Tác giả & Tác phẩm

01 tháng 12.2015

phingochung
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Dẫn nhập: Với cái nhìn chủ quan của người biên soạn, tuyển tập 300 tác giả và tác phẩm đơn thuần chỉ là công việc góp nhặt sỏi đá những tác phẩm tiêu biểu một thời của những tác giả tiền chiến, hậu chiến, trước hay sau 75 của hai miền Nam Bắc, trong nước cũng như ngoài nước, già hoặc trẻ, cũ hoặc mới. Tác giả và tác phẩm được góp mặt mỗi tuần theo thứ tự họ hoặc tên qua mẫu tự A, B, C… Xin thành thực cám ơn những tác giả có mặt trong tuyển tập nhưng vì trở ngại thông tin, chúng tôi đã không thể xin phép quý vị trước khi đăng tải. – Ngộ Không Phí Ngọc Hùng..


Nguyễn Thị Thụy Vũ

Tiểu sử  & Tác phẩm
(Xem Vài hàng về tác giả)

nguyen thi thuy vu

tranh Nguyễn Hải Chí 1973 - Chóe (1943-2003)

Mục lục
Vài hàng về tác giả - Nguyễn & Bạn hữu
Đêm tối bao la
Ðọc “Đêm tối bao la” của Nguyễn Thị Thụy Vũ -Bảo Ngọc, Vy Huyền
Giới thiệu truyện “Lòng Trần” của Nguyễn Thị Thụy Vũ – Trần Vũ
Lòng trần
Nguyễn Thị Thụy Vũ với "Lòng Trần" – Hồ Trường An
Khung rêu
Nguyễn thị Thụy Vũ với truyện dài “Khung rêu” - Hồ Trường An

Phụ đính I :
Tình dục và các nhà văn nữ - Sự khác biệt về tính dục…
Chén trà cây bút và một ngọn đèn - Trường hợp Nguyễn Thị Thụy Vũ
Nguyễn Thị Thụy Vũ và những cánh thiêu thân
Câu chuyện về một "Muỗng Nước Mắm" của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Phụ đính II :
Đàn kiến lửa
Một buổi chiều
Những dòng mực cuối năm

Phụ đính III:
Người con gái 27 năm với đời sống thực vật – Văn Quang
Thụy Vũ chăn dê – Đỗ Tăng Bí
Vài hàng về tác giả
Nguyễn & Bạn hữu

nguyen thi thuy vu
Nguyễn Thị Thụy Vũ  (Ảnh Trần Cao Lĩnh)

Tên thật: Nguyễn Băng Lĩnh sinh ngày 19.8.1939, quê ở Vĩnh Long. Vào nghề gõ đầu trẻ từ năm 1957. Chê nghề giảng tập viên lương ít nên bỏ lên Sài Gòn năm 1961, học Anh văn và đi dạy các cô bán bar. Vào nghề viết văn năm 1963, do sự dìu dắt của ông Võ Phiến. Cho xuất bản tác phẩm đầu tay “Mèo Đêm” năm 1966. Cùng sáng lập nhà xuất bản Kim Anh với bà Nguyễn Thị Nhiên năm 1967. Viết feuillton cho nhật báo Tiếng Nói Dân Tộc, lập nhà xuất bản Hồng Đức và Kẻ Sĩ với Tô Thùy Yên. Chính thức sống bằng nghề viết feuilleton cho các nhật báo bắt đầu năm 1969 cho đến Tháng Tư 1975.
Tác phẩm:
- Mèo Đêm (1966)
- Lao Vào Lửa (1967)
- Chiều Mênh Mông (1968)
- Thú Hoang (1968)
- Ngọn Pháo Bông (1968)
- Khung Rêu (1969)
- Như Thiên Đường Lạnh
- Nhang Tàn Thắp Khuya
- Chiều Xuống Êm Đềm
- Cho Trận Gió Kinh Thiên

______________

 

Đêm tối bao la

Duy choàng tay qua đôi vai tôi, đôi môi chàng màu tro nặc mùi thuốc lá hờ hững đặt lên môi tôi. Nụ hôn chia tay này không còn nồng nàn như mấy năm về trước. Tôi lách ra khỏi vòng tay ấy, ngoái lại nhìn chàng. Da chàng trắng nhờn nhợt như da bụng con thằn lằn. Mặt chàng sần sùi và thô nặng như một tảng đá không còn làm da thịt tôi nháng lửa nữa. Đôi vai rộng và cái mông tròn của chàng ngày trước đã lôi cuốn sự chú ý của tôi. Bây giờ cuộc yêu đương hờ hững không đem đến cho nhau nhiều rung động nữa. Đàn ông đâu phải chỉ mê hoặc đàn bà ở cái vai và cái mông. Thân thể của chàng đã xa lạ với thân thể tôi từ mấy tháng nay. Tôi muốn tìm ở đàn ông sự dịu dàng ở khuôn mặt, một lời nỉ non, một nụ hôn đơn sơ không cần có kỹ thuật. Tôi đứng nhìn Duy cho đến lúc chàng khuất sau khúc quanh của ngã tư đường rẽ lên chiếc cầu qua thành phố. Trở vào nhà tôi ngồi lại bên cửa sổ cạnh chiếc bàn con. Trên bàn, mẩu thuốc lá hút dở còn bốc khói trong chiếc gạt tàn bằng sứ trắng. Tờ chương trình hát bóng nằm bên cạnh xâu chìa khóa của tôi. Ly cà phê còn vương chút cặn đen ngòm dưới đáy. Tôi đã từ chối không làm một cuộc phiếm du với chàng vào chiều thứ bảy này vì không thích đến những nơi đông người. Tiếng nhạc ầm ĩ ở rạp chớp bóng sẽ làm thần kinh tôi căng thẳng. Tôi thích ngồi một mình ngắm dòng sông vào mùa nước nổi. Mối buồn bâng quơ của tôi dâng lên ăm ắp như nước sông đầy.
Gần cửa sổ, những chùm hoa hoàng lan lủng lẳng trên cành. Mùi thơm thoang thoảng bay khắp mặt sân ùa tới gian phòng ngủ. Mặt trời đang giãy chết bên kia sông. Những tia nắng cuối cùng đỏ nhạt đang run rẩy trên mái lá. Gió sông ập vào cửa làm tóc tôi bay bay. Những ý nghĩ về Duy rối rắm như mớ tóc trước gió này. Vài con dơi từ mái ngói uốn cong bay vụt ra sông. Sự vắng ngắt của buổi chiều ôm chầm lấy tôi và dìm tôi như muốn ngộp thở. Tôi uể oải đứng dậy đóng ầm cửa sổ rồi lững thững đi bách bộ một vòng quanh nhà. Bóng tối từ từ chụp lên ngôi nhà hoang vắng này. Gió sông lùa cơn lạnh vào xương sống tôi và làm cứng nó lại.
Duy đem lại cho tôi những gì? Một gương mặt lì lợm không nói lên được một cảm xúc nào? Hay chỉ là một không khí ấm áp ít oi không thể làm tôi yêu đời hơn một phân hay một li nào?
Cứ thường mỗi buổi chiều, khi tiếng chuông của một ngôi chùa xa âm u vọng tới và khi bóng tối bắt đầu bôi xóa lem luốc những cành cây sà bên khung cửa sổ, mái nhà và dòng sông, tôi vụt có một ý tưởng rằng: Cơ khổ! tại sao tôi cứ ở đây, bên dòng sông quen thuộc, nhàm mắt trước cuộc sinh hoạt âm thầm của lối xóm và trong ảo tưởng lạnh lẽo? Tôi phải rời khỏi bóng tối của căn nhà này, rồi bóng chập chờn của rèm sáo, đàn dơi trong nắng chiều, những quyển sách nhức cả đầu và cái ám ảnh vu vơ, nặng nề đè tôi muốn nghẹt thở từ bao lâu rồi.
Cuộc đời sắp tới của tôi sẽ gồm có gì? Một người chồng không phải là Duy? Những ngày bình thản? Hay chỉ là nếp sống sinh hoạt lạnh lẽo gồm nỗi cô đơn này xỏ khoen vào nỗi cô đơn khác như sợi dây lòi tói? Tôi đi lần ra sân trước ngắt vài đóa hoa "nở ngày" màu tím thẫm đem cắm vào lọ sành màu lục, thắp ngọn đèn Huê Kỳ đặt giữa nhà. Rồi đốt nén nhang và rót nước cúng Phật. Khói nhang bay nghi ngút. Tôi không biết mình phải khấn gì giữa buổi chiều ảm đạm này. Đôi mắt Phật Quan Âm lạnh lùng hướng về tôi. Tôi đi từng bàn thờ ông bà, cắm mỗi nơi vài cây nhang trầm. Trở lại bàn Phật tôi cầm chiếc dùi đánh nhẹ vào cái chuông đồng rồi có cảm tưởng như mình là một ni cô giữa khung cảnh trang nghiêm này. Trên kèo nhà, con cắc kè há cái miệng đỏ thén như ngậm lửa hướng về tôi, chậm rãi kêu lảnh lót. Má tôi thường nói: "Khi cắc kè kêu thì mình phải đếm như thế này: tiếng đầu thì hên, hai là xuôi, ba là may, còn tiếng thứ tư là rủi. Nhưng thực là vô duyên. Lúc nào con cắc kè khốn nạn này cũng chấm câu vẫn chỉ bốn tiếng.

Cầm đèn đi vào phòng ngủ, tôi ngồi lại bàn viết, giở chồng sách cũ. Tôi nghĩ mình nên ghi những cảm tưởng lên giấy. Từ lâu tôi có cao vọng viết một tập tùy bút lẫn truyện ngắn. Ở ngoài đời tôi thất bại, cô đơn. Chắc hẳn văn chương không cấm những giấc mơ lẫn ảo tưởng của tôi thao túng, vẽ vời. Những nhân vật đàn ông của tôi, phần nhiều nói ra thêm thẹn, toàn là các anh chàng đẹp trai, có phong độ. Và tôi không ngần ngại chui vào truyện để làm những mỹ nhân để bắt bồ với họ. Chuyện tầm thường quá, có tốn kém chăng là sự xúc cảm vu vơ của tôi suốt đêm mà thôi. Vậy mà nó giúp tôi không nghĩ đến hiện tại. Còn bây giờ thì tôi hơi mỏi mệt. Tôi vặn đèn nhỏ lại rồi vào giường. Từ nhỏ, tôi sợ bóng tối chụp lấy tôi. Ánh sáng vàng vọt của đèn chong sẽ làm tôi bớt sợ hãi. Vắng vẻ quá! Tiếng chuột chí chóe ở đâu đây. Lấy mền trùm kín lên tận cổ, tôi cố nhắm mắt mong cho cơn buồn ngủ từ từ xâm nhập vào người tôi và những ray rứt vụn vặt kia sẽ lui dần...
Thình lình tiếng đấm cửa đùng đùng tiếp theo sự la thất thanh:
- Mợ Hai ơi! Con Linh bị mấy thằng thợ sửa cầu hãm hiếp, máu ra đầy quần nè! Mở cửa mau đi!
Tôi tung mền, nhảy phóc xuống giường chạy ù ra cửa. Tiếng lắc chốt và tiếng tay đấm mạnh vang dội. Tôi kinh hãi mở vội cửa. Dưới ánh đèn Hoa Kỳ trên tay tôi, nét mặt nhăn nheo như trái vải khô của bà Điếc, cái miệng méo lệch và đôi mắt của bà mở trừng trừng như lạc vào một thế giới nào. Bà há hốc miệng và tiếp tục la. Tôi nắm tay bà gọi giật:
- Bà Bảy, tôi đây nè! Má tôi đã đi làm ăn xa. Còn tôi... có ai làm gì tôi đâu?
Bà dằn tay tôi ra, giọng bà lạc hẳn:
- Rõ ràng tôi thấy đang bị...
Bà ngừng lại, nhướng mắt đỏ ngầu nhìn tôi.
Tôi hét to hơn để cho bà nghe rõ:
- Tôi đây! Má tôi đâu có ở nhà. Bộ bà quên rồi sao?
Mắt bà vẫn dán lên mặt tôi. Đôi mắt bà chệch xuống sau một cơn kinh phong. Những tia máu nằm vắt ngang trên tròng trắng và mắt bà nổi phồng lên như sắp rớt ra khỏi lỗ mắt.
Tôi nắm vai bà lắc mạnh, hét:
- Tôi đây, tôi đây nè!
Bà Điếc vẫn la thất thanh:
- Ai cứu nó. Trời ơi! nó là con gái mà...
Nhìn đôi tay run rẩy của bà, tôi chợt hiểu. Bây giờ là lúc bà đang sống ở một trạng thái mê loạn, quái đản. Tôi gào lên:
- Tỉnh dậy đi bà! Tôi đâu có đi ra khỏi nhà.
Bà Điếc ngẩn người một lúc rồi nhếch cái miệng méo xệch, không còn một chiếc răng giống hệt cái miệng rùa, cười tỉnh cơn mê:
- Vậy hả! Mày không việc gì sao? Tao thấy...
Tôi đặt tay lên vai bà dỗ dành và đưa bà về cái chòi nằm dưới gốc liễu già cạnh nhà:
- Vào ngủ đi bà.

