thoảng, thủng thỉnh, xủng xẻng/xoảng... lang thang, lây lất... Nhiều phó từ bắt nguồn từ tính từ.
*Danh từ không thích hợp cho sự láy âm - có thể nói đứng ngoài đối với các danh từ cụ thể - nên khó đoán dấu: bưởi, đĩa, đũa, hoẵng, kẽm, khỉ, lưỡi, muỗi, mũi, ngỗng, nĩa, phổi, xẻng ... Điều 4.1 và 4.2 khó áp dụng song có thể dùng điều 4.3 hướng dẫn: đỉa/đĩa, mở/ mỡ, sửa/ sữa... hoặc dùng quan hệ đồng nghĩa (xem phụ lục): chân/cẳng, mồm/mõm...
Những danh từ như bảng, cảng, đảng, liễu, tỉnh, xưởng... là từ Hán-Việt, có luật riêng.
*Mạo từ, giới từ, liên từ, phó từ, thán từ, động từ tình thái rất thông dụng này cần biết rõ:
Bởi cả chẳng, chỉ của để, kẻo ở phải.
Bỗng cũng dẫu, đã giữa hãy, hễ hỡi mãi, mỗi nãy những, nữa sẽ vẫn.
*Từ Nôm và gốc Hán-Việt tương ứng là thuộc cùng nhóm dấu?
Vd: bảy là thất, biển hải, chữ tự, cũ cựu, cửa môn, hỏi vấn, lửa hỏa, nhỏ tiểu, vẽ họa...
Tuy nhiên: căn rễ, hầu khỉ, hoàn trả, hồng đỏ, lưu giữ, phù nổi, trục đuổi, trung giữa...

6-Kết luận:
*Một ví dụ: luật hỏi ngã giúp phân biệt “lở lói” và “lỡ làng”.
"Tay lở nhúng chàm" khác "tay lỡ nhúng chàm": “lở tay/lỡ tay trót đã nhúng chàm” (Kiều) .
"Không thể cãi luật" song "có thể cải luật".
*Viết đúng hỏi ngã là khó nếu không phải người miền Bắc. Tuy nhiên đáng tiếc nếu chúng ta viết sai hỏi ngã các từ láy âm mà có luật lệ rõ ràng, vd: chăm chỉ, chặt chẽ, dữ dội, lần lữa, nhắc nhở,... (điều 4.1), bõ công (bõ bèn), chạy nhảy (nhảy nhót), mềm dẻo (dẻo dai/dang)... (điều 4.2)
Các từ năng dùng cũng vậy: “bởi, của, để, ở... cũng, những, sẽ, vẫn... (điều 5.2).
*Luật láy âm bao gồm 6 dấu thanh là đặc trưng cho tiếng thuần Việt, rất hữu ích, đáng tin cậy, dễ sử dụng, phối hợp với luật hỏi ngã của các từ Hán-Việt giúp các người Việt miền Trung và Nam viết đúng 80% các từ có dấu hỏi ngã của tiếng Việt và hầu hết các từ thông dụng.
Giọng nói thoáng, bình dị, thân tình mà chính tả hỏi ngã lại viết lỗi rất ít thì quí hóa biết bao!
Lê Bá Vận


Quy tắc viết dấu hỏi ngã

trong văn chương Việt Nam

A- Vị trí chung cho các dấu
* Các dấu luôn ở chổ các nguyên âm: ê, (ă, â)
1) Những từ chỉ có một nguyên âm: a (ă, â), e (ê), i, y, o, ô, ơ, u, ư thì dấu được viết ở nguyên âm ấy như:
- Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
- Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

2) Những từ có hai nguyên âm (ngoại trừ vần uơ có dấu ở chữ ơ: thuở xưa )
2.1) Nếu không có phụ âm theo sau thì dấu phải được viết ở nguyên âm đầu như:
- Chị Thùy bỏ kẹo vào túi áo.
- Thủa xưa người ta nói: Cái răng cái tóc là gốc con người.
2.2) Nếu có phụ âm theo sau thì dấu phải được viết ở nguyên âm sau như:
- Anh Toàn vác nặng oằn cả vai.
- Nước Việt Nam có ba miền: Bắc, Trung, Nam.

3) Những từ có ba nguyên âm (ngoại trừ vần uyê) thì dấu ở nguyên âm giữa như:
- Hãy yêu thương người đồng loại.
- Người dân tộc thiểu số còn gọi là người thượng.
Chú ý: Truyền thuyết, triều Nguyễn, tuyệt chiêu… (quy tắc *)
Lớp tiếng Việt Lausanne dành cho mọi người vào mỗi thứ bảy hàng tuần.

B- Quy tắc về dấu hỏi ( ˀ ) hay dấu ngã ( ˜ ) đặc biệt trên các từ láy.
1) Dấu hỏi ( ˀ )
Một trong hai tiếng của từ láy không có dấu ( ) hoặc có dấu sắc ( ΄ ) thì tiếng còn lại phải được đánh dấu hỏi ( ˀ ) như: bảnh bao, cứng cỏi, chăm chỉ, đen đủi, ế ẩm, êm ả, gây gổ, giỏi giang, hát hỏng, mát mẻ, nho nhỏ, rải rác, tẻo teo, thoai thoải...
2) Dấu ngã ( ˜ )
Một trong hai tiếng của từ láy có dấu huyền ( ` ) hoặc có dấu nặng (. ) thì tiếng kia phải được đánh dấu ngã ( ˜ ) như: (Lội) bì bõm, cãi cọ, dễ dàng, gìn giữ, lạnh lẽo, phảng phất, rộn rã, nghĩ ngợi...
* Áp dụng quy tắc này “Huyền Ngã Nặng, Không Sắc Hỏi” qua câu thơ:
“Em Huyền ( ` ) mang Nặng (. ) Ngã ( ˜ ) đau
Anh Không ( ) Sắc ( ' ) thuốc Hỏi ( ˀ ) đau chỗ nào”.
Tuy nhiên cũng có một số ít từ láy thuộc vào trường hợp ngoại lệ và cũng có một số từ ghép Hán Việt không theo quy tắc trên như: Ngoan ngoãn, sửa soạn, đầy đủ, bồi bổ, hỏa hoạn, thổ thần...

C- Viết chính tả với chữ I và Y
Chỉ viết chữ y dài trong những trường hợp sau đây:
1) Với y dài hay i ngắn của danh từ riêng về người, về địa danh v.v... như: Nguyễn Ngu Í (tên nhà văn), Lý Thường Kiệt (tên một danh tướng), Mỹ Tho (tên một tỉnh), Mỹ Quốc (tên một nước)…
2) Đứng một mình, tự nó (chữ y) là một tiếng có đủ nghĩa như: chú ý, ngồi ỳ, ý kiến, y phục, ỷ lại...
3) Đứng đầu mỗi chữ:
yểm trợ, cái yếm, bình yên, yết kiến, yêu mến…
4) Các vần ay, ây (âi), oay, uây (uâi), uy, uya (uia), uych (uich), uyên(uiên), uyết (uiết), uynh (uinh), uyt (uit), uyu (uiu), yên, yết và ynh
Tuy y và i đồng âm nhưng khác nghĩa khi ráp vần, cho nên với các vần mà có nguyên âm y dài phải được sử dụng chính xác, không thể viết lẫn lộn với nguyên âm i ngắn được như:
- nước chảy (ay) không thể viết nước chải (ai), ngày nay (ay) không thể viết ngài nai (ai)
- say túy lúy (uy) không thể viết say túi lúi (ui), cô Thúy (uy) không thể viết cô Thúi (ui)
- oai (oai) hùng không thể viết oay (oay)hùng
- cương quyết (yêt) không thể viết cương quiết (iêt)
- duyệt (uyêt) binh không thể viết diệt (iêt) binh
Trường hợp ngoại lệ: quải gánh = quảy gánh = quẩy gánh (đồng nghĩa: gánh trên vai)
5) Các chữ Hy, Ky, Ly, My, Ty
- Hy Lạp (quy tắc 1), hy vọng, hỷ sự, … / - Hi hữu, hỉ mũi, hí hoáy…
- Chữ ký, kỳ quặc, kỹ thuật… / kí lô, kì kèo, kị rơ…
- Ly hương, lý lịch, kiết lỵ... / Li bì, lí nhí, lì lợm …
- Nước Mỹ (quy tắc 1), thẩm mỹ (đẹp), mỹ (đẹp) từ… / lông mi, nốt mi, mí mắt, bánh mì…
- Công ty, tỵ hiềm, tỳ thiếp… / tí (nhỏ) xíu, tí (nhỏ) tách, ghen tị…

Nguồn: Internet



TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT ĐỔI ĐỜI - TỪ VẤN A ĐẾN X

(Đào Văn Bình)

Đào Văn Bình
https://vietbao.com/a266830/tu-dien-tieng-viet-doi-doi-ky-2-tu-van-d-g-

Đôi lời phi lộ:
Bất cứ một dân tộc nào nếu đã hình thành một nền văn học, đều có hai loại văn chương bác học và văn chương bình dân. Ngôn ngữ cũng có ngôn ngữ trí thức và ngôn ngữ đường phố. Phê bình văn học, phê bình cách sử dụng ngôn ngữ là điều phải có để đất nước tiến lên. Trước đây ở Miền Nam, một số nhà văn, nhà báo dùng chữ hay viết văn không đúng cũng đã bị phê phán chứ không phải muốn viết gì thì viết. Ngày nay, ngôn ngữ ít học, đứng bến, mánh mung, đường phố giống như cỏ dại lan tràn rất nhanh vì nó được phổ biến qua các bản tin, báo chí, các trang điện tử, truyền hình, đài phát thanh, các diễn đàn… cho nên nó dễ dàng giết chết ngôn ngữ “văn học” thường phải xuất hiện qua sách vở. Nếu không ngăn chặn kịp thời, loại ngôn ngữ lai căng, bát nháo, quái đản sẽ trở thành dòng chính của văn học…và khi đó thì hết thuốc chữa. Việt Nam ngày nay đang đứng trước thảm họa đó! Ngoài ra, “văn dịch” phần lớn từ các bản tin tiếng Anh của những người không rành tiếng Anh lại kém tiếng Việt đã phá nát cú pháp (văn phạm) Việt Nam. Hiện nay BBC Việt Ngữ đã góp phần rất lớn vào việc tàn phá tiếng Việt truyền thống.
Xin nhớ cho, thay đổi mà tốt hơn, hay hơn thì người ta hoan nghênh. Thay đổi mà xấu, tệ hơn là phá hoại. Ngoài ra, không có gì “lớn” cho bằng “cầm bút” nhưng cũng không có gì “xấu xa” cho bằng viết bậy, viết nhảm, viết sai sự thật và nhất là phá hoại ngôn ngữ truyền thống của dân tộc. Sau hết, tôi xin nhắc những người làm báo trong nước và cả BBC tiếng Việt: Dân đường phố, mánh mung, đứng bến vì ít học cho nên ăn nói bậy bạ. Nhà báo là người có học phải hướng dẫn “đường phố” để họ từ từ tiến lên, ăn nói mẫu mực, viết cho đàng hoàng, thế nhưng lại chạy theo “đường phố” để phá nát tiếng Việt. Thật đáng buồn!

Xin nhớ cho, thay đổi mà tốt hơn, hay hơn thì người ta hoan nghênh. Thay đổi mà xấu, tệ hơn là phá hoại. Ngoài ra, không có gì “lớn” cho bằng “cầm bút” nhưng cũng không có gì “xấu xa” cho bằng viết bậy, viết nhảm, viết sai sự thật và nhất là phá hoại ngôn ngữ truyền thống của dân tộc. Sau hết, tôi xin nhắc những người làm báo trong nước và cả radio tiếng Việt: Dân đường phố, mánh mung, đứng bến vì ít học cho nên ăn nói bậy bạ. Nhà báo là người có học phải hướng dẫn “đường phố” để họ từ từ tiến lên, ăn nói mẫu mực, viết cho đàng hoàng, thế nhưng lại chạy theo “đường phố” để phá nát tiếng Việt. Thật đáng buồn!

Dưới đây là bảng so sánh tiếng Việt truyền thống và tiếng Việt đổi đời xếp theo thứ tự A,B,C…

A.
-Ăn uống trở thành ẩm thực. Thói quen/cách ăn uống trở thành văn hóa ẩm thực, giống như mấy ông Ba Tàu ở Chợ Lớn nói chuyện với nhau năm xưa. Các “món ăn miền Bắc” trở thành “Ẩm thực miền Bắc”. Người ta thích là thích các “món ăn” miền Bắc chứ miền Bắc có đồ uống (ẩm) gì ra hồn đâu mà thích? Rồi nào là, “Du khách nước ngoài tham gia tour trải nghiệm ẩm thực tại Hội An” (Báo Sài Gòn Giải Phóng). Thực ra câu chuyện chỉ là, “Du khách ngoại quốc vừa du lịch vừa thưởng thức các món ăn ở Hội An” nhưng lại viết dưới dạng cầu kỳ vì ít học. Xin nhớ cho ăn uống không phải là văn hóa loài thú cũng ăn uống. Con hổ sau khi ăn thịt con nai xong bèn ra bờ suối uống nước. Nhưng nếu biết nấu nướng cho đàng hoàng, lịch sự, biết mời chào nhau thì nó là một nét của văn hóa.
-Ăn mặc dâm ô, ăn mặc hở hang, ăn mặc bẩn mắt trở thành ăn mặc phản cảm. Một hình ảnh gây bất bình, xúc phạm, khó chịu cho người ta cũng gọi là phản cảm. Chỗ nào cũng thấy phản cảm và không còn một tính từ nào khác. Ăn mặc phản cảm là ăn mặc thế nào? Chẳng hạn một cô gái đến chùa “ăn mặc phản cảm” thì cô gái đó ăn mặc ra sao? Hoặc váy ngắn quá, hoặc áo hở vú, hở lưng, hoặc mặc quần đùi (short) hoặc mặc đồ mỏng dính (bây giờ gọi là xuyên thấu) thì phải nói ra cho người ta biết chứ. Tiếng Việt trong nước càng ngày càng trở nên nghèo nàn và kho tàng ngôn ngữ truyền thống sẽ chỉ còn một nửa hay bị hủy diệt bởi những chữ như: hoành tráng, phản cảm, giải mã, kinh điển, ấn tượng, sốc, kịch tính, kịch bản, cơ bản, thi công, xử lý, nóng (hot), khắc phục, tiếp cận … Những danh từ đơn giản, thuần Việt do tổ tiên sáng tạo cả ngàn năm nay từ từ biến mất để thay thế bằng tiếng Tàu nhức đầu, lạ hoắc… và quá nhiều tiếng lóng, tiếng Tây, tiếng Anh “ba rọi” chen vào.

B.
-Bạch phiến trở thành ma túy đá
-Bài giải, đáp số trở thành đáp án. Thật điên khùng quá mức! Thí dụ:Đáp án bài toán lớp 7 thử tài tư duy(VnExpress).Làm toán màtư duycái gì? Chì cần nóigiỏi toán”. Câu văn gọn gàng, sáng sủa mà khôngbắt độc giả phải“tư duy”sẽ là: “Thử tài các bạn. Hãy giải một bài toán Lớp 7.” Nghe nói VnExpress là tờ báo điện tử được nhà nước/chính phủ cấp bằng khen.
-Bài giảng trở thành giáo án. Soạn bài giảng trở thành “soạn giáo án”. Nghe thấy mà ghê!
-Ban nghi lễ trở thành ban lễ tân (ông nào chế ra chữ này chắc trước đó có học ở bên Tàu thời Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình). Xin nhớ,”lễ tân” chỉ là tiếp khách. Còn “nghi lễ” là cả một thể thức có khi vô cùng phức tạp để hoàn tất một buổi lễ lớn hoặc tiếp đón các vị nguyên thủ quốc gia.
-Bán cá, bán tôm ở ngoài chợ (mua đi bán lại) ngày xưa gọi là “làm ăn cá thể, manh múm”, bây giờ gọi là kinh doanh, giống như làm chủ một công ty xuất cảng tôm đông lạnh có cả trăm nhân công.
-Bản tiếng Việt, bản tiếng Anh, bản tiếng Hoa (cùa một tờ báo)trở thành phiên bản tiếng Việt, phiên bản tiếng Anh, phiên bản tiếng Hoa. Mở các Từ Điển English-Chinese Dictionary ra sẽ thấy người Tàu định nghĩa “copy” là phiên bản. Thậm chí “version” là bản mô phỏng, phỏng theo cũng trở thành phiên bản. Đúng là “điếc không sợ súng”. Không được đi học, không hỏi người lớn, không tra từ điển, không nghiên cứu mà cứ viết, cứ nói. Một đất nước, một cộng đồng như vậy thật đáng sợ! Dân tộc Nhật tiến lên là họ biết xấu hổ (Khổng Tử gọi là tu ố). Khi biết mình sai, họ rất xấu hổ và có khi phải tự sát. Một dân tộc mà không biết xấu hổ thì hết thuốc chữa.
-Bàng hoàng, choáng váng, hết sức ngỡ ngàng trở thành sốc (shock)
-Bánh xe/vỏ xe trở thành lốp
-Bao gồm, bao hàm, hàm chứa (một số vấn đề) trở thành nội hàm. Ông nào dùng hai chữ này chắc là viện sĩ Viện Hàn Lâm Khoa Học,Văn Chương và Ngôn Ngữ Việt Nam.
-Bảo đảm trở thành đảm bảo, bảo hành. Xe cộ, món đồ, máy móc được bảo đảm (warranty)trong bao lâu trở thành bảo hành. Hành nghĩa là làm, làm gì ở đây mới được chứ?
-Bảo trì, giữ gìn trở thành bảo quản
-Bắp thịt trở thành cơ bắp. Biểu diễn/khoe bắp thịt trở thành biểu diễn cơ bắp.Phô diễn sức mạnh quân sự cũng gọi là biểu diễn cơ bắp. Đúng là loại ngôn ngữ đường phố, bát nháo, đứng bến, mánh mung.
-Bắt ngay trở thành bắt khẩn cấp, bắt nóng. Trong nước cái gì cũng nóng haylạnh. Ngôn ngữ truyền thống sẽ lần hồi diệt chủng. Thưởng ngay trở thành thưởng nóng! Thế mới hay ngu dốt mà làm văn hóa thì nguy hại ngàn đời!
-Bên trong (của chiếc xe hơi) biến thành nội thất! Đúng là tiếng Việt kiểu cung vua phủ chúa.
-Bệnh viện nhi đồng cắt cụt chi còn bệnh viện nhi trong khi từ điển trong nước nói rằng chữ “nhi” không bao giờ đứng một mình. Nó phải đi kèm với một chữ khác. Như vậy Tết Nhi Đồng giờ đây chỉ còn Tết Nhi! Đúng là chữ nghĩa quái đản, muốn viết gì, nói gì thì nói.
-Bích chương (dán lên tường) trở thành Áp-phích
-Biến cải, thay đổi trở thành cải tạo. Thí dụ:Trung Quốc cải tạo bãi đá ngầm thành đảo. Trong nước nên bỏ hai chữa “cải tạo” vì nó gợi lại hình ảnh cả triệu quân-cán-chính VNCH bị “tù cải tạo”.
-Biển, tấm bảng trở thành Pa-nô (Panneau)
-Biểu ngữtrở thành Băng-rôn (Bande de role)
-Bình điện trở thành bình ác quy, nạp điện trở thành sạc (charge)
-Bổ túc, trau dồi (kiến thức) trở thành bồi dưỡng (giống như ăn uống để lấy lại sức sau cơn bệnh)
-Bộ đôi, một đôi, một cặp (hai người)trở thành cặp đôi (bốn người)
- Bộ mặt, dáng vẻ biến thành ngoại hình. “Cô ta có dáng vẻ đẹp” nay biến thành “ Cô ta có ngoại hình đẹp”. Ai dùng hai chữ “ngoại hình” chắc chắn không được cắp sách đến trường hoặc du học Trung Quốc cho nên tiêm nhiễm tiếng Tàu.
-Buổi trình diễn văn nghệ trở thành show. Ca sĩ hát một lúc hai, ba phòng trà gọi làchạy show”.Ngày xưa các chiêu đãi viên ở các phòng trà đang tiếp khách này, xin lỗi chạy qua tiếp khách kia gọi là “chạy bàn”.
-Buồn nản, chán đời (depressed)trở thành trầm cảm . Sao dùng chữ khó khăn quá vậy?Nếu tôi là một tâm lý gia, một bệnh nhân tới nói, “Thưa bác sĩ, tôi cảm thấy buồn nản, chán đời” thì tôi hiểu ngay. Nhưng nếu bệnh nhân nói, “Tôi bị trầm cảm” thì tôi sẽ phải hỏi lại, “Ông/bà nói thêm về tình trạng tâm lý của ông/bà thế nào.” Ngoài ra, từ điển Việt Nam trước và sau 1975 không hề có hai chữ “trầm cảm”.
-Buồng lái /phòng lái trở thành cabin. Thậm chí khoang hành khách trên máy bay cũng gọi là cabin (BBC tiếng Việt)

