Chữ nghĩa làng văn

01 tháng 04.2016

phingochung
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải.


Tạp ghi sau 40 năm
Tướng Hoàng Văn Thái và tướng Võ Nguyên Giáp là hai người lập nên QĐND ở Việt Bắc, Hoàng Văn Thái là người lo hậu cần và tiếp liệu cho Võ Nguyên Giáp trong trận ĐBP. Đồng thời ông cũng là sui gia với Võ Nguyên Giáp. Hoàng Văn Thái qua 8 năm làm tư lệnh chiến trường ở miền Nam B2, ông có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Ông được Võ Nguyên Giáp giao làm kế hoạch chiến lược 2 năm (1) vào năm 1975 cùng tướng Lê Trọng Tấn hoàn thành kế hoạch tác chiến chiến lược. Ông lo việc hậu cần, giải quyết những yêu cầu chiến trường...
Khi Hoàng Văn Thái chuẩn bị lên làm bộ trưởng quốc phòng thay vì tướng Văn Tiến Dũng thì ông đột ngột chết ngày 2-7-1986. Trước khi chết, chính Hoàng Văn Thái nói với vợ: “Người ta giết tôi”. Có tin là bị Lê Đức Thọ sát hại vì e ngại người khác phe sẽ khui ra nhiều chuyện của Văn Tiến Dũng và Lê Đức Thọ.
(1) Tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn dự trù 2 năm mới “dứt điểm” được miền Nam.

Phố…”một nhà”
Cụm từ "phố Hàng Trống", nguyên nghĩa chỉ là…một ngôi nhà, một cửa hàng bán mặt hàng "trống".
Như Hàng Chiếu vốn cũng chỉ là một nhà bán mặt hàng "chiếu". Tương tự như ví dụ của bạn về Hàng Muối, Hàng Mắm. Theo thời gian các "phố" thành 1 dãy cửa hàng, cửa hiệu và được gọi là "phố". Từ "phố" lúc này đã biến nghĩa từ "phố" nguyên nghĩa.

Chữ nghĩa làng văn xóm chữ
Chúng tôi bắt đầu hỏi ông về những cuốn tiểu thuyết đầu tiên mà ông đã đọc được lúc còn là một đứa bé lớn lên ở vùng châu thổ sống Cửu Long giữa hai trận thế chiến. Ông nói: "Cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên tôi đọc là một cuốn sách mà thoạt đầu cha tôi cấm không cho đọc vì cho là dâm thư, đó là cuốn Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu. Cuốn này được xuất bản vào khoảng năm 1917, và tôi tin đó cũng là cuốn tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một câu chuyện tình xảy ra ở miền Nam, chẳng có gì là dâm ô cả. Cuốn tiểu thuyết kế tiếp tôi đọc được là cuốn Chăng Cà Mum [1] của Nguyễn Chánh Sắt. Đây là câu chuyện về một cô gái Việt Nam sống gần biên giới Miên, bị bắt cóc đưa sang Miên một thời gian khá lâu trước khi được quay trở về Việt Nam, Cuốn tiểu thuyết này chưa được xuất bản nhưng đã được quảng bá rộng rãi trên tờ quảng cáo của một tiệm thuốc Bắc. Tiểu thuyết gia kế tiếp mà tôi đọc là Hồ Biểu Chánh. Có thể tôi cũng đã đọc một số tác giả khác ngoài Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Chánh Sắt nhưng họ không nổi tiếng mấy và tôi cũng không nhớ được. Nếu tôi biết trước những gì ông bà định hỏi hôm nay thì tôi sẽ ghi lại những chi tiết này đầy đủ hơn."
(Nhớ lần thăm Bình Nguyên Lộc - Phan Việt Thủy)

Cảm nhận của một người Hà Nội về người Sài Gòn
Người Sài Gòn yêu nhau cũng lạ, không cần phô trương, thương là đến với nhau. Quen nhau từ bàn nhậu, quen nhau ở quán cafe, quen nhau trong thang máy… cứ thích là nhích thôi. Người ta thương nhau, về với nhau là để thế giới bớt đi hai người cô đơn (thế mà anh vẫn cô đơn thế này). Yêu gái Sài Gòn không cần phải tỏ tình, cứ rủ đi cafe vài bữa, cho nắm tay, đi xem phim cho thơm, thế là thành bà xã… Tình yêu cũng có hợp tan, nếu hết thương nhau thì lại nhậu, cafe, xem phim… và thêm một mối tình mới.