Nhà tôi nằm bên dòng sông Long Hồ. Trước nhà là con đường cẩn đá xanh không tráng nhựa. Chỉ một chiếc cyclo máy vượt qua cũng đủ làm cho lớp cát bụi có dịp bốc lên và bay tản mác vào thềm nhà. Bên kia đường, một thửa vườn hoang xen lác đác vài mẩu rẫy chạy dài hút mắt. Những ngôi mộ nằm rải rác dưới mấy tàng dương thưa lá. Vào ngày nắng ráo, vài con quạ đứng rỉa lông. Thỉnh thoảng chúng cao hứng kêu thét lên. Tiếng kêu khàn, chát khuấy động bầu không khí oi ả, lặng lẽ. Bên những líp rau chưa trồng vài đống un bốc khói làm mờ đục cả một góc vườn. Khi trận mưa dứt, bọn sóc, nheng phóng từ cành cây cổ thụ này sang cây cổ thụ kia. Đó cũng là nơi trú ẩn của lũ chồn đèn lẫn chồn mướp để rồi đêm đến chúng lẻn vào xóm bắt gà vịt. Nhà tôi ít khi mở cửa. Mặt tiền tối om om vì nền cao, mái thấp. Trên nóc nhà những cụm rêu xanh mượt, mịn như trải nhung. Vài ba cây cỏ dại lẫn rau càng cua mọc trong lòng máng xối.
Ba má tôi đi làm ăn xa tận miền đất đỏ và em gái tôi đã đi lấy chồng ở Rạch Giá. Là phận em, nó hỗn hào, dám lấy chồng trước chị. Chuyện đó làm tôi ngượng với chòm xóm khi họ hỏi tôi chừng nào cho họ ăn trầu. Lúc nào tôi cũng rùn vai bảo rằng không thích lấy chồng, trong khi đó tôi cảm thấy bị chế nhạo sau lưng. Còn lại mình tôi và bà Điếc thay phiên nhau lo giữ phần nhang khói cho ngôi nhà hương hỏa này. Bà Điếc không ở chung với tôi, chỉ thích một ngôi nhà riêng biệt. Bà chỉ giúp tôi quét dọn và làm cỏ trước sân. Hồi còn con gái, bà đã theo bà nội tôi từ Mỹ Tho về nhà này làm dâu phụ. (Ngày xưa những cô gái nhà giàu thường có mang theo cô phù dâu về nhà chồng). Vì mồ côi cha mẹ, bà bằng lòng theo bà nội tôi đến một xứ lạ hoắc. Ngày bà còn trẻ, nhiều trai tráng hàng xóm thường lui tới với bà. Trong số những người đi qua đời bà, chỉ có ông Tư chăn dê kiêm người tài xế của ông nội tôi, là mối tình chánh. Đứa con gái của hai người khi được hai tuổi thì chết vì bị chứng ban đen và chẳng bao lâu ông Tư mắc phải bịnh dịch tả cũng qua đời. Chưa bao giờ bà có ý nghĩ ra khỏi gia đình tôi, nơi đó đã đem lại cho bà nhiều kỷ niệm vui buồn suốt đời làm tôi tớ. Bà thường tâm sự với má tôi:
- Mợ Hai à! thầy bói nói bàn tay tui có đồng tiền vạn nhựt. Số tôi phải ở đây hoài, nếu ra đi sẽ khổ sở hơn.
Sau cái chết của ông Tư chăn dê, bà dan díu với ông Năm Còm bạn chè chén của ông Tư. Ông này tặng cho bà một thứ bệnh ngặt nghèo làm ung mủ cả hai chân răng và chúng thi nhau rời khỏi niếu của bà cũng bị rụng mất. Tiếng nói của bà ngọng nghịu. Sau cơn bệnh ấy, bà mất cả thăng bằng. Tính tình gắt gao, nóng nảy. Cách giải phẫu của y sĩ chẳng những không làm tình dục bà tắt đi, mà trái lại còn chụm thêm củi đuốc để cho cơn cuồng loạn xác thịt của bà chồm lên cao. Bà khao khát đàn ông đến nỗi không còn biết hổ thẹn là gì nữa.
Tôi không rõ bà Điếc đã đến đây được bao nhiêu năm rồi. Khi tôi còn thơ ấu thì tóc bà có vài sợi bạc. Những nếp nhăn trên mặt bà như nếp nhăn chiếc lồng đèn giấy. Tuy vậy, bà vẫn tỉa lông mày, đánh lên đôi má nhăn nheo một chút phấn bột. Thỉnh thoảng tôi nhìn trộm bà đang tẩn mẩn trước tấm gương con. Hai hàng lông mày của bà cong và nhỏ mức như hai sợi chỉ. Bà thích mặc chiếc áo màu sặc sỡ bó sát lấy cái thân khô đét như cây da. Bao nhiêu tiền má tôi cho đều qui về ăn diện, dù số tiền quá ít chỉ đủ ăn quà vặt. Bà quên hẳn mình già.
Tánh tình bất thường của bà Điếc càng lúc càng tăng.
Một hôm, gần cận Tết, má tôi gọi một ông tá điền ở tận dưới quê lên giúp chăm sóc và quét dọn nhà cửa để chuẩn bị rước năm mới. Ông Tư Tấn đã ngoài sáu mươi nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Mặt ông lúc nào cũng đỏ au như vừa uống rượu mạnh. Tóc ông trắng như phủ một lớp muối bọt. Ông có thói quen sau ngày làm việc cặm cụi là thường lấy cây đờn cò ra dạo vài bản Kim Tiền. Tiếng đàn ấy tuy không dội được vào tai bà Điếc nhưng bà thích thú ngồi ngắm ông Tư Tấn kéo đờn và thỉnh thoảng đôi mắt lõm sâu của bà tình tứ hướng về ông. Ông Tư Tấn đắc ý với tiếng đờn trầm bổng của mình, chốc chốc ông lại gật đầu theo tiếng nhịp nằm gọn giữa lòng bàn chân khẳng khiu của ông. Ông lỏn lẻn cười đáp lại với bà...
Sau vài cuộc tình ái phất phơ, bây giờ tôi mệt mỏi thật sự. Tôi bất chấp dư luận để sống, mà rồi vẫn cô đơn. Tìm được kẻ mà mình đắc ý, tính cho chàng ta đắc cử vào giấy hôn thú thì tôi gặp cảnh hụt đõi luôn luôn. Bây giờ, tôi bám vào Duy để lấp vào những ngày trống rỗng. Chàng nhạt nhẽo quá. Tôi lại mơ cao để rồi số tuổi càng ngày càng chồng chất theo nỗi chán chường.
Bây giờ tôi sống bên bà già bịnh hoạn, khủng khiếp như thế này, ngôi nhà rộng và hiu quạnh như cái chùa. Em gái tôi lâu lâu về thăm nhà. Một con đàn bà trống trải, ngu muội. Nó thường nói toẹt rằng: "Các cô chưa chồng nhìn phớt qua thì thấy trẻ, nhưng xem kỹ lại thì chát ngầm". Tôi soi kiếng, xót xa. Con gái chỉ có một thời. Tôi đã đánh mất cái hấp dẫn tươi trẻ. Mình mẩy càng ngày càng đầy ra, co kéo suông đuột như cây cột nhà. Đã lùn lại mập. Con em gái chẳng tha, có dịp lại quở: "Chị giống như con heo thiến". Uống dấm, cữ ăn mà tôi vẫn "giàu sang" về thịt mỡ. Lại nữa, đã làm thân con gái, tôi lại sanh vào năm dần, bất lợi biết bao! Đi đâu, tôi khai rằng mình tuổi Mùi, làm con dê cho bớt khủng khiếp trong số mười hai con vật tượng trưng cho mỗi tuổi trong một con giáp. Các chàng thích bắt bồ với tôi không mảy may tính chuyện trầu cau vì sợ tôi ăn hiếp lúc về sống chung. Cái thứ đàn bà tuổi Dần cao số thật.
Thôi! tôi chẳng tính chẳng mơ gì nữa. Cứ ăn uống thỏa thích. Dầu sao mình vẫn còn có Duy, già nhơn ngãi non vợ chồng. Nhiều lúc đưa tay rờ bụng, vòng eo mà mình muốn đi hiến máu để làm phước. Tuy vậy Duy vẫn nịnh hỗn, cho rằng da tôi mát rượi như bánh đúc, mịn như sa ten.
Tôi chán viết văn. Văn chương nào phải là cái cớ để cho phụ nữ giải tỏa ẩn ức. May mà tôi không đem bài vở đăng báo. Có một chàng văn sĩ đòi bạt tai lũ đàn bà cầm bút, hăm he đuổi họ trở về chỗ bếp núc và chỗ ngồi lê đôi mách. Thái độ du côn đó chẳng những không làm tôi giận mà tôi còn mê chàng nữa, rồi vẽ ra trong óc là chàng đẹp trai hấp dẫn như James Bond, chàng điệp viên 007.
Một hôm bà Điếc gọi ông thợ hớt tóc dạo đi ngang qua nhà. Bà đưa cho ông ta năm đồng nhờ cạo lông mặt. Ông thợ cạo hơi do dự. Tôi giục:
- Ông cứ làm cho bả vui lòng.
Bà Điếc bắc cái ghế đẩu chễm chệ ngồi bên lu nước mưa. Ông thợ cạo quàng trước ngực bà chiếc choàng trắng rồi ông ta cầm cái bông phấn xoa nhẹ trên da mặt. Lưỡi dao sáng, mỏng được rút từ trong bao da. Ông liếc dao xoèn xoẹt trên bàn tay chai cứng rồi dùng hai ngón tay banh những nếp nhăn chìm sâu trên màu da mặt đen sẫm của bà Điếc. Bày con nít xúm coi như xem đám hát Sơn Đông. Vì ỷ mình là một khai quốc công thần của gia đình tôi, nên bà tha hồ muốn làm gì thì làm. Ai cũng nể bà vì tuổi tác và cho những trò lố bịch của bà là trạng thái sanh tật của tuổi già. Có lần bà túm áo má tôi quật xuống thềm nhà vì má tôi cản không cho bà đi uốn tóc. Tuy đã gần ngoài sáu mươi tuổi nhưng bà còn mạnh lắm. Má tôi bị đánh bất ngờ nên ngã quỵ. Lúc đầu tôi và em gái đứng xem sự tranh sức của hai người rồi cười ngất vì tưởng má tôi thế nào cũng quật bả sụm. Nhưng bất ngờ bà Điếc dìm má tôi xuống và leo lên mình đấm đá túi bụi. Cuối cùng má tôi kêu cứu:
- Tụi bay đứng đó nhăn răng cười được hả? Để bả giết tao luôn đi.
Chúng tôi xông vào gỡ tay bà Điếc nhưng vì cơn cười của hai chị em tôi sôi sùng sục nên không đủ sức mạnh rứt bà rời khỏi má tôi. Thấy chúng tôi vào can, bà la to vu khống:
- Bớ làng xã, bớ mã tà, mẹ con nó giết tui!
Hàng xóm nghe la chạy sang rồi có hai ba người hì hục tiếp chúng tôi lôi xển bà Điếc. Tay bà vẫn ghì chặt áo má tôi miệng không ngớt chửi rùm lên:
- Mồ tổ cha nó, ai cũng binh nó hết.
Hàng xóm được dịp cười đùa bàn tán, không khí vui tươi có cơ hội hâm sôi lên trong khu xóm buồn tẻ này.
Khi ông Tư Tấn trở về quê với vợ con bà tư lự suốt mấy tháng. Bà không buồn ngó ngàng đến công việc nhà. Má tôi phải nấu cơm và hầu hạ bà như mẹ chồng. Biết hàng xóm vì nể má tôi nên bà càng có dịp chửi mắng họ vô duyên cớ. Chẳng có ai phản ứng gì. Trái lại những lời nguyền rủa của bà biến thành những câu hài hước. Bà nghi ngờ ai cũng mê ông Tư Tấn nên bà ghen tuông đáo để.
Một buổi sáng bà xách gáo xuống cầu gội đầu. Tóc bà đã bạc hơn nửa mái đầu. Gội đầu xong, bà vào thay bộ đồ lục soạn trắng lốp rồi đội khăn the màu hường õng ẹo đi chợ. Tôi chận lại hỏi:
- Bà Bảy đi đâu sớm vậy?
Bà nguýt tôi một cái:
- Tao đi uốn tóc. Khéo hỏi!
Tôi vịn vai bà can:
- Bữa nay Chúa nhựt tiệm uốn tóc đóng cửa hết rồi.
Tôi cố nhịn cười để cố làm cho bà tin tưởng, nhưng bà nhìn tôi lộ vẻ nghi ngờ. Cô bạn láng giềng của tôi chơi ác kề tai bà:
- Chị Linh nói gạt, bà đi mau để người ta uốn cho kịp.
Bà gạt phắt tay tôi, phủi đít rồi ngoe nguẩy đi một nước. Khi đứng trước cửa tiệm, bà len lén nhìn vào, rồi cố bạo dạn bước vô trong.
Bà chủ ngồi ở quày hàng cất tiếng hỏi:
- Bà kiếm ai?
- Tôi đi uốn tóc. Giá bao nhiêu?
Bà chủ ngạc nhiên hỏi vặn:
- Phải có người nhà bằng lòng chúng tôi mới dám uốn tóc cho bà.
Bà trả lời đầy giọng cương quyết:
- Tôi có tiền để trả cho cô mà.
Trong khi bà chủ còn đang cố giải thích cho bà Điếc hiểu thì tôi và cô bạn đạp xe đạp chạy như bay đi lùng mấy tiệm uốn tóc. Vừa thò đầu vào tiệm Nam Hiệp, chúng tôi thấy hai người đang bàn qua cãi lại. Tôi không dám nói năng với bà chủ tiệm chỉ sợ bà Điếc biết tôi vào cản mũi. Tôi giục Thảnh (cô bạn láng giềng) cho bà chủ biết rằng bà Điếc khật khùng. Bà chủ nhoẻn miệng cười rồi khẽ gật đầu. Bà Điếc nhìn Thảnh rồi quay sang bà chủ tiệm cố lắng nghe sự đối thoại giữa hai người. Sau rốt, bị từ chối, bà Điếc đoán được sự có mặt của Thảnh nơi đây. Bà nguýt dài bà chủ tiệm rồi bỏ về.
Hai đứa chúng tôi đã lỏn về trước. Vào nhà tôi vờ vào phòng đọc sách lắng nghe từng tiếng động của bà trước thềm nhà. Bà rì rầm chửi rủa một mình. Không thấy tôi đâu, bà xông vào buồng lục kiếm. Tiếng guốc lộp cộp của bà gần về cửa buồng. Tôi cố giữ vẻ thản nhiên chúi mũi vào quyển sách. Bà chỉ về phía tôi nhiếc:
- Cái con này nó vô dang (bà muốn nói vô duyên) ghê! Tao đi uốn tóc mắc mớ gì mày mà mày xúi con Thảnh qua cản trở? Sao mày biết uốn tóc mà mày cấm cản tao hả con mập kia? Con chó thiến này làm chuyện lãng òm...
Cố nén tràng cười đang chực tuôn ra, tôi chối phắt:
- Nãy giờ tôi ở nhà, đâu có xúi biểu ai đâu.
Bà chẳng chịu tha:
- Mày cứ sợ ai cũng ngộ hơn mày nên mày ganh ghét tao. Thấy cái bản mặt phì lũ của mày mà ứa gan...
Tôi vẫn lặng thinh. Mắng nhiếc chán, bà trở về căn nhà nhỏ lầm bầm rủa xả suốt buổi. Không ngờ bà Điếc có địch thủ để ganh duyên đọ sắc. Tội nghiệp! Kẻ đó lại là tôi...
Rồi một cái Tết trôi qua. Lật bật đã đến ngày đưa ông Táo. Trước nhà mấy chậu hồng và thược dược đua nhau nở vào buổi sáng. Tôi đang ngồi tỉa những cành lá úa. Thảnh nảy ra ý kiến mời bác thợ chụp hình cho tôi vài kiểu. Tôi bác bỏ ý kiến chụp hình ngoài trời vì bữa hôm đó trời âm u quá, và tôi đề nghị cắt vài bông hồng kết thành một bouquet đem vào tiệm chụp lấy rõ mặt mũi. Để điểm trang cho bó hoa, tôi tẩn mẩn cột vào một cái nơ lụa màu thiên thanh. Bây giờ thì tới phiên tôi ngồi vào gương đánh phấn nước, kẻ hai bên lông mày cho mắt sáng lên. Đôi môi của tôi được tô bằng một thứ son đỏ hoét. Trang điểm xong, tôi nhìn vào gương ngắm nghía lần chót, hai đuôi lông mày tôi vẽ đậm xếch ngược giống như mày của Liz Taylor. Tôi mím đôi môi làm duyên và chọn cho mình một góc cạnh khác hẳn để tránh chưng cái mặt đầy thịt hai bên má như cái bánh bao. Tạm hài lòng về cách hóa trang của mình, chúng tôi đi qua tiệm hình cách nhà vài ba mươi thước. Thảnh trịnh trọng gói bó bông lại cẩn thận. Tôi ngồi trước máy hình do sự đạo diễn của ông ba Tàu. Ông ta xoay đầu tôi nghiêng qua bên này bên kia để ngắm nghía. Chưa vừa lòng, ông sửa lại bó bông trên tay tôi.
Tôi áp bó bông vào má. Thú thật tôi không dám cười vì có mặc cảm cái miệng mình rộng như miệng cá vồ, nên cố mím môi lại cho nó mỏng bớt và cho đôi mắt mơ màng huyền ảo thêm.
Về nhà, trước gương tôi cố diễn lại cái màn cũ, ngồi ưỡn ẹo bên bó bông rồi tự mãn chờ ngày lấy hình. Như mọi chiều thứ bảy, Duy trở lại thăm tôi. Trên tay chàng, tờ báo Điện Ảnh cuốn tròn. Chúng tôi ngồi cạnh cửa sổ hướng ra sông. Tôi giành tờ báo và lật vội. Hình ảnh chàng Hercule đưa cái ngực dày và những bắp thịt ở bụng chia làm sáu mảnh nổi bật lên. Quay lại nhìn Duy. Ồ! cái bụng của chàng cao lên như cái mả mới đắp.
- Anh bự con, nếu anh cố tập thể thao thì chẳng bao lâu ngực anh sẽ nở, nhứt là bụng anh sẽ chia ra làm sáu miếng như bụng Hercule.
Duy nhìn tôi rồi nhìn xuống cái bụng binh rinh như giấu cái nồi trong áo. Chàng cười:
- Bụng phải để cho nó thống nhất một khối thì mới mạnh được. Chia ra nhiều khối e mất tinh thần đoàn kết đi.
Trước vẻ yên lặng bất mãn của tôi, Duy lấy điếu thuốc lá ra đốt. Tôi vẫn dán mắt vào tờ Điện Ảnh. Những chuyện không đâu cũng dễ đem đến cho nhau những bất mãn. Những cuộc gặp gỡ như thế đã giết lần những tình cảm tốt đẹp. Không khí buồn tẻ nhốt chúng tôi. Tôi cảm thấy sắp chết ngộp, cần phải dãy dụa để thoát.
Thảnh đem hình về. Mấy con bạn láng giềng giành nhau coi. Chúng nó xuýt xoa khen hoa đẹp, cái nơ xinh. Cơ khổ! Chúng nó quên cái điều quan trọng nhất là khen hình tôi. Tôi giành lấy hình. Sao mà đôi môi tôi dày dục nằm vắt ngang như hai con đỉa trâu. Đôi mắt tôi đánh "phong" xanh gớm ghiếc. Chụp chung với bông hoa là điều bất lợi cho tôi. Người ta mắc ngắm những vật gì làm phụ tùng cho tôi, hơn là thích ngắm khuôn mặt tôi.
Duy sắp đi quân dịch. Tôi sẽ kéo dài đời sống cô đơn với số mỡ thừa thãi dưới làn da mát như bánh đúc, trơn như sa-ten và bên mụ già càng lúc càng chìm đắm trong một thế giới ma quái. Cứ xem buổi điểm tâm hàng ngày mà mình ngán ngược. Với một tô hủ tiếu tôi chưa thấy thấm tháp gì ở bao tử. Dùng thêm một ly cà phê sữa, tôi chỉ mới no lưng lửng thôi. Phải thêm một khúc bánh mì dồn thịt nguội nữa, tôi mới vững dạ đi làm ở một tiệm may gần nhà lồng chợ Vĩnh Long. Ăn uống như vậy đó, ngoài hai buổi cơm chánh, tối nào tôi cũng ăn hột vịt lộn hoặc hai vắt mì trước khi đi ngủ. Cái ngực tôi đồ sộ, và cái bụng cũng bề bộn không kém. Phen này chắc phải đi đóng phim giả làm đào Ấn Độ. Có đôi lúc tôi soi gương thấy mình giống hệt con đào Savitri. Đôi mắt ốc bươu này nếu vệt thêm một quầng đen, phải vẽ thêm một vết son đỏ giữa hai chân mày, phải gắn hột xoàn ở một bên sống mũi, phải đứng trước tấm phong vẽ hình hai con rắn hổ phun xòa bàn nạo. Như vậy tôi có thể thủ vai chính trong phim "Công Chúa Cá Phò Mã Cùi" hoặc trong "Xe Duyên Chỉ Thắm". Có nhiều lúc tôi muốn lấy chồng Chà và để được ăn CA-ri để cho xong cuộc đời. Dáng đi ột ệt của tôi làm đề tài hài hước cho trai trong xóm. Có nhiều lúc ngồi may, chợt nghĩ tới cái "ben" chít trên áo dài mà mình tủi thân. Lúc sau, tôi phải xoay qua mặc "rốp xắc" cho tiện.
Ông Tư Tấn có dịp trở lên chợ và ghé thăm bà Điếc. Bà dọn cho ông một bữa cơm bĩ bàng gồm có rượu, thịt hầm, cá bống chưng. Ông ngồi ngâm nga uống từng ngụm nhỏ. Hôm đó bà bận rộn suốt ngày. Dan díu được mười bữa thì ông Tấn bỏ đi, tiền bạc mà bà cắc ca cắc củm mấy tháng nay bị ông Tư Tấn vuột sạch. Từ đó, chứng bịnh sống bên lề thế giới quái đản tăng dần. Cơ hồ bà rời khỏi cuộc sống chung đụng với người chung quanh. Bà tự tạo cho mình một thế giới khác, nhiều mơ ước kỳ quặc. Ít khi bà có mặt với thực tại, bà không mơ mộng, suy nghĩ, bà sống trong cơn đồng thiếp, hay một vũ trụ lạ lùng mà tôi không sao hiểu nổi.
Vào một buổi trưa hè, tôi đang ngồi tra mấy cái nút vào một chiếc áo. Bà chạy ù vô đóng cửa ầm ầm miệng gào lên:
- Cọp vô nhà! Mày phụ tao đóng cửa mau đi.
Tôi vẫn thản nhiên tiếp tục công việc, mặc tình cho bà hò hét và cuống cuồng đóng cửa nọ bế cửa kia. Thấy tôi vẫn ngồi lì trên võng, bà vừa đóng cửa vừa nhiếc:
- Cái con này đáng cho cọp nhai lắm. Mày không sợ cọp ở núi Tà Lơn xuống sao?
Mặt bà xanh lét mồ hôi rịn ra hai bên mép và trán. Cửa đóng xong bà đến bên tôi thở hồng hộc.
Chán cái trò cọp rượt bà lỏn lẻn rút êm về chòi.
Theo lời đề nghị của hàng xóm, tôi đưa bà đi y sĩ chuyên môn chữa thần kinh. Nhưng y sĩ trả lời bà vẫn là người bình thường. Bà chỉ bình thường vào ban ngày. Khi đêm về, bà sống trong thế giới người chết. Gào thét suốt đêm làm khuấy động cả giấc ngủ hàng xóm.
Lại một buổi chiều, gió lốc trên mái ngói tuôn ồ ạt xuống những ngọn hoàng lan quanh nhà. Bóng tối đầy ắp trong khắp mọi gian buồng. Tôi hé cửa nhìn sang chòi bà Điếc, ngọn đèn dầu hôi vàng vọt đang rung rinh qua mắt cáo. Tiếng càu nhàu đều đặn của bà cũng bắt đầu nổi lên. Cứ mỗi buổi chiều khi nắng đã đi trốn khỏi mái nhà bên kia sông là đến giờ bà Điếc bắt đầu phát thanh. Bà nói luôn miệng, thỉnh thoảng lại cười thét lên ra vẻ khoái trá. Bóng tối đã đưa bà vào một thế giới ma quái. Bà gọi tên những người khuất mặt và lảm nhảm trò chuyện với khoảng không. Hình như có ai ngồi bên bà để bà hỏi rồi trả lời lấy một mình như thế suốt đêm, gần đến sáng bà mới lăn ra ngủ. Thình lình bà hét lên mừng rỡ:
- Vợ thằng Hưởng đó à? Lâu quá mới gặp mày. Sao bây giờ mày ốm vậy?
Bất giác tôi thấy lạnh xương sống. Người đàn bà mà bà Điếc vừa nói chuyện là thím dâu tôi đã giận chồng uống thuốc ngủ tự tử ngay trong nhà tôi ba năm về trước. Hình ảnh cuối cùng lúc thím hấp hối đang diễn lại trước mặt tôi. Đôi mắt thím mở tròn sau khi y sĩ chích cho thím một mũi thuốc hồi dương. Đôi môi màu trái mồng tơi của thím mấp máy sau cơn hôn mê suốt mười tiếng đồng hồ. Những đường gân trên người thím chuyển động. Chiếc giường run rảy nghiến ken két. Thím nhìn chòng chọc vào những người có mặt chung quanh giường, tay quơ lên không gian. Đôi bàn tay trắng xanh, dài, tím đen bỗng co quắp lại. Bọt hai bên mép thím trào ra giữa tiếng khóc thét của đàn con nhỏ cơ hồ như vẳng đâu đây. Tôi lẹ làng quay lại sau lưng, hình như có tiếng khua động. Tôi chạy đến vặn đèn to lên. Càng sợ tôi lại hướng mắt về bàn thờ của thím. Đôi mắt của thím như lườm tôi. Trong bóng tối chập chờn tôi có cảm tưởng thím sắp rời khung kiếng để lần về hướng tôi đứng? Vội mở cửa tôi chạy tuôn ra ngoài đi băng qua nhà Thảnh năn nỉ.
- Mày qua ngủ với tao đêm nay, nếu không tao sẽ bỏ nhà đi chỗ khác.
Thảnh gắt:
- Hồi đó tới giờ sao chị không sợ mà hôm nay lại bày đặt lộn xộn vậy?
Tôi thuật cho Thảnh nghe chuyện bà Điếc. Thảnh níu tôi chạy về hướng chòi bà. Lúc này bóng tối dày đặc úp kín khu ngoại ô thành phố. Gió vẫn rít mạnh. Hình như trời nổi cơn giông. Mảnh trăng lúc này nằm vắt qua cây nguyệt quới đã bị trăng che khuất. Tôi nắm chặt tay Thảnh. Chúng tôi đứng bên hè, vạch nhẹ mắt lá đưa mắt nhìn vào trong. Bà Điếc ngồi khoanh tay trên bộ ngựa gõ. Ngọn đèn dầu hôi đặt trên chiếc bàn trầu với hai ly nước trà bốc khói. Bà vui vẻ nhìn đăm đăm vào khoảng không:
- Mày có gặp thằng Thế không?
Ngừng một lúc như để nghe kẻ đối thoại vô hình trả lời, bà tiếp:
- Mày không gặp nó sao? Hôm qua nó vô đây đòi ngủ với tao nè.
Đôi mắt Thảnh mở to nhìn tôi. Chúng tôi đứng sát vào nhau. Bàn tay lạnh cóng của tôi chạm phải làn da đầy gai ốc của Thảnh. Thằng Thế mà bà vừa nhắc đến là chú của tôi đã chết vì chứng bịnh phong đòn gánh mấy năm về trước cũng trong căn nhà này. Hỏi chán, bà lăn ra nằm sát vào vách, tay gối lên đầu, còn cái gối của bà đặt phía ngoài. Bà nép mình tránh và nói tiếp:
- Tao nằm đây, mày có mỏi lưng thì nằm xuống đi vợ thằng Hưởng.
Gió sông ào vào cổ tôi. Tôi lạnh cóng cả người như bị ướp nước đá. Chúng tôi quay vào nhà. Đi độ vài bước, tiếng cười sằng sặc của bà Điếc lại vang lên:
- Tụi bay rình rập gì tao đó? Tao không có đem thằng nào về ngủ đâu.
Tôi chạy nhanh, tiếng cười ghê rợn của bà như đuổi theo.
Chúng tôi xẹt vào buồng ngủ đóng kín cửa. Ngọn đèn chong vẫn để cháy tỏ. Khi chúng tôi vào giường, tiếng rì rầm của bà vẫn còn văng vẳng. Chẳng bao lâu tiếng thở của Thảnh đều đặn. Lấy mền bịt tai lại, mắt tôi nhắm nghiền. Cuối cùng, cơn buồn ngủ vẫn không đến. Tôi lò mò đi tìm viên thuốc an thần. Tiếng đồng hồ bên hàng xóm đều đặn buông hai tiếng. Sự sợ hãi vu vơ từ chập tối đến giờ lên tiếng từ giã tôi.
Thảnh rón rén bước xuống giường, tôi vẫn nằm co ro trong mền ngủ nướng. Ánh nắng buổi sáng len lén bước vào thăm theo đường song cửa sổ. Tiếng hàng quà vọt lên như vòi nước. Tiếng guốc của Thảnh lốc cốc trở lại, nó tung mùng lôi xểnh tôi dậy:
- Mau ra coi bà Điếc nè!
Tôi chạy ụt ịt sau Thảnh. Đến sàn nước, bà Điếc đang ngồi cạnh lu nước súc miệng bằng bàn chải với kem, bọt bèo ứa ra hai bên mép, chiếc bàn chải đưa qua đưa lại đều đặn trên hai nướu không còn răng. Chúng tôi vịn nhau cười sằng sặc. Bà Điếc ngẩng lên, đôi môi trắng xóa y như râu con lân. Tôi đến vịn vai bà, hỏi:
- Răng cỏ đâu mà đánh bằng bàn chải. Coi chừng chảy máu miệng bây giờ.
Bà nhổ xong ngụm nước đầy bọt xà bông rồi há miệng chỉ vào trong cùng:
- Tao còn một cái răng cấm nè.
Thảnh lăn ra cười:
- Hèn chi, hôm trước chị Nguyệt nói là chỉ bắt gặp bả đang ngồi ăn mía ghim.
Mưa đêm ồ ạt, cơ hồ như muốn trút xuống trần gian để lôi cả nhà cửa trôi theo dòng nước. Nóc nhà tôi tuôn ngói rổn rảng trong cơn lốc. Tôi cầm đèn đi xuống nhà bếp đẩy hé cửa sổ nhìn về chòi bà Điếc. Cái chòi lắc lư trước gió. Ngọn đèn bên trong tắt phụt tự bao giờ. Bà Điếc không nói nhảm. Vẫn không có tiếng động nào ngoài cơn gió dữ dội và khối nước ụp xuống mái nhà. Tôi khoác áo mưa cầm chiếc đèn bấm chạy vụt ra chòi. Vệt ánh sáng xanh quét vào chòi. Bà Điếc vẫn ngủ say. Tôi yên trí trở vào giường nằm co rúm trong mền như con tôm kho tàu trong lòng chảo. Hình như tôi đang chìm trong không khí ngột ngạt sâu thẳm không có cách nào ngoi lên được. Những kỷ niệm lợt lạt từ đâu lũ lượt kéo về. Đã bao lần tôi cố tránh né những thứ bận rộn đó, nhưng nó cứ rỉ rả lọt vào cuộc sống bên trong của tôi. Tôi sợ những đêm khuya rả rích như thế này. Ngọn đèn chong đang nhảy múa trong ống khói pha lê trong suốt. Âm thanh đều đặn của những giọt nước mưa trên mái ngói dần dần rủ tôi vào giấc ngủ.
Như thường lệ, cứ mỗi sáng tôi xuống sông lội một vòng cho tiêu bớt những thớ mỡ sa đang tích trữ dưới nây bụng tôi. Cái quần đùi đen để lộ đôi chân ú nần như hai cái ống nhổ và trắng xanh như bụng con cá tra. Tôi đi ngang chòi bà Điếc để xuống cầu. Bất chợt tôi hé vách nhìn vào. Bà đang nằm quay mặt vô vách, thỉnh thoảng lại cựa mình rên khe khẽ. Tôi lách cửa vào trong, rờ lên trán của bà. Sức nóng chuyển sang bàn tay tôi. Bà vẫn chưa hay sự có mặt của tôi. Tôi lay và gọi giật bà. Bà Điếc cố cựa mình một cách khó khăn rồi nhướng đôi mắt lõm sâu nhìn tôi, phều phào nói:
- Tao đau hồi hôm đến giờ.
Giọng bà chìm lỉm trong cổ. Bà run lẩy bẩy, đôi tròng mắt vàng như nghệ.
Sau khi khám bệnh, bác sĩ trầm ngâm giây lát, nói:
- Bà ta bị chai gan. Nên đưa bà vào nhà thương.
Nghe tiếng nhà thương bà phản đối, cho rằng nằm nhà thương là bị bỏ rơi rồi sẽ chết để cho ruồi bu kiến đậu. Đành chịu thua, tôi để cho bà ở nhà, rồi nhờ Thảnh đi bổ thuốc theo toa bác sĩ và thay phiên nhau săn sóc bà. Tuần lễ sau, bịnh bà Điếc không thuyên giảm và cái bụng của bà to như bụng ễnh ương. Tay chân bà khô gầy như bộ xương trong phòng thí nghiệm. Tôi nhờ bao nhiêu người đến thuyết phục bà đi nằm nhà thương. Bà Điếc vẫn cho rằng nếu ra khỏi nhà này bà sẽ chết. Cuối cùng tôi nhờ hai ông hàng xóm khiêng bà lên xe xích lô. Bà cố dãy dụa nhưng sức bà đã kiệt nên bà không tài nào ra khỏi vòng tay lực lưỡng của họ. Trên chiếc giường sắt phủ ra trắng, bà Điếc nhắm nghiền mắt, đôi môi khô tái nhợt. Thỉnh thoảng, bà nhướng mắt lên đỉnh mùng rồi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn. Thi (cô em họ tôi) ngồi bệt nơi góc phòng lẩm nhẩm đọc tiểu thuyết. Chốc chốc, Thi ngẩng lên liếc vội về phía bà Điếc.
Nửa tháng chầm chậm trôi qua. Chúng tôi thay phiên nhau ngủ nhà thương. Cứ mỗi buổi chiều, hàng xóm lũ lượt tới thăm. Những gói quà chất đầy ngăn tủ. Độ vài ba hôm bà được y sĩ rút nước thừa chứa trong bụng. Nước ào ào chảy xuống thùng thiếc, sủi bọt trắng ngần. Ruồi nhặng mở cuộc liên hoan quanh mép thùng. Số mỡ thặng dư của tôi rút lui dần sau nhiều đêm bị đánh thức. Thân thể tôi như rã rời từng mảnh. Người tôi nhẹ bớt nhưng đầu óc tôi nặng nề. Hai con mắt màu tím xanh như đánh phông. Tôi giao bà Điếc lại cho cậu em (con cô tôi) để về nhà nghỉ ngơi một lúc. Đẩy cửa vào nhà, mùi ẩm ướt trên nền gạch xông lên. Tôi đặt chiếc giỏ trên tay xuống lần ra sàn nước. Dòng nước mát dội từ trên đỉnh đầu chạy dọc xuống tận chân đã lôi tôi ra khỏi cơn nặng nhọc. Mùi cay nồng của chất alcool và mùi tanh tanh của bệnh viện trôi theo dòng nước. Tôi trở vào nhà quăng mình lên võng. Tiếng kẽo kẹt đều đặn vang vang trong căn nhà âm u. Gió sông lòn vào khung cửa. Tấm màn màu da trời bay bay. Mí mắt tôi mỏi mệt ôm choàng lấy tròng mắt. Một ý tưởng chợt nảy lên đầu óc tôi. Nếu bà Điếc chết. Nếu... Tôi giật thót cả mình mảy. Không, không thể nào... Tôi không dám nghĩ xa hơn. Bà điên rồ, mê muội... Nhưng cuộc đời bà gắn liền cuộc đời tôi từ lâu. Nước mắt tôi trào ra. Tôi không thể sống ở nhà này với những bóng ma.
Tôi chợt nhớ ra mình đã tắt kinh từ một tháng nay. Duy đã đi Saigon hơn một tuần rồi. Ôi! tôi phải đi khám bác sĩ. Đàn ông thường không nghĩ tới hậu quả của một phút bồng bột. Tôi lấy tay rờ lên bụng. Từ lúc bà Điếc đau ốm tôi quên tất cả, chẳng để ý đến sự phòng ngừa. Nhưng sự bồn chồn vẫn không làm giảm cơn kiệt quệ. Tôi mơ hồ như cái đầu tôi rớt qua một bên võng, mọi sự việc đã chuồn khỏi óc. Màu trắng chập chờn của bốn bức tường vôi bệnh viện và những chiếc giường sắt phủ drap lùi xa rồi mất hút.
Anh Duy! Sau vụ phá thai em sụt mất mười hai ký thịt. Em gày gò, xanh xao. Đàn ông như anh là kẻ vô trách nhiệm. Anh chớ tưởng sức mấy mà em trả đũa chuyện anh bỏ em bơ vơ với cái bào thai trong bụng được ba tháng. Đêm đêm em giật mình, có cảm tưởng mình là kẻ sát nhân. Mai sau, xuống âm ti địa ngục, cũng riêng mình em chịu tội. Càng tội hơn là lúc đầu em chẳng mảy may bị lương tâm cắn rứt.
Bà Bảy Điếc đã chết rồi. Tới phút lâm chung bà chịu rửa tội để về với chúa. Lẽ nào, một cô gái trẻ tuổi như em ở bên lề cái thế giới âm hồn như vậy mãi sao anh.
Bây giờ em chỉ còn có hai lượng vàng và một cái máy may. Đợi cho đỏ da thắm thịt để che mắt thế gian, em sẽ tiếp tục may thuê cho thiên hạ. Đời em chưa hẳn tàn như là cảnh chợ chiều. Em sẽ chắt mót từng đồng để tìm bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ. Em sẽ cho bơm cái ngực teo trở thành cái ngực vĩ đại., sẽ nhờ ông ta vá lại màng trinh. Để rồi anh xem. Em sẽ lấy chồng sĩ quan Thủ Đức. Nhứt định là đời em chưa lâm vào ngõ bí đâu. Trả thù anh, chẳng lẽ em mướn du côn đánh anh. Em sẽ làm một người đàn bà phong nhã. Đôi lúc em còn mơ đi học hát để trở thành ca sĩ phòng trà.
Giờ đây thì em cô đơn quá. Ba má em trị cái tội lầm lỡ của em bằng thái độ hắt hủi, bỏ liều. Quần áo em bây giờ rộng phùng phình. Phải sửa sang lối ăn mặc, trưng diện, em mới báo thù anh cho anh sáng mắt ra là con Linh này không phải là thứ gái gặp chuyện rủi ro là đem nước mắt ra giải quyết.
Nhìn trẻ em lối xóm, em đau lòng. Phải chi anh chịu làm cha thì con chúng ta sẽ chường mặt với thế gian. Trời sẽ phạt em. Mai sau dù có chồng đàng hoàng, em sẽ tuyệt tự, phải xin con nuôi. Em vốn hiền lành, nhân đạo, tại anh, tại anh đó, em mới làm kẻ sát nhân.
Em sẽ ra đi khỏi tỉnh nhà, chạy trốn ám ảnh quá khứ. Mùa này có ốc gạo và xoài tượng. Các bà mang bầu tha hồ ăn cho thỏa thích bù tới lúc nằm giường cữ chỉ ăn cơm trắng với cá kho khô. Bây giờ em bịnh hoạn, chẳng ăn gì ngon, lại ngủ không được. Nhắm mắt lại em thấy đứa nhỏ bò qua bò lại, nhe hai cái nướu trống trơn ra cười với em. Lại nữa, hình ảnh bà Điếc ám ảnh em từng giây phút, ban đêm lẫn ban ngày. Biết đâu em sẽ là phản ảnh của bà sau này, điên cuồng vì khát vọng quên mất tuổi già.
Ôi! em sẽ chết trong êm vắng, trong ám ảnh dày vò chăng? Em phải đi, phải đi...
Em nhìn ra một chân trời khác. Em sẽ tìm yên ổn cho mình. Nơi đó, em chỉnh đốn lại cuộc đời. Để rồi anh xem! Kẻ nào khinh rẻ em, kẻ đó sẽ hối hận. Anh đừng tưởng rằng anh xuôn sẻ mãi đâu. Trời phạt anh thất nghiệp. Anh lường gạt tiền bạc thiên hạ nên anh bị tù.
Tuy vậy, em sẽ mở cho anh một con đường khi anh ra khỏi khám. Con đường ấy sẽ đưa anh vào vòng tay rộng lượng của em. Trời sinh chúng ta gắn bó với nhau. Dù có khinh nhau, nhưng chúng ta khó mà bứt sợi dây oan nghiệt đã ràng buộc chúng ta từ kiếp trước...