C.
-Cà-phê cứt chồntrở thành cà-phê chồn. Những người đang chế “cà- phê cứt chồn” có lẽ trước 1975 họ chưa hề biết gì về loại cà-phê này cho nên bây giờ mới gọi đó là “cà-phê chồn”.
-Cách chức, bãi chức, cất chức biến thành miễn nhiệm. Trong nước không phân biệt được thế nào là nhiệm vụ thế nào là chức vụ. Nhiệm vụ là các việc hay bổn phận phải làm. Còn chức vụ là quyền hạn, địa vị để làm những việc đó. Thí dụ: Tổng thống là chức vụ. Còn nhiệm vụ của tổng thống là thi hành luật pháp, đối nội đối ngoại để bảo vệ quyền lợi của đất nước trên khắp thế giới…có cả ngàn việc. Ngoài ra, người ta chỉ nói mãn nhiệm kỳ (hết nhiệm kỳ) chử không ai nói miễn nhiệm. Miễn có nghĩa là “không” hay “không phải”. Thí dụ: Miễn thuế là không phải đóng thuế. Miễn dịch là không phải nhập ngũ. Miễn tố là không truy tố. Miễn chiến bài là treo bảng không đánh nhau. Miễn lễ là không cần thủ lễ. Do đó, miễn nhiệmcó thể gây hiểu lầm là miễn trừ trách nhiệm cho ai đó.
-Căn bản, chính yếu biến thành cơ bản. Hai tiếng cơ bản được dùng tràn lan trong mọi lãnh vực. Thí dụ: “Mọi việc gần như /hầu như đã hoàn thành”, bây giờ trong nước, từ nhà quê đến con nít đều nói, “Mọi việc cơ bản đã hoàn thành.” Giống như ông “Thạc Sĩ” nói chuyện vậy. Nhức đầu quá!
-Căn nhàtrở thành căn hộ. Căn nhà đắt giá trở thành căn hộ cao cấp. Gia đìnhtrở thành hộ dân. Nghe lạ hoắc, giống như người Tàu nói chuyện với nhau.
-Cảng bốc dỡ các kiện hàng trở thành cảng container
-Căng thẳng thần kinhtrở thành stress.Gác chân lên tường 10 phút mỗi ngày để xả stress” (VnExpress)
Nói như thế người ta mới nể vì tưởng mình là dân Mỹ, hoặc các chữ “căng thẳng thần kinh/căng thẳng đầu óc” đã bị xóa mất trong ngôn ngữ Việt Nam?
-Cao cấp trở thành cấp cao (BBC tiếng Việt): Cố vấn cấp cao. (Thích đảo ngược chữ nghĩa để làm ra vẻ mình khác đời)
-Cao Học (Master Degree)trở thành Thạc Sĩ (Agregé) trên Tiến Sĩ. Trước 1975, muốn có bằng Thạc Sĩ, sau khi đậu bằng Tiến Sĩ (Doctor) phải thi để trở thành Giáo Sư Thực Thụ của các đại học. Miền Nam trước 1975 chỉ có vài giáo sư Thạc Sĩ như GS. Vũ Văn Mẫu, GS. Nguyễn Cao Hách, GS. Vũ Quốc Thúc, GS. Phạm Biểu Tâm và Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ nhưng Tiến Sĩ thì khá nhiều. Ngày nay, ở Việt Nam, hang cùng ngõ hẻm, xã ấp nhan nhản Thạc Sĩ. Ngày xưa “Ra ngõ gặp anh hùng”. Ngày nay “Ra ngõ gặp Thạc Sĩ”. Thật kinh hoàng!
-Cầu thủ nước ngoài trở thành ngoại binh. Thí dụ: “Ngoại binh nổ súng, Sài Gòn FC quật ngã SHB Đà Nẵng” (Đài Tiếng Nói Việt Nam VOV). Đọc tiêu đề giật mình tưởng lính Nga, lính Mỹ, lính Tàu tiến vào tấn công Việt Nam.
-Cặp tức hai người trở thành cặp đôi=bốn người. Nếu có học sẽ nói bộ đôi /một đôi tức hai người. Vì không có học cho nên nói cặp đôi tức bốn người. Xin nhớ cho đôi là hai người như đôi bạn, đôi lứa, đôi nơi, đôi ngả. Cặp cũng là hai người. Cặp gà=hai con gà, cặp bánh chưng=hai chiếc bánh chưng, đóng cặp=hai tài tử thường đóng chung với nhau. Như thế, “cặp đôi” là bốn người chứ không phải hai người.
-Câu độc giả, câu khách trở thành câu view. Lai căng mất gốc.
-Cây trở thành cây xanh. Trồng cây trở thành trồng cây xanh. Chặt cây trở thành chặt cây xanh. Đúng là tiếng Việt đổi đời! Nếu theo đúng loại tiếng Việt đổi đời này thì phải nói: Chúng tôi vừa trồng 100 cây phượng xanh, 50 cây cau xanh , 50 cây dừa xanh và khoảng 10 cây chuối xanh. Rồi các loại cây ăn trái như ổi, nhãn, soài, đu đủ…trở thành “cây trồng”. Đúng là loại tiếng Việt điên khùng. Cây nào mà chẳng phải trồng. Thậm chí hành, ớt, tỏi, cũng phải trồng. Thêm chữ “trồng” là điên rồ.
-Cây cảnh, cây kiểng trở thành bonsai . Nếu cây trồng trong vườn, công viên cắt tỉa theo kiểu cây cảnh/kiểng thì không thể gọi là bonsai vì bon sai là bồn tài - nghĩa là “trồng trong chậu”. Bồn là chậu, tài là trồng.
-Chảo không dính trở thành chảo chống dính. Trong nước cái gì cũng chống, Chẳng hạn, thay vì nói, phòng ngừa ung thư lại nói phòng chống ung thư. Thay vì nói bài trừ ma túy lại nói phòng chống ma túy tức chỉ phòng ngừa và chống lại chứ không bài trừ, tiêu diệt. Rồi “Làm thang sắt để tránh lấn chiếm vỉa hè” trở thành “Làm thang sắt chống lấn chiếm vỉa hè”. (Báo Thanh Niên) Cũng giống như “Tôi đội nón để tránh nắng/che mưa nắng” nay trở thành “Tôi đội nón để chống nắng”. Thật ngu đần! Làm sao chống được nắng? Chỉ có che nắng hoặc tránh nắng mà thôi.
-Chạy tin giật gân/đưa tin giật gân/ đưa lên tin hàng đầu trở thành chạy tít, giựt tít.
-Chết trở thành tử vong. Tai nạn làm bốn người chết trở thành tai nạn khiến bốn người tử vong. Nói vậy mới tỏ ra mình giỏi tiếng Tàu à quên “tiếng Trung”.
-Chết bất ngờ, chết đột ngột trở thành đột tử. Ngã quỵ, ngất xỉu trở thành đột qụy.Thích dùng chữ nghĩa khó khăn mà kêu gào tiếng Việt trong sáng.
-Chết đuối trở thành đuối nước. Cả ngàn năm nay cha ông mình, văn chương đều dùng hai chữ “chết đuối” sao bây giờ bịa đặt thêm để làm gì? Đổi chết đuốira đuối nước có làm cho đất nước mình biến thành Mỹ, Âu Châu, Nhật Bản không? Một trăm năm nữa cũng chưa chắc bằng Tân Gia Ba. Hãy đổi đầu óc, lối sống sao cho đàng hoàng, tử tế, chân thật và có trách nhiệm. Đừng làm xáo trộn gia tài ngôn ngữ của tổ tiên.
-Chi tiền, trả tiền trở thành chi trả. Sao rắc rối quá vậy?
-Chiến cụ, vật dụng chiến tranh trở thành khí tài. Từ điển Việt Nam trong nước không có danh từ “khí tài”.
-Chính sửa, cắt xén trở thành photoshop
-Cho lãnh sự tiếp xúc/gặp gỡ trở thành “tiếp xúc lãnh sự” (VOA, BBC và các bản tin trong nước). Đúng là tiếng Việt đổi đời.
-Cho máy chạy lại, mở máy lại (restart) trở thành tái khởi động. Đúng là dốt hay nói chữ.
-Choáng váng, choáng ngợp chỉ còn choáng . Bát nháo quá đỗi! Đây là ngôn ngữ của bọn đứng bến, mánh mung hay buôn lậu. Thế nhưng loại chữ bát nháo này lại được phổ biến lan tràn trên các diễn đàn Yahoogroups ở hải ngoại.
-Chữ nghĩa trở thành con chữ. Thí dụ: Nhà văn bắt đầu từ những con chữ. Nếu thế thì các triết gia bắt đầu từ những con tư tưởng. Các nhà tâm lý bắt đầu từ con phân tích (sự phân tích)
-Chưa đầy đủ, còn thiếu sót, còn nhiều khuyết điểm trở thành bất cập. Đọc đoạn văn “Việc xử lý xe quá tải vẫn còn nhiều bất cập” tôi thật sự không hiểu người viết muốn gì. Trong nước thích dùng những chữ “bí hiểm” chỉ có mình hiểu, không ai hiểu cả hoặc để che dấu sự thật. Chẳng hạn Miền Nam trước đây giảng dạy môn Việt Văn (Vietnamese Language) cho học sinh từ Tiểu Học tới Trung Học. Ngày nay các ông trong nước đổi thành Ngữ Văn. Nhưng định nghĩa thế nào là Ngữ Văn thì giải thích lung tung. Một số giải thích: “Ngữ Văn”: Ngữ là ngôn ngữ (Language), Văn là văn học (Literature) là nghành học nghiên cứu về ngôn ngữ và văn học Việt Nam. Trong khi đó Ô. Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Đỗ Ngọc Thống lại nói rằng đó là môn giống như đang được giảng dạy ở Trung Quốc, “Chúng tôi lấy tên Ngữ Văn vì cho rằng nó có thể bao quát chung cho cả ngữ văn.” Giải thích như ông này thì thà không giải thích còn hơn. Ngữ vănngữvăn thì chẳng khác nào văn chươngvănchương. Thế mà cũng khoe bằng Tiến Sĩ. Đã bao quát nghĩa là bao gồm rồi, lại còn chung. Ông này nên học lại Việt Văn bậc Trung Học.
-Chứng tỏ đượctrở thành khẳng định. Thí dụ: Thay vì nói,”Diễn viên X chứng tỏđược tài năng của mình” lại nói, Diễn viên X đã khẳng định được tài năng”. Đúng là ngôn ngữ lộn sòng. Khẳng định là xác định một cách mạnh mẽ một sự kiện, một lời tuyên bố. Còn tài năng thì phải chứng tỏ cho người ta thấy.
-Chương trình giảng dạy trở thành giáo trình. Nghe nói thấy mà mệt!
-Có thể (possible, may happen)trở thành có khả năng.Thí dụ: Trời có thể mưa trở thành trời có khả năng mưa. Trên diễn đàn của người Việt hải ngoại 25/1/2016: “Trung Quốc có khả năng trả đũa Hoa Kỳ ở Biển Đông”. Tôi không rõ người viết tiêu đề này muốn nói, “Trung Quốc có đủ sức mạnh/khả năng đề trả đũa Hoa Kỳ” hay, “Trung Quốc có thể (possible, may) sẽ trả đũa Hoa Kỳ”.Xin thưa, khả năng (capable) là năng lực của một người. Thí dụ: Ông ta không có khả năng làm việc.
-Có tổ chức, có học, có nghiên cứu, quy củ, đâu vào đó trở thành bài bản. Chỗ nào cũng nghe nói “bài bản”.Cả dân nuôi cá, nuôi tôm, trồng cây ăn trái, mò cua bắt ốc cũng nói “bài bản”.
-Cô lập / để riêng ra trở thành cách ly.
-Cô ta có đôi mắt đẹp trở thànhCô ta sở hữu đôi mắt đẹp. Sao nói năng cầu kỳ quá vậy?
-Coi trọng trở thành trọng thị. Tiếp đón long trọng trở thành tiếp đón trọng thị. Xin nhớ cho “thị” là coi, nhìn. Trọng thị là coi trọng. Một buổi lễ không thể là “coi trọng” mà phải là “long trọng” hoặc “trọng thể”.
-Cờ bạc lớn, sát phạt lớn, có tổ chức trở thành đánh bạc quy mô (Báo Tuổi Trẻ).Thật lạ đời, đánh bạc mà cũng quy mô như các sòng bài ở Las Vegas vậy. Đúng là dốt hay nói chữ.
Cỡ lớn, cỡ nhỏ biến thành kích cỡ lớn nhỏ. Tôi không hiểu sao lại phải thêm chữ “kích” vào đây trong khi nói cỡ lớn, cỡ nhỏ là người ta đã hiểu và hiểu cả ngàn năm nay. Nghe các nông dân ở Miền Tây (bây giờ gọi là Nam Bộ) nói hai chữ “kích cỡ” tôi vừa cười vừa rơi nước mắt vì dân Miền Nam trước đây chết hết cả rồi!
-Con đường, đoạn đường biến thành tuyến đường. Xin nhớ cho “tuyến” nghĩa là đường. Thí dụ: Cát tuyến=Đường cắt. Trung tuyến=Đường ở giữa. Trực tuyến=Đường thẳng đứng.
-Công nhân đổi đời thành lao động. Rồi chủ nhân trở thành người sử dụng lao động. Thí dụ: “Xí nghiệp A có 2000 lao động.” Trong khi từ điển tiếng Việt trong nước định nghĩa lao động là “Sự khó nhọc đem ra để làm việc như giới lao động”.
-Công du trở thành thăm chính thức, thăm cấp nhà nước. Chỉ cần nói, thủ tướng…sẽ công du Hoa Kỳ là người ta hiểu rồi…còn bày ra thăm chính thức, thăm cấp nhà nước. Công du (state visit) là đi thăm một quốc gia khác vì việc công, việc của đất nước, việc của chính phủ. Chẳng lẽ ông Chủ Tịch Nước đi chơi, thăm cấp tỉnh, cấp bộ, cấp xã sao? Thật quái đản!

D.
-Dân du lịch/đi chơitrở thành phượt thủ (VnExpress). Tôi không hiểu họ lấy chữ “phượt” ở đâu ra. Có thể từ tiếng Miên.
-Dẫn bóng một mình/đi bóng một mình trở thành solo. Trong nước ai cũng giỏi tiếng Anh cả. Thật đáng mừng vì chỉ cần vài chục năm nữa Việt Nam sẽ giống Phi Luật Tân, tiếng Anh là ngôn ngữ chính, tiếng Việt là ngôn ngữ phụ hay thổ ngữ. Thật đau buồn! Tiếng Việt- một ngôn ngữ được tổ tiên sáng tạo, dày công vun đắp, tô bồi với một kho tàng học thuật, văn chương lừng lẫy, nay đang bị tiếng Anh lấn áp, loại bỏ giống như thời thuộc địa vậy. Nghe các cô các cậu choai choai trên sân khấu ở Việt Nam nói tiếng Mỹ “ba rọi”, trong khi khán giả ở dưới toàn là dân ăn nước mắm, nhe răng cười, tôi cảm thấy tủi hổ cho một đất nước bát nháo, suy đồi quá mức! Tại Mỹ này, trong các buổi lễ, sinh hoạt cộng đồng, ông/bà dẫn chương trình nào (MC) mà nói chen tiếng Anh vào, chắc chắn sẽ bị đuổi khỏi sân khấu vì khinh thường khán giả. Ở hải ngoại người ta biết quý trọng tiếng Việt tại sao trong nước lại chạy theo lai căng, bát nháo, loại bỏ ngôn ngữ của tổ tiên?
-Diện tích trở thành mặt bằng. Thí dụ: Tính diện tích của một hình vuông trở thành tính mặt bằng của một hình vuông. Rồi nào là “máy ủi mặt bằng”. Thật lạ đời! Đã là “mặt bằngrồi thì con ủi gì nữa? Do đó phải nói, máy ủi, máy ban đất”.
-Diễn binh, duyệt binh trở thành diễu binh. Hồi nhỏ tôi nghe người lớn nói diễu phố nay thì có diễu binh.
-Diễn văn trở thành bài nói . Cái kiểu bịa đặt chữ nghĩa này là muốn “thoát Trung” đây.
-Doanh nhân/doanh gia/công ty trở thành doanh nghiệp (doanh nghiệp là nghề kinh doanh chứ không phải người kinh doanh/doanh gia). Người ta nói, doanh nghiệp, ngư nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp…(nghiệp là nghề).
-Dồn nén, bực tức trở thành bức xúc. Tôi rất khó chịu với hai chữ này.Cứ mỗi lần nghe ai nói “bức xúc” thì chính tôi lại “bức xúc”.
-Du lịch trở thành đi tour (lai căng)
-Dự định trở thành dự kiến. Dự định (planned) là chuẩn bị làm gì. Còn dự kiến(foresee) là nhìn thấy trước, biết trước (nhưng chưa chắc đã làm gì). Cả nước có bệnh nói như con vẹt mà không hề biết phân biệt đúng-sai.
-Dự báo thời tiết trở thành Dự báo khí tượng thủy văn (dài lòng thòng). Ở Mỹ này người ta dùng hai chữ Dự Báo Thời Tiết cả mấy trăm năm nay mà có cần thay đổi gì đâu. Dự báo thời tiết bao gồm mưa, gió, nóng, lạnh, bão tố, hạn hán, lụt lội, sóng thần, động đất. Dự báo thời tiết bao gồm tất cả, giống như tiệm bán lẻ (retailer) bán cả ngàn thứ, chẳng lẽ phải kê khai hết ra sao?
-Dùng thuốc kích thích trở thành doping. (BBC tiếng Việt rất thích loại tiếng Anh “ba rọi” này)
-Dương Cầm trở thành Piano
-Dưỡng khí trở thành ô-xy . Xin nhắc ông Tây về nước lâu lắm rồi đó.