Nhị sách và cửu vạn
Trong Thi tù tùng thoại, hồi ký của Hùynh Thúc Kháng ở Côn Đảo 1915 có ghi thú chơi tổ tôm, chắn với 120 quân bài. Trong đó có bốn quân bài: chi chi, nhị sách, bát sách và cửu vạn.
- Cây “nhị sách” chống gậy, bị coi là quân “ăn mày”. Đó là chuyện của cụ Hùynh Thúc Khác vào năm 1915 ở Côn Đảo.
- Cây “cửu vạn” vác thùng đồ trên vai. Năm 1990 ở ngoài Bắc gọi những người hành nghề khuân vác ở bến xe, bến đò những và người buôn lậu ở biên giới được kêu là cửu vạn.
(Hoàng Hải Thủy – báo Văn Nghệ Tiền Phong)
Nhuận bút
Ngày xưa người ta viết bằng bút lông, để ngòi bút khô lâu sẽ giòn gãy rụng lông nên thỉnh thoảng phải nhúng nước.
Vì thế các báo chí, nhà xuất bản ở Trung Quốc trả tiền thù lao cho tác giả đều gọi là tiền nhuận bút (thấm ướt ngòi bút).
Về sau viết bài bằng bút sắt rồi bút bi, máy đánh chữ và thậm chí hiện nay viết trên máy tính cũng được gọi là trả tiền…nhuận bút.
(Cao Tự Thanh)
Xạo luận vui về chữ "Tử"
Quân lính chết gọi là…quân tử.
Học trò chết gọi là…sĩ tử.
Chết một cách lãng xẹt gọi là…lãng tử.
(Nguồn ĐatViet.com)

Sự khác nhau giữa Hà Nội và Sài Gòn
Cơn mưa
Mưa Hà Nội giống như tính tình các cô gái Hà Nội, âm ỉ dai dẳng và làm cho bạn nhớ mãi!
Những cơn mưa Sài Gòn giống tính tình của các cô gái Sài Gòn, đỏng đảnh nhưng mau quên!

Ca dao lơ mơ lỗ mỗ
Rượu chè, cờ bạc, đi rông
Quất thêm một đá tét mông dập bều.

Dân ca tình tự dân gian
Dưới đây là nguyên bản bài Cô gái hái chè ở vùng Thái Nguyên miền Bắc quê hương của bà Đặng Thị Huệ thời chúa Trịnh Sâm:
Hôm qua em đi hái chè
Gặp thằng phải gió nó đè em ra
Em lạy mà nó chẳng tha
Nó đem đút cái mả cha nó vào
Bấy giờ em biết làm sao?
Nếu em càng giẫy nó càng vào sâu
Cái gì như thể củ nâu
Cái gì như cái cần câu vật vờ

Bói bài
Ngày Tết, nhà nào ở Huế cũng có phổ biến trò chơi bài bạc. Tuy nhiên, bài bạc ở đây không cốt để ăn thua nhau bằng tiền bạc (dù cũng có chuyện tiền bạc chút ít) mà chỉ nhằm có cớ để xen lẫn trong đó trò bói bài. Người ta thường đoán vận mệnh hên xui trong năm bằng cách nhìn qua sự ăn thua trên từng ván bài.