_____________

Ðọc “Đêm tối bao la” của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Bảo Ngọc

“Đêm tối bao la” là những đoản khúc ghép nối lại với nhau, bộc lộ cuộc sống buồn bã về nội tâm và những khát khao vượt thoát nhuốm màu bất lực của tầng lớp bình dân ở một vùng quê miền Nam. Việc chọn bối cảnh là một khu phố nghèo bên dòng sông ở thị trấn Vĩnh Long, cũng như để nhân vật chính của câu truyện sinh sống và lo việc hương hoả trong một ngôi nhà từ đường thiếu ánh sáng là hàm ý của tác giả về sự tiếp nối từ đời này sang đời kia. Tuy là truyện ngắn, “Ðêm tối bao la” mang trong lòng chiều dài của những thế hệ và các mối dây ràng buộc từ ông bà, cha mẹ, chú thím đến con cháu. Chứa đựng trong truyện còn là hai thế giới của người sống và người chết, người tỉnh và người điên, người trẻ và người già, người đi và người ở.
Một cảm giác ngột ngạt đã được tác giả thổi vào câu truyện ngay từ những dòng đầu tiên. Hơi thở bức bối đó len lỏi trong từng câu chữ, chạy suốt cho đến khi câu truyện kết thúc. Tác giả dường như dùng bút pháp chống lại “thẩm mỹ hoá”, dung nhan những nhân vật từ chính đến phụ, qua ngòi bút của tác giả, đều hiện lên với những đường nét kém thẩm mỹ đến độ khó có thể dành được cảm tình của người đọc. Phải chăng đó là một cách tác giả để cho độc giả cảm nhận được nỗi cô đơn hữu hình, cảm nhận được bất hạnh mà những nhân vật bắt buộc phải nhận lấy dù muốn hay không muốn?
Nếu nói bất hạnh thì không hẳn đúng, nhưng những điều không may đã làm cho cuộc sống của nhân vật chính trong truyện là Linh trở nên bức bối. Cô không lấy được người mình yêu, tình cảm với người tiếp theo chai sạn dần, đời sống buồn tẻ. Để cố thoát khỏi tất cả những điều nhàn nhạt, vụt vặt, không chút vui thú cứ tái diễn mỗi ngày đó, cô muốn hoá thân thành một cô đào xinh đẹp, được các chàng trai thanh tú vây quanh. Nhưng không may, cô chỉ sở hữu một trí tưởng tượng nghèo nàn nên không thể là một nhà văn để thoả mãn được ước mơ của mình. Nói cách khác, khát vọng của cô vượt quá những gì cuộc đời có thể ban tặng nên cô mãi mãi bị giam hãm trong sự cô đơn đã thấm sâu vào tâm khảm.
Không phải vô cớ mà tác giả gắn liền cuộc đời một người con gái như Linh với một bà cô già tên Điếc với chứng tâm thần bất ổn. Giữa hai con người một tỉnh một điên này, tuy biểu hiện bên ngoài khác nhau, nhưng tận trong tâm hồn lại có một sự giống nhau lạ lùng. Khi Linh chỉ ước mơ hão huyền về một thế giới văn chương không có thực mà cô là nhân vật chính yêu kiều được nhận nhiều sự yêu thương và ban phát sự yêu thương, thì bà Điếc không ngại ban phát tình yêu của mình và nồng nhiệt nhận lại tình cảm từ người khác phái trong thế giới thực. Khi Linh chỉ dám viết thư cho người tình phụ bạc hăm doạ sẽ trả thù bằng cách đi sửa sắc đẹp để chinh phục đàn ông thì bà Điếc biết làm dáng thực sự bất chấp tuổi già. Linh chỉ biết than thân trách phận vì sao không được sắc nước hương trời thì bà Điếc biết làm cho mình đẹp nhất trong những kẻ xấu xí nhất. Linh bị Duy bỏ rơi với cái thai phải tự đi phá thì bà Điếc bị người tình cuỗm hết tài sản rồi biến mất. Dù buông xuôi hay cố gắng, cả hai người đều bị “hạnh phúc” phản bội và ruồng bỏ. Mỗi người một cách nhưng nỗi đau thì như nhau.
Sự ma quái xuất hiện càng lúc càng dày đặc vào phân đoạn gần cuối đời của bà Điếc. Những oan hồn trong dòng họ trở về với người sống qua những mẩu chuyện trò trong đêm với bà Điếc. Điều đó ám ảnh Linh, làm cô sợ hãi. Cho đến một ngày bà Điếc qua đời, Linh mới nhận ra là cô đã dựa vào bà một cách vô thức từ trước đến nay. Rồi cô kêu gào Duy trở về với cô, nhưng đó là một hy vọng mong manh, một sự giãy dụa cuối cùng của tuyệt vọng. Cả cái bào thai bị Linh bức tử cũng lại ẩn hiện trong sự dằn vặt đau khổ của cô. Những con người đã bỏ cô đi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Đoạn cuối câu truyện, chỉ còn lại nhân vật chính chung sống trong cùng một không gian với những hồn ma, cô cảm thấy sự gắn bó mật thiết với những linh hồn, cô nhận thấy mình trong số phận những kẻ bất hạnh đã nằm sâu trong lòng đất, vậy cô đang sống hay cô đã chết?

_________________

Ðọc “Đêm tối bao la” của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Vy Huyền

“Ðêm tối bao la” được viết trong thời chiến, nhưng mức độ ác liệt của chiến tranh không xâm nhập vào truyện, trái lại là cái nhìn rất bình thường, coi cuộc chiến như một phần cuộc sống. Không khí chán chường, thất vọng, u ám bao trùm cả một xã hội lác đác hình ảnh một hai người đàn ông. Trong suốt truyện, chúng ta chỉ thấy vỏn vẹn một nhân vật Duy, là người bạn trai của Linh (nhân vật tôi). Qua cách tả của “tôi”, Duy không phải là người mà cô hoàn toàn có thể đặt niềm tin và tình cảm, nhưng cô không có một chọn lựa nào khác cho vơi bớt ngày tháng gặm nhắm cô đơn.
Linh đến với văn chương để trút đi những cô đơn của cuộc đời, nhưng nhiều khi cô cũng chán ngấy việc viết văn. Cô tuyên bố: "Tôi chán viết văn. Văn chương nào phải là cái cớ để phụ nữ giải toả ẩn ức. May mà tôi không đem bài vở đăng báo. Có một chàng văn sĩ đòi bạt tai lũ đàn bà cầm bút, hăm he đuổi họ trở về chỗ bếp núc và chỗ ngồi lê đôi mách. Thái độ du côn đó chẳng những không làm tôi giận mà tôi còn mê chàng nữa, rồi vẽ ra trong óc là chàng trai đẹp trai hấp dẫn như James Bond hay chàng điệp viên 007." [ trang 45].
Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, trong bài "Văn học Việt Nam: Một nền văn học nghiệp dư" đã nói đến cách mỗi người tìm đến văn chương như là một thú vui hơn là một công việc kiếm sống. Còn nếu đã tìm đến văn chương để kiếm sống thì nó thiên về báo chí, chứ không còn đơn thuần là văn học. Việc nhân vật tôi trong truyện nói "May mà tôi không đem bài vở đăng báo" cũng tương tự như Nguyễn Khuyến đã viết trong bài “Khóc bạn”:
Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa
Đến cuối truyện, khi người đàn ông của Linh đã ra đi, người đọc thấy được một tia sáng loé lên giữa những ngày đen tối. Linh trong cơn thất vọng ê chề vẫn hy vọng một ngày tươi sáng hơn sẽ đến trong cuộc sống của cô, như niềm hy vọng rắng cô sẽ lấy chồng là sĩ quan Thủ Đức, sẽ đi sửa lại sắc đẹp và làm một người đàn bà phong nhã. Nhưng cuối cùng, sau những mộng ước hão huyền, Linh đã trở về với thực tế của cuộc đời, với một hy vọng rất bình thường là mở lại đường về cho Duy, người đã bội bạc bỏ cô ra đi.
Ngoài ra, trong “Ðêm tối bao la” còn có nhân vật Bà Điếc "nửa tỉnh nửa khùng", nhưng sống một đời sống tự do và đi ngược lại với những lề lối mà xã hội vẫn còn đặt nặng trên mỗi con người, đặc biệt là với phụ nữ. Bà Bảy thật sự có điếc hay không? Tôi tin rằng người đàn bà này không điếc và cũng không khùng như cách những nhân vật trong truyện nhìn bà. Nhưng bà "điếc" vì đã không lắng nghe, đã không tuân phục cái nền tảng luân lí mà xã hội đặt ra. Bà tự tìm cho mình một lối đi riêng, một cuộc sống riêng, tự tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Bà đã sống không theo bất kỳ một lề lối nào, bất chấp việc bị mọi người xung quanh nhìn với con mắt kỳ dị. Ngay nhân vật tôi, trong suốt quãng đời sống với Bà Điếc, cô vẫn cho rằng bà không bình thường, để rồi khi ngồi nghĩ lại, cô tìm thấy đâu đó hình ảnh của chính cô trong tương lai. Bằng việc xây dựng nhân vật bà Ðiếc, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã phá đi những chuẩn mực [được coi là] đạo đức, nhưng thật ra đầy thành kiến, và [ngầm] hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn.
Ngoài ra, tuy xã hội trong truyện tuy vẫn còn bao trùm bởi những áp lực, lề lối xưa cũ, người đọc vẫn có thể thấy ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đang thấm dần vào. Hình ảnh một người đàn ông hấp dẫn như Hercule, James Bond, một người đàn bà gợi cảm như Liz Taylor thay đổi dần những quan niệm trong xã hội miền Nam đã và đang tiếp cận ngày càng gần hơn với nền văn hoá Tây Phương.
© 2006 talawas