Đ.
-Đá dở, đá kém, để mất bóng (bóng tròn) trở thành xử lý bóng không tốt. Trong nước cái gì cũng xử lý. Tử hình, bắt giam, giải quyết công việc cũng gọi là xử lý. Lọc chất thải cũng gọi là xử lý chât thải. Phơi khô gỗ để làm gì đó cũng gọi là xử lý gỗ. Xén vỏ cứng trên đầu hạt sen để hạt sen có thể nảy mầm cũng gọi là xử lý.Giải tỏa hàng quán choán lề đường cũng gọi là xử lý. Đúng là loại ngôn ngữ điên khùng.
-Đá phạt đển trở thành đá penalty (Tây ba rọi)
-Đã quyết định, dứt khoát quyết định trở thành chốt (như đóng chốt khi giao chiến). ”Chưa chốt án cầu thủ SLNA đấm gãy mũi đồng nghiệp” (VOV). Rồi, “Thủ tướng chốt quyết định nghỉ Tết tám ngày”. Đúng là ngôn ngữ điên khùng. Câu văn đơn giản chỉ là, “Chưa quyết định trừng phạt cầu thủ Sông Lam Nghệ An đấm gẫy mũi đồng nghiệp”, “Thủ tướng đã quyết định nghỉ Tết tám ngày”.
-Đã từng có bệnh, mắc bệnh trở thành tiền sử có bệnh (Tiền sử là thời kỳ ăn lông ở lỗ)
-Đài Truyền Hình Việt Nam trở thành Kênh Truyền Hình Việt Nam. Nghe tới”kênh” cứ tưởng Kênh Nhiêu Lộc, Kênh Xáng Xà No, Kênh Vĩnh Tế. Nếu qua tới Mỹ, Đài Truyền Hình CNN của người ta mà nói Kênh Truyền Hình CNN, chắc người ta đuổi về nước quá.
-Đấm bóp, nghề đấm bóp, xoa bóp trở thành Mát-xa (Massage).
-Đáng ghi nhớ, đáng nhớ, lưu luyến, thích thú, lưu lại nhiều kỷ niệm trở thànhấn tượng. Ớ Việt Nam bây giờ cái gì cũng ấn tượng, hoành tráng… cả nước nói như những con vẹt và ngôn ngữ rất nghèo nàn, rập khuôn.
-Đánh cá trở thành đánh bắt. Thí dụ: “Một số tàu cá Philippines quay lại đánh bắt ở bãi cạn Scarborough”. (BBC Việt Ngữ). Đánh cá là dùng lưới. Còn bắt cá là dùng tay. Tôi đồng ý là ở vùng nông thôn, người ta vừa đánh cá vừa bắt cá ở đồng ruộng. Thế nhưng ở Bãi Cạn Scarborough biển cả mênh mông, sóng to gió lớn làm sao có thể lội xuống biển để “bắt” cá được? Tiếng Việt trong nước bây giờ có tệ nạn là thêm cái đuôi dư thừa vào. Trong khi một số khác lại cắt cụt nghe khó chịu vô cùng, như: lệ phí chỉ còn phí, chuyên môn/chuyên nghành chỉ còn chuyên, nhi đồng chỉ còn nhi, đội tuyển chỉ còn tuyển, tiêu chuẩn chỉ còn chuẩn như: “Xây dựng trường và đào tạo theo chuẩn Hoa Kỳ” (Báo Tuổi Trẻ), máy bay săn tàu ngầm chỉ còn máy bay săn ngầm (trong khi đó lại nói tàu ngầm Kilo mà không nói ngầm Kilo), kinh khủng chỉ còn khủng, rẻ như bèo chỉ còn bèo…Với cái kiểu cắt cụt tiếng Việt như thế này chỉ vài năm nữa thôi bánh bao chỉ còn bao, bánh hỏi chỉ còn hỏi, bánh chưng chỉ còn chưng, lợn quay/heo quay chỉ còn quay và xe bò chỉ còn bò. Thật bát nháo quá đỗi!
-Đánh thuế trở thành áp thuế. Thí dụ: “Trump muốn áp thuế nhập khẩu Mexico để trả tiền xây tường” (BBC Việt Ngữ). Về thuế thì chỉ có: đánh thuế, tăng thuế, giảm thuế…làm gì có áp thuế? Câu văn đơn giản chỉ là,
“ Ô. Trump muốn đánh thuế hàng nhập cảng từ Mễ Tây Cơ để lấy tiền xây tường”. Nhưng khi nói “áp đặt” tức đặt để, ban hành, áp dụng một cái gì không hợp lý, chẳng hạn: Euro đã áp đặt một thuế xuất không hợp lý trên hàng nhập cảng từ Việt Nam.
-Đạt đúng chỉ tiêu, thỏa mãn điều kiện trở thành đạt tiêu chí
-Đau dữ dội, đau quặn thắt(acute pain) trở thành cấp tính. Thí dụ: Đau bụng dữ dội biến thành đau bụng cấp tính.
-Đau lòng trở thành đắng lòng. Như vậy câu thơ “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc” của Bà Huyện Thanh Quan sẽ trở thành, “Nhớ nước đắng lòng con cuốc cuốc”.
-Đề nghị trở thành đề xuất.
-Đẹp lôi cuốn, đẹp hấp dẫn trở thành đẹp khó cưỡng (vì khó cưỡng cho nên có thể ôm chầm lấy hoặc hiếp dâm người ta)
-Điểm tối thiểu, điểm thấp nhất (để xét tuyển) biến thành điểm sàn. Trình độ Việt ngữ quá thấp kém.
-Điều dưỡng, y tá trở thành hộ lý (giống như để giải quyết sinh lý cho người ta)
-Điều khiển /điều hòa trở thành điều tiết như điều tiết giao thông. Trong khi từ điển Việt Nam định nghĩa điều tiết là tiết chế, điều chỉnh sao cho vừa như cách ăn uống, mắt, làm việc, tình dục quá độ v.v. Điều tiết không hề có nghĩa là điều khiển.
-Điều tra, thẩm vấn, lấy cung trở thành làm việc. “Công an mời 'người tình' cô gái chết lõa thể lên làm việc” (VOV).
-Đỡ đầu, bao che trở thành bảo kê giống như “bảo tiêu” trong các phim bộ Hồng Kông.
-Đoạn phim ngắn, thu hình ngắn trở thành video clip (Hai chữ này lan tràn trên các diễn đàn ở hải ngoại)
-Đối xử nhân đạo, đối xử có tình người biến thành đối xử nhân văn. Theo tử điển Tiếng Việt trong nước xuất bản sau 1975 thì nhân văn là văn minh loài người, hoàn toàn không có nghĩa là nhân đạo. Nói tóm lại, trong nước muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết mà không cần tra cứu sách vở, từ điển gì cả.
-Đội Tuyển Việt Nam trở thành Tuyển Việt Nam
-Đội Tuyển Ba Tây trở thành Tuyển Ba Tây
Đổi giống(đàn ông thành đàn bà) trở thành chuyển giới. Giống là giống đực, giống cái. Còn giới là giới hạn , sự ngăn cấm (giới luật, biên giới). Từ ngàn năm tới giờ người ta nói “giống đực, giống cái”, không ai nói “giới đực, giới cái”.
-Đóng thêm bốn chiếc tàu trở thành đóng mới bốn chiếc tàu. Trồng cây cao-su cũng là trồng mới. Đúng là tiếng Việt điên khùng. Nếu loại tiếng Việt điên khùng này tiếp tục lan tràn, trong tương lai trẻ con sẽ nói, “Mẹ cháu vừa nấu mới nồi cơm”. “Bố cháu vừa mua mới mấy chiếc tủ”, “Bà cháu vừa gói mới mấy chiếc bánh chưng”. VietnamPlus ngày 15/3/2107: “Bất chấp dư luận, Trung Quốc vẫn xây dựng mới trái phép ở Hoàng Sa”. Câu văn không điên khùng và bát nháo sẽ là, “Trung Quốc xây dựng những công trình mới tại Hoàng Sa.” Báo Tuổi Trẻ đúng đắn hơn khi đưa tin, “Trung Quốc xây thêm căn cứ mới ở Hoàng Sa”
-Đồng bạc Việt Nam, giấy bạc Việt Nam trở thành tiền Đồng (BBC tiếng Việt)
-Đột ngột, bất ngờ trở thành đột biến. Thí dụ: “Giá vàng tăng bất ngờ” trở thành “Giá vàng tăng đột biến”. Xin nhớ cho”đột biến” là một tình thế bỗng nhiên thay đổi, rẽ sang một hướng khác. Đột biến nói đến sự khủng hoảng. Khi người ta nói “có biến” hay “biến động” tức tình hình có thể là một cuộc đảo chính, lật đổ, kéo quân về làm phản. Còn “bất ngờ” chỉ là sự không dự liệu và tiên đoán trước. Thí dụ: “Cháu nó bất ngờ đổi ý kiến không làm cho hãng ấy nữa”. Ngu dốt mà cầm bút làm xáo trộn và phá hoại ý nghĩa của ngôn ngữ đã có cả ngàn năm nay.
-Đứng đầu, hàng đầu trở thành top (lai căng mất gốc)
-Đường trở thành phố. Trong nước không phân biệt được thế nào là phố, thế nào là đường vì thế đã dịch “Wall Street” thành”Phố U-ôn”. Đây là khu thương mại, tài chính của Mỹ nằm trên “Đường Wall”chứ nó không phải “Phố U-ôn”. Theo từ điển Việt Nam ở trong nước “phố” là “nhà ở thành thị” do đó người ta thường nói “một khu phố”, “một dãy phố”. Vậy “phố” không phải là “đường”. Thí dụ: Đường Trần Hưng Đạo trên đó có nhiều dãy phố buôn bán nhưng không vì thế mà gọi cả con Đường Trần Hưng Đạo là “Phố Trần Hưng Đạo”.
-Đường giây thông báo khẩn cấp/đường giây ứng trực 24/24 trở thành đường giây nóng. Trong nước cái gì cũng nóng, ghế nóng, thưởng nóng, tin nóng, bắt nóng…đúng là loại ngôn ngữ điên khùng!
-Đường hầm trở thành hầm. Đường hầm Thủ Thiêm trở thành hầm Thủ Thiêm.Xin nhớ cho đường hầm khácvới hầm. Đường hầm là con đường đào xuyên dưới đất. Còn hầm là một cái hố đào xâu xuống đất để trú ẩn hay cất chứa cái gì như hầm chứa vũ khí. Báo chí trong nước toàn những người “can đảm” muốn viết gì thì viết và không sợ người ta chê cười. Nghĩ thật đáng sợ! Nguyên do chỉ vì đất nước không có một tổ chức tư nhân hay cơ quan nào giám sát, dòm ngó để phê bình tư cách đạo đức và trình độ văn hóa của báo chí. Tại Hoa Kỳ này, báo chí hay đài truyền hình nào mà “ăn nói”, viết theo kiểu như vậy thì chỉ có nước về nhà xin đi làm bồi bàn hay lau chùi quét dọn. Các bài phóng sự của các ký giả gạo cội gửi về đều có chủ bút (editor) duyệt lại từ nội dung tới văn chương chứ không phải gửi về là đăng liền. Cứ nhìn vào phần cuối bản tin của AP, AFP, Reuters, UPI…sẽ thấy. Ôi buồn cho đất nước “Ngàn năm văn hiến”! Văn hiến không có nghĩa là có nhiều gái đẹp thi Hoa Hậu Hoàn Vũ, hay người mẫu nhố nhăng quảng cáo quần nọ áo kia, mà là văn chương và các tác phẩm văn học và nhất là con người sống sao cho thanh cao, khí phách. Văn hiến cũng không có nghĩa là trùng tu lại một số đình chùa, cung điện, miếu mạo để làm nơi hấp dẫn du lịch để kiếm tiền…mà là làm sao nối gót và bồi đắp gia tài văn học của tổ tiên.
-Đường lối, ngõ ngách ngoại giao trở thành kênh ngoại giao. Trong nước không rành tiếng Anh cho nên thấy chữ channel bèn dịch là kênh trong khi channel có rất nhiều nghĩa. Thí dụ: TV channel là đài truyền hình (a station) chứ không phải kênh truyền hình. Tiếng Anh tồi mới dịch “diplomatic channel” là “kênh ngoại giao”. Nó là đường lối, ngõ ngách ngoại giao bao gồm thương thảo trực tiếp, mật đàm hay thông qua trung gian của nước thứ ba.

G.
-Gái vị thành niên rửng mỡ trở thành hot teen
-Gái xinh, gái nhí nhảnh trở thành “hot girl” trong khi “hot girl” là gái trông gợi dục, gái trông hấp dẫn về thể xác (thường ăn mặc hở hang, phô bày thân thể quá mức, cử chỉ lả lơi mời mọc). Cả trong trường học bây giờ cũng có “hot girl”. Đúng là ngu dốt mà thích dùng tiếng Anh để tỏ ra đây là Mỹ. Báo Thanh Niên ngày 8/3/2017 đi một tiêu đề, “Quan lộ thần tốc của 'hot girl' Thanh Hóa”. Một nhân viên giữ chức vụ Trưởng Phòng Quản Lý Nhà và Thị Trường Bất Động Sản, cho dù có tội mà dùng danh từ “hot girl” để thóa mạ người ta thì đúng là một nền báo chí bát nháo, không có học.
-Gần gũi, giao tiếp, tiếp xúc, đến gần
trở thành tiếp cận. Khi Ô. Tillerson- Bộ Trưởng Ngoại Giao Hòa Kỳ thăm các nước Nam Hàn, Nhật Bản đã không cho báo chí tháp tùng và không tiếp xúc với báo chí, bèn được các trang tin BBC và VOA nói rằng “không được tiếp cận”. Đúng là ngôn ngữ bát nháo, dốt thường hay nói chữ và có khi không hiểu mình viết gì.
-Gây giống trở thành nhân giống. Gây giống là giữ gìn và gia tăng giống của một loại cây hay sinh vật nào đó qua một tiến trình khó khăn, có nghiên cứu chứ không phải cứ muốn tăng lên là tăng, muốn nhân lên là nhân.
-Ghi danh, ghi tên trở thành đăng ký. Thí dụ: Ghi danh dự thi, ghi tên ứng cử. Còn đăng ký, đăng bạ là ghi tên vào sổbộ.Thí dụ: Đăng ký, đăng bạ xe gắn máy.
-Giá rẻ như bèo/giá rẻ mạt trở thành bèo.Lương tiếp viên khủng hay bèo. Rồi Báo Tuổi Trẻ, “Quảng Ninh chấn chỉnh tour du lịch giá bèo.” Đây là ngôn ngữ của loại lưu manh đứng bến nói chuyện với nhau. Vừa lai căng, vừa bát nháo. Ngôn ngữ đứng đắn phải là, “Quảng Ninh chấn chỉnh lại các chuyến du lịch giá quá rẻ”.
-Giá vé máy bay mức cao nhất và thấp nhất biến thành giá trần, giá sàn hàng không (VietnamPlus). Câu văn điên khùng ở chỗ là, chỉ có vé máy bay chứ làm gì có vé hàng không. Hàng không là ngành chuyển vận bằng máy bay. Hàng hải là ngành chuyển vận bằng đường biển. Ngoài ra “giá trần” làm cho người ta liên tưởng tới “giá trần”, “hành trần” để ăn phở. Rồi cao độ tối đa (maximum altitude) của máy bay trở thành “trần bay”.
Trong nước bây giờ cái gì cũng trần sàn. Những danh từ như cao nhất, thấp nhất đã bị xóa trong từ điển Việt Ngữ.
-Gia đình trở thành hộ dân
-Giải trở thành Cup
-Giải thích, cho biết lý do tại sao trở thành lý giải. “Người Sài Gòn lý giải việc tự nguyện trả lại vỉa hè”. Tôi không hiểu tại sao trong nước, đa số vừa nghèo, vừa ít học nhưng rất thích dùng những chữ “đao to búa lớn”.
-Giải túc cầu/bóng đá thế giới trở thành World Cup
-Giải pháp trở thành kịch bản . Thí dụ: Giải pháp nào cho cuộc xung đột Syria trở thành Kịch Bản nào cho Syria. Trong nước, chỗ nào, lãnh vực nào, bài báo nào cũng thấy hai chữ kịch bản, kịch tính giống như phường tuồng, sân khấu vậy. Thậm chí sắp đặt chương trình cho buổi lễ nhậm chức cũng gọi là lên kịch bản, “lên kịch bản cho lễ nhậm chức của Tổng Thống đắc cử Mỹ Donald Trump.” Rồi “Việc phát lộc gây lộn xộn tại chùa Hương không có trong kịch bản" (VietnamPlus) Thật là loại ngôn ngữ quái đản! Thế mà các diễn đàn ở hải ngoại cũng đua nhau chuyển tiếp (forward) loại ngôn ngữ điên khùng này. Nếu là một người có học sẽ viết, “Việc phát lộc gây lộn xộn tại chùa hoàn toàn ngoài ý muốn”.
-Giải trở thành cúp.
-Giải phẫu trở thành phẫu thuật.
-Giải thích, tìm hiểu trở thành giải mã. Giải mã là bẻ khóa mật mã để đọc một tải liệu mã hóa của đối phương. Hiện nay trong nước hai chữ “giải mã” được dùng một cách vô tội vạ.
-Giải tỏa trở thành giải phóng như giải phóng mặt bằng - giống như đem binh sĩ, xe tăng tấn công vào chiếm cứ một khu vực nào đó.
-Giảm bớt căng thẳng trở thành hạ nhiệt. “Sau khi Malaysia có những tín hiệu nhằm hạ nhiệt căng thẳng leo thang.” (Báo Tuổi Trẻ) giống như một người bị sốt, nhiệt độ cơ thể giảm dần. Dường như tất cả các báo ở Việt Nam không có chủ nhiệm, chủ bút, trưởng ban đọc lại các bản tin do phóng viên gửi về để cắt xén bớt những câu văn thừa thãi, chỉnh lại văn phạm , cách dùng chữ v.v… mà cứ thấy bài là đăng lên, chẳng cần biết đúng sai.
-Giảm bớt nhân viên/sàng lọc lại nhân viên trở thành tinh giản biên chế. Cứ phải đọc những loại chữ như thế này có ngày nhức đầu mà chết.
-Giao kèo, khế ước/thỏa thuận (account) để có một khoản/phần/chỗ trên Facebook trở thành tài khoản trong khi tài khoản là khoản tiền có trong ngân hàng.
-Giao dịch, liên lạc, hỗ tương, tác động qua lại trở thành tương tác. Chữ nghĩa thật điên khùng! Trong nước bây giờ nhiều khi nói mà không biết mình nói gì, giống như những kẻ mê sảng vậy.
-Giấy chứng nhận độc thân (Single Status Certificate) trở thành “Công hàm độc thân” trong khi công hàm là văn thư của bộ ngoại giao gửi các quốc gia hay tổ chức quốc tế. Đúng là chữ nghĩa lộn sòng, bát nháo và “đao to búa lớn”.
-Giờ trở thành “h” (heure). 8 giờ trở thành 8h. (Lai Tây từ thời thuộc địa). 7 giờ sáng trở thành 7h sáng. Tại sao không viết 7 g. sáng, 5 g. chiều, 9 g. tối, 12 g. khuya?
-Giữ gìn trở thành bảo lưu. Thí dụ: Giữ gìn một phong tục trở thành “bảo lưu phong tục” giống như tiếng nói của một hành tinh xa lạ. Người đàn ông ở Văn Miếu nói câu này bao năm vật lộn với miếng khoai, miếng sắn và miếng thịt mỡ nhỏ bằng ngón tay của “thời bao cấp” cho nên gần như “quên mất tiếng người”. Nay thì có thịt có cá, có quần áo đẹp, muốn phục hồi và giữ gìn phong tục tập quán của tổ tiên nhưng trong đầu không có các chữ “giữ gìn, bảo tồn” cho nên phải sáng chế ra chữ mới là “bảo lưu”. Nghĩ thật tội nghiệp!
-Giúp đỡ, chia xẻ, thông cảm, kề vai sát cánh đã chết bây giờ chỉ còn “đồng hành”. Chỗ nào cũng thấy “đồng hành”. Cả hải ngoại cũng lây bệnh “đồng hành”. Thậm chí một phóng viên tới thăm một chủ trại nhỏ muôi ngựa cũng nói “đồng hành”. Thật điên khùng quá mức! Giống như một con vẹt vậy. Nghĩ cho cùng thật tội nghiệp! “Ở bầu thì tròn ở ống thì dài”. Cả nước nói vậy thì mình cũng phải nói vậy!
-Gọi điện thoại trở thành gọi phôn. Số điện thoại trở thành số phôn (mất gốc rồi)