Chữ nghĩa làng văn xóm chữ
Những cuốn sách giáo khoa và lịch sử văn học - như của Dương Quảng Hàm và của Vũ Ngọc Phan - đều do những người ở miền Bắc viết. Những cuốn sách này cho rằng những tiểu thuyết đầu tiên ra đời ở miền Bắc, đó là cuốn Tố tâm của Hoàng Ngọc Phách (1925) và Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật (1925). Mặc dù còn tuỳ thuộc vào cách hiểu thế nào là 'tiểu thuyết', công việc nghiên cứu của chúng tôi, ngược lại, đã chứng minh là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã được viết ở miền Nam, và có lẽ Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt hay Trần Chánh Chiếu xứng đáng hơn Hoàng Ngọc Phách hay Nguyễn Trọng Thuật trong danh hiệu cây bút viết tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam. Tôi e rằng thành kiến địa phương đã dự phần vào việc thẩm định nên tôi muốn Bình Nguyên Lộc xác nhận sự nghi ngờ của tôi. Sau đó tôi nhận ra là tôi đã quá bồng bột khi chấp nhận một cách giải thích phiến diện cho một hoàn cảnh phức tạp. Bình Nguyên Lộc cho biết mặc dù một số người miền Bắc có thái độ tương tự người Trung Hoa, những kẻ tin rằng họ sống ở 'trung quốc' (Middle Kingdom) và chỉ có bọn man di mới sống ở phía Nam, có một số lý do khác cắt nghĩa tại sao các nhà phê bình miền Bắc không đề cập đến tác phẩm của các cây bút phía Nam.
Ông nói: "Các học giả miền Bắc như Dương Quảng Hàm đã không nhắc nhở đến các nhà tiểu thuyết miền Nam vì họ không đọc được tác phẩm của những người này chứ không phải vì họ không thích người miền Nam. Tác phẩm của người miền Nam không được bày bán ở Hà Nội cho nên họ không biết chút gì về những tác phẩm đầu tiên đã được sáng tác ở miền Nam."
(Nhớ lần thăm Bình Nguyên Lộc - Phan Việt Thủy)

Phố "cầu"
Hà Nội - Thăng long xưa vốn là vùng đầm lầy, ao hồ, sông lạch nên có rất nhiều cây cầu. Ngày nay, một số cây cầu đã mất đi dấu tích song tên của chúng vẫn còn lại và dùng để đặt tên cho các con phố như đường Cầu Giấy.
Phố Cầu Đông dài 100 m, thuộc phường Đồng Xuân. Chợ Cầu Đông (Bà già đi chợ Cầu Đông/ Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?/ Thầy bói gieo quẻ phán rằng/ Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn).
Phố Cầu Đất mới lập năm 1999 (?). Phố Cầu Gỗ dài khoảng 250m, hẹp, được nối từ phố Hàng Thùng đến phố Hàng Gai. Thời Pháp, phố cũng có tên là Cầu Gỗ (Rue du en bois). Vốn xưa, có một chiếc cầu gỗ bắc qua một ngòi nhỏ nối Hồ Gươm với hồ Hàng Đào thế nên hình thành tên Cầu Gỗ.
Phố Cầu Gỗ
Đường Cầu Giấy, lập năm 1988. Tên gọi Cầu Giấy xuất phát từ tên cây cầu bắc qua sông Tô Lịch và làng giấy Thượng Yên.
Cầu Giấy

Không có chữ Việt cổ
Ít lâu nay có nhiều nhà biên khảo cho rằng chữ Việt cổ (chữ nòng nọc (*) có từ thời lập quốc. Qua tích thần thoại vua Hùng Vương mang quân đến núi Khả Lao, Thanh Hóa được thần báo mộng cho trống đồng thúc quân mà thắng trận. Sau khi thắng, vua ban sắc phong là Đồng cổ đại vương và lập đền thờ Đồng cổ thần từ.
Theo Lê Văn Siêu qua Việt Nam văn minh sử cương dẫn đoạn truyện cổ tích trên rồi chú thích:
“Xin lưu ý hồi này chữ Hán chưa truyền vào Giao Chỉ làm sao vua Hùng Vương có chữ để phong cho thần là Đồng cổ đại vương hay Áp Lãng chân nhân hoặc Đồng cổ thần từ
Việc mang quân đi đánh phương Nam theo truyền thuyết có thể là có thật. Nhưng đặt duệ hiệu theo những tiếng Nôm nào đó, còn sự phong tặng chỉ là thêm thắt của người đời sau”.
Như thế theo tác giả Lê Văn Siêu đã gián tiếp khẳng định nước ta chưa có chữ viết vào thời Hùng vương.
(Trần Bích San – Văn Khảo)

Khác biệt văn hóa
Cơn mưa
Mưa Sài Gòn giống tình yêu các cô gái Sài Gòn - nhanh đến nhưng nhanh đi.
Mưa Hà Nội giống tình yêu các cô gái Hà Nội - âm ỉ và dai dẳng.