________________

Giới thiệu truyện

“Lòng Trần” của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Trần Vũ

"Đột nhiên ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng…- Mô Phật! Cho tôi muỗng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền". Khác với phong cách sôi nổi thú hoang trong Lao vào lửa, Mèo đêm của cùng một tác giả, Lòng Trần được viết thật gọn và tươm khí hậu cô quạnh đẫm nhân sinh: Một kiếp người quy vào một muỗng đời. Kiếp người đi tu mấy mươi năm dẹp bỏ lòng trần và những bất hạnh, đến cuối cuộc đời vẫn không thể thoát được ám ảnh vị mặn của bụi trần. Bốn muơi năm sau, mạch văn không thừa chữ của Nguyễn Thị Thụy Vũ hãy còn toát lên vẻ đẹp phong vị Nam và của một bố cục truyện thật chắc chắn.
Lòng Trần trích từ tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta, nxb Sóng, Sàigòn, 1974.
-Nhận định của Hồ Trường An:
“Nếu bình tâm mà xét, trong mười tác phẩm gồm truyện ngắn lẫn truyện dài thì chỉ có “Cho Trận Gió Kinh Thiên” (truyện dài) cùng ba truyện ngắn “Trôi Sông”, “Đêm Tối Bao La” và “Lòng Trần” là đáng nói hơn cả vì những tác phẩm này đập mạnh vào cõi ấn tượng độc giả bằng những nhát búa khốc liệt. Những truyện ngắn truyện dài khác kể cả quyển “Khung Rêu” đã từng đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1970 cũng chỉ xây được cái nền móng và các rường cột cho ngôi nhà văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ mà thôi. Chính truyện dài và 3 truyện ngắn mà tôi vừa kể mới thắp hào quang cho văn nghiệp kia, mới làm rạng ngời thần trí sáng tạo của tác giả…”
Đọc truyện “Lòng Trần”
Con đê dài rộng, hai bên trồng dừa Tân Quan cao hơn đầu người thẳng hàng, đều khoảng. Những quày dừa màu hỏa hoàng oằn trái. Bóng dừa chìm dưới đáy nước của hai đầm sen - bên trái đầm sen trắng, còn bên phải đầm sen hồng. Từ con đê đi vào khoảng ba trăm thước, một ngôi chùa nằm im lìm giữa hai hàng dương.
Chùa này vì ít thiện nam tín nữ lui tới nên càng thêm vẻ đìu hiu, lạnh ngắt. Từ đường cái nhìn vào, ít khi người ta nhìn thắy bóng dáng những nhà tu. Chỉ nhìn thấy chiếc tháp cao trơ vơ với rêu bám nham nhở và vài viên gạch mục rớt ra lở lói. Mái chùa thấp ẩm ướt và bóng tối đặc quánh. Tiếng kêu vo ve của đám muỗi đói lẫn tiếng chí chóe của đàn chuột dưới những bàn thờ và tiếng vỗ cánh của đàn dơi hoang. Cao hứng chúng bài tiết bừa bãi không vị nể các ông Phật đang ngồi trang nghiêm nhìn ánh đèn chong leo lét. Bình hoa huệ sắp tàn, chỉ còn vài búp gắng gượng trên chót nhánh. Những cánh trắng héo hắt rớt tả tơi trên bàn thờ không mấy ai buồn dọn quét chăm sóc.
Lâu lắm, người ta mới thấy bóng một sư nữ gầy gò xanh xao ngoài năm mươi tuổi ngồi bên hông chùa, uể oải cầm chiếc dao cùn chặt những cành dương khô rớt trên nền đất và bó thành từng bó nhỏ. Ni cô ngồi dưới bóng nắng loang lổ đỏ, khoác chiếc áo cà sa màu cà. Hình như bà cố tìm vài mảnh nắng rớt nhiều nhất trên nền đất để hóng nắng. Giữa màu lá xanh bao quanh da mặt, bà càng thêm nhợt nhạt. Đôi mắt trũng sâu nhiều, tròng trắng nhìn bâng quơ khi cánh tay gầy guộc khô khan của bà đưa chiếc dao chành lên xuống vài lượt, và giọng ho húng hắng được đè nén làm bà run rẩy.
Bà đã đến tu ngôi chùa này hồi hai gò má còn hồng và nụ cười tươi sáng ẩn một chút ngổ ngáo. Nay hàm răng trắng xa xưa đã rụng mất vài ba cái và đóng bợn vàng ối.
Ông yết ma vốn người bán nam bán nữ, cao to mập trắng hếu và có đôi mắt lém lỉnh. Hình như ông yết ma này gọi ni cô bằng dì họ. Ông này cùng theo bà đến chùa hồi mười tuổi và bây giờ ông đã quá ba mươi. Ông có tật lãng tai, mỗi khi ni cô nói với ông điều gì, bà phải lấy tàn hơi gào thét. Ông cứ vểnh tai ra, nét mặt ngơ ngác như người đi lạc vào một thế giới xa lạ thiếu âm thanh. Ni cô mỗi lần muốn đàm đạo với ông cháu quí phải nặng hơi mỏi cổ nên bà lười biếng ít muốn nói chuyện với ông ta lâu. Ngoài hai người, còn có một chú tiểu đầu để chỏm với thẻo tóc dài vắt qua vành tai. Chú tiểu này vừa giúp đỡ ni cô như một tiểu đồng, vừa làm thông ngôn khi ni cô muốn nói chuyện dài với ông yết ma. Chú tiểu có vẻ nhẫn nhục và cam chịu. Chú sống thui thủi giữa hai người lớn, mỗi người có một thế giới bưng bít. Họ chỉ họp nhau vào những buổi tụng niệm, còn ngoài những giờ lo cho Đấng Từ Bi, họ mỗi người mỗi việc tưởng chừng như sự hiện diện của nhau thật là mờ nhạt thừa thãi. Chú tiểu lo phần cơm nước. Những bữa cơm dọn với rau muối mè, tương hột đơn sơ, chú tiểu có thể quán xuyến chu tất. Mỗi buổi sáng, chú ra sau chùa bứt những đọt mùng tơi, hái những bông mướp vàng ối còn thơm mật, nhổ vài nắm rau đắng mọc dọc mé đê đem vào luộc. Ông yết ma ngoài mấy buổi tụng kinh, gõ mõ, còn có bổn phận vun quét vườn rau, cưng dưỡng mấy dây bầu và giàn mướp sai trái. Cái quá khứ không tì vết của ông yết ma - ông sống xa người trần tục không tiếp nhận cuộc sống đầy rẫy bon chen - khiến ông chỉ hiểu cuộc đời lờ mờ ngoài mái chùa. Cơm rau mỗi ngày hai bữa, ông làm việc hùng hục ngoài vườn rau và ngủ li bì vào những giờ rảnh rỗi. Những giấc ngủ êm đềm khoan khoái nuôi dưỡng thân xác ông mỗi ngày một to béo đẫy đà. Vẻ mặt ông cười cợt dễ dãi và phẳng phiu như tâm hồn ông. Đi tu từ lúc còn bé, ông sống kham khổ cũng đã quen. Ông cảm thấy yên phận để dọn mình mai sau về với Phật Tổ, dẫu làm con chuột uống dầu tại chùa Tây Phương cũng cam. Đầu óc ông tiêm nhiễm giáo lý một cách lờ mờ, cuộc sống trong kinh kệ chưa in rõ vào đầu óc ông. Ông còn mơ ước gì hơn; vả lại, ông không có thì giờ để nghĩ ngợi suy ngẫm gì ngoài những thủ tục đọc kinh, trồng rau. Công việc nhà chùa chiếm hết ngày tháng. Ông dạy chú tiểu học kinh và cách tụng kinh. Chú ấy cũng là người để cho ông ta tâm sự về sự tiến triển của mấy dây bầu, của nụ hoa mướp có mòi thành quả. Chỉ có vậy thôi, thế mà ông ta sống lây lất hơn hai mươi năm qua đến không ngờ. Ngày đó, ông theo ni cô Diệu Tâm đến ngôi chùa này giữ vai trò một tiểu đồng, Lúc đó còn sư cụ và ni cô thì mới ngoài ba mươi tuổi, dung nhan còn mặn mòi sắc lẻm. Đến khi sư cụ qua đời và được mai táng trong cái tháp trước sân chùa, ni cô Diệu Tâm mới lo quán xuyến ngôi chùa này.
Những ngày rằm hoặc những ngày lễ Phật, chỉ vài ba thiện nam tín nữ đến dâng hương vội vã. Hình như họ nghĩ rằng chùa nào đông đúc tấp nập, Phật Trời mới có mặt thường xuyên. Chớ chỗ buồn bã như vầy, chắc Phật Trời cũng lười lui tới. Ông yết ma cảm thấy phơi phới trong cuộc sống trống vắng quạnh hiu. Những lúc đám khách thập phương này chiếu cố chùa, ông có cảm tưởng như họ đến quấy rầy sự yên tĩnh của ông. Nhưng ông phải giữ đúng quy luật nhà chùa là cửa thiền lúc nào cũng mở rộng. Ông biết láng máng về quá khứ của ni cô ngày xưa lúc bà mới hai mươi tuổi, bà là vợ kế của nhà phú hộ trong làng Đạo Ngạn thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ruộng vườn của bà cò bay thẳng cánh. Thủa đó, tất cả phụ nữ miền Nam chưa hề trang điểm, thế mà bà đã biết dùng phấn nụ do các công chúa của triều đình Huế sai tì nữ đem bán. Trước khi đánh phấn, bà dùng chỉ đánh cho săn lại rồi lăn lên da, nhổ sạch những sợi lông măng để cho da mặt tiếp nhận phấn dễ dàng. Đoạn bà dùng phấn nụ bôi lên mặt, lấy giấy hồng đơn thấm nước đắp lên mặt má. Bà nhai trầu cho đôi môi nhuộm đỏ.
Thật ra bà vốn là đào hát bộ, tên Năm Thàng. Ông phú hộ có tính phong lưu tao nhã. Đời ông chỉ có việc lấy hát xướng làm tiêu khiển. Bất kỳ gánh hát nào có bà, ông cũng ngồi ghe bầu theo coi cho bằng được. Ngồi ghế thượng hạng để cầm chầu, ông say sưa chiêm ngưỡng tấm nhan sắc chim sa cá lặn của bà trong vai Phàn Lê Huê, Hồ Nguyệt Cô, hoặc Lưu Kim Đính. Người bạn theo hầu kiêm luôn anh đầu bếp giỏi, và tối đến, được theo chủ xem hát. Người phu trạo đã bắt đầu ghiền cuộc sống rày đây mai đó. Cũng bao nhiêu tuồng hát đó mà nhà phú hộ nọ vẫn coi hoài không chán mắt. Đối với ông, cô Năm Thằng từ cánh gà tuôn ra làm đổi mới cả sân khấu.
Hai năm xuôi ngược mỏi mê, ông cố gắng điều đình với ông bầu gánh chuộc cô Năm Thằng bằng mười mẫu đất, đem về làm vợ kế. Muốn thoát khỏi cảnh đời rày đây mai đó, cô Năm Thằng bằng lòng với ngôi vợ thứ hai do sự đồng ý cưới hỏi rỡ ràng của bà phú hộ. Cuộc sống huyên náo bỗng dừng lại làm cô Năm ngỡ ngàng xa lạ. Sự giàu sang và chiều đãi, nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa của chồng không bao lâu làm cô thêm nhớ lại cuộc đời sống cũ. Cô nhớ sân khấu, nhớ đời sống lang thang trên những chiếc nghe chài xê dịch từ làng này sang tỉnh khác. Cuộc sống tập thể tuy quấy nhiễu cô thường xuyên, nhưng đem lại cho tâm hồn cô những đổi mới. Cô say những vai trò nữ tướng, công chúa, bà hoàng... để bôi xóa tạm bợ trong vài tiếng đồng hồ đời sống nghèo đói cơ cực của mình. Một cô đào hát tên tuổi chưa được mấy mà đã làm bà phú hộ, có kẻ hầu người hạ. Thế mà cảnh giàu có vẫn không quyến rũ được cô lâu, không đủ quyền lực làm cô quên hẳn quá khứ.

Ni cô bừng mắt nghe tiếng nói lào xào văng vẳng đâu đây. Ni cô nhướng đôi mắt còn chút ít thần sắc nhìn quanh trai phòng. Chú tiểu túc trực bên giường mừng rỡ hỏi dồn:
- Dạ thưa ni cô cảm thấy đỡ chưa?
Bà lặng lẽ gật đầu và muốn ngồi dậy. Chú tiểu hiểu ý đến đỡ bà lên tựa lưng vào thành giường. Bỗng cửa trai phòng vụt mở. Diệu Tâm nhếch mép cười tiếp nhận sự có mặt của đứa cháu dâu và cô em họ đến đúng lúc bà thấy cơn bịnh này không hy vọng lành.
Đứa cháu dâu gọi bà bằng cô chuyên nghề sống với nghề cờ gian bạc lận và nghề cho vay đoạt nợ. Nghề nghiệp nàng đến mức tuyệt xảo. Riêng cô em họ cùng đi theo cô cháu dâu đến thăm bà là một tay từng nhổ râu ông huyện này, cạo đầu ông phủ kia. Cô em họ có tấm nhan sắc cũng ưa nhìn thôi, nhưng cô có biệt tài hễ cặp sách với ông nào thì nạn nhân tình ái của cô phải tán gia bại sản một cách nhanh chóng và êm thấm. Hai người đàn bà thân thích này thường lui tới cửa thiền hầu sám hối để chuộc tội. Họ thích thân thiện với bà có lẽ nghĩ rằng khi Diệu Tâm đắc đạo để về chầu Đấng Từ Bi sẽ với tay níu họ theo lên cõi Niết Bàn. Vì mặc cảm tội lỗi nên họ càng thích đi chùa dâng hương đem lễ lạt hòng hối lộ Trời Phật cho giải bớt những oan khiên mà ở trần gian họ đã làm, đang làm và tiếp tục làm nữa... Càng thấy họ đi chùa là phải hiểu rằng họ vừa làm được một cái áp phe. Khi có nhiều tiền, họ lại vào chùa thành khẩn hối lỗi, nhưng khi bước ra khỏi chánh điện thì họ lại quên tuốt.
Ni cô mệt nhọc gắng gượng trả lời họ vài ba câu hỏi thăm sức khỏe. Rồi không còn ngồi được nữa, bà nằm rũ xuống. Cô em họ đề nghị ông Yết Ma nên tụng kinh cho Diệu Tâm để nếu như bà có phải về nơi cực lạc cũng sớm được nhẹ nhàng hồn phách.
Ni cô nghe trong người rã rời từng khớp xương. Bà cố mở mắt nhìn ánh đèn vàng vọt đặt trên chiếc bàn cạnh bàn nước. Cổ họng bà khô đắng và lạt lẽo. Ni cô hé mắt nhìn cô em họ đang ngồi bên cạnh và cô cháu dâu đang loay hoay rót nước từ trong vỏ bình vào tách định bưng lại. Ni cô khoát tay tỏ ý không cần uống nước. Bà đã ăn chay ròng rã hơn hai mươi năm quá đạm bạc nên thân thể bà thiếu cả chất đạm.
Bà làm việc quần quật, suốt ngày. Không biết bà tìm cách quên ẩn tình hay để tăng ngân quỹ nhà chùa. Người ta thấy ni cô Diệu Tâm không sống cho mình nữa, kể từ khi bà bước vào chùa này. Bà sống kham khổ, nhẫn nhục và chịu đựng. Tiền công quỹ nhà chùa được đem ra bố thí cho những người tàn tật nghèo khổ. Bà ăn uống bất thường và coi việc ẩm thực là điều phụ thuộc. Chỉ cần một chén tương và một nhúm rau chấm tương cũng rồi một bữa. Từ một tháng nay, bà không ăn uống được như thường nhật, mỗi khi ăn xong, bà đều mửa thốc mửa tháo ra, đến cả thuốc men cũng không giữ được trong bao tử. Họ hàng hay được tin bà thọ trọng bịnh cho mời biết bao danh y đến cứu chữa. Phần linh hồn thì do ông Yết Ma và một số sư sãi các chùa lân cận đến tụng niệm siêu độ.
Thân xác bà mỏi mòn trong giấc hôn mê chập chờn, bà nghe tiếng tụng niệm ngoài chánh điện. Trong bóng tối mù mờ, loáng thoáng có tiếng muỗi vo ve, đột nhiên ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng. Phải chi có một chút nước tương để bà nếm thử. Trí óc của bà dán chặt vào ý nghĩ lưỡi bà khô đi, đồng thời nước dãi tuôn ra đầy miệng. Thế rồi ý nghĩ của bà trôi xa hơn, nước tàu vị yểu, rồi nước mắm. Cơ thể bà vụt bùng lên. Nước mắm! Nước mắm! Ni cô Diệu Tâm nuốt ực nước miếng. Một nỗi xót xa làm nước mắt bà ướt đẫm. Có cái gì chống đối trong từng thớ thịt, khớp xương của bà.
Bà vụt nghĩ, nếu có một muỗng nước mắm chui vào bao tử bà thì có lẽ những chấn động, phản đối trong cái cơ thể mỏi mòn sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muỗng nước mắm sẽ đem lại cho bà sự khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon và ngày mai bà sẽ tiếp tục sinh hoạt lại như cũ dưới mái chùa này.
- Nước mắm! Muỗng nước mắm!
Ni cô hoàn toàn quên mất cái đời sống hiện tại ở trong chùa, quên cả mấy mươi năm tu hành khổ hạnh. Bà rơi trong một ý thức mù mờ chỉ có hình bóng muỗng nước mắm bằng sứ trắng chứa một thứ nước vàng và trong suốt như nước trà. Kê miệng mà nếm thử thì biết. Ni cô Diệu Tâm co rúm lại, thở hổn hển. Ba tiếng muỗng nước mắm như ba nhát búa đập vào đầu óc bà làm bà lảo đảo.
Ngoài hậu liêu, hình như trời đã chiều. Mùi thuốc bắc sắc trong siêu ngai ngái bay lên làm bà có cảm tưởng mình sắp nghẹt thở.
Bà phải uống một muỗng nước mắm. Ngày mai dầu có phải đọc kinh sám hối, bà cũng không màng. Bà tin chắc rằng dầu đọc kinh cứu khổ cứu nạn với Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát cũng chưa chắc mầu nhiệm bằng một muỗng nước mắm. Nước mắm sẽ là một món thuốc tiên làm cho cây khô trổ bông. Cố gắng lấy hết tàn hơi, bà thều thào gọi chú tiểu kiếm cho bà một muỗng nước mắm. Tất cả những người có mặt bên giường đều ngạc nhiên lẫn hốt hoảng.
Diệu Tâm lặp đi lặp lại mấy lần:
- Mô Phật! Cho tôi muỗng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền.
Tiếng kêu gọi như một lời van vỉ, thê thảm. Hai tay Diệu Tâm chìa ra tuyệt vọng. Chú tiểu bưng đến gần tách trà ướp sen kề gần miệng. Ni cô khép chặt môi, lắc đầu phản đối:
- Tôi chỉ cần uống một chút nước mắm cho mặn môi.
Nói xong ni cô dìm hồn vào trong cơn đồng thiếp hai cánh tay còn xòe ra quờ quạng van xin.
Cô em họ bước ra trai phòng thì thầm :
- Rõ là ma đưa lối, quỷ dẫn đường. Hồi nào tới giờ chỉ ăn chay lạt, đến lúc sắp chết lại đòi uống nước mắm. Tôi nhất định chống lại lời ma quỷ xúi biểu chỉ phạm trai giới. Thà để cho chỉ chết mà không mang tội với Trời Phật và không uổng công tu khổ hạnh hai mươi mấy năm nay.
Nói đoạn bà xuống trú phòng ngồi nói chuyện áp phe với cô cháu dâu, hoặc những thành quả bà đã thu đoạt được kể từ ngày bà bước chân vào đời. Giọng bà oang oang uốn éo và những tràng cười nói xôn xao vọng lên trên chánh điện. Ông Yết Ma với đôi mắt nhắm lại và nét mặt phẳng phiu dễ dãi thường nhật nhuốm một chút lo âu. Không khí nặng nề trùm xuống, nghẹt thở. Tiếng hét từ trai phòng vang lên. Ông lẹ chân tông cửa vào vừa lúc chú tiểu định bước ra, vẻ mặt còn hốt hoảng. Tất cả đứng im lặng quanh giường chờ đợi phút nghiêm trọng của ni cô trong khi cô đang vật vã từng đợt với tử thần. Tiếng nói bà vụt sang sảng như lúc còn ở trên sân khấu. Giọng nói trong trẻo tỉnh táo, nhưng đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền:
- Tôi mới biết thương mình mấy năm mình khổ công theo đuổi tôi, đặt tuồng hát cho tôi hát.
- Con ráng học cho đỗ đạt làm quan nghe con cưng của má.
- Tôi chỉ thích sắm vai Đoàn Hồng Ngọc hơn làm Phàn Lê Huê. Mình thích tôi diễn vai nào nhất?
- Bớ này Tiết Giao! Ô này bạc tình lang! Mặt chàng đẹp trai mà làm chi? Lời chàng ngọt ngào mà làm chi? Cổ thiếp ngày nay mất ngọc, thân thiếp bơ vơ.
Cả một quá khứ trôi nhanh lên ký ức bà rõ rệt và nhanh như một đoạn phim quay hết tốc lực của nó. Bà độc thoại từ quãng đời sân khấu đến quãng đời làm vợ ông phú hộ Thọ. Giọng bà sang sảng vụt dừng lại và dưới ánh đèn hiu hắt, ni cô mở trừng trừng đôi mắt trắng nhợt như cố thu nhận hình ảnh sau cùng của đời sống và ni cô quờ quạng hai bàn tay trơ xương với lời van vỉ đứt nối:
- Hãy cứu tôi, cho tôi uống một muỗng nước mắm thôi.
Cô cháu dâu nhìn bà em họ:
- Mợ ơi ! Mợ nhờ sư sãi đọc kinh trừ tà nghen. Cần nhứt là canh giữ đừng cho ai đem nước mắm lại.
Bà em họ tức mình:
- Để tôi đi đọc kinh cứu khổ. Hồi xưa Phật Thích Ca gần đắc đạo thì ma vương tới phá. Còn cái chị này sắp về Tây Phương tới nơi mà cũng chưa yên thân.
(Lòng Trần trích từ tập “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta,” nxb Sóng, Sàigòn, 1974.)