H.
-Hải cảng trở thành cảng biển cũng giống như phi cảng trở thành cảng bay.
-Hạm đội trở thành đội tàu. Thí dụ: Hạm Đội 7 trở thành Đội Tàu Số 7
-Hầm trú ẩn trở thành Bunker/Boong-ke
-Hàng đầu, đứng đầu trở thành top. Chữ này thấy nhan nhản trên các diễn đàn ở hải ngoại.
-Hành động, chuyển động (move)trở thành động thái trong khi tử điển Việt Nam trước và sau 1975 không hề có hai chữ “động thái”. Đây là sự bịa đặt chữ nghĩa một cách bát nháo.
-Hành trình khám phá các vụ án trở thành hành trình phá án tức bác bỏ bản án của tòa dưới. Lên kế hoạch, lập kế hoạch truy bắt/truy nã hung thủ/bắt trọn ổtrở thành lên kế hoạch phá án.
-Hào hứng, hấp dẫn, sôi nổi (cuộc đua, trận đá bóng, trình diễn văn nghệ…)trở thành kịch tính. Rồi giá vàng lên xuống cũng “kịch tính”. Thậm chí vụ thảm sát tại tòa soạn báo hí họa Charlie Hebdo (Paris) cũng “đầy kịch tính”. Có lẽ phải cho ông nào sáng chế ra hai chữ “kịch tính” này vào bệnh tâm thần để chữa trị mới được.
-Hay đẹp trở thành kinh điển. Một trận đấu hay, đẹp trở thành một trận đấu kinh điển. Đau đầu quá!
-Hết hàng trở thành cháy hàng. Hết vé trở thành cháy vé. Hết phòng trở thànhcháy phòng, trình diễn hết mình trở thành cháy hết mình. Hết săng trở thành cháy săng! Đúng là loại ngôn ngữ đường phố và bát nháo quá đỗi. Cả nước có mấy chục ngàn ông “Tiến Sĩ”, bao nhiêu viện ngôn ngữ, bao giải thưởng văn chương….mà không thấy ai lên tiếng về vấn đề này.
-Hiện ra (trên màn ảnh) trở thành hiển thị. Tôi không hiểu sao trong nước thích dùng tiếng Tàu, trong khi bao tiếng thuần Việt lại không dùng.
-Hiểu ngầm trở thành mặc định. Sao dùng chữ khó quá? Giới bình dân chịu sao thấu? Hơn thế nữa, từ điển Việt Nam trước và sau 1975, kể cả Hán-Việt Từ Điển của Đào Duy Anh cũng không có hai chữ “mặc định”.
-Hình ảnh lấy ra từ máy thu hình biến thành hình ảnh chiết xuất từ camera. Sao dùng chữ khó khăn quá vậy? Hai chữ “chiết xuất” được dùng cho phòng thí nghiệm.
-Hình dáng trở thành ngoại hình. Có hình dáng đẹp trở thành Có ngoại hình đẹp. Hình như những người sáng chế ra những từ ngữ lạ lùng này không được đi học từ thuở nhỏ hoặc không hề đọc văn chương, sách truyện Việt Nam.
-Hỗ tương, qua lại, lẫn nhau trở thành tương tác. Thích dùng chữ cầu kỳ, khó khăn trong khi kiến thức chẳng bao nhiêu.
-Hồi đáp, trả lời trở thành phản hồi. Phản là quay ngược, hồi là lui lại, trả lại. Hai chữ này ghép với nhau không hề có nghĩa là trả lời hay hồi đáp mà chỉ là dùng chữ kiểu cọ nhưng lại không rành tiếng Hán-Việt.
-Hợp chất, vật liệu tổng hợp/hỗn hợp trở thành composite
-Hợp tác,người hùn hạp, cùng đứng chug, cùng làm ăn buôn bán với mình(partner) trở thành đối tác (làm việc đối nghịch với mình) như đối phương, đối thủ, đối đầu, đối thoại, đối lập, đối kháng... Từ điển Việt Nam trước và sau 1975 đều không có hai chữ “đối tác”. Tự Điển Hán-Việt của Đào Duy Anh cũng không có hai chữ “đối tác”. Chỉ vì ngu dốt tiếng Việt cho nên đã dịch “partner” thành “đối tác”.
-Hư hỏng, xập xệ, đã cũ, không được như trước nữa trở thành xuống cấp. Thí dụ: Bộ ngực bà ta đã xệ, không còn căng nữa trở thành bộ ngực bà ta đã xuống cấp. (Nếu dùng hai chữ này trong các màn diễu cợt, chọc cười khán gỉa hoặc chuyện tiếu lâm thì được)
-Huy hiệutrở thành logo

K.
-Kẹt xe trở thành ùn tắc, ách tắc.
-Kết hợp, tổng hợp biến thành tích hợp. Hai chữ tích hợp không có trong từ điển tiếng Việt của Miền Nam trước đây.
-Khách trở thành khách mời. Tức là có những vị khách không mời mà đến.
-Khoảng cách/ chiều dài /mức độ trở thành cự ly
-Khởi đầu, mở đầu, mở màn trở thành kích hoạt. “Triều Tiên kích hoạt chiến thuật đó bằng việc ra thông báo cấm tất cả người Malaysia…” (Báo VnExpress). Đúng là dốt hay nói chữ, bịa chữ trong khi tự điển Việt Nam không hề có hai chữ “kích hoạt”.
-Không khí lạnh sẽ tràn vào phía bắc biến thành không khí lạnh tăng cường giống như đổ thêm quân vào trận chiến. Các chữ “trời sẽ lạnh thêm” vừa dịu dàng, vừa dễ hiểu không chịu dùng mà lại thích “tăng cường”.
-Không thể tưởng tượng được (unimaginable) biến thành không tưởng (utopia). Trong nước tiếng Việt quá kém, không phân biệt được thế nào là không thể tưởng tượng được thế nào là không tưởng. Không thể tưởng tượng được là sự kiện đã xảy ra nhưng ngoài dự đoán, ước đoán của mình. Thí dụ: “Thật không thể tưởng tượng được Đức đã thắng Ba Tây 7-1 trong trận bán kết 2004”. Còn không tưởng là không bao giờ xảy ra và sẽ không bao giờ xảy ra.Thí dụ: “Trung Quốc mơ chiếm hết Biển Đông, khống chế Á Châu rồi đánh gục Mỹ. Đúng là chuyện hão huyền, không tưởng.”
-Khu nghỉ mát/nghỉ dưỡng trở thành resort. Du lịch trở thành “đi tour”. Trong nước cũng như hải ngoại, một số lớn danh từ tiếng Việt sẽ chết để nhường chỗ cho tiếng Anh. Bố mẹ thích dùng tiếng Anh ba rọi như thế thì mở Trường Việt Ngữ để làm gì?
-Khu vực chăm sóc bệnh nhân nguy kịch/khu vực chăm sóc đặc biệt (critical care, intensive care) trở thành Khu vực chăm sóc tích cực. Chăm sóc bệnh nhân mà cũng có tiêu cực tích cực nữa sao? Bệnh viện có biết bao nhiêu là bác sĩ mà không có tới một ông có thể dịch “critical care” ra tiếng Việt? Rồi Bộ Y Tề để làm gì ? Sao không dịch tất cả các thuật ngữ Y Khoa từ tiếng Anh ra tiếng Việt để phổ biến cho tất cá các bệnh viện trong nước? Thật đáng buồn. Trong nước có một “bệnh dịch” là đua nhau tặng hoa và chụp hình để trình diễn, trong khi tình trạng tồi tệ thì phớt lờ rồi báo cáo láo để lừa dối cấp trên và dân chúng.
-Khu vực đi bộ trở thành không gian đi bộ. Không gian ở ngoài trái đất làm sao có thể đi bộ ở đó được. Nhưng khu vực đi bộ đó chúng ta có thể tạo một không khí yên tĩnh hay một môi trường thoải mái, tươi mát cho người đi bộ. Nhà bếp chật hẹp trở thành “không gian nấu ăn chật hẹp” (Đài Tiếng Nói Việt Nam). Đúng là tiếng Việt điên khùng! Từ xưa đến giờ người ta nói, “Tạo một khung cảnh/ một bầu không khí ấm cúng cho gia đình” chứ người ta không nói. “Tạo một không gian ấm cúng cho gia đình”. Người nào dùng hai chữ “không gian” ở đây tức là không được cắp sách đến trường, không đọc sách vở của tổ tiên.
-Kích thích (kinh tế, tiêu thụ) trở thành kích cầu trong khi trong tự điểnViệt Nam hoàn toàn không có hai chữ kích cầu mà chỉ có: kích thích, kích hỏa, kích động như kích động nhạc.
-Kiểm soát không lưu trở thành quản lý bay
-Kỹ nghệ trở thành công nghiệp/công nghệ. Xin nhớ công nghệ là kỹ nghệ chế tạo máy móc. Còn kỹ nghệ là chế tác, sản xuất lớn theo khoa học.Chẳng hạn kỹ nghệ sản xuất rượu bia, kỹ nghệ gái điếm, kỹ nghệ sản xuất xe hơi….Miền Nam trước đây có Trường Kỹ Sư Công Nghệ để đào tạo kỹ sư chế tạo máy móc.

L.
-Lạ lùng trở thành ngỡ ngàng. Thí dụ: Đẹp lạ lùng trở thành đẹp ngỡ ngàng. Người viết văn như thế này chắc chắn chưa được cắp sách đến trường. Ngỡ ngàng là tình cảm không ưng ý hay trái với dự đoán của minh. Thí du: 1) Sau 25 năm từ Mỹ trở về tôi thật ngỡ ngàng khi thấy cô nữ sinh khả ái năm xưa nay trở thành một bà già tiều tụy. 2) Tôi thật ngỡ ngàng khi cô ta nói cô ta là hoa hậu nhưng mở miệng nói ra toàn chuyện thô tục. (Vì tôi cứ ngỡ cô ta là hoa hậu thì phải ăn nói lịch sự)
-Lạc tay lái, lạc bánh lái trở thành mất lái, mất phanh
-Làm cho vững chắc thêm (bằng cách đóng thêm cột, thêm ván, đắp thêm đất..,)trở thành gia cố chẳng hạn”gia cố các bờ kè”, “gia cố các thuyền” sao dùng chữ khó khăn và lạ hoắc như vậy? Chắc phiên dịch từ tiếng Tàu có từ thời Cách Mạng Văn Hóa của Mao Trạch Đông. Trong tự điển Hán-Việt của Đào Duy Anh không có hai chữ “gia cố”.
-Làm điếm trở thành làm gái. Như vậy làm trai là làm đĩ đực chăng? Nếu nói “làm gái” để chỉ gái điếm thì chúng ta phải hiểu câu nói này như thế nào, “Làm gái thì phải biết công-dung-ngôn-hạnh.”
-Làm điệu, làm dáng, điệu bộ trước ống kính trở thành tạo dáng, thả dáng. Những hình ảnh làm điệu, làm bộ, làm dáng này lan tràn các báo điện tử lớn như VOV, VnExpress, VietnamPlus, Thanh Niên, Tiền Phong… đều là những quảng cáo trá hình cho các cô người mẫu, ca sĩ để kiếm tiền. Đúng là một nền báo chí rẻ tiền.
-Làm hồ sơ giả (để lấy tiền)trở thành chi khống, làm hồ sơ khống.
-Làm việc trở thành thi công. Công nhân đang làm việc trở thành công nhân đang thi công. Tại sao công nhân phải thi đua với nhau? Trên thế giới này làm gì có chuyện đó. Công nhân làm hết giờ thì nghỉ hay về nhà. Nếu làm thêm (overtime) thì phải trả theo giờ phụ trội, gấp đôi. Điên khùng hay sao mà thi đua?
-Lạnh buốt, lạnh cắt da trở thành rét đậm rét hại, giống như một bà nhà quê nói tiếng Việt vậy.
-Lề thói, thói quen, cách thức, cố tật… trở thành văn hóa. Thí dụ: Văn hóa đái bậy ỉa bậy, văn hóa nhận phong bì của bác sĩ, văn hóa du côn, văn hóa tham nhũng, văn hóa chửi thề, văn hóa nói dối, văn hóa ẩm thực, văn hóa xấu hổ, văn hóa khinh bỉ…trong khi văn hóa là cái gì tốt đẹp nhất biểu tượng của một dân tộc.
-Lệ phi, phí tổn cắt cụt chỉ còn phí như thu phí qua cầu. Thậm bán vé xe buýt(xe chuyên chở công cộng) cũng gọi là thu phí. Đúng là ngôn ngữ điên khùng. Từ ngàn xưa đến giờ người ta nói: sở phí, học phí, lệ phí, kinh phí, chi phí, chiến phí…nề nếp đâu vào đó. Nay phá nát tiếng Việt.
-Lịch trình cắt cụt chỉ còn lịch. “Lịch thi Trung học Phổ thông quốc gia năm 2017” (VietnamPlus). Lịch là cuốn sách ghi ngày tháng của một năm. Lịch trình là thời biểu ghi rõ ngày nào làm cái gì giống như thời khóa biểu. Hai chữ này không thể thay thế cho nhau.
-Liên lạc trở thành liên hệ. Liên lạc là dùng thư từ, điện thoại, điện thư để liên lạc, có thể là thăm hỏi, lấy tin, làm ăn, buôn bán. Còn liên hệ là có một mối giao tình, hợp tác, dính líu với nhau. Do đó người ta nói “mối liên hệ vợ chồng” chứ không ai nói, “Mối liên lạc vợ chồng”.
-Lò lửa trở thành chảo lửa. Thí dụ: Chảo lửa Trung Đông. Xin nhớ cho lò lửakhác chảo lửa. Hơn thế nữa không ai nói chảo lửa mà chỉ nói chảo dầu. BBC Việt ngữ thích dùng lại tiếng Việt bát nháo này.
-Lõa thể, cởi truồng trở thành nude
-Lợi dụng/nhân cơ hội trở thành tranh thủ. Thí dụ:”Nhân cơ hội mỗi năm có một tháng nghỉ phép...” trở thành “Tranh thủ mỗi năm có một tháng nghỉ phép…Tranh thủ ở trong nước còn có nghĩa là “cố gắng” chẳng hạn như “ Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”.
-Lợi tức trở thành thu nhập. Thuế lợi tức trở thành thuế thu nhập trong khi theo Từ Điển Việt Nam “thu nhập” là động từ chỉ việc thu nhận tiền bạc chứ tự thân “thu nhập” không phải số tiền kiếm được do buôn bán hay do lương bổng.

M.
-Mánh lới, thủ đoạn trở thành chiêu trò. Thí dụ: “Chiêu trò rút tiền của bà Sáu Phấn” (Báo Thanh Niên). Đây là ngôn ngữ của bọn buôn lậu, mánh mung.
-Mặt chưa trang điểm
trở thành mặt mộc
-Máy bay riêng, máy bay đặc biệt (của tổng thống chẳng hạn) trở thành chuyên cơ tức máy móc đặc biệt.
-Máy điện tử trở thảnh điện toán (Tôi có máy điện tử từ năm 1995 nhưng có bao giờ tính toán hoặc làm toán trên máy điện tử đâu.)
-Máy hình, máy thu hình trở thành camera. Thí dụ: Gắn camera xử phạt vi phạm dọc trục buýt BRT (Báo An Ninh Thủ Đô). Câu văn vừa lai căng vừa lủng củng. Câu văn không lai căng và gẫy gọn sẽ là: “Gắn máy thu hình phạt vi phạm dọc theo tuyến xe chuyên chở công cộng BRT”
-Máy tự chụp hình
trở thành chụp hình tự sướng, thật thô tục quá đỗi!
-Metro! (Metro Bà Quẹo, Metro Bình Phú) Cả nước không biết dịch metro là “xe điện ngầm” cho nên các trạm xe điện ngầm đều trương bảng “metro”. Tinh thần nô lệ như thế mà đòi độc lập tự chủ.
-Minh họa (illustrated) được dùng loạn xạ. Trong nước không hiểu hai chữ “minh họa” là gì. Minh họa có nghĩa là vẽ ra, chẳng hạn như truyện bằng tranh, hình bìa và một số trang trong một cuốn truyện do một họa sĩ vẽ , người Mỹ gọi là “illustrated”. Còn nếu là bức ảnh thì nhà xuất bản sẽ ghi chú “photograph by…” tức “hình của”. Ngày nay, tất cả những tấm hình đi kèm với một bải viết nào đó mà không ăn nhập chi với đề tài, mà chỉ lấy một hình tượng trưng - đều được ghi chú là “minh họa”. Đúng là điếc không sợ súng! Chẳng hạn bài viết có đề tài “Đánh Ghen” mà không có một bức họa/tranh nào về đánh ghen cả, tác giả có thể lấy một bức hình hai người đàn bà đang túm tóc nhau, nhưng không được ghi chú “hình ảnh minh họa” mà có thể ghi, ”Đây là hình đánh ghen được đăng trên báo ABC” hoặc “Đây là hình ảnh tượng trưng các bà đánh ghen”.
-Môi giới, dắt mối trở thành. Tại bệnh viện cũng có “” để môi giới với y tá, bác sĩ chữa bệnh cho đàng hoàng, nếu không cho mày ra nghĩa địa. Nhiều báo còn dùng hai chữ “cò mồi”. Cò mồi là cùng băng đảng nhưng đóng giả để lường gạt người ta, hoàn toàn khác với môi giới, dắt mối để kiếm tiền.
-Mới sinh được tám tháng trở thành tám tháng tuổi. Cây đa cổ thụ 100 năm trở thành Cây đa cổ thụ 100 năm tuổi. (Bắt chước tiếng Anh thêm chữ old vào)
-Món hàng bán được giá trở thành “giá trị kinh tế cao”. Thích dùng chữ khó khăn.
-Một con hổ trở thành một cá thể hổ
-Một con khỉ Voọc trở thành một cá thể Voọc
-Một con bò, 1300 con bò trở thành “1300 cá thể bò nhập khẩu từ Mỹ” (Báo Tiền Phong). Cứ cái điệu viết văn nhảm nhí như thế này, trong tương lai gần sẽ là: Mẹ tôi đi chợ mua một cá thể gà. Đám cưới rất lớn có tới chục cá thể heo quay. Chục cá thể lợn xổng chuồng làm tôi đuổi hết hơi. Bán cho tôi một cá thể ngựa. Mạo tự “con” để chỉ các con vật, đồ vật như : Con chó, con mèo, con chim, con cá, con trâu, con bò, con dao, con quay, con thoi, con cúi, con diều…rồi sẽ chết trong ngôn ngữ Việt Nam. Người nào dùng hai chữ “cá thể” ở đây chắc chắn không được cắp sách đến trường. Cá thể là đơn lẻ khác với tập thể. Thí dụ: Làm ăn cá thể. Nó không phải là mạo tự để chỉ các con vật, đồ vật.
-Một số hình ảnh, một loạt hình ảnh trở thành chùm ảnh (giống như chùm khế ngọt). Một số bài thơ trở thành chùm thơ. Nếu vậy một mớ sách vở sẽ trở thành một chùm sách vở!
-Mũ/nón an toàn trở thành mũ/nón bảo hiểm. (Bảo hiểm là bỏ tiền ra để nhờ một công ty trả tiền mình trong trường hợp có tai nạn, nhà cháy, hàng hóa hư hỏng v.v..)
-Mức nợ tối đa trở thành nợ trần giống như nợ trần gian, nợ đời. Chữ “ceiling” của Mỹ nghĩa bóng ở đây có nghĩa là chạm mức tối đa chứ không phải trần nhà.Bất cứ ở quốc gia nào, một danh từ đều có nghĩa đen và nghĩa bóng. Thí dụ: Hot issues không phải là “những đề tài nóng” mà là những vấn đề được bàn cãi sôi nổi thường xuất hiện trong những cuộc bầu cử, sau bầu cử thì lại ”chìm xuồng”.
-Muốn trừng trị, trừng phạt phải biết sai phạm ở chỗ nào biến thành “Xử lý phải có địa chỉ rõ ràng”. Đó là tiếng Việt điên khùng của ông Tiến Sĩ Nguyễn Viết Chức đăng trên VOV ngày 30/3/2017.