Yên hà
Yên hà: mây và khói. Nơi sơn lâm tịch lâu cho người thích ở ẩn dật. Thơ có câu “Nghêu ngao vui thú yên hà – Phong trần cởi bỏ, phù hoa tiếc gì”.
Yên hà cố tật: Người quen thói hút thuốc phiện (đi mây về khói).

Hà Nội…”Ngõ”
Hà Nội 36 phố phường hình thành từ những làng quê, ngày nay, hình như dấu ấn “làng” ấy hiện rõ nét nơi phố nhỏ, nơi ngõ ngang ngõ dọc uốn lượn, quanh co, ngoằn ngoèo như đường làng trong lòng một Hà Nội sầm uất. Nhưng đậm chất Thăng Long - Hà Nội vẫn là quận Hoàn Kiếm, nhưng nơi để hoài niệm tận chiều sâu tâm hồn, để lắng nghe tiếng gọi của Thăng Long ngàn xưa lại là ngõ nhỏ. Hà Nội có nhiều ngõ, thậm chí ngõ nối ngõ, trong ngõ còn có ngách, trong ngách còn có hẻm. Có ngõ dài, ngoằn ngoèo như một mê cung . Nhìn thấy phía trước một ngôi nhà, tưởng ngõ đến đó là kết thúc thì lại thấy khoảng sáng nơi ngõ tiếp tục kéo dài lắt léo, ngoằn ngoèo. Hai bên ngõ là nhà, nhà chồng hộp diêm với muôn vẻ khác nhau mà chỉ có ở Hà Nội 36 phố phường. Ngõ là nơi ẩn chứa những bất ngờ mà chưa có ai kể cho chúng ta biết. Nếu bạn muốn biết nơi đất chật người đông Hà thành thì nên ghé qua….các ngõ sau.

Thiếu văn hóa
Trong quan hệ hàng ngày với tập thể cán bộ, sinh viên, Hoàng Ngọc Hiến rất hồn nhiên, chân thật, dễ tính, nên được anh em mến. Nhưng hình như anh có máu phiến loạn, thích gây sự với lãnh đạo. Hồi những năm 60 của thế kỷ trước, tôi nhớ Phạm Văn Đồng có viết một bài về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bài ấy, người khác có thể coi là thường, không hay hoặc chưa đúng chỗ này chỗ khác. Nhưng Hoàng Ngọc Hiến nói:
“Phạm Văn Đồng viết bài ấy là thiếu văn hoá”.
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)

Khác biệt văn hóa
Gái Hà Nội: khó tán, khó bỏ.
Gái Sài Gòn: dễ tán, dễ bỏ.

Công tử bột
Công tử bột là ai vậy, mà hễ bất kỳ chàng trai nào ít am hiểu xã hội, vẻ béo tốt, trắng trẻo, ăn mặc sạch sẽ cứ ngơ ngơ ngác ngác trước cuộc sống, vụng về trong công việc, thích ăn chơi, lười biếng... đều bị liệt vào hạng người này.
Theo nhiều người kể lại, các chàng công tử bột không phải ai xa lạ mà chính là các công chức ngành dây thép (bưu điện) trong thời Pháp thuộc. Thuở ấy, các công chức này thường ăn diện quần áo trắng tinh, bảnh bao, cứ chạy nhong nhong như cờ lông công trên các đường phố ở thành phố lớn.
Nhưng cớ sao lại gọi là công tử bột ?
Công tử là con quan, thì ai cũng hiểu rõ. Nhưng "bột" là gì? Ở đây, trong cách hiểu dân gian, dường như có sự trùng âm giữa từ "bột" với nghĩa trong "bột gạo, bột mì, bột sắn, gà bột, phỗng bột" cũng như các thứ đồ chơi cho trẻ, xinh xắn bụ bẫm...
Và từ "bột", vốn là cách đọc chệch của âm từ "poste" trong tiếng Pháp, có nghĩa là bưu điện (dây thép).
Hóa ra công tử bột là chàng công tử làm nghề bưu điện. Hiện nay các hình ảnh đó đã xa vắng, khác lạ so với chúng ta, không còn hình ảnh nào để gợi nhớ tới họ nữa.
Thành ngữ và danh ngôn
• Nếu ở gần một người mà bạn thấy thời gian trôi thật nhanh còn khi xa người đó bạn lại thấy thời gian trôi qua thật chậm thì bạn nên đem…đồng hồ đi sửa.