___________________

Lòng trần

(…trích Muỗng nước mắm)

Con đê dài rộng,hai bên trồng dừa Tân Quan cao hơn đầu người thẳng hàng, đều khoảng. Những quày dừa màu hỏa hoàng oằn trái. Bóng dừa chìm dưới đáy nước của hai đầm sen - bên trái đầm sen trắng, còn bên phải đầm sen hồng. Từ con đê đi vào khoảng ba trăm thước, một ngôi chùa nằm im lìm giữa hai hàng dương.
Chùa này vì ít thiện nam tín nữ lui tới nên càng thêm vẻ đìu hiu, lạnh ngắt. Từ đường cái nhìn vào, ít khi người ta nhìn thắy bóng dáng những nhà tu. Chỉ nhìn thắy chiếc tháp cao trơ vơ với rêu bám nham nhở và vài viên gạch mục rớt ra lở lói. Mái chùa thấp ẩm ướt và bóng tối đặc quánh. tiếng kêu vo ve của đám muỗi đói lẫn tiếng chí chóe của đàn chuột dưới những bàn thờ và tiếng vỗ cánh của đàn dơi hoang. Cao hứng chúng bài tiết bừa bãi không vị nể các ông Phật đang ngồi trang nghiêm nhìn ánh đèn chong leo lét. Bình hoa huệ sắp tàn, chỉ còn vài búp gắng gượng trên chót nhánh. Những cánh trắng héo hắt rớt tả tơi trên bàn thờ không mấy ai buồn dọn quét chăm sóc.
Lâu lắm, người ta mới thấy bóng một sư nữ gầy gò xanh xao ngoài năm mươi tuổi ngồi bên hông chùa, uể oải cầm chiếc dao cùn chặt những cành dương khô rớt trên nền đấ và bó thành từng bó nhỏ. Ni cô ngồi dưới bóng nắng loang lổ đỏ, khoác chiếc áo cà sa màu cà. Hình như bà cố tìm vài mảnh nắng rớt nhiều nhất trên nền đất để hóng nắng. Giữa màu lá xanh bao quanh da mặt, bà càng thêm nhợt nhạt. Ðôi mắt trũng sâu nhiều, tròng trắng nhìn bâng quơ khi cánh tay gầy guộc khô khan của bà đưa chiếc dao chành lên xuống vài lượt, và giọng ho húng hắng được đè nén làm bà run rẩy.
Bà đã đến tu ngôi chùa này hồi hai gò má còn hồng và nụ cười tươi sáng ẩn một chút ngổ ngáo. Nay hàm răng trắng xa xưa đã rụng mất vài ba cái và đóng bợn vàng ối.
Ông yết ma vốn người bán nam bán nữ, cao to mập trắng hếu và có đôi mắt lém lỉnh. Hình như ông yết ma này gọi ni cô bằng dì họ. Ông này cùng theo bà đến chùa hồi mười tuổi và bây giờ ông đã quá ba mươi. Ông có tật lãng tai, mỗi khi ni cô nói với ông điều gì, bà phải lấy tàn hơi gào thét. Ông cứ vểnh tai ra, nét mặt ngơ ngác như người đi lạc vào một thế giới xa lạ thiếu âm thanh. Ni cô mỗi lần muốn đàm đạo với ông cháu quí phải nặng hơi mỏi cổ nên bà lười biếng ít muốn nói chuyện với ông ta lâu. Ngoài hai người, còn có một chú tiểu đầu để chởm với thẻo tóc dài vắt qua vành tai. Chú tiểu này vừa giúp đỡ ni cô như một tiểu đồng, vừa làm thông ngôn khi ni cô muốn nói chuyện dài với ông yết ma. Chú tiểu có vẻ nhẫn nhục và cam chịu. Chú sống thui thủi giữa hai người lớn, mỗi người có một thế giới bưng bít. Họ chỉ hợp nhau vào những buổi tụng niệm, còn ngoài những giờ lo cho Ðầng Từ Bi, họ mỗi người mỗi việc tưởng chừng như sự hiện diện của nhau thật là mờ nhạt thừa thải. Chú tiểu lo phần cơm nước. Những bữa cơm dọn với rau muối mè, tương hột đơn sơ, chú tiểu có thể quán xuyến chu tất. Mỗi buổi sáng, chú ra sau chùa bứt những đọt mùng tơi, hái những bông mướp vàng ối còn thơm mật, nhổ vài nắm rau đáng mọc dọc mé đê đem vào luộc. Ông yết ma ngoài mấy buổi tụng kinh, gõ mõ, còn có bổn phận vun quét rườn rau, cưng dưỡng mấy dây bầu và giàn mướp sai trái. Cái quá khứ không tì vết của ông yết ma - ông sống xa người trần tục không tiếp nhận cuộc sống đầy rẫy bon chen - khiến ông chỉ hiểu cuộc đời lờ mờ ngoài mái chùa. Cơm rau mỗi ngày hai bữa, ông làm việc hùng hục ngoài vườn rau và ngủ li bì vào những giờ rảnh rỗi. Những giấc ngủ êm đềm khoan khoái nuôi dưỡng thân xác ông mỗi ngày một to béo đẫy đà. Vẻ mặt ông cười cợt dễ dãi và phẳng phiu như tâm hồn ông. Ði tu từ lúc còn bé, ông sống kham khổ cũng đã quen. Ông cảm thấy yên phận để dọn mình mai sau về với Phật Tổ, dẫu làm con chuột uống dầu tại chùa Tây Phương cũng cam. Ðầu óc ông tiêm nhiễm giáo lý một cách lờ mờ, cuộc sống trong kinh kệ chưa in rõ vào đầu óc ông. Ông còn mơ ước gì hơn; vả lại, ông không có thì giờ để nghỉ ngơi suy ngẫm gì ngoài những thủ tục đọc kinh trồng rau. Công việc nhà chùa chiếm hết ngày tháng. Ông dạy chú tiểu học kinh và cách tụng kinh. Chú ấy cũng là người để cho ông ta tâm sự về sự tiến triển của mấy dây bầu, của nụ hoa mướp có mòi thành quả. Chỉ có vậy thôi, thế mà ông ta sống lây lất hơn hai mươi năm qua đến không ngờ. Ngày đó, ông theo ni cô Diệu Tâm đến ngôi chùa này giữ vai trò một tiểu đồng, Lúc đó còn sư cụ và ni cô thì mới ngoài ba mươi tuổi, dung nhan còn mặn mòi sắc lẽm. Ðến khi sư cụ qua đời và được mai táng trong cái tháp trước sân chùa, ni cô Diệu Tâm mới lo quán xuyến ngôi chùa này.
Những ngày rằm hoặc những ngày lễ Phật, chỉ vài ba thiện nam tín nữ đến dâng hương vội vã. Hình như họ nghĩ rằng chùa nào đông đúc tấp nập, Phật Trời mới có mặt thường xuyên. Chớ chỗ buồn bã như vầy, chắc Phât Trời cũng lười lui tới. Ông yết ma cảm thấy phơi phới trong cuộc sống trống vắng quạnh hiu. Những lúc đám khách thập phương này chiếu cố chùa, ông có cảm tưởng như họ đến quấy rầy sự yên tĩnh của ông. Nhưng ông phải giữ đúng quy luật nhà chùa là cửa thiền lúc nào cũng mở rộng. Ông biết lán mán về quá khứ của ni cô ngày xưa lúc bà mới hai mươi tuổi, bà là vợ kế của nhà phú hộ trong làng Ðạo Ngạn thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ruộng vườn của bà cò bay thẳng cánh. Thủa đó, tất cả phụ nữ miền Nam chưa hề trang điểm, thế mà bà đã biết dùng phấn nụ do các công chúa của triều đình Huế sai tì nữ đem bán. Trước khi đánh phấn, bà dùng chỉ đánh cho săn lại rồi lăn lên da, nhổ sạch những sợi lông măng để cho da mặt tiếp nhận phấn dễ dàng. Ðoạn bà dùng phấn nụ bôi lên mặt, lấy giấy hồng đơn thấm nước đắp lên mặt má. Bà nhai trầu cho đôi môi nhuộm đỏ.

Thật ra bà vốn là đào hát bộ, tên Năm Thàng. Ông phú hộ có tính phong lưu tao nhã. Ðòi ông chỉ có việc lấy hát xướng làm tiêu khiển. Bất kỳ gánh hát nào có bà, ông cũng ngồi ghe bầu theo coi cho bằng được. Ngồi ghế thượng hạng để cầm chầu, ông say sưa chiêm ngưỡng tấm nhan sắc chim sa cá lặn của bà trong vai Phàn Lê Huê, Hồ Nguyệt Cô, hoặc Lưu Kim Ðính. Người bạn theo hầu kiêm luôn anh đầu bếp giỏi, và tối đến, được theo chủ xem hát. Người phu trạo đã bắt đầu ghiền cuộc sống rày đây mai đó. Cũng bao nhiêu tuồng hát đó mà nhà phú hộ nọ vẫn coi hoài không chán mắt. Ðối với ông, cô Năm Thằng từ cánh gà tuông ra làm đổi mới cả sân khấu.
Hai năm xuôi ngược mỏi mê, ông cố gắng điều đình với ông bầu gánh chuộc cô Năm Thằng bằng mười mẫu đất, đem về làm vợ kế. Muốn thoát khỏi cảnh đời rày đây mai đó, cô Năm Thằng bằng lòng fới ngôi vợ thứ hai do sự đồng ý cưới hỏi rỡ ràng của bà phú hộ. Cuộc sống huyên náo bỗng dừng lại làm cô Năm ngỡ ngàng xa lạ. Sự giàu sang và chiều đãi, nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa của chồng không bao lâu làm cô thêm nhớ lại cuộc đời sống cũ. Cô nhớ sân khấu, nhớ đòi sống lang thang trên những chiếc nghe chài xê dịch từ làng này sang tỉnh khác. Cuộc sống tập thể tuy quấy nhiễu cô thường xuyên, nhưng đem lại cho tâm hồn cô những đổi mới. Cô say những vai trò nữ tướng, công chúa, bà hoàng... để bôi xóa tạm bợ trong vài tiếng đồng hồ đời sống nghèo đói cơ cực của mình. Một cô đào hát tên tuổi chưa được mấy mà đã làm bà phú hộ, có kẻ hầu người hạ. Thế mà cảnh giàu có vẫn không quyến rũ được cô lâu, không đủ quyền lực làm cô quên hẳn quá khứ.

Ni cô Diệu Tâm trở mình thức giấc. Bà lần mò ra chánh điện để kịp gác công phu. Trong im vắng hoàn toàn, ni cô nghe rõ tiếng chuột bọ chạy rột rẹt và tiếng thằn lằn trên kèo nhà chắc lưỡi. Bên ngoài, ếch nhái dưới ao con trổi giọng uênh oang át cả tiếng dế trong bụi ô rô nhọn oắt. Ni cô bước ngang phòng ông yết ma. Tếng ngáy từ trong buồng vọng ra ào ạt, đều đặn. Bỗng giọng mớ ú ớ vang lên:
- Ê ! mấy thằng chăn trâu, bây bẻ trộm bầu của người ta hả ? Bớ Phật Kim Cang, Phật La Hán vặn họng nó cho rồi. Bớ Hộ Pháp.
Ni cô mỉm cười, bỏ xuống nhà sau rửa mặt. Nước mưa chứa trong hàng mái đầm sau hậu liêu mát lạnh lôi bà ra khỏi cơn ngầy ngật buồn ngủ. Bà trở lên chánh điện vặn to ngọn đèn và thành kính cầm dùi dộng vào cái đỉnh đồng chung. Tiếng chuông ngân dài như réo gọi ông yết ma ngủ muộn và nhắc cho chú tiểu đén lúc tụng kinh công phu. Sau đó, từ lò cạo heo, tiếng heo bị thọc huyết eng éc bên kia sông, cách chùa hơn năm trăm thước. Tiếng kêu cứu thê thảm của mấy con heo vắn số nối đuôi tiếng công phu. Phía sau chùa là lò rèn. Tiếng nổ lách tách của đám than vừa rực cháy nghe rất vui tai. Hai ống bể khò khè như tiếng ngáy ngủ của loài trâu nước.
Chú tiểu dụi mắt đi ra đỡ lấy dùi chuông thay cho ni cô. Bà ngồi âm thầm giữa chánh điện hai bàn tay gầy lần tràng chuỗi hạt hổ phách, ni cô tụng hết tuần kinh lui vào trai phòng bên tách trà nhạt còn bốc khói. Bà ôn lại ngày bà còn là một cô đào chánh đã làm say mê giết bao nhiêu vương tôn công tử. Ông phú hộ Thọ đã chia gần nửa số gia sản của ông để đổi cô. Rồi cô bỏ sân khấu về sống trong một ngôi nhà nền đúc cao tới ngực có hàng chục người hầu hạ. Mỗi lần cô giam mình sốt mẩy, thầy lang được rước về tận nhà và ở lại đó cho đến khi cô khỏi hẳn. Cô mê món ếch bắc thảo chưng đường phèn. Người tớ gái đem cục mỡ gần thận ếch để vào một cái thố vẽ bát tiên và cho đường phèn vào, chưng cách thủy. Cục mỡ ếch nở to bằng cái chén trong như pha lê, thơm ngọt ngào rồi đặt chiếc thố sứ vào cái mâm bằng gỗ quí. Trong lúc cô dùng ếch bắc thảo, hai đứa con gái đứng hầu quạt hai bên. Cuộc sống lắm kẻ nuông người chiều đó níu kéo cô được vài ba tháng. Một hôm đoàn hát Cẩm Ðuờng Ban có dịp trở lại làng Ðạo Ngạn, cô Năm Thàng cảm thấy có cái gì xót xa ray rức không yên thúc dục cô, nhứt là khi tiếng chiêng trống và tiếng phèn la nổi lên ing ỏi ở đầu đình. Cô Năm bồn chồn không thể tả, thế rồi đêm hôm sau đó, lúc ông phú hộ yên giấc cô lần mò bỏ trốn theo đoàn hát và tiếp tục nghiệp dĩ. Phải chăng cô muốn thay đổi cái không khí nhờn nhợt âm thầm trôi nổi bên cạnh ông chồng chỉ có lòng sủng ái, nhưng tình yêu cô cho ông còn lờ mờ chưa thắng nổi tiếng trống chầu.
Khi ông phú hộ biết cô đã trốn về đoàn hát, lập tức ông xuống ghe bầu cùng với người phu trạo đi theo. Cuộc săn đuổi gian nan không làm ông thất vọng. Ông tin tưởng sự đi theo vừa giúp ông tiêu dao ngày tháng, vừa có dịp săn sóc cô và mong rằng ngày nào đó, cô Năm sẽ hồi tâm quay trở về. Mãi cho tới ba năm sau, ông vẫn vừa đi theo cô Năm Thàng vừa tập soạn tuồng hát. Ông đã gởi gấm tâm sự, tình ý vào bản Hát Nam, Hát Khách và Hát Văn. Ông để hết tâm trí vào các tác phẩm thai nghén suốt mấy năm liền và sau đó được đưa lên sân khấu để cho cô Năm thủ diễn. Kỳ lạ, sau khi diễn xong tuồng hát của chồng, cô Năm Thàng ôm ông phú hộ Thọ khóc hu hu rồi cởi áo mũ giáp trả lại sân khấu và hai vợ chồng đưa nhau về chốn cũ sống lại cuộc đời cố định. Cô Năm mới tìm thấy tình yêu muộn màng nhưng có một sức mạnh lôi cô ra khỏi ánh đèn sân khấu vĩnh viễn, bỏ hẳn cuộc sống nay miếu này mốt đình nọ. Chỉ một năm sau, cô sanh được một đứa con trai kháu khỉnh. Ðứa con trai đó nối dõi tông đường của ông phú hộ trong khi bấy lâu nay ông cứ ngỡ là mình tuyệt tự. Ông mừng đến sa nước mắt khi đứa con trai độc nhất của ông càng lớn càng giống những nét thanh tú trên gương mặt của ông và cô Năm.
Ông phú hộ toan tính biết bao nhiêu về dự định tương lai cho đứa bé. Nhưng ông đột nhiên chết bất thần vì một tiếng sét long trời sẹt vào nhà làm đổ cả tủ kiếng và giết ông nhanh chóng. Cái chết tức tửi đó làm cho dân làng xầm xì bàn tán là ông ăn ở thiếu phúc đức nên trời sai Thiên Lôi xuống giết gấp rút như vậy.
Từ đó, cô Năm đoạn tuyệt cuộc đời cũ ngay trong ý nghĩ và tận tụy chăm sóc đúa con để đền ơn đáp nghĩa với người vừa là tri kỷ vừa là bạn chung tình đã cho cô một niềm tin yêu bao la. Nhất định cô chẳng đời nào cho con cô nối nghiệp cô. Cuộc đời hát xướng bị người đời cho là vô loại. Cô cũng chẳng mơ con cô giàu có như cha nó chỉ ước ao sau này nó sẽ có nhiều bằng cấp học hành đỗ đạt. Cô ẩn nhẫn sống nuôi con, mặc dầu lúc ông phú hộ vừa mới chết, còn biết bao nhiêu người gấm ghé được lấy cô, nhưng cô quyết không buồn ngó đến họ.
Ðến ngày giỗ chồng, đợi vào lúc nửa đêm, cô Năm Thàng hóa trang, mặc áo giáp đóng vai Ðoàn Hồng Ngọc oai phong lẫm liệt cầm dao múa trước bàn thờ làm như ông phú hộ đang ngồi trên ấy thưởng thức tài nghệ siêu phàm của cô. Ðường đao bay vun vút quấn lấy người cô. Trong im vắng, cô cất tiếng hát nho nhỏ những bài hát trong những vai tuồng mà ngày xưa ông phú hộ đã dày công biên soạn. Sau những đường đao bay như rồng lộn, cô Năm đúng thẳng người nhìn đăm đăm lên bức ảnh ông phú hộ và hai hàng nước mắt chảy dài trên đôi má.
Ðứa con của cô được môt năm thì bị một cơn sốt dữ mà tất cả danh y đều bó tay đầu hàng. Cô Năm tê điếng trong niềm tuyệt vọng. Ðã bao lần ý nghĩ tự sát chập chờn qua tâm nảo cô. Ba lần tự tử bằng ba cách : cắt gân máu, uống dầu nóng, treo cổ được phát giác ngay.
Cô lần tính lại đã quá hai mươi năm, nỗi đau khổ và bất hạnh xa cũ đã bắt đầu mờ nhạt. Những việc nhà chùa làm cô bận rộn suốt năm bôi xóa dần những nỗi buồn thảm, tưởng chừng vẫ rỉ rả hành tội cô trong khoảng đời còn lại.
Nắng đã lên từ chân vườn, sau chùa, vài ba đứa mục đồng đang nghêu ngao mấy bản Kin Tiền. Nắng tuôn ánh sáng hình rẻ quạt trên mặt đất. Ni cô Diệu Tâm lục đục ở trú phòng. Những cây tre non được vót từng cọng nhỏ bằng cây tăm nhang bày đầy trong cái nia. Ni cô khệ nệ bưng nồi nước cơm từ bên bếp đem lên để kế bên nia tăm tre cắt dài khoảng ba tấc. Ni cô dùng những loài lá có mùi thơm như lá quao, lá ngũ trảo, lá bưởi phơi khô rồi giã nhỏ xây lấy bột đựng trong mấy chiếc thau đầy ắp. Chú tiểu ngồi bên cạnh rây lại lần nữa phần bột mịn, thơm ngát, cho vào cái chậu tráng men sứ trắng vẽ hoa hồng đỏ. Ni cô bỏ những cây tre chẻ nhỏ vào một ống tre cao độ hai tấc đựng nước cơm gạo mới đặc quánh như hồ nhúng ướt rồi mang ra lăn những cây tre đó vào chậu bột lá mịn. Hồ trên thân cây tre chẻ nhuyễn quyến lấy bụi lá thơm và những cây nhang này được đem đi phơi nắng.
Tất cả những thức ăn lẫn hương hoa cúng kiếng đều do một tay ni cô làm ra. Xài không hết, bà mang ra chợ bán lấy tiền bỏ vào quỹ nhà chùa. Ðặc biệt bà có tài làm tương ta. Bà lựa nếp đem xôi rồi bỏ vào nia ủ bằng lá tranh hay lá ngấy độ ba ngày cho nếp lên men rồi thắng đường cho chút muối, đổ vào nếp làm tương ta. Những món hàng do nhà chùa sản xuất sẽ nhờ chú tiểu đem ra nhồi chợ bán lẻ. Công việc bề bộn đó chiếm cả ngày, ni cô Diệu Tâm say sưa, có khi quên cả việc ăn uống. Mãi đến chập choạng tối, lúc bao tử đòi hỏi gấp rút, bà vào nhà bếp xới tô cơm nguội ăn với chút tương ta. Ăn uống thiếu thốn lâu ngày làm thân thể bà gầy gò và những cơn ho húng hắng xảy ra thường xuyên. Nhưng bà không để tâm đến và cơn bịnh cũng lây lất trôi qua khi ông yết ma chưng cho bà chín lá chanh với chút đường phèn bưng lên cho bà uống. Món thuốc ho không tốn kém này cũng làm bớt cơn đau ngực và bà tiếp tục lây lất với cơn bịnh.
Diệu Tâm cảm thấy bứt rứt nơi ngực. Hình như có một bàn tay nắm lấy trái tim, bà ngột ngạt tưởng chừng trai phòng này thiếu không khí. Bà gượng ngồi dậy tựa lưng vào thành giường một lúc rồi cố gắng đứng dậy đẩy nhẹ cánh cửa sổ. Ánh nắng túa vào khe cửa ảm đạm rớt trên một lõm giường và lác đác vài mảnh vuông trên nền gạch tàu. Diệu Tâm lần dò ra ngoài để tìm chút thoáng khí. Ni cô lầm lũi bước ra ngồi tựa lưng bên tháp sư cụ và ngước mặt nhìn trời. Cơn lạnh tiết ra từ trong lá, từ ao sen làm bà rờn rợn. Cơn ho tiếp tục và ni cô cảm thấy hình như chiếc tháp muốn xiêu đổ và mặt trời túa ra nhiều vành sáng nhảy múa trước mắt. Diệu Tâm bám chặt lấy thềm cửa tháp và cơn buồn nôn hối hả dâng lên, ni cô chỉ còn thấy cảnh vật đảo lộn, ánh sáng và bóng tối xoay tít, và nơi ngực như có cả khối tháp đè lên đó. Tiếng chim vụt tắt ngỏm đâu đây và cơn gió rào trên ngọn dương ngừng lại.