N.
-Nam Hàn trở thành Hàn Quốc. Bắc Hàn trở thành Triều Tiên. Lộn xộn quá, nhớ không nổi!
-Nạn nhân trở thành bị hại. Hung thủ, kẻ sát nhân trở thành kẻ thủ ác.
-Ngày hội trở thành lễ hội. Trong nước không phân biệt được thế nào là ngày lễ, thế nào là ngày hội. Ngày lễ để kỷ niệm một biến cố lịch sử, hay khánh thành một công trình lớn: Như Lễ Hai Bà Trưng, Lễ Giỗ Trận Đống Đa, Lễ Quốc Khánh, Lễ Khánh Thành…Còn ngày hội chỉ là tụ họp vui chơi, không phải là ngày nghỉ lễ chính thức của học sinh hay công chúng. Chẳng hạn như: Hội Lim, Ngày Hội Thả Diều Đà Nẵng, Ngày Hội Cà-Phê Ban Mê Thuột, Ngày Hội Hoa Đà Lạt, Hội Đua Thuyền…Nhưng một ngày lễ nếu quy tụ đông đảo tín đồ, người hành hương thì có thể gọi là lễ hội như Lễ Hội Chùa Hương, Lễ Hội Đền Hùng.
-Nghi ngờ trở thành nghi án. Thí dụ: Nghi án đập đá (Nghi ngờ có sử dụng bạch phiến)
-Ngoại tệ trở thành ngoại hối. Dự trữ ngoại tệ trở thành dự trữ ngoại hối. Ngoại tệ gửi về nước trở thành kiều hối. Trong khi theo tự điển Việt Nam, nội hối là “đổi tiền trong nước”. Còn ngoại hối là “đổi tiền với nước khác”. Nói tóm lại, trong nước bịa đặt ra chữ mới mà không cần tra cứu tự điển gì cả. Đúng là điếc không sợ súng!
-Ngũ Giác Đài trở thành Lầu Năm Góc do các ông bà ở hải ngoại lấy nguyên những bản tin trong nước rồi đua nhau chuyển tiếp lên các diễn đàn…khiến tiếng Việt đổi đời trở thành tiếng Việt chính thống.
-Người dân bị thiệt hại (vụ Formosa) trở thành những người dân bị hại (VOV) Đúng là tiếng Việt điên khùng. Xin nhớ cho, bị thiệt hại thuộc về dân sự như bị thiệt hại về tài sản, nghề nghiệp sinh sống. Còn “bị hại” là bị sát hại, giết.
-Người hâm mộ, kẻ hâm mộ/khán giả hâm mộ trở thành fan. “Á hậu H.O chia sẻ chuyện gia đình trong lần đầu họp fan” (Đài Tiếng Nói Việt Nam). Tiếng Việt lai căng, bát nháo không thể tưởng tượng được, nhất là lại được đưa lên một trang thông tin tiêu biểu cho tiếng nói của một quốc gia.
-Người ngoại quốc trở thành tây. Báo chí trong nước bây giờ rất lạ. Tất cả người ngoại quốc dù là Mỹ, Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hòa Lan đều được đổ đồng bằng hai chữ “ông Tây”. Đọc bản tin “Ông Tây lấy vợ Việt” tôi cứ nghĩ rằng đây là một người Pháp lấy vợ Việt Nam nhưng lại là một ông người Hà Lan lấy vợ Việt Nam. Rồi “Một ông Tây hát cải lương” hóa ra một thanh niên Mỹ hát cải lương. Ngày xưa, cho tới năm 1954, ở ngoài Bắc, lính Pháp mình gọi là lính Tây, khu phố mà người Pháp ở gọi là Phố Tây. Tây Đen là lính Maroc, Algerie, Senegal, Tunisie…mấy người Pháp mình gọi là “mấy thằng Tây” (Westerner) vừa căm thù vừa khinh ghét. Chính tôi ở ngoài Bắc trước 1954 cũng gọi “mấy thằng Tây”, kính trọng lắm là “mấy ông Tây”. Nhưng nay thời thuộc địa qua rồi, mọi danh từ có vẻ như căm ghét, khinh thị phải quên đi. Thế giới này cần chung sống hòa bình và kính trọng lẫn nhau. Mình nên bỏ chữ “Tây” và thay bằng “người Pháp”, “người Mỹ”. “người Tây Ban Nha”, “người Hà Lan” cho lịch sự.
-Người trong gia đình nay trở thành thành viên của gia đình.Cháu là người trong gia đình” nay thời kỳ “hội nhập” phải nói, “Cháu là thành viên của gia đình” giống như thành viên của một tổ chức nào đó.
-Người viết chuyên đề trở thành blogger. Trang tin chuyên đề trở thành trang blog
-Nguy nga, tráng lệ, đồ sộ, trang trọng, lộng lẫy nay chết hết chỉ còn có hoành tráng
-Nhà để xe trở thành garage
-Nhà Trắng hay Tòa Bạch Ốc? Trong thời kỳ chiến tranh, danh từ The White House được hai miền nam-bắc dịch khác nhau. Miền Nam dịch là Tòa Bạch Ốc. Miền Bắc dịch với tính cách khinh thị (coi nhẹ) là Nhà Trắng. Dù người Mỹ dùng chữ “house” thí dụ, House of Representatives nhưng không thể dịch là “Nhà Đại Biểu” mà phải dịch là Hạ Nghị Viện. Theo tôi nghĩ, nơi ở, nơi làm việc của các vị nguyên thủ quốc gia không thể gọi là “nhà” mà phải dịch là Dinh, Điện hay Phủ. Thí dụ: Điện Kremlin, Điện Versailles, Dinh Độc Lập, Phủ Toàn Quyền, Phủ Thống Sứ, Phủ Chủ Tịch…Chiến tranh đã qua đi hơn 40 năm, hai bên đã khép lại quá khứ. Việt-Mỹ đã ký thỏa ước hợp tác toàn diện (Comprehensive Partnership) . Hợp tác toàn diện cũng có nghĩa là hai bên phải tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta nên tôn trọng người Mỹ và người Mỹ dĩ nhiên cũng phải tôn trọng Việt Nam. Do đó, danh từ Nhà Trắng nên bỏ đi, không nên có thái độ khinh thị. Theo tôi, The White House nên dịch là: Tòa Bạch Ốc, Bạch Cung hay Bạch Dinh. (Vũng Tàu có Bạch Dinh là nơi nghỉ mát của Vua Bảo Đại)
-Nhạc Trịnh Công Sơn trở thành nhạc Trịnh. Trong khi nhạc Phạm Duy lại không nói là nhạc Phạm, nhạc Phan Đỉnh Điểu lại không nói nhạc Phan
-Nhân đạo trở thành nhân văn. Xin nhớ nhân đạo khác nhân văn.
-Nhanh lên, mau lên trở thành khẩn trương lên
-Nhập lượng-xuất lượng, vốn-thành phẩm trở thành đầu ra-đầu vào (input-output) nghe sao thô tục quá.
-Nhập viện. Trong nước bây giờ, tường thuật bất kỳ một biến cố nào có người bị thương đều thêm hai chữ “phải nhập viện” (phải vào bệnh viện). Trên thế giới này không hề có kiểu tường thuật như vậy. Thí dụ: Phóng viên đưa tin người chồng vũ phu đã đánh đập người vợ dã man vì ngăn cản không cho uống rượu, hoặc một tai nạn xe hơi khiến bốn người trọng thương. Như thế là đủ. Còn chuyện có vào nhà thương hay không, không phải chuyện của phóng viên. Dĩ nhiên, nếu bị thương nặng thì người ta đương nhiên đi bác sĩ hoạc vào bệnh viện, phóng viên khỏi tường thuật chuyện đương nhiên. Đúng là một nền báo chí kém cỏi.
-Nợ chạm mức giới hạn trở thành nợ trần giống như nợ đời, nợ trần ai. (VOA)
-Nói không biết ngượng trở thành mồm không biết ngượng. Đây là ngôn ngữ của mụ bán “bún mắng cháo chửi” ở Hà Nội được tường thuật trên CNN.
-Nơi du lịch/địa điểm du lịch trở thành điểm đến. Thí dụ: “Thành Phố HCM là một điểm đến thu hút du khách quốc tế”. (VnPlus) Câu nói bình thường chỉ là, “Thành Phố HCM là địa điểm du lịch thu hút du khách quốc tế”.
-Nổi bật trở thành nổi cộm. Hai chữ này VOA và BBC tiếng Việt rất thích dùng, làm ra vẻ như ta đây là “bác học”.
-Nông phẩm biến thành sản phẩm nông nghiệp , dã thú biến thành động vật hoang dã tức kéo dài tiếng Việt ra một cách thừa thãi.
-Nồng độ rượu trong máu (để phạt lái xe) trở thành nồng độ cồn. (Ảnh hưởng thuộc địa Pháp vẫn còn dai dẳng)
-Nữ công nhân trở thành lao động nữ. Nam công nhân trở thành lao động nam. Đúng là đổi đời.

-Nữ ký giả
/nữ phóng viên trở thành nhà báo nữ. Nếu như vậy thì nữ thủ tướng sẽ trở thanh thủ tướng nữ, bà bộ trưởng sẽ trở thành bộ trưởng nữnữ quân nhân sẽ trở thành quân nhân nữ hay lính gái/lính trai.
-Nữ quân nhân hải quân trở thành “phụ nữ quân chủng hải quân”. Sao dùng chữ khó khăn quá vậy?
-Nước dâng cao trở thành triều cường. Người dân TP.HCM dầm mình lội triều cường” (Báo Tuổi Trẻ).
-Nuôi và gây giống trở thành nuôi trồng. Thí dụ: Nuôi trồng thủy sản. Thật không thể tưởng tượng được người ta có thể “trồng” tôm, cá v.v…Thế mà cả nước nói như vẹt mà không một ý thức gì cả.

O.
-Ông/Bà trở thành Mr. & Mrs.
-Ống sắt trở thành tuýp, ống tuýp (Tiếng Pháp là tube)

P.
-Phái tính (phái nam, phái nữ) trở thành giới tính. Giới có nghĩa là giới hạn, ngăn cấm hoàn toàn không có nghĩa là đàn ông/đàn bà, trai/gái hay nam/nữ.
-Phẩm chất trở thành chất lượng. Ngày xưa Miền Nam phân biệt phẩmlượng. Phẩm thì gọi là phẩm chất. Còn lượng thì gọi là số lượng. Thí dụ: Số lượng thì nhiều nhưng phẩm chất không bao nhiêu.
-Phân phát, phân phối, lan truyền trở thành phát tán.
-Pháo hạm trở thành tàu pháo
-Phạt ngay tại chỗ trở thành phạt nóng. Thưởng ngay trở thành thưởng nóng. Gửi giấy phạt về nhà trở thành phạt nguội. Thật khôi hài quá mức!
-Phát thanh thì nói phát thanh. Còn đài truyền hình thay vì phát hình lại nóiphát sóng, phủ sóng. Điên rồ quá!
-Phê bình, chỉ trích, công kích trở thành ném đá (giống như hình phạt ném đá thời Trung Cổ).
-Phê bình cắt cụt chỉ còn phê (giống như phê vào công văn)
-Phi công chính trở thành cơ trưởng tức phụ trách máy móc chính
-Phi công phụ trở thành cơ phó tức phụ máy móc
-Phi đạn trở thành rocket
-Phi hành đoàn trở thành tổ bay, tổ lái
-Phải chịu thuế/ đánh thuế trở thành áp thuế. Bản tin trong nước do bà con “chống cộng” lấy rồi phổ biến rộng rãi trên Yahoo Groups ở hải ngoại: “Trump đe dọa áp thuế quyết liệt, lên tới 35% với các nhà sản xuất ô-tô ở nước ngoài rồi đem vào Mỹ bán.” Tôi không hiểu “áp thuế quyết liệt” là đánh thuế như thế nào? Đúng là ngu dốt lại hay “đao to búa lớn”. Đánh thuế thì hoặc “đánh thuế cao” hoặc “giảm thuế” chứ làm gì có “ quyết liệt ở đây?
Trong nước bị di truyền và ám ảnh bởi những từ ngữ chiến tranh, tuyên truyền, kích động có từ 70 năm trước trong cuộc sồng hằng ngày. Một đất nước như vậy làm sao có thể yên bình được? Muốn người dân điên cuồng lao vào chém giết chỉ cần tuyên truyền, kích động bằng những ngôn từ hận thù, sắt máu - dù dân chủ, tự do như Hoa Kỳ. Xin nhớ những chủ nghĩa gây thảm họa cho loài người đều phát xuất từ Âu Châu. Chính vì thế mà thế giới ngày hôm nay, người ta quý trọng lập trường ôn hòa (moderate) và sợ hãi lập trường quá khích (extremist) và cực hữu(far right). Ngôn ngữ cũng vậy, phải hòa nhã, dịu dàng, lịch sự mới chinh phục được lòng người. Lão Tử nói rằng người ta sợ hãi cái gì sắc nhọn, thích cái gì vuông vức, tròn trịa. Cái gì cứng quá thì gẫy, cái gì mềm mại thì còn “Răng cứng thì rụng, lưỡi mềm thì còn”. Một cơn bão lớn thổi tới, cây cổ thụ khổng lồ 100 năm ở Mỹ cũng trốc gốc, nhưng cây tre biết ngả nghiêng theo chiều gió thì vẫn đứng khơi khơi. Lãnh đạo một đất nước cũng vậy, phải tránh những lời nói kích động, đao to búa lớn, mị dân, rỗng tuếch mà người Mỹ gọi là “rhetoric”. Kích động lòng dân thì dễ nhưng an dân, giữ được lòng dân mới khó. Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo đã dạy “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân.”
-Pháo bây giờ phân ra pháo nổ và pháo hoa (VietnamPlus). Thí dụ: “Nghệ An: Dân tự phát đốt pháo nổ, pháo hoa tự chế tại vùng quê”. Đúng là loại ngôn ngữ điên khùng. Từ ngàn xưa tới giờ, nói “đốt pháo” là người ta hiểu loại pháo gì. Còn pháo hoa/pháo bông thì gọi là “bắn” chứ không gọi là “đốt”, chẳng hạn như bắn pháo sáng (hỏa châu)
-Pháo tháp, đồn canh trở thành lô-cốt
-Phát động phong trào trở thành khởi động phong trào, (Diễn Đàn YahooGroups ở hải ngoại cũng đã lây bệnh trong nước rồi.)
-Phạt nặng, lên một bản án nặng nề biến thành “xứ lý nghiêm”. Thí dụ: “Xử lý nghiêm xe chạy ngược chiều, xử lý nghiêm lấn chiếm vỉa hè”. Thật tình tôi không hiểu “xử lý nghiêm” là xử lý như thế nào. Là người học Luật, tôi thấy câu nói này mơ hồ. Thi hành luật pháp thì phải nghiêm minh. Còn hình phạt thì nặng hay nhẹ chứ không phải nghiêm. Thí dụ: Phạt nặng những xe chạy ngược chiều. Phạt nặng xe vận tải quá trọng lượng. Lên một bản án nặng nề cho kẻ dâm ô/hãm hiếp trẻ em. Phạt nặng những chủ nhân lấn chiếm vỉa hè trái phép.
-Phổ biến/mở rộng trở thành nhân rộng
-Phong tỏa (tài sản) trở thành đóng băng (Freezing of asset. Chữ “freezing” ở đây có nghĩa là ngăn không cho chuyển dịch một tài sản, trương mục, tài khoản…chứ không phải bỏ vào tủ lạnh để cho nó thành đông đá/đóng băng.
-Phòng tập thể dục trở thành gym
-Phỏng vấn, lấy tin, săn tin, thu hình, làm phóng sự trở thành tác nghiệp giống như ký giả Tàu Hồng Kông hay Đài Loan nói chuyện với nhau.
-Phụ tá trở thành trợ lý. Thí dụ: Trợ lý tổng thống (phụ tá tổng thống), trợ lý bộ trưởng (phụ tá bộ trưởng, thứ trưởng)
-Positive =có dấu hiệu… như ung thư chẳng hạn trở thành dương tính. Trong khi theo từ điển tiếng Việt trong nước “dương tính” là “tính chất mạnh của giống đực”. Negative = không có dấu hiệu…như ung thư chẳng hạn trở thành âm tính. Trong khi từ điển tiếng Việt Nam trước và sau 1975 không hề có hai chữ “âm tính”. Thật bừa bãi quá mức! Ở Việt Nam bây giờ tha hồ nói và viết, không cần biết đúng sai, không cần biết sách vở có dạy như vậy hay không và cũng có ai phê phán hay dòm ngó tới.

Q.
-Quan điểm trở thành góc nhìn (BBC tiếng Việt)
-Quan thuế trở thàng hải quan. Tại Phi Cảng Tân Sơn Nhất hay Phi Trường Nội Bài tôi có thấy biển (hải) gì đâu? Ngày xưa chưa có phi trường, hải quan được đóng ở cửa biển để thu thuế. Ngày nay quan thuế thu ở hải cảng, phi trường, biên giới… có còn nằm ở cửa biển nữa đâu mà cứ dùng mãi?
-Quần áo lót, đồ lót trở thành nội y giống như ngôn ngữ của các thái giám Trung Hoa gọi quần áo lót của các bà hoàng hậu, quý phi.
-Quân cảng trở thành cảng quân sự.
-Quân chủ biến thành phong kiến. Trong nước không phân biệt được thế nào là chế độ quân chủ (Monarchy) và thế nào là chế độ phong kiến (Feudalism). Phong kiến là cắt đất, phong hầu để thành lập một quốc gia riêng (kiến quốc) đã chấm dứt khi Nhà Chu tiêu vong. Từ Tần, Hán trở đi, chế độ phong kiến không còn mà chỉ còn chế độ quân chủ giống như chế độ quân chủ trên toàn thế giới. Ở Việt Nam làm gì có chế độ phong kiến. Dĩ nhiên một số tập tục của thời phong kiến còn rơi rớt lại khi Trung Hoa chuyển sang chế độ quân chủ, nhưng không thể gọi đó là chế độ phong kiến, nhất là ở Việt Nam.
-Quang đãng trở thành thông thoáng. Thí dụ: “Đường phố quang đãng” trở thành “Đường phố thông thoáng”. Thậm chí thủ tục, giấy tờ dễ dãi cho người dân cũng gọi là “thông thoáng”.
-Quy mô, cỡ lớn/ lớn trở thành đại trà. Sản xuất lớn trở thành sản xuất đại trà.
-Quyền Anh đã chết chỉ còn boxing.