Hà Nội…"Hàng"
Ngày nay, Hà Nội có 102 phường (với trên 400 phố, ngõ).
Hiện Hà Nội có 53 phố, ngõ được bắt đầu bằng chữ "Hàng":
Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bè, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Bột, Hàng Buồm, Hàng Bún, Hàng Bút, Hàng Cá, Hàng Cân, Hàng Chai, Hàng Cháo, Hàng Chỉ, Hàng Chiếu, Hàng Chĩnh, Hàng Chuối, Hàng Cỏ, Hàng Cót, Hàng Da, Hàng Dầu, Hàng Đào, Hàng Đậu, Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Gà, Hàng Gai, Hàng Giày, Hàng Giấy, Hàng Hành, Hàng Hòm, Hàng Hương, Hàng Khay, Hàng Khoai, Hàng Lược, Hàng Mã, Hàng Mành, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Ngang, Hàng Nón, Hàng Phèn, Hàng Quạt, Hàng Rươi, Hàng Than, Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng Thịt, Hàng Tre, Hàng Trống, Hàng Vải, Hàng Vôi.

Mài dao dạy vợ
Ngày xưa có một người nhà quê lấy phải vợ độc ác. Người vợ này đối xử với mẹ chồng rất là hỗn láo vô lễ. Người chồng khuyên hoài không được, bèn nghĩ ra một kế.
Anh ta sắm một con dao bầu thật sắc. Mỗi ngày lấy ra mài. Người vợ lấy làm lạ hỏi, nhưng anh ta không đáp. Người vợ tò mò hỏi hoài, cuối cùng anh ta trả lời: "Tôi mài dao để có dịp giết mẹ đi thôi. Mẹ đã già, sống mà ngày nào cũng cãi cọ với mình vậy thì thà chết đi cho rồi". Người vợ thấy thế hoảng hốt, rồi ăn năn: "Xin mình đừng giết mẹ, từ nay tôi hứa sẽ không có điều chi to tiếng trong nhà nữa". Từ đó trong nhà thuận hòa vui vẻ.
"Mài dao dạy vợ" ý nói sự khôn ngoan của người chồng để khuyên bảo vợ mình làm điều phải.

Khác biệt văn hóa
Tỏ tình: Khi bạn nói với một cô gái "Thế em có yêu anh không?"
Con gái Hà Nội: "Nếu nói không thì sao ?"
Con gái Sài Gòn: "Tại sao lại không nhỉ !"
Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao
Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là "lộng ngữ" và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của nghe. Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có:nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. Thí dụ như:
Con kiến mà leocành đa
Leo phải cành cụt leo ra, leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cảnh cụt leo vào, leo ra
(Trần Minh Thương - Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Việt Nam)

Hà Nội…”Hàng”
Phố, ngõ có tên "Hàng", theo thời gian, đã bị thay thế dần:
Hàng Hài (đầu Hàng Bông), Hàng Mụn (nay là Hàng Bút, còn Hàng Bút gốc cuối của phố Thuốc Bắc), Hàng Bừa, Hàng Cuốc (nay gộp lại thành phố Lò Rèn), Hàng Tàn tức Hàng Lọng, Hàng Bột, Hàng Chè (đoạn đầu của phố Đinh Tiên Hoàng), Hàng Giò (cuối phố Bà Triệu), Hàng Kèn (đoạn phố Bà Triệu từ ngã năm Trần Hưng Đạo đến ngã năm Nguyễn Du), Hàng Đàn (giữa hàng Quạt), Hàng Màn (đầu phố Hàng Giày), Hàng Lam (đoạn đầu phố Hàng Ngang), Hàng Lờ (cuối Hàng Bông), Hàng Nâu, Hàng Tiện (đầu Hàng Gai), Hàng Sơn (phố Chả Cá), Hàng Đẫy (đầu phố Nguyễn Thái Học), Hàng Mã dưới và Hàng Mây (nay là phố Mã Mây), Hàng Trứng (cuối Hàng Mắm), Hàng Gạo (phố Đồng Xuân), Hàng Thêu (cuối Hàng Trống), Hàng Sắt (đầu phố Thuốc Bắc)...

(còn tiếp)