Ni cô bừng mắt nghe tiếng nói lào xào văng vẳng đâu đây. Ni cô nhướng đôi mắt còn chút ít thần sắc nhìn quanh trai phòng. Chú tiểu túc trực bên giường mừng rỡ hỏi dồn:
- Dạ thưa ni cô cảm thấy đỡ chưa ?
Bà lặng lẽ gật đầu và muốn ngồi dậy. Chú tiểu hiểu ý đến đỡ bà lên tựa lưng vào thành giường. Bỗng cửa trai phòng vụt mở. Diệu Tâm nhếch mép cười tiếp nhận sự có mặt của đứa cháu dâu và cô em họ đến đúng lúc bà thấy cơn bịnh này không hy vọng lành. Ðứa cháu dâu gọi bà bằng cô chuyên nghề sống với nghề cờ gian bạc lận và nghề cho vay đoạt nợ. Nghề nghiệp nàng đến mức tuyệt xảo. Riêng cô em họ cùng đi theo cô cháu dâu đến thăm bà là một tay từng nhổ râu ông huyện này, cạo đầu ông phủ kia. Cô em họ có tấm nhan sắc cũng ưa nhìn thôi, nhưng cô có biệt tài hễ cập sách với ông nào thì nạn nhân tình ái của cô phải tán gia bại sản một cách nhanh chóng và êm thấm. Hai người đàn bà thân thích này thường lui tới cửa thiền hầu sám hối để chuộc tội. Họ thích thân thiện với bà có lẽ nghĩ rằng khi Diệu Tâm đắc đạo để về chầu Ðấng Từ Bi sẽ với tay níu họ theo lên cõi Niết Bàn. Vì mặc cảm tội lỗi nên họ càng thích đi chùa dâng hương đem lễ hộc hòng hối lộ Trời Phật cho giải bớt những oan kiên mà ở trần gian họ đã làm, đang làm và tiếp tục làm nữa...Càng thấy họ đi chủa là phải hiểu rằng họ vừa làm được một cái áp phe. Khi có nhiều tiền, họ lại vào chùa thành khẩn hối lỗi, nhưng khi bước ra khỏi chánh điện thì họ lại quên tuốt.
Ni cô mệt nhọc gắng gượng trả lời họ vài ba câu hỏi thăm sức khỏe. Rồi không còn ngồi được nữa, bà nằm rũ xuống. Cô em họ đề nghị ông yết ma nên tụng kinh cho Diệu Tâm để nếu như bà có phải về nơi cực lạc cũng sớm được nhẹ nhàng hồn phách.
Ni cô nghe trong người rã rời từng khớp xương. Bà cố mở mắt nhìn ánh đèn vàng vọt đặt trên chiếc bàn cạnh bàn nước. Cổ họng bà khô đắng và lạt lẽo. Ni cô hé mắt nhìn cô em họ đang ngồi bên cạnh và cô cháu dâu đang lây quây rót nước từ trong vỏ bình vào tách định bưng lại. Ni cô khoác tay tỏ ý không cần uống nước. Bà đã ăn chay ròng rã hơn hai mươi năm quá đạm bạc nên thân thể bà thiếu cã chất đạm.
Bà làm việc quần quật, suốt ngày. Không biết bà tìm cách quên ẩn tình hay để tăng ngân quỹ nhà chùa. Người ta thấy ni cô Diệu Tâm không sống cho mình nữa, kể từ khi bà bước vào chùa này. Bà sống kham khổ, nhẫn nhục và chịu đựng. Tiền công quỹ nhà chùa được đem ra bố thí cho những người tàn tật nghèo khổ. Bà ăn uống bất thường và coi việc ẩm thực là điều phụ thuộc. Chỉ cần một chén tương và một nhúm rau chấm tương cũng rồi một bữa. Từ một tháng nay, bà không ăn uống được như thường nhật, mỗi khi ăn xong, bà đều mửa thốc mửa tháo ra, đến cả thuốc men cũng không giữ được trong bao tử. Họ hàng hay được tin bà thọ trọng bịnh cho mời biết bao danh y đến cứu chữa. Phần linh hồn thì do ông yết ma và một số sư sãi các chùa lân cận đến tụng niệm siêu độ.
Thân xác bà mỗi mòn trong giấc hôn mê chập chờn, bà nghe tiếng tụng niệm ngoài chánh điện. Trong bóng tối mù mờ, loáng thoáng có tiếng muỗi vo ve, đột nhiên ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng. Phải chi có một chút nước tương để bà nếm thử. Trí óc của bà dán chặt vào ý nghĩ lưỡi bà khô đi, đồng thời nước dãi tuôn ra đầy miệng. Thế rồi ý nghĩ của bà trôi xa hơn, nước tàu vị yểu, rồi nước mắm. Cơ thể bà vụt bùng lên. Nước mắm ! Nước mắm ! ni cô Diệu Tâm nuốt ực nước miếng. Một nỗi xót xa làm nước mắt bà ướt đẫm. Có cái gì chống đối trong từng thớ thịt, khớp xương của bà.
Bà vụt nghĩ, nếu có một muỗng nước mắm chui vào bao tử bà thì có lẽ những chấn động, phản đối trong cái cơ thể mỏi mòn sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muỗng nước mắm sẽ đem lại cho bà sự khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon và ngày mai bà sẽ tiếp tục sinh hoạt lại như cũ dưới mái chủa này.
- Nước mắm ! Muỗng nước mắm !
Ni cô hoàn toàn quên mất cái đời sống hiện tại ở trong chùa, quên cả mấy mươi năm tu hành khổ hạnh. Bà rơi trong một ý thức mù mờ chỉ có hình bóng muỗng nước mắm bằng sứ trắng chứa một thứ nước vàng và trong suốt như nước trà. Kê miệng mà nếm thử thì biết. Ni cô Diệu Tâm co rúm lại, thở hổn hển. Ba tiếng muỗng nước mắm như ba nhát búa đập vào đầu óc bà làm bà lảo đảo.
Ngoài hậu liêu, hình như trời đã chiều. Mùi thuốc bắc sắc trong siêu ngai ngái bay lên làm bà có cảm tưởng mình sắp nghẹt thở.
Bà phải uống một muỗng nước mắm. Ngày mai dầu có phải đọc kinh sám hối, bà cũng không màng. Bà tin chắc rằng dầu đọc kinh cứu khổ cứu nạn với Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tár cũng chưa chắc mầu nhiệm bằng một muỗng nước mắm. Nước mắm sẽ là một món thuốc tiên làm cho cây khô trổ bông. Cố gắng lấy hết tàn hơi, bà thều thào gọi chú tiểu kiếm cho bà một muỗng nước mắm. Tất cả những người có mặt bên giường đều ngạc nhiên lẫn hốt hoảng.
Diệu Tâm lập đi lập lại mấy lần :
- Mô Phật ! Cho tôi muỗng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền.
Tiếng kêu gọi như một lời van vỉ, thê thảm. Hai tay Diệu Tâm chìa ra tuyệt vọng. Chú tiểu bưng đến gần tách trà ướp sen kề gần miệng. Ni cô khép chặt môi, lắc đầu phản đối:
- Tôi chỉ cần uống một chút nước mắm cho mặn môi.
Nói xong ni cô dìm hồn vào trong cơn đồng thiếp hai cánh tay còn xòe ra quờ quạng van xin.
Cô em họ bước ra trai phòng thỉ thầm :
- Rõ là ma đưa lối, quỉ dẫn đường. Hồi nào tới giò chỉ ăn chay lạt, đến lúc sắp chết lại đòi uống nước mắm. Tôi nhất định chống lại lời ma quỉ xúi biểu, xui khiến chỉ phạm trai giới. Thà để cho chỉ chết mà không mang tội với Trời Phật và không uổng công tu khổ hạnh hai mươi mấy năm nay.
Nói đoạn bà xuống trú phòng ngồi nói chuyện áp phe với cô cháu dâu, hoặc những thành quả bà đã thu đoạt được kể từ ngày bà bước chân vào đời. Giọng bà oang oang uốn éo và những tràng cười nói xôn xao vọng lên trên chánh điện. Ông yết ma với đôi mắt nhắm lại và nét mật phẳng phiu dễ dãi thường nhật nhuốm một chút lo âu. Không khí nặng nề trùm xuống, nghẹt thở. Tiếng hét từ trai phòng vang lên. Ông lẹ chân tông cửa vào vừa lúc chú tiểu định bước ra, vẻ mặt còn hốt hoảng. Tất cả đứng im lặng quanh giường chờ đợi phút nghiêm trọng của ni cô trong khi cô đang vật vã từng đợt với tử thần. Tiếng nói bà vụt sang sảng như lúc còn ở trên sân khấu. Giọng nói trong trẻo tỉnh táo, nhưng đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền :
- Tôi mới biết thương mình mấy năm mình khổ công theo đuổi tôi, mình đặt tuồng hát cho tôi hát.
- Con ráng học cho đỗ đạt làm quan nghe con cưng của má.
- Tôi chỉ thích sắm vai Ðoàn Hồng Ngọc hơn làm Phàn Lê Huê. Mình thích tôi diễn vai nào nhất?
- Bớ này Tiét Giao ! Ô này bạc tình lang ! Mặt chàng đẹp trai mà làm chi ? Lời chàng ngọt ngào mà làm chi ? Cổ thiếp ngày nay mất ngọc, thân thiếp bơ vơ.
Cả một quá khứ trôi nhanh lên ký ức bà rõ rệt và nhanh như một đoạn phim quay hết tốc lực của nó. Bà độc thoại từ quãng đời sân khấu đến quãng đời làm vợ ông phú hộ Thọ. Giọng bà sang sảng vụt dừng lại và dưới ánh đèn hiu hắt, ni cô mở trừng trừng đôi mắt trắng nhợt như cố thu nhận hình ảnh sau cùng của đời sống và ni cô quờ quạng hai bàn tay trơ xương với lời van vỉ đứt nối :
- Hãy cứu tôi, cho tôi uống một muỗng nước mắm thôi.
Cô cháu dâu nhìn bà em họ :
- Mợ ơi ! Mợ nhờ su sãi đọc kinh trừ tà nghen. Cần nhứt là canh giữ đừng cho ai đem nước mắm lại.
Bà em họ tức mình :
- Ðể tôi đi đọc kinh cứu khổ. Hồi xưa Phật Thích Ca gần đắc đạo thì ma vương tới phá. Còn cái chị này sắp về Tây Phương tới nơi mà cũng chưa yên thân.

(Đăng Trên báo Xuân Kỷ Dậu Văn số 123 & 124 ngày 1 tháng 2, 1969)

______________

Nguyễn Thị Thụy Vũ với "Lòng Trần"

Hồ Trường An

Trong 30 năm qua, Hồ Trường An đã cho xuất bản nhiều tập nhận định, phỏng vấn văn nghệ sĩ (Chân Trời Lam Ngọc, Theo Chân Những Tiếng Hát, Sàn Gỗ, Màn Nhung, Ảnh Trường Kịch Giới - 2012), song gần đây ông viết phê bình văn chương, là lãnh vực thân cận của ông, bởi ông đọc nhiều và có óc quan sát tinh tế, trí nhớ tỉ mỉ và viết cặn kẽ.

LTS: Bài sau đây trích ra từ chương sách thứ chín của cuốnTrên Nẻo Đường Nắng Tới của nhà văn Hồ Trường An, chưa xuất bản.
Ông viết: "Chương chín này là chương chót của quyển biên khảo Trên Nẻo Đường Nắng Tới gồm có bốn truyện ngắn: hai của Võ Đình, một của Nguyễn thị Hoàng, một của Nguyễn thị Thụy Vũ. Bốn truyện ngắn đó lọt ra cái khung hiện thực và tân hiện thực đã từng phong tỏa văn chương Việt Nam từ bao năm qua mà Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền và Võ Phiến nỗ lực để xông xáo bước ra.
Qua bốn truyện ngắn này, ba tác giả cố gắng noi theo gương Tôn Hành Giả trong Tây Du Ký của Ngô Thừa ân để làm cuộc cân-đẩu-vân, với mỗi bước nhảy vọt là bay thật xa. Họ có đến chân trời tư tưởng bao la và lạ lẫm nào không? Cái đó còn tùy theo mỗi khía cạnh nhận xét của bạn đọc nào muốn nhìn sâu vào hiện hữu, muốn đón nhận sự canh tân trong văn chương, muốn thoát ra khỏi không khí buồn nản của văn chương tả chân (hiện thực, tân hiện thực) từ xưa đến giờ.
Nguyễn thị Hoàng và Nguyễn thị Thụy Vũ không hề nêu tình ý gì rõ ràng trên mặt chữ. Cả hai viết khơi khơi. Trừ Võ Đình đôi lúc trình bày một vài nhân sinh quan sơ sài lụn vụn, còn hai nữ sĩ kia chỉ trình bày diễn biến của sự việc, kèm theo đó là công việc miêu tả (tả cảnh, tả người, tả một vài tâm trạng của hân vật).
Nhưng ẩn sau mặt chữ của họ thấp thoáng bao điều làm chúng ta ray rứt bàng hoàng khiến chúng ta nghĩ ngợi không thôi. Một chân trời tư tưởng mênh mông và thăm thẳm? Một bí nhiệm nằm sau lưng cuộc sống hay ở ngay trong cuộc sống? Làm sao chúng ta nắm bắt được trọn vẹn ý tình của ba tác giả kia? Tuy nhiên, chúng ta vẫn cứ tiếp tục ray rứt bàng hoàng, vẫn cứ tiếp tục suy gẫm...
Võ Đình đến với chúng ta qua hai truyện ngắn Chuyện Cây Bàng và truyện ngắn Lại Chuyện Cây Bàng. Hai truyện ngắn này ở trong tập truyện Lầu Xép xuất bản vào năm 1997. Nguyễn thị Hoàng đến với chúng ta qua truyện ngắn Tan Trong Sương Mù ở trong tập truyện Bóng Lá Hồn Hoa do Văn xuất bản vào năm 1973. Và sau hết, Nguyễn Thị Thụy Vũ đến với chúng ta qua truyện ngắn Lòng Trần trong tuyển tập truyện ngắn gồm nhiều tác giả Những Truyện Ngắn Hay Nhất Trên Quê Hương Chúng Ta do Sóng xuất bản vào năm 1973. Trước đó, hình như vào năm 1969 thì phải, truyện ngắn này được đăng trên tập san Văn do Nguyễn Đình Vượng làm chủ nhiệm, nó có cái tựa là Muỗng Nước Mắm."
Đó là phần vào đề của chương chín. Kỳ này nhân số Chủ đề Phụ Nữ, Khởi Hành trích đăng sau đây phần viết về hai nữ sĩ Nguyễn Thị Hoàng và Nguyễn Thị Thụy Vũ để chúng ta cùng thưởng thức văn biên khảo văn học của nhà văn Hồ Trường An. Trong bài đôi chỗ có những nhận xét có thể gây hiệu ứng thái quá, chúng tôi vẫn đăng tải, vì nghĩ rằng Hồ Trường An cầm bút đã hơn bốn mươi năm, ông có lý do riêng của mình mà chúng ta dù không hoàn toàn đồng ý vẫn nên tôn trọng tác giả.

Nguyễn thị Thụy Vũ, tác giả truyện ngắn Lòng Trần là chị ruột của bút giả nên bút giả biết rất rõ xuất xứ của truyện ngắn này cùng khuynh hướng văn chương của tác giả. Đây là câu chuyện có thật thuộc về họ ngoại của cụ thân sinh của tác giả và bút giả. Trong truyện, cô đào hát bội Năm Thàng và sư nữ Diệu Tâm chỉ là một người. Nữ nghệ sĩ Năm Thàng sau khi chồng và đứa con trai đều chết nên cắt tóc đi tu, có cái pháp danh là Diệu Tâm. Nhưng ở ngoài đời bà Năm Thàng là mợ dâu của bà nội chúng tôi, còn sư nữ Diệu Tâm là cô họ của cụ thân sinh tôi.
Tên của bà Năm Tháng ở ngoài đời là Tư Bổn. Bà lấy tên thật của mình làm nghệ danh. Bà thuộc hàng ngũ tiền phong trong ngành hát bội, trước lớp các bà Năm Nhỏ, Năm Chung, trước luôn lớp các bà Năm Sa-Đéc, Cao Long Ngà, Ba Út, Sáu Bê, Hai Sáng, Năm Đồ... Trong quyển 50 Năm Mê Hát, cụ Vương Hồng Sển có viết vài hàng về nữ nghệ sĩ này.
Câu chuyện về cuộc đời của bà Tư Bổn và của sư nữ Diệu Tâm được ông thân sinh chúng tôi thường kể khi ba cha con nhắc tới làng Đạo Thạnh, thuộc tỉnh Mỹ Tho. Đó là nơi sản sinh hai nữ nhân vật ấy. Do đó, chi Thụy Vũ tôi liền nhập họ làm một để tạo ra nữ nhân vật chính trong truyện ngắn Lòng Trần. Truyệnrằng:
Năm Thàng là cô đào hát bội, thanh sắc lẫy lừng được một ông phú hộ say mê. Ông tình nguyện gia nhập gánh hát để được theo bước lưu diễn của cô. Ông săn sóc cô và soạn tuồng để cô diễn. Cảm động tấm chung tình của ông, cô bỏ nghề hát để làm vợ ông. Rồi đó, ông chồng chết vì tai nạn sét đánh, đứa con của cả hai cũng chết sau đó ít lâu. Cô Năm Thàng cắt tóc đi tu, lấy pháp danh là Diệu Tâm, sống khổ hạnh, giữ trai giới rất nghiêm nhặt cho tới tuổi già bóng xế.
Ngờ đâu, trong phút hấp hối, sư nữ Diệu Tâm đòi húp một muỗng nước mắm. Nhưng họ hàng thân tộc của bà cho rằng bà sắp thành chánh quả mà còn bị quỉ ma theo khuấy phá để bà bị tội phạm giới. Cho nên nọ nhất định không chiều theo ý của bà. Bà chết trong cơn hành hạ của thể xác, trong cơn thèm thuồng không được thỏa mãn. Càng chua xót hơn, trong phút lâm chung, bà quên mình là kẻ tu hành mà chỉ nhớ mình là cô đào hát bội Năm Thàng:
... Tất cả đứng im lặng chung quanh giường chờ đợi phút nghiêm trọng của ni cô trong khi ni cô vật vã từng đợt với Tử thần. Tiếng nói của bà vụt sang sảng như lúc còn trên sân khấu. Giọng nói trong trẻo, tỉnh táo nhưng đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền:
- Tôi mới biết thương mình, mấy năm mình khổ công theo đuổi tôi, mình đặt tuồng cho tôi hát.
- Con gắng học hành cho đỗ đạt làm quan nghe con cưng của má.
- Tôi chỉ thích sắm vai Đoàn Hồng Ngọc hơn làm Phàn Lê Huê. Mình thích tôi diễn vai nào nhứt?
- Bớ này Tiết Giao! Ớ này bạc tình lang! Mặt chàng đẹp mà làm chi? Lời chàng ngọt ngào làm chi? Để thiếp ngày nay mất ngọc, thân thiếp bơ vơ.
Cả một ký ức trồi nhanh lên óc bà rõ rệt và nhanh như một phim quay hết tốc lực của nó. Bà độc thoại từ quãng đời sân khấu đến quãng đời làm vợ ông phú hộ Thọ. Giọng bà đang sang sảng vụt dừng lại, dưới ánh đèn hiu hắt, ni cô mở trừng trừng đôi mắt trắng nhợt như cố thu hình ảnh sau cùng của đời sống và ni cô quờ quạng hai bàn tay trơ xương với lời van vỉ đứt nối:
- Hãy cứu tôi, cho tôi một muỗng nước mắm thôi.
Cô cháu dâu nhìn bà em họ:
- Mợ ơi! Mợ nhờ sư sãi đọc kinh trừ tà nghen. Cần nhứt là canh giữ đừng cho ai đem nước mắm lại.
Bà em họ tức mình:
- Để tôi đọc kinh cứu khổ. Hồi xưa Phật Thích Ca gần đắc đạo thì ma vương tới phá. Còn chị này sắp về Tây Phương tới nơi cũng chưa yên thân (CGTT, các trang 77, 78)
Tác giả trình bày sự việc theo lối kể truyện ở đoạn hồi ức về dĩ vãng vàng son của ni cô Diệu Tâm. Nhưng ở đoạn tả cảnh chùa trong phần nhập đề, ở đoạn bà nằm trên giường bệnh, tác giá mới thật sự viết văn. Bút pháp của chị đơn giản, đôn hậu và chân phương qua lối dụng ngữ miền Nam Kỳ Lục Tỉnh rất hồn nhiên và linh hoạt.
Từ nếp sống lưu diễn vinh quang, kinh qua nếp sống khuê các trên nhung lụa để đi đến nếp sống tịnh trai khổ hạnh trong chùa, ni cô Diệu Tâm (hậu thân của nữ nghệ sĩ Năm Thàng) phải gồng mình khép mình trong trai giới. Đó không phải bà tu vì giác ngộ lẽ vô thường mà là để trốn tránh nỗi bất hạnh đau thương. Từ khởi điểm, bà đã đi lạc đường lối tâm linh. Bà trốn tránh cái thất vọng chứ không chịu quán niệm về cái Tánh Không của vạn hữu để thấy cái phù ảo huyễn hoặc của thuận cảnh hay nghịch cảnh trong kiếp sống. Bà không dám đối diện với thất vọng đau thương để phá mê diệt khổ. Đau thương, thất vọng, đam mê, đắc ý, khoái lạc, tất cả đều là phiền não do cái Ngã tạo nên. Càng trốn tránh cái Ngã, nó chỉ tạm thời lặn sâu dưới Tàng Thức chúng ta. Nhưng hễ có cơ hội thuận tiện là nó trồi lên bình diện của ý thức. Nó vùng vẫy, hung hăng đánh phá tâm thức chúng ta. Đó cũng giống như cái lò so mạnh bạo bị dồn nén tối đa. Nhưng đến một khi nào đó, sự dồn nén lơi đi, nó bung ra với sức vùng vẫy cũng không kém dữ tợn.
Trong trường hợp ni cô Diệu Tâm, bà càng gồng mình trì giới, thì càng bị sức quyến rũ của giới cấm thu hút. Khi còn mạnh khỏe, bà còn đủ sức áp đảo nó bằng ý chí kiên cố. Nhưng khi đau yếu, ý chí đó trở nên bạc nhược nếu không tiêu tan rời rã đi. Nó vùng lên như họng hỏa diệm sơn khạc lửa và tuôn phúng xuất thạch không ai cưỡng nổi. Nó như quả bóng ném mạnh vào bức tường để rồi dội ngược vào người ném một cách thô bạo.
Thân xác bà mòn mỏi trong giấc hôn mê chập chờn, bà nghe tiếng tụng niệm ngoài chánh điện. Trong bóng tối mù mờ, loáng thoáng có tiếng muỗi vo ve, đột nhiên ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng! Phải chi có một chút nước tương để bà nếm thử. Trí óc bà dán chặt vào ý nghĩ đó, lưỡi bà khô đi đồng thời nước dãi tuôn ra đầy miệng. Thế rồi ý nghĩ bà trôi xa hơn, nước tàu vị iểu, rồi tới nước mắm. Cơ thể bà vụt bùng lên. Nước mắm! Nước mắm! Ni cô Diệu Tâm nuốt ực nước miếng. Một nỗi xót xa là nước mắt bà ướt đẫm. Có cái gì chống đối trong từng thớ thịt, khớp xương của bà.
Bà vụt nghĩ, nếu có một muổng nước mắm chui vào bao tử của bà thì có lẽ những chấn động, phản đối trong cơ thể mòn mỏi sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muổng nước mắm sẽ đem lại cho bà cái khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon và ngày mai bà sẽ tiếp tục sinh hoạt lại như cũ dưới mái chùa này.
- Nước mắm! Muổng nước mắm!
Ni cô hoàn toàn quên mất cái hiện tại trong chùa, quên cả mười năm tu hành. Bà rơi trong ý thức mù mờ chỉ có hình bóng muổng nước mắm bằng sứ trắng chứa một thứ nước vàng trong suốt như nước trà. Kê miệng mà nếm thử phải biết. Ni cô Diệu Tâm co rúm lại, thở hổn hển. Ba tiếng muổng nước mắm như ba nhát búa đập vào đầu óc bà làm bà lảo đảo.
Bà phải uống một muổng nước mắm. Ngày mai dầu có phải đọc kinh sám hối, bà cũng không màng. Bà tin chắc chắn rằng dầu đọc kinh cứu khổ cứu nạn với Đức Bạch Y Quán Thế âm Bồ Tát cũng chưa chắc mầu nhiệm bằng một muổng nước mắm. Nước mắm sẽ là món thuốc tiên làm cho cây khô trổ bông, làm cho bao nhiêu sinh lực của bà bừng sống lại. Cố gắng hết tận hơi, bà thều thào gọi chú tiểu kiếm cho bà một muổng nước mắm.
Tất cả những người có mặt quanh giường đều ngạc nhiên lẫn hốt hoảng.
Diệu Tâm lập đi lập lại mấy lần:
- Mô Phật! Cho tôi một muổng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền.
Tiếng kêu gọi van vỉ, thê thảm. Hai tay Diệu Tâm chìa ra tuyệt vọng. Chú tiểu bưng đến gần bà tách trà ướp sen, kề gần miệng bà. Ni cô khép chặt môi phản đối:
- Tôi chỉ cần uống một chút nước mắm cho mặn mòi.
Nói xong, ni cô dìm hồn vào cơn đồng thiếp; hai cánh tay gầy guộc còn giương ra quờ quạng van xin. (Chuông Gióng Thênh Thang, các trang 76, 77)