R.
-Rau (vegetable, légume) biến thành rau xanh. Như vậy rau tía tô màu đỏ tía, hành củ và tỏi màu trắng, sà-lách/rau diếp Đà Lạt màu mỡ gà, cà tím, cà-rốt, củ cải đỏ, rau dền đỏ, bắp cải màu trắng…có trồng không và gọi là rau gì? Trong nước có tật thêm cái đuôi vào các danh từ đã có từ ngàn năm nay rồi. Nói trồng rau là người ta hiểu rồi lại còn bịa đặt ra trồng “rau xanh”.
-Rau không bón phân hóa học trở thành rau sạch làm người ta nghĩ tới rau nhơ bẩn có dính phân vào đó. Khi sáng chế ra chữ mới phải suy nghĩ cẩn thận để tránh sự liên tưởng tới nghĩa xấu.

S.
-Sân khấutrở thành sàn diễn. Võ đài trở thành sàn đấu. Bục trình diễn thời trang trở thành sàn catwalk. Nơi mua bán chứng khoán trở thành sàn chứng khoán, phòng họp của thượng viện Mỹ (Senate Floor)trở thành sàn thượng viện….Rồi mai đây diễn đàn Liên Hiệp Quốc sẽ thành sàn Liên Hiệp Quốc, phòng họp của quốc hội (House Floor)thành sàn quốc hộicái gì cũng là sàntất cả. Ngôn ngữ truyền thống nằm chình ình trong sách vở nhưng chết lần chết mòn chỉ vì ngu dốt tiếng Anh lẫn tiếng Việt.
-Sinh đôi trở thành song sinh. Thích dùng tiếng Tàu mà đòi thoát Trung. Giống như thấy hàng Trung Quốc rẻ dù độc hại, tranh nhau mua rồi khoe mà đòi chống Trung Quốc. Nghe hai chữ “sinh đôi” nó đẹp và thuần Việt làm sao. Truyện Kiều trở thành bất tử và thấm vào máu thịt Việt Nam là vì Cụ Nguyễn Du dùng ít điển tích và dùng những chữ thuần Việt.
-Sinh Vật Học (biology) trở thành Sinh Học (Cắt cụt tiếng Việt cho mày chết luôn!)
-Số lần xuất hiện trở thành tần xuất
-Sở thích thành gu (gout)
-Soạn bài giảng trở thành soạn giáo án, nghe thấy mà ghê, giống như án lệnh của tòa.
-Sòng bài trở thành casino
-Sức vóc trở thành thể hình thể lực. Thí dụ: Các cầu thủ Việt Nam thể hình thể lực kém so với các cầu thủ Âu Châu. Miền Nam có hai chữ sức vóc rất hay tại sao không dùng? Sức là sức khỏe, vóc là chiều cao, lớn bé.
-Suy nghĩ trở thành tư duy. Thích dùng chữ khó khăn để chứng tỏ ta đây là người trí thức. Nhưng thực ra người trí thức đạt đạo lại bình dị, không làm dáng, rởm đời. Miền Nam trước đây, khi nói chuyện với bạn bè mà dùng hai chữ “tư duy” chẳng hạn như, “Chuyện đó tao phải suy nghĩ nhức đầu.” mà lại nói, “Chuyện đó tao phải tư duy nhức đầu.” chắc bạn nó chửi vào mặt mình là thằng phách lối. Nói năng với bạn bè, hay trước công chúng mà dùng những chữ kiểu cọ, xổ Nho, đao to búa lớn, khó khăn, nhức đầu thì người ta sẽ nghĩ mình là kẻ đầu óc không bình thường hoặc phách lối, dạy đời. Xin nhớ cho ngôn ngữ là truyền đạt vừa tư tưởng lẫn tình cảm. Ngôn ngữ phải dùng đúng nơi, đúng chỗ. Cái quý nhất là đơn giản, dễ hiểu, thông dụng, lịch sự và lễ độ. Đừng chế bậy.

T.
-Tác động qua lại trở thành tương tác. Ngay chính bản thân tôi, nghe hai chữ “tương tác” tôi vẫn không hiểu nghĩa là gì.
-Tài liệu trở thành tư liệu (tư liệu là tài liệu riêng của một người)
-Tài tử điện ảnh, người mẫu, ca sĩ nổi tiếng trở thành sao, các sao. Cho nên tôi tạm có câu đố chơi cho vui:Các sao ra xem sao. Sao? Nói sao?
-Tài xế trở thành lái xe (Tài xế là danh từ, còn lái xe là động từ). Đào tạo tài xế trở thành đào tạo lái xe. Đúng là tiếng Việt điên khùng.
-Tái bổ nhiệm trở thành bổ nhiệm lại nghe quê mùa làm sao ấy. Thí dụ: “Bổ nhiệm lại hai thứ trưởng Bộ Công An và Bộ Quốc Phòng. (VOV)” Người ta nói: tái đấu chứ không nói đấu lại, tái cử chứ không nói ứng cử lại, tái xuất giang hồ, tái diễn chứ không nói xảy ra một lần nữa.
-Tân trang/làm mới trở thành nâng cấp (upgrade)
-Tăng tốc độ cắt cụt chỉ còn tăng tốc. Như thế, lái với tốc độ lớn trở thành lái với tốc lớn. Xin nhớ cho chữ tốc đứng một mình có nhiều nghĩa. Thí dụ: Mái nhà bị bão thổi tốc lên. Váy cô ta bị gió thổi tốc lên.
-Tập họp/biểu tình trở thành mít tinh
-Tay đua xe đạp trở thành cua-rơ
-Tay lái /bánh lái trở thành vô-lăng
-Tây Ban Cầm đã chết chỉ còn Guitar
-Thăm viếng, du ngoạn trở thành tham quan. Muốn thoát Trung mà lại ôm cứng tiếng Tàu.
-Thản nhiên biến thành vô tư. “Người dân vô tư hành hạ hoa ở Lễ hội hoa hồng Bulgaria” (VOV). Xin nhớ cho vô tư là công bình (Chí công vô tư). Vô tư lự là không lo nghĩ gì.Còn thản nhiên là làm mà không cần biết hậu quả, không cần biết người chung quanh, bất chấp luật lệ. Thí dụ: Ông ta thản nhiên đổ rác ngay dưới tấm bảng “Cấm Đổ Rác”. Người nào dùng hai chữ “vô tư” ở đây chắc chắn không được cắp sách đến trường.
-Tháng Giêng trở thành Tháng Một. Tháng Chạp cũng chết luôn chỉ còn Tháng 12.
-Thắng hai trái trở thành làm cú đúp
-Thắng ba trái trở thành hat trick
-Thắng rõ rệt, thắng áp đảo/ trên chân rõ ràng trở thành thắng thuyết phục (thuyết phục ai ở đây?)
-Thế lực trở thành quyền lực. Thí dụ: “Quen biết trở thành thứ quyền lực mà người ta có thể mang ra để thách thức luật pháp.” (VnExpress) Ở đây không phải là quyền lực mà là thế lực. Quyền lực là sứ mạnh của người nắm quyền . Còn thế lực là sức mạnh dựa vào một người có quyền …chẳng hạn như vợ con, anh em, người tình của người nắm quyền. Thí dụ: “Ông ta là người rất có thế lực vì là bố vợ của ông giám đốc công an tỉnh.”
-Thế Vận Hội trở thành Olympic
-Thị trường chứng khoán/ trụ sở mua bán chứng khoán/nơi mua bán chứng khoán trở thành sàn chứng khoán. Trong nước thấy chữ “floor”tưởng đó là “sàn” thực ra “floor” còn có nghĩa là địa điểm, chỗ. Thí dụ
Senate Floor” tức địa điểm, phòng hội của Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ.
-Thổ sản trở thành đặc sản. Xin nhớ cho thổ sản khác đặc sản. Thổ sản là chỉ nơi đó mới có. Còn đặc sản thì chỗ nào cũng có. Thí dụ “nhãn Hưng Yên” là thổ sản của Hưng Yên mà nơi khác không có. Trong nhãn Hưng Yên có thể có nhiều đặc sản/đặc biệt, chẳng hạn nhãn giống này, nhãn giống kia, nhãn có hột, nhãn không hột…
-Thời tiết khắc nghiệt, thời tiết tệ hại trở thành thời tiết cực đoan
-Thù nghịch trở thành khắc tinh . VOA tiếng Việt, “Tân tư lệnh hải quân TQ: ‘Khắc tinh’ của Việt Nam?”
Người viết bài này tiếng Việt quá kém không phân biệt được nghĩa của hai chữ “thù nghịch” và “khắc tinh”. Phó Đô Đốc Thẩm Kim Long của Trung Quốc, người đã từng chỉ huy Hạm Đội Nam Hải, cưỡng chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Gạc Ma năm 1988, nay được đề cử làm tư lệnh hải quân Trung Quốc, thì viên tướng hải quân này có quá khứ thù nghịch/ tội ác với Việt Nam chứ sao gọi là khắc tinh? Xin nhớ cho tất cả các danh tướng Việt Nam như Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ đều là khắc tinh của các danh tướng Trung Quốc. Nói khác đi, các danh tướng Tàu dù chinh đông, chinh tây, nổi danh khắp thế giới nhưng tới Việt Nam thì hoặc bị chém đầu, treo cổ tự sát hay chui vào ống đồng mà chạy. Tức danh tướng Việt Nam là khắc tinh của tất cả các danh tướng Tàu…chứ làm gì có tướng Tàu là khắc tinh của các tướng Việt Nam. Xin người viết bài này học lại lịch sử Việt Nam đã được dạy từ bậc Tiểu Học.
-Thủ quân (một đội bóng) trở thành đội trưởng. Tranh bóng trở thành tranh chấp bóng (giống như tranh chấp quyền lực). Các cầu thủ gạo cội, các tuyển thủ trở thành các cao thủ. (ảnh hưởng bởi phim bộ Hồng Kông) Thật là “nhà quê” khi gọi các tuyển thủ bóng đá là các cao thủ. “Một đường truyền rất tốt/thuận lợi cho…” trở thành “Một đường truyền thông thoáng”. Tường thuật các trận túc cầu bây giờ toàn là dân Miền Bắc thiếu kiến thức, thiếu ngữ vựng về môn túc cầu. Một trận đấu 90 phút mà phải nghe cả ngàn lần các từ ngữ như “thi đấu” “xử lý bóng không tốt”, “xử lý bóng tốt”, “tình huống” làm cho người nghe bực cả mình. Rồi tài năng, tài nghệ trở thành tố chất (tố chất của Công Phượng), giao trả gắn bó (theo thuật ngữ rất sống động của ký giả Huyền Vũ) trở thành “bật nhả”, đưa bóng xuyên qua hàng phòng vệ của đối phương nay được các ông Bắc Kỳ gọi là “chọc khe” sao thô tục quá. Rồi “một đường truyền thiếu suy tính” trở thành “một đường truyền thiếu cảm giác”. Ở trong nước không phân biệt được thế nào là thành phần thế nào là đội hình cho nên cái gì cũng dùng hai chữ “đội hình”. . Thành phần là danh sách cầu thủ. Còn đội hình là chiến thuật, chẳng hạn đá với chiến thuật 4-2-4. Tường thuật một trận túc cầu bao gồm cả phần bình luận. Cầu thủ đá hay, đá dở như thế nào…chẳng hạn khéo léo lừa qua hàng phòng vệ đối phương, dàn xếp ăn ý, khôn ngoan đưa bóng cho đồng đội làm bàn, dứt điểm đúng lúc, thừa lúc sơ hở của thủ môn...thì nói ra. Dùng các chữ “xử lý bóng tốt, xử lý bóng không tốt” chỉ để che dấu kiến thức nghèo nàn về môn túc cầu của mình. Rồi “trọng tài biên” trở thành “trợ lý trọng tài”. Rồi “người bị đốn ngã” , “người bị chèn lấn trái phép”, “bị níu áo” ‘bị xô ngã”, “bị đối phương vào bóng quá nguy hiểm” trở thành “ người bị phạm lỗi”. Đúng là loại ngôn ngữ điên khùng. Nó điên khùng ở chỗ, thay vì nói, “người nằm sân, người bị thương là Công Phượng ” lại nói, “người bị phạm lỗi là Công Phượng”. Rồi tranh bóng ở trên cao trở thành “không chiến”!
-Thư thả, nghỉ ngơi, cho bớt căng thẳng trở thành thư giãn.
-Thử để biết/trải qua/ nếm mùi/ thưởng thúc trở thành trải nghiệm. Chỗ nào cũng thấy trải nghiệm, nói như vẹt vậy. Thí dụ: Thay vì nói, “Sinh viên quốc tế hào hứng thưởng thức (enjoy) hương vị Tết Việt Nam” lại viết, “Sinh viên quốc tế hào hứng trải nghiệm hương vị Tết Việt Nam” (VOV). Chúng ta hãy so sánh hai câu sau đây: 1. “Chúng tôi đã trải qua (trải nghiệm) bốn ngày Tết ở Hà Nội.” Câu nói này không hàm ý Tết ở Hà Nội như thế nào. 2. “Chúng tôi đã thưởng thức bốn ngày Tết ở Hà Nội.” Câu nói này hàm ý tác giả vui vẻ thưởng thức hương vị Tết ở Hà Nội. Do đó dùng hai chữ trải nghiệm chỉ có nghĩa là trải qua, đi qua, kinh qua chứ không có bất cứ một ý nghĩa gì khác.
Khi mà hệ thống truyền thông độc quyền thì hệ quả của nó là người dân sẽ nói như những con vẹt vì không có bất cứ một tiếng nói thứ hai hay đẹp hơn. Muốn hay đẹp thì phải “trăm hoa đua nở”. Dĩ nhiên khi “trăm hoa đua nở” sẽ có hoa thúi, hoa cứt lợn, hoa hèn… nhưng sẽ có những loài hoa quý và người dân có học sẽ biết chọn thế nào là loài hoa quý. Một đất nước mà không phân biệt được thế nào là văn chương, ngôn ngữ trí thức, thế nào là văn chương bát nháo, thì đó là một đất nước văn hóa kém, hổ lốn, dù có một triệu tiến sĩ cũng vất đi. Sau đây là một thí dụ viết văn rất bát nháo của BBC Việt ngữ: Thay vì viết, “Lãnh sự quán Việt Nam chưa tiếp xúc với Đoàn Thị Hương”, BBC tiếng Việt viết, “Chưa tiếp xúc lãnh sự với Đoàn Thị Hương” Rồi cũng BBC tiếng Việt ngày 22/3/2017: “Mỹ và Anh cấm laptop lên cabin máy bay vì lo khủng bố”. Câu văn không pha tiếng Anh “ba rọi” chỉ là, “Mỹ và Anh cấm đem máy điện tử xách tay lên máy bay vì sợ khủng bố.”
-Thua ngược, không đáng thua mà thua
trở thành thua sốc.
-Thuốc quá hạn trở thành thuốc hết đát. Thí dụ: “bác sĩ người Hàn Quốc dùng thuốc hết “đát“. (Đài Tiếng Nói Việt Nam). Chưa thấy một loại tiếng Việt nào quái đản như thế này!
-Thủy thủ đoàn biến thành kíp tàu. Tại sao dùng chữ lạ lùng như vậy?
-Tìm hiểu
trở thành soi, săm soi. Thí dụ; Săm soi chuyên cơ (phi cơ riêng) của Tổng Thống Obama. Đọc hai chữ “săm soi” tôi có cảm tưởng lấy cái que chọc vào đâu đó.
-Tiến hành cuộc điều tra nay thêm cái đuôi “điều tra làm rõ”. Làm rõ cái gì mới được chứ? Trên thế giới này, sau khi có một vụ án mạng hay tai nạn lớn xảy ra, cơ quan công lực thường tới thu thập chứng cớ ở hiện trường, phỏng vấn nhân chứng (nếu có) rồi tiến hành cuộc điều ra để truy tầm thủ phạm, đồng phạm…sau đó họp báo công bố kết quả cho công chúng biết. Nay trong nước không hiểu vì sao, các ông phóng viên lại thêm hai chữ “làm rõ” rất thừa thãi và vô duyên. Truyền thông có học hành đàng hoàng chỉ cần viết, “Nhà chức trách đang tiến hành cuộc điều tra” là người ta hiểu rồi. Thêm hai chữ “làm rõ” vào khiến câu văn trở nên quê mùa.
-Tiền trà nước trở thành tiền bo (pour boire). Tiền thưởng Tết cũng gọi là tiền bo.
-Tiếng Hoa, tiếng Tàu trở thành tiếng Trung (tiếng Trung, tiếng Nam, tiếng Bắc)
-Tiếp xúc trở thành tiếp cận. Ông bộ trưởng không muốn tiếp xúc với báo chítrở thành Ông bộ trưởng không muốn tiếp cận với báo chí. Không cho đến gần trở thành không được tiếp cận. Đúng là tiếng Việt điên khùng.
-Tiết kiệm (economy) hạng ba, giá rẻ trở thành kinh tề. Thay vì nói, “Mua cái này rẻ/tiết kiệm được tiền” lại nói “Mua cái này kinh tế lắm. Đúng là tiếng Việt điên khùng.
-Tiết lộ thành rò rỉ. Tiết lộ là để lộ, bị lộ ra ngoài hay “bật mí” cho người ta biết. Còn rò rỉ có ý nghĩa khác. Chẳng hạn chiếc thùng bị rò ở đáy cho nên nước rỉ ra ngoài. Rò rỉ có thể âm thầm, không ai biết. Vì tiếng Việt không rành cho nên trong nước và BBC tiếng Việt đã dùng rò rỉ để thay thế tiết lộ thế mà cũng được hải ngoại đua nhau bắt chước.
-Tiêu chuẩn, mẫu mực trở thành chuẩn mực. Bịa thêm ra chữ mới để làm gì trong khi chữ cũ đầy rẫy ra đó?
-Tiêu đề, nhan đề trở thành tít (titre)
-Tiêu thụ trở thành tiêu dùng
-Tiểu thương biến thành doanh nghiệp nhỏ. Hai chữ “tiểu thương” đã có cả trăm năm nay sao còn bịa đặt ra “doanh nghiệp nhỏ” làm gì nữa?
-Tìm cách/phương thức giải quyết trở thành khắc phục. Đôi khi khắc phục có nghĩa là ráng chịu cho quen, đừng kêu la, khiếu nại gì cả. Thí dụ: Bộ Nội Vụ tới thăm một trại giam, tù nhân than đói quá. Cán bộ nói, “Các anh cố gắng khắc phục.” Điều đó có nghĩa là Bộ Nội Vụ chẳng giải quyết gì cả. Tù nhân ráng mà lo lấy. Đói ráng chịu, đừng kêu la.
-Tin tức trở thành thông tin trong khi thông tinloan truyền tin tức như Bộ Thông Tin, Cơ Quan Thông Tin. Còn những gì liên quan đến một cá nhân thì gọi là “dữ kiện” hay “chi tiết” chứ không phải “thông tin”.
-Tin nóng! Trong nước lẫn hải ngoại tràn ngập tin nóng nhưng tôi thật tình không hiểu tin nóng là tin gì. Tin nóng là tin hấp dẫn, tin mới nhất, tin động trời hay tin có liên quan đến xác thịt? Xin những ai dùng hai chữ “tin nóng” giải thích dùm cho, tôi hết lòng cảm ơn.
-Tờ truyền đơn trở thành tờ rơi. Truyền đơn đôi khi phát tay chứ có rơi rớt trên đường đâu. Còn tờ rơi là vứt rơi rớt trên đường.
-Tòa Bạch Ốc trở thành Nhà Trắng do các ông bà ở hải ngoại lấy nguyên bản tin trong nước rồi đua nhau chuyển tiếp lên các diễn đàn YahooGroups…khiến tiếng Việt đổi đời trở thành tiếng Việt chính thống ở hải ngoại.
-Tổng Sản Lượng Quốc Gia trở thành GDP (người kém tiếng Anh không hiểu gì cả)
-Trả lời, lên tiếng/đóng góp ý kiến trở thành phản hồi. Thí dụ: “Bộ Công Thương phản hồi việc kê khai tài sản của bà HTKT” (VnPlus). Trong nước thích dùng chữ nghĩa khó khăn học được từ đời Mao Trạch Đông. Câu văn đơn giản chỉ là, “Bộ Công Thương lên tiếng/trả lời về việc kê khai tài sản của Bà HTKT”
-Trạm, ga chuyển tiếp trở thành trạm, ga trung chuyển
-Trận đấu hay, đẹp mắt trở thành trận đấu kinh điển (giống như ở Hàn Lâm Viện vậy)
-Trao đổi, tiếp xúc trở thành giao lưu, hiệp thông (hình như là danh từ riêng của Thiên Chúa Giáo)
-Trẻ em/trẻ con bị bệnh biến thành bệnh nhi. Bệnh viện nhi đồng cũng biến thành bệnh nhi. Đúng là hỗn loạn, không còn ra thể thống gì nữa.
-Trích ngừa, chủng ngừa trở thành tiêm vaccine
-Trình bày quan điểm đối nghịch/ ý kiến đối nghịch, không đồng ý trở thànhphản biện. Thật đao to búa lớn!
-Trồng cây trở thành trồng cây xanh. (tiếng Việt có thêm đuôi)
-Trục trặc/ trở ngại trở thành sự cố
-Trực thăng/máy bay săn tàu ngầm chỉ còn trực thăng/máy bay săn ngầm (cắt cụt tiếng Việt)
-Trung Học Chuyên Ngành/chuyên môn trở thành Trung Học Chuyên (cắt cụt tiếng Việt)
Trung Học Đệ I Cấp (Lớp 6 tới Lớp 9) trở thành Trung Học Cơ Sở. Tôi thật tình không hiểu tại sao trong nước dùng danh từ Cơ Sở cho các trường Trung Học Đệ I Cấp hay Trung Học Chuyển Tiếp mà người Mỹ gọi là Middle School hay Internediate School. Trước đây Miền Nam mô phỏng theo nền giáo dục của Pháp, phân chia trung học ra thành hai bậc gọi là: Trung Học Đệ I Cấp (Lớp 6-9) và Trung Học Đệ II Cấp (Lớp 10-12).
-Trung Quốc, Trung Hoa, Tàu, Hoa Lục trở thành China. Như vậy tại sao không nói nước USA hay nước France cho nó gọn?
-Trung Ương (T.Ư) viết tắt thành TW. Đúng là tiếng Việt quái đản!
-Truyền hình trở thành Tivi
Truyền hình đời sống thực (Reality TV.)biến thành Truyền hình thực tế. Dịch như vậy quá ngây ngô, thế mà cả nước không ai có ý kiến gì khác.
-Tự nhiên/thản nhiên trở thành vô tư. Cứ tự nhiên trở thành cứ vô tư đi (VOV Đài Tiếng Nói Việt Nam). Xin nhớ cho vô tư không thiên vị. Còn vô tư lự là không lo nghĩ gì cả. Còn Thản nhiên là làm mà không cần để ý đến những người chung quanh, không cần biết đến luật pháp là gì. Ở Việt Nam bây giờ có báo là cứ viết, có đài phát thanh, truyền hình là cứ nói …không cần biết đúng sai và cũng không có ai đế mắt tới. Có lẽ cả nước chỉ lo kiếm tiền, ăn nhậu, vui chơi, giải trí, làm tình, bài bạc, xì ke ma túy, chuyển tiền ra ngoại quốc và ước mơ đi Mỹ…ngoài ra thì sống chết mặc bay.
-Tuổi vị thành niêntrở thành tuổi teen. Tây đô hộ 100 năm mà tiếng Việt chưa mất gốc. Mỹ mới vào từ 1995 (bình thường hóa) mà tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ chính, giống như Phi Luật Tân. Còn tiếng mẹ đẻ đang trở thành ngôn ngữ phụ (second language). Nghẻo hèn quá cho nên bắt chước kẻ hùng mạnh cũng là niềm hãnh diện. Nếu có mắt nhìn ra hải ngoại phải biết xấu hổ vì lớp người sống xa Tổ Quốc một đại dương mênh mông lại mở các Trường Việt Ngữ để bảo tồn tiếng Việt cho con cháu trong khi ở trong nước lại hãnh diện vì lai căng, giống Mỹ.