 

"Tôi bước vào văn đàn bằng những truyện ngắn. Truyện ngắn khó viết vì tư tưởng lẫn cảm hứng chỉ được diễn tả trong một khuôn khổ ngắn. Người viết phải cô đọng tư tưởng. Tôi thích truyện ngắn không có cốt truyện, mà đầy nhiều chi tiết soi sáng thái độ lẫn quan niệm của tác giả đối với văn chương và cuộc đời. Trong ba tập truyện Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông, hầu hết các truyện ngắn đều có cốt truyện hẳn hòi, nên tôi không được vừa ý lắm." (Nguyễn Thị Thụy Vũ trả lời nhà văn Nguyễn Đông Ngạc, 1973).
Đè nén quá khứ đau buồn vào quên lãng, đè nén thất vọng vì những mơ ước không thành. Đó không phải là tu hành đúng phép, đúng cách. Tu là dùng ánh sáng trí tuệ để soi bản thể vạn pháp trong vòng tham sân si rồi đưa tất cả vào Tuệ Giác, vào Tánh Không (cái Không tuyệt đối, cái gốc rễ rốt ráo) của chúng. Có vậy, bậc hành giả sẽ tu hành một cách hạnh phúc và thảnh thơi. Đè nén dĩ vãng và niềm đau khổ, nhưng có ai giết chết được chúng đâu? Chỉ có xoa dịu chúng, âu yếm vỗ về chúng và để rồi quán chiếu cái gốc rễ của chúng, xem chúng không có thật để ta không bám víu vào chúng nữa. Nếu được vậy, hành giả sẽ thành công như người thợ săn bắt được con trăn bằng cách nắm chặt cổ nó, khác hẳn trường hợp kẻ nắm đuôi trăn bị trăn quay đầu lại quật ngã. Chỉ có ánh sáng Tuệ Giác trong những phút quán niệm, lần hồi ni cô Diệu Tâm sẽ giác ngộ rằng cái quá khứ vàng son của mình là vô thường, nỗi đau khổ của mình cũng là vô thường do sự giả hợp của nhiều yếu tố mà hình thành. Ánh sáng Tuệ Giác sẽ cho bà thấy tất cả đều là không thật, đều là như huyễn, do đó bà sẽ giác ngộ.
Tôi xin lập lại: tu là tìm phương cách giác ngộ chứ không phải để tránh đau khổ. Đau khổ sẽ đuổi theo người u mê lánh khổ cho tới tận cùng dù nó có bị dìm sâu vào đáy thẳm tận cùng của tiềm thức đương sự đi nữa. Phật gọi đó là thức thứ 8, Tàng Thức hay là A-lợi-da thức. kho tàng bao la không ngằn mé chất chứa những kỷ niệm, biến cố, thiện nghiệp hay ác nghiệp từ vô lượng kiếp đến hiện kiếp. Mỗi tác nhân, mỗi tác nghiệp dù nhỏ như mảy lông sợi tóc vẫn còn tồn tại mãi trong cái Tàng Thức ấy, không bao giờ mất đi. Đến cơ duyên chín muồi là chúng tuần tự hiện hành.
Muổng nước mắm đâu thể làm cho ni cô Diệu Tâm mang tội sát sanh. Nhưng nó là đầu mối, là cánh cửa mở ra để bà thấy lại con đường phàm phu thế tục quyến rũ vụt hiện bày trở lại trước mắt bà. Dù bằng ý thức chưa rõ rệt đi nữa, nhưng bà vẫn còn muốn đi trở lại trên con đường ấy, sau nhiều năm bà phải buộc mình sống trai giới chốn cửa Thiền. Nói rõ hơn, vì không còn phương tiện, cơ hội, sức khỏe và nghị lực, cho nên bà không thể trở lại đường cũ nên bà phải tiếp tục nương náu chốn chùa chiền để tìm chỗ nương thân và điểm tựa cho tinh thần mình.
Lại nữa, tu hành mà ép xác thái quá thì tinh thần cũng bị dồn ép theo lẽ thân tâm tương ứng. Ngày xưa, Đức Thích Ca Mâu Ni tu theo ngoại đạo, nhịn ăn, nhịn ngủ thét rồi thân xác kiệt quệ và tinh thần cũng hôn ám theo. Ngài bèn xuống sông tắm cho sảng khoái, chịu uống sữa do một người thiếu phụ mến kẻ chân tu đem dâng. Xác thân có mạnh khỏe thì tinh thần và trí óc mới trở nên minh mẫn. Nhờ vậy, ngài mới tiếp tục tu cho đến khi thành chánh quả.
Đức Phật chủ trương Trung Đạo trong đó có phần Trung Dung trong cách tu hành: đừng nuông chiều xác thân trong những thú khoái lạc, nhưng cũng không nên ép xác thân đến độ hành hạ khốc liệt xác thân. Dây đàn chùng quá sẽ không nẩy bật ra âm thanh. Nhưng nếu căng thẳng nó quá, nó sẽ đứt.

Viết truyện ngắn Lòng Trần, Nguyễn thị Thụy Vũ không phải chỉ nêu lên cái hệ lụy ở chính nơi cá nhân cùng cái nghiệp khó tránh mà cá nhân ấy phải chịu trách nhiệm trong việc vay trả. Chị còn nhắm vào bước đường tu tập của con người sợ khổ nên lánh khổ, con người ấy không biết soi sáng căn nguyên cùng bản thể cái khổ. Chồng chết, con chết là cái ác quả của ni cô Diệu Tâm từ bao thời tiền kiếp hiện hành trong kiếp này. Còn việc bà lạc bước đường tu là bởi bà thiếu Tuệ Giác, tưởng đâu chay tịnh khổ hạnh là được Phật độ để thoát khổ và được chứng một quả vị nào đó. Bà quên rằng tu là trước hết phải thấu suốt quãng đời vinh quang thuở trước và cái tang tóc thảm thê tiếp theo, tất cả chỉ là lẽ vô thường, theo lịch trình sinh diệt. Tu là quán chiếu, là soi sáng bản thể của vạn pháp. Mà bản thể của tất cả đều là Không. Xa lánh cái phiền não (vốn là Không) tức là ta còn thấy cái khổ có thật nên mới xa lánh, tức là ta còn khư khư ôm lấy cái mộng tưởng, huyễn hoặc. Rốt cuộc ta vẫn còn mê, chưa thể giác ngộ. Tu như thế dù có chay tịnh, ép xác cũng không hiệu quả, cũng như lấy gươm chém vào nước, lấy chày giã nát ánh trăng. Nhưng nếu ta hiểu rõ nó là Không, rồi ta cứ quán chiếu cái Không ấy cho thuần thục thì ta đâu còn bị nó vương vấn, dính mắc dưới đáy thẳm của Tàng Thức nữa. Vì đã là Không rồi thì làm gì có chuyện vương vấn và dính mắc nữa?

Qua truyện ngắn Lòng Trần, tác giả Nguyễn thị Thụy Vũ trình bày một khía cạnh tâm linh khá đặc thù: lánh tục bằng cách nương náu chốn am vân chưa chắc là ngộ. Vấn đề mê và ngộ vốn phức tạp và phiền toái. Mê vốn dễ bao trùm giăng bủa khắp mỗi loại chúng sinh. Các bậc hành giả nếu đi sai một lằn tơ kẽ tóc là bước qua đường tà có nhiều biển khổ bến mê đón đợi. Tu hành phải dựa vào nền tảng Chánh Kiến và phải do Chánh Tư Duy soi sáng hướng dẫn. Con đường đưa tới bờ chứng ngộ thấp thoáng nhiều bóng ma. Bóng ma! Đó chỉ là cách nói những chướng ngại nội tâm tuy vi tế nhưng mãnh liệt kinh khiếp được cụ thể hóa bằng hình ảnh ghê rợn để cảnh giác các hành giả đề phòng và xa lánh. Còn chướng ngại ở ngoại giới dễ tránh hơn vì nó thô tháp và diễn biến nhãn tiền nên dễ làm cho hành giả nhận chân được chúng ngay.
Ni cô Diệu Tâm bị chướng ngại ngoại giới khi chưa xuất gia đầu Phật, bị chướng ngại nội tại khi ở chùa. Nghiệp lực cứ đưa đẩy bà vào từ cái đau khổ này đến cái phiền não kia. Đây là một nhân vật được tác giả dùng để nêu ra một khía cạnh tiêu cực của vấn đề tâm linh, vấn đề tu hành. Độc giả không sao khỏi ngậm ngùi cho kiếp nhân sinh nói chung, cho nhân vật nói riêng. Nêu ra như thế, tác giả không nhằm mục đích bài xích chuyện tu hành hay nhạo báng các hành giả. Trái lại, chị đưa độc giả đối diện và quan sát chuyện phá mê diệt khổ, giúp họ thắp sáng chánh kiến khi dấn thân vào con đường tu tập. Cái tiêu cực của chuyện vẫn dung chứa mầm mống tích cực để giúp hành giả tránh những chướng ngại và cạm bẫy do cái tà kiến tạo ra.

Tổng kết:Quyển tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất Trên Quê Hương Chúng Ta ít có những tác phẩm có ý tình chôn sâu sau mặt chữ, trừ Cửa Tùng Đôi Cánh Gài của Nhất Hạnh, Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp của Hồ Hữu Tường, Một Ngày Để Tùy Nghi của Võ Phiến... Bởi họ là những nhà văn lớn hoặc là nhà tư tưởng lớn, cho nên các nhà biên khảo và các nhà phê bình cày cục tìm tòi những ẩn dụ tư tưởng trong các tác phẩm của họ. Còn về phía các truyện ngắn của các nhà văn nữ đóng góp trong tuyển tập đó, có lẽ truyện ngắn Lòng Trần của Nguyễn thị Thụy Vũ được nói tới nhiều. Không hiểu các nhà biên khảo và các nhà phê bình khi đề cập tới truyện ngắn ấy đã nắm bắt những gì qua khía cạnh tâm linh? Nhưng hình như chẳng có ai nhìn nó qua lăng kính Duy Thức Học, trong đó có một phần nói về Tàng Thức. Họ chú ý tới nó vì hồi kết cuộc của câu truyện quá bất ngờ, như trái lựu đạn nổ tung vào tín ngưỡng và vào ảo tưởng của họ. Riêng truyện ngắn Tan Trong Sương Mù của Nguyễn thị Hoàng, gần 50 năm qua mấy ai còn nhớ? Và chẳng có nhà phê bình nào, nhà biên khảo nào thèm đoái hoài tới nó, viết cho nó vài câu. Thật ra mấy ai chiêu cảm được cái ẩn dụ của tác phẩm này? Mấy ai có kinh nghiệm khi đọc một tác phẩm văn chương có ẩn dụ? Mấy ai biết cái giá trị không nhỏ của ẩn dụ trong văn chương? Mấy ai hiểu rằng tìm được cái ẩn dụ trong tác phẩm là mở tung cánh cửa đóng kín trên mặt chữ để bước vào một chiều sâu đáng kể của nội dung tác phẩm?
Riêng về Võ Đình, độc giả chỉ nghĩ rằng anh là một họa sĩ nổi danh, còn văn chương là nghề tay trái. Bởi cái thành kiến kiên cố ấy nên họ không tìm được chất phục linh và chất hổ phách quý giá ở cây tùng sống trên vài trăm năm qua hai quyển tập truyện Xứ Sấm SétLầu Xép.

__________________

Khung rêu

[…]
Buổi trưa, lẫm lúa đối diện phòng Tịnh vang lên tiếng vĩ cầm lúc réo rắt như một dòng suối chảy siết, lúc van vỉ buông lơi, mơ hồ… Tịnh mở toang cánh cửa phòng, đưa mắt nhìn qua lẫm lúa cách chỗ nàng ngồi một khoảng sân trống. Bông hoàng lan ngoài cửa sổ tiết ra mùi thơm nhè nhẹ, ngọt ngào lùa tận ngõ ngách căn phòng nàng. Tịnh cảm thấy mình lâng lâng, dào dạt khi tiếng đàn ve vuốt thính giác nàng.
Đáng lý Tịnh ra khỏi phòng ngủ từ nãy giờ vì còn nhiều bếp nước chờ đợi nàng. Nhưng có cái gì níu kéo nàng. Tịnh ngồi lại bên cửa sổ, lơ đãng nhìn những chùm hoa hoàng lan vàng nhạt trộn một chút lục nõn đang trững giỡn với gió. Những khao khát, rạo rực âm thầm đang làm đảo lộn đầu óc nàng.
Nàng bước lại ngắm bóng mình qua chiếc gương trước tủ áo. Dưới làn lụa màu nguyệt bạch, những đường cong của một tấm thân đầy căng sinh lực bị đè ép xuống. Chiếc áo nịt chật chội làm cản trở nhịp thở của nàng; Tịnh chợt mỉm cười khi nghĩ ít lâu nữa, chiếc áo lót này sẽ rách tung ra. Phải nới đường may ở khoảng ngực vài phân nữa, nếu không, mình sẽ chết ngộp.
Lắm lúc, Tịnh muốn bỏ hẳn chiếc áo lót để cho các bắp thịt tự do snh sôi nẩy nở. Có gì mà phải ràng rịt chặt chẽ như bó đòn bánh tét vậy? Ý nghĩ đó, bà Phủ đã đoán biết ngay khi bà tình cờ bước vào phòng riêng của Tịnh và nhìn thấy nàng chỉ mặc chiếc áo bà ba, không dùng chiếc áo lót bên trong. Bà nhìn sửng những phần cao nguyên của thân thể nàng ngun ngút sức sống dưới làn áo lụa. Bà ngồi lại bên cạnh Tịnh, xỉa cục thuốc qua hàm răng trắng đều như hột lựu, rồi cằn nhằn:
- Áo lót có chật thì ra chợ mua vải về may cái khác. Con gái ăn mặc trống trải như vầy, người ta không nói mình là con nhà làm ăn đâu.
Tịnh cười, cãi lại:
- Con chỉ mặc như vầy khi ở trong buồng chớ có đi ra ngoài đâu mà sợ.
Bà Phủ tằng hắng rồi kể lể:
- Hồi thuở mợ còn con gái, mợ đâu có được bận áo lót vừa vặn như tụi bây. Phải may áo để cho thật chặt chịa và còn tra thêm hàng chục nút gài bằng khuy nữa. Bây giò, tụi bây học đòi theo Tây, Tàu nên ăn mặc thét rồi coi không được.
Tịnh thôi cãi. Nàng nghĩ mợ dâu mình lúc nào cũng có tâm hồn hoài cổ. Hột xoàn còn có thể mài dũa, chớ thành kiến của người già thật khó lòng biến đổi được.
Tịnh vừa quay lưng xuống nhà sau thì Tường bước tới chắn lối. Chàng cầm nhành mai xám mốc chi chít những búp màu vỏ lúa ngậm đòng đòng, đưa về phía Tịnh.
- Dì nhờ chị chưng mai vào mấy cái lục bình da rạn trên bàn thờ.
Tịnh nhìn Tường hỏi gặn:
- Mợ Phủ giao cho cậu, rồi cậu sai chuyền qua tôi, phải không?
Tường cười xòa và khen Tịnh bói quẻ cuối năm giỏi. Tịnh đề nghị em nên đưa mai cho lão Tự cắm giúp. Nàng đưa tay đấm nhẹ lên vai Tường:
- Lục bình trên bàn thờ quí lắm nghen, bây giờ không tìm đâu ra được. Mợ Phủ mà giao cậu cắm hoa không khác nào giao trứng cho ác.
Tường chống chế:
- Cái gì mà tôi làm chẳng được? Nhưng thằng nầy không thiết mó tới mấy thứ công việc lẩm cẩm trong nhà như đàn bà con gái đâu.
Tịnh bỏ đi một nước vì còn lủ khủ công việc đang đợi nàng dưới bếp. Tường bước theo ngơ ngác tìm lão Tự. Tịnh quay lại, hạ thấp giọng:
- Hình như lão Tự qua bên nhà anh chàng ở trọ rồi.
Tường ngó sửng chị:
- Sao chị nhủ mà mắt chị ngó thấy suốt bên đó được?
Tịnh đưa tay mân mê cành mai trên tay Tường, ngập ngừng một lúc:
- Cậu đàn vĩ cầm inh ỏi vào buổi trưa làm tôi mất ngủ. Tôi ngồi ở cửa sổ ngó mông ra ngoài.
Tường lắc đầu:
- Ai kéo vĩ cầm hồi nào?
Tịnh giả vờ:
- Ai trồng khoai đất nầy? Không cậu còn ai vô đây?
Tường cười tinh quái ngó Tịnh. Chàng thừa biết Tịnh muốn tò mò về Hoàng, người bạn học mà chàng đưa về đây ở trọ theo lời mời của bà kế mẫu chàng. Thật ra, Tường chỉ biết lờ mờ về Hoàng: không nhà, mồ côi mẹ từ thuở nhỏ và người cha thì đi làm ăn xa. Hơn nữa, Tường không muốn đi sâu vào những uẩn khúc mà Hoàng không muốn hở môi thêm.
Tường hỏi Tịnh:
- Chị mê tiếng vĩ cầm đó rồi hả?
Tịnh bẽn lẽn mắng em:
- Đừng nói xàm, mợ Phủ nghe được thì chết cả lũ.
Tường bỗng nhận được tiếng guốc quen thuộc lê về phía nhà bếp, chỗ của Tịnh và của chàng. Hai con mắt Tường chấp chới khi Ngự hiện ra sau cánh cửa khép hờ hững. Chàng lúng túng bỏ đi tìm lão Tự.
Tường đã khoác lấy thái độ lạnh nhạt giả vờ để che mắt bà Phủ khi giáp mặt Ngự. Riêng Ngự cũng tỏ vẻ lãnh đạm, khổ hạnh như một tu nữ trên mâm cơm hay trong cuộc nói chuyện tào lao có mặt chàng vào lúc tối dưới ánh đèn “măng-sông” treo lơ lửng trên đầu hồi.
Từ hôm bà Phủ bắt gặp Tường đứng với Ngự dưới gốc cây mảng cầu xiêm trong một đêm trăng sao đi vắng, bà nghiêm giọng nói với Ngự:
- Nam nữ thọ thọ bất thân. Con gái như rơm khô dễ bắt lửa. Con trai là một thứ lửa nguy hiểm. Lửa để gần rơm nếu không cháy cũng tròm trèm.
Lúc nào bà Phủ cũng khuyên răn, giáo dục Ngự bằng những câu chữ Hán, những lời trích ở pho kinh Phật nầy, quyển truyện Tàu kia. Bà còn hăm he sẽ đưa Ngự về miền đất đỏ để nàng sống cuộc đời công nhân bóc chén lấy mủ cao su, nối nghiệp cha mẹ nàng. Sự dòm ngó ngăn cản của bà Phủ càng lúc càng chặt chẽ đã biến Ngự thành một trái cấm ngọt ngào, quyến rũ. Tường thường nói với chính mình cũng như phân bua với người khác là chàng không dính dáng huyết thống gì với Ngự.
Lão Tự có lần nói đùa với chàng:
Con ông gấm ghé cháu bà,
Thuận cả một nhà, bà lấy lại ông.
Tường và Ngự đang chờ cơ hội. Cả hai vừa sung sướng, vừa khổ sở. Năm cùng tháng tận rồi mà cuộc tỏ tình vẫn chưa đi tới đâu.
Tường giật mình vì một bàn tay xương xương khô héo đặt lên vai chàng. Chàng quay lại. Lão Tự cười nhe chiếc miệng còn vài chiếc răng nuốt cơm, thương bánh:
- Làm gì đó cậu Ấm?
Tường lắc đầu, rồi trao bó mai cho lão Tự. Tịnh từ trong bếp nói vọng ra:
- Lão có thấy lúc nầy Tường lơ lửng như bị ai hớp hồn không lão?
Lão Tự nói con trai vừa bể tiếng, nói khao khao như ngỗng đực thường hay đờ đẫn, lúc biếng nói biếng cười, lúc thì mơ mơ màng màng vậy mà. Tường cười vang và chàng chợt nghe âm vang tiếng cười của mình lại đượm một chút khôi hài. Chàng thưởng cho lão Tự một điếu thuốc thơm, rồi đánh trống lãng, giục lão đi cắm hoa.