V.
-Vào bệnh viện, vào nhà thươngtrở thành nhập viện (viện dưỡng lão, viện mồ côi, viện hàn lâm, viện tế bần…biết nhập viện nào đây? Tôi không hiểu sao một nước còn đói nghèo mà lại thích dùng chữ “đao to búa lớn” như thế.
-Vào các trang thông tin điện tử trở thành truy cập. “Truy” là “đuổi” như truy nã, truy kích, truy sát. Tại sao “vào” một trang thông tin điên tử để xem, để tìm hiểu, để lấy tin tức lại gỏi là “đuổi theo”.
-Vẻ mặt biến thành ngoại diện. Thí dụ: “Bạn muốn có khuôn mặt/vẻ mặt giống con gái Tổng Thống Donald Trump” biến thành, “Bạn muốn có ngoại diện giống con gái Tổng thống Mỹ Donald Trump”. (VOA tiếng Việt). Đúng là dốt hay nói chữ. Rồi “có bộ mặt” biến thành “ngoại hình” (VOA tiếng Việt). Đúng là tiếng Việt truyền thống đã chết và được thay thế bằng tiếng Việt lai căng, bát nháo.
-Vi khuẩn, siêu vi trùng trở thành vi-rút
-Vĩ Cầm trở thành Violon.
-Việc trở thành công đoạn. Thí dụ: “Việc đầu tiên là mài dao với nước lạnh và đá mài.“ trở thành, “Công đoạn đầu tiên là mài dao với nước lạnh và đá mài.” Rồi “cỡ” như cỡ lớn, cỡ nhỏ trở thành “kích cỡ”. Tôi không hiểu tại sao trong nước thích dùng chữ cầu kỳ trong khi kêu gào “tiếng Việt trong sáng”.
-Viện bảo tàng, khu vực bảo tàng chỉ còn bảo tàng. Xin nhớ, viện bảo tàng là danh từ. Còn bảo tàng là động từ. Trong nước hiện có khuynh hướng “cắt cụt” tiếng Việt khiến nhiều danh từ trở nên vô nghĩa hoặc trùng với danh từ khác nhưng khác nghĩa. Thí dụ: Lệ phí chỉ còn phí, săn tàu ngầm chỉ còn săn ngầm, choáng váng chỉ còn choáng, bệnh viện chỉ còn viện. Nhưng một số lại thêm “cái đuôi” vào làm tiếng Việt trở nên dị hợm. Thí dụ: đóng tàu trở thành đóng mới, xây nhàtrở thành xây mới, trồng cây trở thành trồng cây xanh.
-Vụ tai tiếng trở thành scandal
-Vượt mức quy định trở thành vượt ngưỡng. Vượt ngưỡng gì mới được chứ? Ngưỡng cửa chăng? Đúng là bạ gì viết nấy, không thèm ra cứu từ điển hay hỏi người lớn xem có đúng không.

X.
-Xa lộ trở thành đường cao tốc. Ở Mỹ này người ta phân biệt Xa Lộ (Freeway) và Đường Tốc Hành (Expressway). Xa Lộ xuyên bang hay xuyên thành phố chạy tới 80 dặm/giờ. Còn Đường Tốc Hành/Cao Tốc chỉ là đường nối hai đầu của một thành phố chạy với vận tốc tối đa 50 dặm/giờ.
-Xác định trở thành khẳng định. “Việt Nam khẳng định Đoàn Thị Hương là công dân VN”. BBC Việt ngữ và Việt Nam không phân biệt được thế nào là xác định, thế nào là khẳng định. Khi có sự tranh cãi, nếu thấy dữ kiện đúng thì mình khẳng định, nói dứt khoát là đúng. Còn xác định là xác nhận một sự kiện mà không có tranh luận. Khi đến gặp Cô Đoàn Thị Hương, tòa lãnh sự xác nhận cô đúng là công dân Việt Nam chứ không khẳng định vì không có sự tranh cãi về quốc tịch với các giới chức Mã Lai. Câu văn trên cho thấy trình độ Việt ngữ của BBC và trong nước quá kém. Trình độ của VOA khá hơn một chút khi dùng hai chữ “xác nhận”.
-Xây gấp, hoàn thành sớm biến thành đẩy nhanh tiến độ thi công. Sao dùng chữ dài lòng thòng và cầu kỳ quá vậy? Hãy so sánh hai câu: 1) “Công nhân đang cố gắng để sớm hoàn thành Cầu Cần Thơ.” 2) “Công nhân đang đẩy nhanh tiến độ thi công để sớm hoàn thành Cầu Cần Thơ.” Xem câu văn nào giản dị hơn?

-Xây thêm bốn căn nhà
trở thành xây mới bốn căn hộ.
-Xe cộ trở thành phương tiện. Thí dụ: Cấm các phương tiện lưu thông ở một số tuyến đường. Rồi, “Phương tiện đổ về Thủ đô tăng đột biến trong ngày 4 Tết” (VnPlus) Thay vì nói, “Dòng xe cộ đổ về thủ đô tăng bất thường ngày Mùng 4 Tết”, hoặc “Cấm xe cộ lưu thông ở một số tuyến/đoạn đường”.
-Xe buýt: Việt Nam bây giờ không phân biệt được thế nào là xe chở học sinh, xe chuyên chở công cộng, mà đều gọi tất cả các loại xe này là xe buýt. Xe đang chạy trong thành phố phải mua vé đó là “xe chuyên chở công cộng”, còn xe chở học sinh là “xe đưa rước học sinh”.
-Xe hơi trở thành xe ô-tô.
-Xe gắn máy trở thành xe mô-tô
Xe phế thải trở thành xe quá đát. (Báo Thanh Niên) Thật ngu dốt không thể tưởng tưởng tượng được. Quá hạn chỉ dùng cho thực phẩm, thuốc men. Còn xe cộ, máy bay, máy móc quá cũ không dùng nữa thì gọi là “phế thải”.
-Xe pick-up, xe chở hàng nhỏ trở thành xe bán tải. Xe thì chở ít hoặc chở nhiều, hoặc hạng nặng, hạng nhẹ sao lại là “bán” tức một nửa?
-Xe vận tải trở thành xe tải (cắt cụt tiếng Việt). Như vậy “liên đoàn/công đoàn vận tải trở thành “liên đoàn tải” và “ngành vận tải” trở thành “ngành tải”. Thật quái đản!
-Xe vận tải hạng nặng trở thành xe siêu trường siêu trọng, xe container
-Xuồng máy trở thành ca-nô
Chúng tôi còn tiếp tục cập nhật cho cuốn tự điển này thêm phong phú. Nhưng càng viết lại càng đau lòng. Tiếng Việt đổi đời, buồn ơi chào mi! Và buồn cho nhiều thế hệ mai sau.

Đào Văn Bình
(California ngày 21/4/2017)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com


"Ngay cả trong giới anh chị giang hồ, xã hội đen, cũng có ngôn từ riêng, để đồng bọn dùng trong những việc bất chánh, đó là tiếng lóng, hay mã tự.... đảng Cộng Sản là băng đảng cướp, cướp có chính sách, có bài bản, có hệ thống, có luận lý dạy ăn cướp, nên bọn bất lương nầy cũng có tiếng nói riêng, hệ thống hóa thành thứ ngôn ngữ Cộng Sản.“     Hồng Đức

Tiếng Việt và tiếng Vẹm

Hồng Đức

Con rắn Hổ Đất và Hổ Hành giống nhau về hình dạng, màu sắc, nhưng khác là Hổ Hành có mùi thơm như hành hương, thịt mềm hơn nên dân nhậu rượu đế vùng quê miền Nam thích đánh chén; nhưng cũng phải cẩn thận với loại rắn Hổ Lông cũng giống y như Hổ Đất và Hổ Hành, phải tinh ý và có kinh nghiệm miệt vườn, khi nhìn thấy những lông đen mọc xen kẽ những vẫy ở đầu là không nên ăn, nếu không biết, ăn vào bị trúng độc, lăn đùng ra chết không kịp ngáp, ở vùng nông thôn, có một số gia đình bị chết cả nhà chỉ vì ăn phải thịt nó. Con Trăn và Nưa giống nhau như “hai giọt nước”, nhưng Nưa cắn chết và Trăn thì không có nọc độc, một số người không biết, bắt con Nưa về nuôi, có khi bị chết vì nó.
- Người tỵ nạn chính trị (Political refugee) với những lý do như xung đột tư tưởng, bất đồng chánh kiến, tôn giáo... bị bắt buộc phải ra đi, nếu không thì tánh mạng nguy hiểm, và sau khi ra đi, không thể trở về, do nhà cầm quyền vẫn còn cai trị, có thể bắt bớ, tù đày, ám hại bất cứ lúc nào.
- Người tỵ nạn kinh tế (Asylum seeker) là muốn ra đi ở nơi khác, như câu của Hồng Y Phạm Minh Mẫn thấy một số người Việt hải ngoại trở về mà quơ đũa cả nắm: “tha hương cầu thực”, những người nầy mong có được đời sống khá hơn và họ có thể quay về nơi mà mình bỏ đi mà không hề hấn gì.
- Chính những kẻ tỵ nạn kinh tế nầy đã làm tổn hại trường kỳ đến hàng ngũ những người tỵ nạn chính trị. Trong chiến tranh chống giặc Cộng thì họ không có mặt nhưng khi vượt biển là họ đi trước, khi Việt Cộng mở cửa, họ là những người tiên phong đóng vai áo gấm về làng về trước, nên sau nầy chính phủ các nước Dân Chủ không còn chào đón, khi đến nước họ đều bị nhốt trong các trại tạm giam, bị coi là tỵ nạn kinh tế, cá mè một lứa, sau chờ thanh lọc mới biết thật giả...
- Thành phần tỵ nạn kinh tế đã trở mặt, buôn bán, làm ăn với Việt Cộng, trở về theo diện TAM DU: “du lịch, du dâm, và du hý” và cũng chính họ đã và đang mang những “hạt giống đỏ” sang theo diện bảo lãnh hôn phối, ăn tiền, nên đây là những kẻ: “rước giặc Cộng vào nhà”, ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản, núp bóng tỵ nạn kết bạn với Cộng Sản.
Chùa Phật, Tiệm Phật hay Nhà Thờ và Cửa Hàng Chúa đều giống nhau về hình thức, cũng có tượng Phật, Chúa, đọc kinh, tu sĩ... nhưng khác nhau là những người hành đạo, khiến cho nhiều tín đồ Tam Tạng thời đại, con chiên mù quáng đến đóng góp, nuôi dưỡng những kẻ “mượn đạo tạo tiền” làm hại uy tín đạo không nhỏ.
Tiếng Việt và tiếng Vẹm cũng giống nhau là có cùng mẫu tự La Tinh, 24 chữ cái, ghép vần, phát âm... nhưng khác nhau, nếu không phân biệt rõ ràng thì lầm tiếng Vẹm là tiếng Việt.
Tiếng Việt trở thành quốc ngữ là do một linh mục Công Giáo, Alexander Rhode, trong lúc sang truyền bá đạo giáo, phiên âm từ tiếng Nôm thành vần, viết theo mẫu tự La Tinh để cho các tín đồ hiểu thánh kinh và từ đó phổ biến trong dân chúng, do lối viết dễ, học.
Nếu không có sự đóng góp nầy, thì dù Hàn Thuyên có chữ viết khác với Trung Hoa, với bài thơ nôm “thần kỳ” đuổi được cá sấu ở sông Hồng, nhưng cũng không tránh khỏi ảnh hưởng nét viết, tượng hình rập khuôn theo chữ viết của giặc Tàu xâm lăng đô hộ, mang sang với mục đích đồng hóa...
Tiếng Việt là nét độc đáo của dân Việt, thế mà Trường Chinh, tên Cộng Sản dã man, đã muốn cho dân Việt bỏ tiếng quốc ngữ, và dùng tiếng Tàu làm ngôn ngữ, đúng là tên vong bản. Nhờ những người khai phá tiếng Việt như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Ðạo, Nhất Linh, Khái Hưng... nên tiếng Việt càng phong phú.
Tại miền Nam sau 1954, với chính quyền quốc gia, tiếng Việt được phát triển như những loài hoa được trồng nơi phong thổ thích hợp, phân, nước đầy đủ với các trường đại học văn khoa ở Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... nhiều giáo sư đại học có kiến thức, khả năng, những bộ tự điển tiếng Việt, làm cho nền văn hóa càng thăng tiến; tiếng Việt trở thành linh hồn của dân tộc, là tiếng được bập bẹ ngay trên đầu môi trẻ thơ, trong trường từ mẫu giáo đến đại học và ngày nay, dù cho đất nước bị giặc Cộng “cướp chính quyền”, nhưng người Việt tha hương vẫn cố gắng duy trì tiếng nói, viết ở các quốc gia tạm dung.
Trái lại ở miền Bắc sau 1954, dưới chế độ cai trị tàn độc của băng đảng siêu cướp Cộng Sản Việt Nam, do tên đại Việt gian Hồ Chí Minh lãnh đạo, áp dụng nền văn hóa ngoại lai, chế độ cai trị rập khuôn quan thầy Nga Tàu, nên chữ nghĩa cũng bị thay đổi từ ý nghĩa đến cách dùng chữ, trong chế độ Cộng Sản, cái gì cũng phải gắng liền với cái đuôi khỉ “xã hội chủ nghĩa” nên tiếng nói cũng phải phù hợp với chế độ, cũng giống như phụ tùng xe từng loại được lắp ráp, nếu không đúng, thì xe bị trở ngại máy móc, và các thứ khác. Ngoài Bắc, tiếng Việt thuần túy, văn hóa, văn chương.... bị thay thế dần bởi tiếng Vẹm, là ngôn ngữ dành riêng cho chế độ Cộng Sản, do đảng Cộng Sản đưa vào.
Cũng giống như các ngành, nghề chuyên môn, mỗi giới thợ thầy đều có những ngôn từ chuyên môn để gọi, viết, nên mới có những quyển tự điển như “khoa học, kỹ thuật, y khoa...”
Ngay cả trong giới anh chị giang hồ, xã hội đen, cũng có ngôn từ riêng, để đồng bọn dùng trong những việc bất chánh, đó là tiếng lóng, hay mã tự.... đảng Cộng Sản là băng đảng cướp, cướp có chính sách, có bài bản, có hệ thống, có luận lý dạy ăn cướp, nên bọn bất lương nầy cũng có tiếng nói riêng, hệ thống hóa thành thứ ngôn ngữ Cộng Sản.
Khi ngôn ngữ của giới ăn cướp quốc tế Cộng Sản có chính sách chiêu bài chuyền sang Việt Nam, trở thành tiếng Vẹm, được dựa theo trong kinh điển vô thần của Karl Marx, trích ra từ ba bộ “tà kinh”: Duy vật biện chứng, duy vật sử quan và tư bản luận.
Những ngôn từ Vẹm được áp dụng trong mục đích yêu cầu là làm cách nào để cướp của, giết người có bài bản: “cướp nhanh, giết mạnh, vét sạch, quơ hết...” nên đây là thứ “ngôn từ khủng bố” của băng đảng cướp, lũ bất lương, mà những kẻ dốt nát nát hay ít học, sau khi được nhồi sọ nằm lòng, rồi phát ra thành tiếng, không cần phải hiểu ý nghĩa, được đảng Cộng Sản chỉ đạo, thêm quyền hành, quyền lợi, trở thành “robot” giết người, cướp của hàng loạt, giống như những môn sinh phái võ “thần quyền”, bình thường không biết võ, nhưng sau khi đọc thần chú, thì bỗng biến thành “cao thủ võ lâm”, múa quyền y như võ sư vậy.
Những tiếng Vẹm được rút ra từ kinh điển Karl Marx như: cách mạng, vô sản chuyên chính, giai cấp tiên tiến, giai cấp tiến bộ, cao trào cách mạng, thoái trào cách mạng, hạ tầng cơ sở, thượng tầng kiến trúc, trung ương đảng, bộ chính trị, tổng bí thư, nhà nước, đấu tranh giai cấp, nhà nước vô sản chuyên chính, xã hội chủ nghĩa, thiên đàng Cộng Sản... được “bổ sung” (bổ túc) với những từ ngữ có “nghiệp chuyên” (chuyên nghiệp) dùng để kích động hận thù giữa con người trong xã hội, đấu tố, tịch thu tài sản, bắt dân làm nô lệ; những chữ mà Vẹm được nhồi nhét từ học đường, xã hội, trong tổ chức bộ đội, công an, xí nghiệp quốc doanh, nông trường, lâm trường... đâu đâu cũng có những “học tập chính trị”, phổ biến chính sách, thảo luận theo kiểu Cộng Sản với lý luận một chiều thường trực, bằng tiếng Vẹm, lối cấu trúc câu của vẹm và ý nghĩa cũng theo chính sách Vẹm, là cách mà đảng Cộng Sản Việt Nam thực thi đúng theo lời sư phụ Lenin: “tuyên truyền là nói láo, nói láo và tiếp tục nói dối”; khác với truyền thông trung thực: “nói thật, nói hết và nói có sách mách có chứng” nên các cơ quan truyền thông Tây Phương thường được tín nhiệm.
Do đó, người dân sống dưới chế độ Cộng Sản, hay những người có tiếp xúc, liên quan tới người Cộng Sản, về du lịch, gia đình có thân nhân, du học, bị ảnh hưởng tới, tiêm nhiễm thứ tiếng Vẹm phổ biến như: động viên, xử lý, chế độ, thời thượng, tình huống, phát hiện, sự cố, cơ sở, cơ bản, cự ly, phản động, phản cách mạng, dân chủ nhân dân, dân chủ tập trung, tư bản phản động, tư duy, chất lượng*... nói đúng hơn là tiếng Vẹm, từ Vẹm, cách dùng từ Vẹm, ý nghĩa chữ Vẹm... là thứ làm “ô nhiễm tiếng Việt”, không khác gì loại khí độc “Dioxine” làm dơ bầu khí quyển, mà các nhà bảo vệ môi sinh lưu tâm đặc biệt trong việc bảo vệ khí thải nhà kính, nhằm ngăn chận trái đất bị hâm nóng dần; nên việc bảo vệ tiếng Việt, chống lại ô nhiễm do tiếng Vẹm, là công tác hàng đầu của tất cả những người Việt Nam nào còn tấm lòng: “tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời...”
Người Cộng Sản vốn là băng đảng cướp, nên tiếng Vẹm được coi là “chất xúc tác” mở đường cho những hành vi bạo ác, gian manh; từ ngữ chính là “lực lượng đặc công văn hóa” mở đường cho những chính sách tuyên truyền của đảng Cộng Sản nhắm vào các đối tượng trong và ngoài nước, được coi là mục tiêu phải lôi cuốn, thuyết phục, hù dọa, khủng bố. Khi những nông dân dốt, bọn đầu trộm đuôi cướp thất học, được học thuộc lòng ngôn ngữ Vẹm, trở thành những con vẹt, nói năng ào ào mà không hiểu gì cả, rồi từ đó, ra tay giết người, cướp của, không chừa một ai kể cả gia đình, cha mẹ... tác động từ tiếng Vẹm thật kinh hoàng.
A.K, mã tấu kè kè.
Nói quấy nói quá, chúng nghe hà rầm.
Người Cộng Sản tự hào ngôn ngữ đặc thù của băng đảng, họ cho tiếng Việt mà dân Việt đang dùng, nhất là ở hải ngoại, lếu láo là “tiếng Việt cổ, tiếng Việt chết”, còn tiếng của đảng cướp là hiện đại, phổ biến. Ăn nói ngược ngạo là bản chất của người Cộng Sản.

Tiếng Vẹm là ngôn từ riêng của những kẻ bất lương sử dụng với mục đích bất chánh. Và còn tiếng Việt thể hiện nền văn hóa, phục vụ con người, nhân bản, là chất xúc tác văn học, khoa học, đưa đất nước tiến lên. Tuy nhiên, tiếng Vẹm núp bóng tiếng Việt, cũng như đảng cướp Cộng Sản núp bóng Việt Minh, các nhà “Phật giáo, Thiên Chúa Giáo” từ các tiệm Phật, cửa hàng Chúa, núp bóng chùa, nhà thờ để làm giàu, thu tiền, phục vụ cho bè cánh, nhất là các công an, cán bộ đội lớp tu sĩ nhiều đẳng cay của các tôn giáo ngày nay.
Tiếng Vẹm núp bóng từ tiếng Việt mà lại muốn khống chế, biến tiếng Việt thành công cụ, phục vụ tiếng Vẹm, quả là tai hại lâu dài cho ngôn ngữ quốc gia.
Tiếng Vẹm du nhập từ tà kinh Cộng Sản và ảnh hưởng các nước Cộng Sản đàn anh nên mục đích của thứ ngôn ngữ Vẹm cũng nhằm phục vụ cho một băng đảng, đây không phải là thứ ngôn ngữ phục vụ con người, dân tộc, văn hóa.
Tại Việt Nam, sau khi Mao Trạch Ðông giúp, chỉ đạo cho Cộng Sản Việt Nam đánh thắng trận Ðiện Biên Phủ, thì tình hữu nghị ban đầu trở nên khắng khít như “răng với môi”, nên Hồ Chí Minh và đồng bọn cộng sản không ngần ngại dùng tiếng Vẹm được phiên dịch từ tiếng Tàu, để làm dịu tình hình, đổi tên Ải Nam Quan thành Hữu Nghị Quan, do đó ngay cả y phục, phổ biến là bộ đồ “đại cán” của bọn đểu cán Trung Cộng, thế là từ Hồ Chủ tặc đến trung ương, hạ tầng cơ sở, cán ngố, cán dốt... thi đua may mặc loại y phục “đặc trưng” của loài vượn thành người; ngày nay bộ trang phục "đại cán" vẫn còn được cán ngố, cán ngáo, cán đần, cán ác... yêu chuộng.
Tiếng Vẹm cũng phải “chuyên chở tình hữu nghị răng môi” mới “đời đời bền vững”. Rồi vì thấy quan thầy Liên Xô hùng mạnh, nên Hồ lơ là với Trung Cộng, từ tình “hữu nghị Việt Trung đời đời bền vững, môi hở ranh lạnh” được kinh qua sang thời kỳ “quá độ”: “tình hữu nghị Việt Trung như dùi đục chấm nuớc mắm”. Hồ Chí Minh ra lịnh toàn đảng học tập sáng tạo ra tiếng Vẹm “đặc thù” của bọn “đặc đầu bùn”, nhằm tạo cho đảng cướp tiếng nói riêng. Thời đó xuất hiện những tiếng lạ như: Bộ đội trai, bộ đôi gái, kịch nói, múa rối...
Tuy nhiên tiếng Vẹm chưa phát huy đúng mức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nên chưa gọi “lính đực, lính cái” là rất hợp với “duy vật biện chứng” của tổ sư Karl Marx.
-Thủy Quân Lục Chiến là tiếng của “phản động” được đổi thành “lính thủy đánh bộ”.
-Máy bay trực thăng là “máy bay lên thẳng”.
-Hàng không mẫu hạm thành “TÀU MẸ CHỞ TÀU CON”
-Cà phê phin thì gọi là CÁI NỒI NGỒI TRÊN CÁI CỐC
-nghệ sĩ thành nghệ nhân.
-văn sĩ thành nhà văn.
-thi sĩ thành nhà thơ .
-còn họa sĩ chưa có "chế độ thay đổi" thành “nhà vẽ” cũng là thiếu sót lớn.
-ca sĩ chưa được Vẹm hóa thành NGƯỜI HÁT.
-nhạc sĩ là NGƯỜI VIẾT NHẠC, NGƯỜI ÐỜN...
Trong tiến trình xây dựng và phát triển tiếng Vẹm “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh chỉ thị cho gã môi vẩu Phạm Văn Ðồng, là “thủ tướng không người lái”, nặn óc khỉ viết ra quyển sách tựa đề: “Hãy giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt”; đúng ra là tiếng Vẹm, vì tên Ðồng Vẩu muốn núp bóng tiếng Việt để làm bình phong “giải phóng” tiếng Việt thành tiếng Vẹm, mượn tiếng Việt để phát triển tiếng Vẹm, song hành với việc tiêu diệt tiếng Việt, thật là thâm độc; không khác gì đảng vô thần đã và đang sử dụng đám tu sĩ quốc doanh, tiếm danh, về nguồn qua việc thành lập các giáo hội thân nhà nước để tiêu diệt các tôn giáo trong và ngoài nước.
Nhưng chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì đảng Cộng Sản Việt Nam chưa Vẹm hóa, rập khuôn theo tiếng Tàu là: “ngụy quân, ngụy quyền”, thật là bậy bạ, không theo đúng chính sách nhất là “tư tưởng Hồ Chí Minh ”.
Ngay cả tên gian ác như Hồ Chí Minh, khi nhắc đến quân lực VNCH là rét, kính trọng, không dám kêu “ngụy quân”, chính hắn nói với đàn em, cùng các đồng chí cật ruột rằng: “Mỹ thua về Mỹ, anh em binh sĩ về đâu? ”, chớ nào dám kêu ngụy như đám đàn em, đệ tử sau nầy.
Thế mà sau nầy, khi cướp chính quyền miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, đàn em của Hồ lại hỗn láo, dám kêu là “ngụy quân”, tức là không “nàm theo nời Bác dạy”, vậy mà còn lếu láo hô hào học tập cái gọi là: “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Ngày nay, đảng Cộng Sản cử một số lính mọp gốc công an, sang các cộng đồng Công Giáo hải ngoại để thu tiền bằng các chiêu bài như: từ thiện, xây nhà thờ, dựng thánh giá, làm tượng Chúa... đã bị bể mánh khi gọi những con chiên đóng tiền là “Ngụy”, như vậy là các lính mọp nầy chưa “quán triệt tư tưởng và lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh” để làm công tác tôn giáo vận. Dù một số từ ngữ “bành trướng Bắc Kinh” được Vẹm hóa, nhưng các “đỉnh cao trí tệ loài người” vẫn còn giữ một số tinh hoa của quan thầy: người Việt nói cái nhà, thì tiếng Vẹm gọi là HỘ, CĂN HỘ, từ đó có HỘ KHẨU là lý do mà công an, cán bộ địa phương vin vào đó để đòi vàng, tiền, nếu muốn có hộ khẩu hợp lệ; khi sinh đẻ gọi là HỘ SẢN, nhưng bịnh viện bảo sanh gọi là XƯỞNG ÐẺ, khi ai muốn đi ra nước ngoài có hộ chiếu...
Tiếng Vẹm ngoài những” đỉnh cao trí tệ” ngôn từ, còn có lối diễn đạt ý nghĩa, đúng như bản chất của thứ tiếng dành riêng cho bọn cướp:
-đi ăn chực gọi là ÐOÀN KẾT.
-tịch thu tài sản người dân gọi là HIẾN,
-giết người cướp đất gọi là CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT.
-ăn cướp gọi là làm CÁCH MẠNG.
-người giàu gọi là TƯ SẢN, nên từ đó mới có chiến dịch ăn cướp ở thành thị, gọi là ÐÁNH TƯ SẢN.
-nhà tù gọi là CẢI TẠO.
-biểu tình gọi là PHẢN ÐỐI TẬP THỂ,
-phạm tội tham ô bị đưa làm vật tế thần để bao che gọi là VI PHẠM HÀNH CHÁNH, LỢI DỤNG CHỨC VỤ (như vụ chìm xuồng PUM18 và mới đây vụ PCI).
-cướp tiền gọi là XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
-kích động hận thù trong xã hội cho là ÐẤU TRANH GIAI CẤP.
-đi ăn cắp là CẢI HOẠT.
-chôm chỉa là CẢI THIỆN.
-tham nhũng gọi là QUAN HỆ XẤU...
Còn rất nhiều tiếng Vẹm khác, như:
radio là ÐÀI, cái bao đựng Radio là VỎ ÐÀI (từng làm nhiều người dân miền Nam không hiểu khi những cán ngố mới từ rừng núi vào). Ở các trại tù, cán ngố quản giáo lần đầu vào Nam làm việc, khi nhìn thấy tù thăm nuôi, có lạp xưởng, thì “nấy nàm lạ nắm” hỏi: “con gì đỏ choét, không đầu không đuôi? ”.
Khi nhìn thấy phim tình cảm có màn “thương nhau lắm, cắn lưỡi nhau lâu”, được những nhà “văn hóa tiếng Vẹm” gọi là “BÚ MỒM” cũng giống như trẻ bú vú, heo bò con bú vú mẹ...
Ngày nay, tiếng Vẹm đang bước sang giai đoạn “tạp nhạp 80, tức là những nhà “đỉnh cao cháy rụi” văn hóa, thuộc hàng: “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” trong đội ngũ “tiến sĩ Cầu Muối” hay là “khoa bảng bến xe, kỹ thuật chuyên gia bến tàu” và các “nhà báo tiên tiến của hơn 600 tờ báo” với công thức: “nhà nước quản lý, đảng lãnh đạo, nói láo để lập công”, đã và đang biến chế thành Vẹm từ mới. Như động thái, đặc tình, đạo cụ, lao cải, giao hợp, điều kinh, điều phối, cơ chế... khiến cho tiếng Vẹm càng khó hiểu, nên những người từng học tiếng Việt, khi nghe tiếng Vẹm, cũng cần phải có “thông ngôn” kế bên để nắm vững; chớ tiếng Vẹm có nhiều “cạm bẫy” nên cũng gạt được nhiều người ngây thơ.
Tiếng Vẹm là “đỉnh cao trí tệ” nên chỉ có giới bất lương, đầu trộm đuôi cướp xài, dần dà lan ra dân chúng, làm “ung thối” một số tiếng Việt.
Một số người tỵ nạn, tình cờ hay cố ý (gián tiếp) mang theo hành trang tha hương những thứ tiếng Vẹm và một số cơ quan truyền thông do người Việt tỵ nạn chủ trương, cũng quảng bá tiếng Vẹm một cách rộng rãi trong các bài báo, đài phát thanh, truyền hình... ngay trong sinh hoạt, những người về du lịch, du học sinh, gia đình thăm viếng... đã và đang nói tiếng Vẹm, là thứ nọc độc cần phải bỏ càng sớm càng tốt, để tiếng Việt được bảo tồn.
Gần mực thì đen, nói tiếng Vẹm dễ bị ảnh hưởng thành “con vật” (animal), nên các cơ quan truyền thông nên bỏ loại ngôn từ có “nghiệp chuyên” (chuyên nghiệp) lừa đảo, khủng bố, hầu cho tiếng Việt được sạch sẽ, để mai nầy mang về rửa loại tiếng Vẹm, làm cho xã hội rối loạn, ung thối nền tảng đạo lý.
Phạm Quỳnh nói một câu chí lý: “Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn”, thi ngày nay: “đảng cướp Việt Cộng còn là còn tiếng Vẹm”.
Nguyễn Văn Vĩnh cho là: “An Nam ta cái gì cũng cười, hay cũng hì, dở cũng hì...” và tiếng Vẹm cũng có sự kiện: “Tiếng Vẹm cái gì cũng CHẾ ÐỘ, chính trị cũng chế độ, ăn uống cũng chế độ, giá biểu hàng hóa cũng chế độ...” đây là thứ CHẾ ÐỘ lạm phát trong một chế độ phi nhân.
Tiếng Vẹm là thứ ngôn ngữ của băng đảng bất lương, có “nghiệp chuyên” cướp của, giết người, kích động thù hận, chém giết nhau... nên tốt nhất là đừng nên đọc bất cứ sách báo nào xuất bản tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nghe, xem truyền hình Việt Cộng và các cơ quan truyền thông tỵ nạn hãy cố gắng gạn lọc những “cặn bã” của tiếng Vẹm trước khi phổ biến với quần chúng, là một trong những cách để bảo tồn văn hóa dân tộc, ngăn chận nọc độc ngôn ngữ Vẹm.
Nếu các cơ quan nào vẫn cố tình dùng tiếng Vẹm thay tiếng Vẹm trong công tác truyền thông, thì rõ ràng đây là “cơ sở” của Vẹm được cài sang hải ngoại để làm công tác đầu độc ngôn ngữ, hầu dọn đường cho tiếng Vẹm nhuộm đỏ cộng đồng, làm hư tiếng Việt trong sáng truyền thống.
Từ ngữ là chất xúc tác, đưa đường dẫn lối cho các hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế... nói tóm lại, ngôn ngữ chính là cái chìa khóa mở cửa cho nền văn minh nhân loại.
Băng đảng siêu cướp Cộng Sản có thứ tiếng riêng, là “núp bóng” các ngôn ngữ, nơi mà họ “cướp chính quyền” và dần đà biến ngôn ngữ đó thành tiếng Cộng Sản. Nên tiếng Việt đã và đang bị Tiếng Vẹm làm ô nhiễm bằng những “áng mây mù từ ngữ”, lan tràn sang hải ngoại, là điều làm cho nhiều người quan tâm và lo ngại, sợ tiếng Vẹm làm hư tiếng Việt nếu không biết ngăn chận và thanh lọc “ô nhiễm ngôn ngữ Vẹm” ra khỏi tiếng Việt.
Và đây, mình mới vừa đọc được một câu: "Chúc các bạn một tuần thật hoành tráng nhá!"
Nếu không bảo là bừa bãi vô tội vạ thì bảo là gì. Từ "hoành tráng" vốn chỉ đi với không gian và phối trí nay đã bỏ "chồng" để đánh đĩ với thời gian và sự kiện rồi sao?
Hồng Đức

http://viettudomunich.blogspot.com

 

Đăng ngày 7 tháng 11.2017