Tịnh bưng chiếc thau sành trắng đựng đậu xanh bước ra sàn nước. Tiếng vĩ cầm luồn theo gió sông huyền hoặc. Tâm hồn Tịnh phiêu du trong cõi vô thức. Nàng lơ đãng nhìn ra sông, ngắm những chiếc xuồng chở hoa và những chiếc ghe chở dưa hấu nặng nề xê dịch trên dòng nước trong xanh, lười biếng. Màu xanh đen bóng của dưa hấu, màu vàng sáng rực của hoa cúc, hoa vạn thọ, màu đỏ của hoa màu gà, màu xanh rêu mốc của mấy cây mai chiếu thủy u nần, tật nguyền trổ những nụ hoa trắng xóa hình ngôi sao làm Tịnh cảm thấy mình như lạc vào một thế giới lộng lẫy và thân mật.
Dòng nước trong như mắt mèo, uốn lượn qua những khu vườn xanh lục trước mặt. Tịnh chớp hàng mi dầy, hình dung cái dáng dấp của người con trai xa lạ đến trọ trong lẫm lúa nhà cậu nàng được mấy tuần nay. Tịnh thường bắt gặp ánh mắt sắc ngọt của người con trai ấy khi chàng sửa soạn để chiếc vĩ cầm lên bờ vai. Tịnh tự hỏi tại sao Hoàng không về quê ăn Tết mà chịu ở lại trong lẫm lúa đìu hiu đó? Thân thế chàng ra sao? Gia đình chàng ở tận nơi nào? Sự cô độc của người con trai bao giờ cũng là một yếu tố thu hút đối với phái nữ. Đã bao lần, Tịnh muốn hỏi Tường về tông tích chàng, nhưng Tịnh lại e ngại. Trong câu chuyện với Ngự, nàng thường đề cập tới tiếng vĩ cầm như những lời tâm sự với gió sông trong những buổi chiều trôi chậm ám ảnh nàng mãi không thôi. Không ai trong nhà này nói đến người con trai kỳ lạ đó. Chắc không ai biết tung tích chàng. Tịnh cười bâng quơ. Tịnh ơi, mày đúng là một con nhỏ hư thân.
Có tiếng dép lẹp xẹp của bà Phủ càng lúc càng rõ rệt hơn. Tịnh đưa bàn tay suông dài trẩy lớp vỏ xanh còn bám trên những hạt đậu chưa kịp nở. Nàng tẻ cho phần vỏ màu cốm non trôi giạt xuống sàng nước.
Bà Phủ nhổ phẹt cốt trầu xuống bãi cỏ, liếc vào trong chậu sành:
- Đậu chưa tróc đều hay sao mà con đãi lâu quá vậy?
Tịnh ấp úng:
- Dạ, đậu chưa kịp nở đều.
Tịnh cảm thấy ngượng nghịu với những ý nghĩ thầm kín của nàng về chàng thiếu niên ở trọ. Nàng hồi hộp tưởng chừng những ý nghĩ đó không thể thoát khỏi cặp mắt soi bói của bà Phủ. Và một thoáng mặc cảm phạm tội mơ hồ nhuộm đỏ đôi má nàng.
Bà Phủ giục:
- Lẹ lên đi Tịnh, rồi vô phụ với con Ngự xên dùm mợ thúng mứt dừa.
Tịnh bê chiếc thau sành trắng đựng mớ đậu đãi sạch, đứng lên. Ánh nắng sót muộn chiếu rực rỡ trên mặt sông. Màu mây đỏ chói lòa sau hàng cây xa tít ở cuối vườn. Từ mấy tuần lễ trước, trong cơn lạnh, không khí đã bắt đầu sạch hơi nước. Nắng sáng và trong… Mùa xuân sắp về. Hôm nay, hai người con gái quần quật cắt, xắt, tỉa, lộng những thỏi bí, gừng, đu đủ, khế cơm dừa thành những chùm hoa, những hình quả trám, hình tròn. Những bàn tay ngâm nước hàng giờ để xả nhiều lượt cho đến khi bí, gừng, củ cải nõn nà như bông bưởi rồi đem xên trên ngọn lửa cháy liu riu. Chốc chốc, bà Phủ từ trên nhà đi xuống, ghé vào bếp kiểm soát hai cô cháu gái đang cặm cụi trổ tài khéo tay.
Bà Phủ ngó Ngự đang lơ đãng nhìn đâu đâu, cằn nhằn:
- Hổng biết mấy bữa nay, ai hớp hồn con Ngự mà nó bơ ngơ, báo ngáo?
Ngự liếc mắt về phía Tịnh đang cho đũa vào trong đáy soong chấm một giọt đường và cho nhểu vào chén nước lạnh để xem đường mứt tới chưa.
Bà Phủ đặt bàn tay lên thành nồi mứt của Ngự, quở:
- Lửa leo lét, chuột chạy không cháy lông như vầy, bao giờ mứt mới ráo được?
Ngự cho vào lò miếng than hồng gắp bên bếp của Tịnh. Bà Phủ trở lên nhà ngồi lại bên khay trầu.
Bên cạnh bếp than hồng rực nóng, hai bên má của hai cô ửng đỏ như màu mận hồng đào. Mỗi người đeo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Im lặng bao trùm khuôn bếp. Chiều xuống dần. Tiếng chim tu hú văng vẳng trong hàng cây bên kia sông gợi lên một mùa xuân lộng lẫy.

Xong công việc bếp núc, Tịnh trở vào phòng riêng, ngồi lại bên cửa sổ ngắm bông cẩm nhung tím trong chiếc lọ thủy tinh màu hổ phách. Nàng tìm về những mùa xuân xa cũ bên bà mẹ góa bụa tận miền Hà Tiên. Những ngày sống bên mẹ thật vui êm đềm. Tịnh nhìn cuộc đời hấp dẫn như màu giấy hồng đơn gói tiền mừng tuổi trong ngày đầu năm. Tịnh được mẹ may cho chiếc áo mới màu hồng ngọt ngào. Nàng đeo bông tai trái châu và vài món nữ trang bằng vàng đổ đé. Một kho tàng kỷ niệm thời thơ ấu bỗng chen lấn nhau trong tâm hồn Tịnh. Nàng đi dạo vào những buổi mai mát rượi bên những đầm sen bát ngát gần lăng Mạc Cửu. Màu bông hồng lẫn màu bông trắng lố nhố từ những đám lá xanh lềnh bềnh trên mặt nước yên tĩnh. Đám mai rừng gần lối bên lăng ướt sũng sương đêm. Mẹ nàng thường dẫn nàng lên đó để lễ bái và chỉ cho nàng xem một cây mai già nua sống hơn nửa thế kỷ. Những buổi trưa, Tịnh theo bọn bạn bè chui vào hang Đá Dựng tối như mực, uốn lượn khúc khuỷu, dẫn tới một cái cửa hẹp trổ lên họng núi. Người hướng dẫn thi vị hóa cái cửa đá chật hẹp kia là cửa Thiên Đàng. Rồi nàng leo lên Lầu Trống của một bực đá sũng ướt và vỗ nhè nhẹ lên bộ ngực chưa đủ sức biến nàng thành một thiếu nữ để nghe tiếng vọng huyền bí, xa xôi vào vách đá.
Tịnh đã mất hẳn những cảnh tượng thơ mộng từ khi ba nàng rủ bà vợ góa theo mình về cõi bên kia. Tuổi trẻ nàng được thong dong chiều đãi hơn Ngự. Khi nàng về sống với với vợ chồng ông Phủ, nàng vẫn được thảnh thơi, tiếp tục đi học. Song cái mặc cảm mồ côi vẫn làm nàng bi quan. Tâm hồn nàng lại bị khung cảnh thơ mộng ở Hà Tiên gồm biển, núi, rừng, đồi buộc chặt.
Cánh cửa phòng vụt mở và kèm theo tiếng kêu thanh và nhão của Ngự:
- Làm gì đó? Ra đây em chỉ cho coi cái này!
Lão Tự khệ nệ bê hai chậu cúc vàng đặt lên thềm, tại cửa vào lẫm lúa. Hoàng bước ra giúp lão một tay. Gian phòng bừa bãi và luộm thuộm của Hoàng nhúm lên một chút tươi sáng vì màu vàng óng ả của hai chậu cúc rối. Lão Tự nhìn chung quanh căn phòng. Chiếc giường ngủ bừa bãi chăn chiếu. Màu áo gối trắng đổi thành màu ngà, chỉ còn vài lỏm trắng nuối tiếc khép nép bên trong. Chiếc mùng rêu xậm lúc nào cũng mắc lên bốn tréo góc, không buồn đem xuống xếp lại. Kệ sách nghiêng ngửa. Vài ba cái áo lổn ngổn mắc trên đầu đinh đóng ở vách ván. Chiếc đàn vĩ cầm nằm lỏng chỏng trên bàn viết. Một lớp bụi mờ nhẹ như một áng sương chiều màu xám phủ lên mọi vật dụng trong nhà.
Lão Tự nói:
- Tui sẽ giúp cậu trang hoàng nhà cửa cho tươm tất một chút để cho có vẻ Tết nhứt.
Hoàng cười buồn:
- Và cháu sẽ cùng bác ăn một cái Tết chung nhau cho có bậu bạn.
Tường lẻo đẻo đi theo sau Tịnh, bước trờ tới chỗ lão Tự đứng. Hoàng đột nhiên nhìn chăm chăm vào phía Tịnh. Nàng bối rối, dừng lại hỏi Ngự:
- Cái gì ngộ đâu?
Ngự ngoẻo đầu qua vai Tịnh:
- Thấy chị buồn, kéo chị ra đây xem lão Tự sửa soạn nhà cửa cho anh Hoàng.
Tịnh ngồi xuống chiếc băng đá dưới gốc cây hoàng lan trên sân gạch, nhìn qua lẫm lúa.…]

___________________

Nguyễn thị Thụy Vũ với truyện dài “Khung rêu”

Hồ Trường An

‘‘Khung Rêu’’ là một truyện dài trong 10 tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, đã đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc vào năm 1971, đánh dấu thời huy hoàng của các cây bút nữ lưu như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Thanh Phương, Minh Đức Hoài Trinh, Minh Quân, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng, Trần Thị NGH (Trần thị Nguyệt Hồng), Nguyễn Thị Ngọc Minh, Ngô Thị Kim Cúc...
Quyển sách do Kẻ Sĩ xuất bản vào năm 1969. Sau đó, dưới chế dộ Xã Hội Chủ Nghĩa, nó được tái bản cùng với quyển truyện dài ‘‘Chiều Xuống Êm Đềm’’; khi tung ra hải ngoại nó được bán đắt như tôm tươi. Vào năm 2000, nó lại được Văn Nghệ tái bản lần thứ hai, nhưng cách trình bày cẩu thả, sơ sót nhiều lỗi chính tả và nhiều lỗi sơ xuất khác làm cho câu văn hoặc câu đối thoại có ngôn ngữ Bắc Nam ba rọi, đọc lên nghe lố bịch và buồn cười. Cho nên đọc giả sành điệu không còn cảm thấy thú vị nữa khi lao từ trang đàu tới trang cuối. Chúng ta không thể ngờ một nhà xuất bản nổi tiếng ở hải ngoại như nhà xuất bản Văn Nghệ, khi gặp hồi mạt vận, làm việc một cách cẩu thả, tắt trách như vậy.
Bài nhận định này dù vậy vẫn căn cứ vào các ấn bản do Văn Nghệ tái bản.
Đây là câu chuyện tang thương trong một gia đình địa chủ giàu sang tới hồi khánh kiệt, nhưng nó được lồng vào một thời đại nhiễu nhương, khi mà giai cấp địa chủ tới giai đoạn mạt điệp trong cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh. Tác giả lấy một bối cảnh nhỏ lồng vào một vấn đề lớn lao: cảnh ngộ biến suy dập vùi trên lớp sóng phế hưng, trên khúc quanh của thời cuộc, trong sự vận hành của lịch sử. Xin đọc những lời trần tình của tác giả ở mục ‘‘Thay Lời Tựa’’:
Từ hồi còn nhỏ tôi đã phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. (Cái thịnh mãn của hạng điền chủ ở miền Nam trước đây đã là tục ngữ...). Nguyên nhân chánh của sự suy sụp bệ rạc này thì ai cũng biết: chiến tranh. Một cuộc chiến tranh dằng dai hai mươi lăm năm, khoảng thời gian gần bằng số tuổi của tôi.
Tôi sanh ra và lớn lên trong một dòng dõi đã đến hồi ly tán. Cái họ của tôi gồm hai chữ có gạch nối có thể sẽ gợi lên những cảnh sống huy hoàng, vương giả của một thành phần xã hội trong trí nhớ ao tù của những ông già bà lão, những cảnh sống mà tôi chỉ nghe kể lại như một chuyện hoang đường trong những lần giỗ chạp.
Bây giờ chỉ còn lại một ngôi nhà thừa tự, cột kèo chạm trổ tinh vi đã mục rệu, và chẳng bao giờ lành những vết thẹo của chiến tranh không tha,những điền sản cò bay thẳng cánh chỉ biết đến qua một đống bằng khoáng vô dụng mà giấy đã ố vàng và dòn tan, một đám bà con xa gần chi chít, nhỏ nhen ích kỷ như sò hến và hoàn toàn vô tích sự.
Tâm lý của hạng ngươi này khá đặc biệt. Đó là những thằng chõng trôi giạt lềnh bềnh trên dòng sông hung tợn, một hạng người khư khư ôm lấy cái quá vãng vàng son (nát dậu cũng còn bờ tre), dở thầy dở thợ dở cu ly, bất lực trước sự biến đổi nhãn tiền của cảnh ngộ, bấu víu vào nhau mà sốngsót. Trong ngôi nhà thừa tự đó, mỗi người là một hòn đảo của những thói hư tật xấu... Có phải con người một khi đã mất thăng bằng trong cuộc sống vật chất thường để lộ ra rõ rệt hơn bao giờ hết những xấu xa tàn tệ của mình? Và một giai cấp cũng vậy.

Khi khởi công quyển truyện này, tôi đặt trước cho tôi một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thời nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho xong.
Lẽ hiển nhiên, tôi không hề có ý định làm công việc của nhà xã hội học hay của nhà đạo đức học. Những công viêc này vượt quá sức của tôi. Vả lại, chúng cũng chẳng lợi lộc gì cho tôi.
Tôi cũng không có ý định phân tích các nguyên nhân, và nhất là phê phán một ai hay một điều gì. Cho riêng tôi, tôi chỉ muón dựng lại cái thế giới khốn đốn đã bao trùm tôi cho đến ngày nay. Tôi chỉ muốn mô tả một hiện tượng xã hội hoàn toàn thân thuộc mà thôi.
Tiểu thuyết là tuởng tượng, ai cũng biết vậy, nhưng có tưởng tượng nào không bắt nguồn từ một phần sự thật?
Sở dĩ tôi trình bày như vậy, là để xin những người thân thích của tôi, nếu có dịp tình cờ nào đọc quyển truyện nay, hãy rộng lòng tha thứ cho tôi.

Vậy thì chúng ta nên xếp tác phẩm ‘‘Khung Rêu’’ của Nguyễn Thị Thuy Vũ vào loại nào. Hiện thực? Không thể được, vì loại hiện thực chỉ là một sự ghi chép biến động trong gia đình hoặc trong xã hội một cách khách quan, không thêm thắt một nhân sinh quan, một thái độ nào trước cảnh bể dâu hưng phế. Tân hiên thực chăng? Thật ra những nhân sinh quan mà tác giả đưa vào tác phẩm hơi ít, không đủ dung lượng nâng tác phẩm lên hàng tân hiện thực. Nó chỉ ở lưng chừng giữa hai lằn mức hiện thực và tân hiện thực mà thôi. Nhưng chúng ta nắm chắc một điều: tác giả viết về gia đình mình từ thế hệ ông bà đến thế hệ cha chú mình, dĩ nhiên không có tác giả hiện diện trong tác phẩm. Cho nên chúng ta không thể gọi đây là quyển tiểu thuyết tự truyện (roman autobiographique) của tác giả được. Danh sĩ Tào Tuyết Cần khi viết bộ ‘‘Hồng Lâu Mộng’’ còn có thể he hé cho đọc giả biết nam nhân vật chính Giả Bảo Ngọc trong quyển tiểu thuyết tràng giang ấy là bức phóng ảnh của mình. Nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ thì không chịu xuất hiện trong tác phẩm nên không làm sống dậy thế hệ thứ ba ( tức là thế hệ lũ cháu nội của ông Phủ trong truyện), trong đó có tác giả.
***

"Hồng Lâu Mộng" bắt đầu với cảnh hưng thịnh của họ Giả và đi lần vào cảnh gia biến lụn bại, nhưng kết cuộc còn vớt vác được chút ít yên vững của nghiệp nhà. Nhưng ‘‘Khung Rêu’’ bắt đầu vào cảnh lụn bại, nhưng bề ngoài gia chủ (tức bà Phủ, vợ kế của ông Phủ) cố tình che giấu để vớt vát thể diện với xóm làng. Rồi vì cha con ông Phủ hư hỏng nên cảnh tái hưng không hề được xảy ra.

Mở đầu câu truyện, tác giả lần lượt giới thiệu gia đình ông Phủ (không được tác giả nêu tên) gồm có: Vợ chồng ông Phủ, ba người con trai riêng của ông Phủ gồm có Canh, Thụ và Tường. Chiêu là con của ông Phủ và bà Phủ kế vốn là kẻ bán nam bán nữ. Ngoài ra còn có cô Tịnh là cháu gái kêu ông Phủ bằng cậu và cô Ngự vốn là cháu gái kêu bà Phủ kế bằng cô. Trong hàng tôi tớ gồm có lãoTự, thằng Mọt (vốn người Miên), cô Ngà và cô Lài. Lại còn thêm nguời nam sinh tên Hoàng ở trọ ăn cơm tháng.
Ông Phủ là một bậc đường quan và điền chủ giàu có. Nhưng khi vào truyện thì ông đã hưu trí và đất đai của ông trong vùng Việt Minh chiếm đóng bị sung công. Bà Phủ trước khi kết hôn với ông đã có một đời chồng. Bà khôn ngoan, khéo léo, ăn ở với ba người con riêng của chồng rất tử tế, lại biết quán xuyến đảm đang trong ngoài để tạo cho chồng một cuộc sống êm ấm. Canh là tên trưởng nam ngỗ nghịch, chỉ muốn cha mình sớm chia gia tài cho mình để được ăn chơi phung phí. Thụ, người thứ nam có cá tánh khá rõ rệt, rất hưởng ứng theo cao trào vào chiến khu của Việt Minh để chống Pháp. Tường là kẻ hời hợt, nhẹ dạ, lười biếng. Tịnh là cô gái lãng mạn, tinh thần yếu đuối, yêu Hoàng tha thiết bằng một mối đam mê oan nghiệt. Ngự là cô gái lòng dạ lỏng lẻo, tâm tính bốc đồng, chuộng vật chất xa hoa. Chiêu thì thích làm con gái, thích sống theo cuộc đời phụ nữ, nhưng bị mẹ o ép phải làm thanh niên nam tử trong khi đó trái tim Chiêu rung động bởi hình ảnh thơ mộng của Hoàng. Lão Tự là người lão bộc trung thành, tình lý đồng cân rất được chủ thương mến. Ngà là cô tớ gái, xinh xắn, nhưng không có cá tính, bị định mệnh chèn ép nhưng không đủ can đảm ngoi lên. Lài và Mọt ưa cà khịa với nhau theo kiểu giỡn bóng đùa trăng nhưng không hề phải lòng nhau. Còn anh nam sinh tên Hoàng cũng chỉ được tác giả tô màu lạt lẽo, không có gì đặc sắc ngoài khuôn mặt hữu tình và tài chơi đàn. Đây là nhân vật phụ, nhưng vẫn là nhân vật then chốt quan trọng: chàng đã làm cho Tịnh say mê đến điên rồ, làm cho Chiêu biết mình không có trái tim của đấng nam nhi mà lại có một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm đối với nam giới. Đã vậy, ả Lài còn đổ đốn say mê thầm lặng Hoàng và khinh rẻ Mọt vốn là kẻ dị chủng (người Cao Miên). Lại có hai nhân vật ở ngoài gia đình ông Phủ, cũng được tác giả nói khá kỹ. Đó là ông Tám, cha của Ngà và Đực, anh chàng nông phu đã từng say mê Ngà và cưỡng bức Ngà.

***
Thảm kịch bắt đấu lúc ông Phủ cuỡng hiếp Ngà và Ngà mang thai. Cả nhà ăn một cái Tết khá hạnh phúc, trừ ông Phủ và Ngà (vì cả hai có tâm sự riêng). Sau Tết, câu chuyện mang thai của Ngà mới được tiết lộ. Để che miệng thế gian, bà Phủ định cho Mọt một ít ruộng đất để y ta cưới Ngà. Nhưng ông Phủ không chịu. Thế là bà Phù dọn ở riêng, dù trong khuôn viên của chồng mình. Bà không thèm coi sóc việc tề gia nội trợ nữa. Còn Canh dù có về nhà an ủi bà Phủ, rồi lại ra đi và không được tác giả nhắc tới nữa. Còn Tường ve vãn Ngự cho tới lúc Ngự mang thai. Rồi cả hai rủ nhau bỏ nhà đi trốn để hưởng hạnh phúc trong môt góc trời quê hẻo lánh. Nhưng cả hai không đào đâu ra tiền, cam sống cực khổ rồi trở về ngôi nhà thừa tự. Tịnh và Hoàng yêu nhau đúng như niềm mong mỏi của Tịnh. Nhưng Hoàng phải ra đi, không hiểu có phải theo giấc mộng đi làm lịch sử mà chính vì ông Phủ cấm chàng dan díu với Tịnh. Còn Chiêu thì dù có yêu Hoàng nhưng biết rằng với cái thân phận bán nam bán nữ, chàng không thể nào hưởng hạnh phúc lứa đôi được nên bỏ nhà ra đi. Cao trào kháng chiến dâng cao, Thụ và luôn cả Tường bỏ vào chiến khu. Từ khi Hoàng biệt vô am tín, Tịnh phát điên lên. Còn ông Phủ bị vợ hất hủi, đâm ra khổ sở và chết vì chứng xung động tim. Ngà sinh con mà không nuôi được nên có ý định trở về quê sống với cha mẹ và nối duyên với anh chàng nông phu tên Đực. Ngà đi học may rồi ngoại tình với một anh chàng lính kín (tức là viên mật thám ngành Tình Báo của Pháp) rồi bỏ nhà ra đi với tình nhân và dấn thân vào cuộc phiêu lưu tình ái không có ngày mai.
Mười năm trôi qua. Chiến tranh kết liễu. Thụ, Tường trở vè thành thị tỉnh Vĩnh Long, chứ không đi tập kết ra Bắc. Bà Phủ và lão Tự đã qua đời. Thụ sống nhờ mẫu vườn cây ăn trái, phần đất hương hỏa còn sót lại. Tường cưới cô thôn nữ xinh đẹp khác, sống bằng nghề chích dạo, chạy ăn muốn hụt hơi vì gia đình đông con. Hoàng cũng cưới vợ khác, sống sung túc nhờ tiệm bán phụ tùng xe gắn máy. Chiêu biệt vô âm tín. Người ta đồn Chiêu bị Tây bắt bắn chết tại Rạch Nước Lạnh nên Thụ dành lấy ngày đi của Chiêu để làm giỗ mỗi năm cho Chiêu. Tác giả không đuợc chu đáo vì không nhắc tới Canh, Ngà, Mọt và Lài. Riêng Tịnh thì sau 5 năm ở Dưỡng Trí Viện Biên Hòa đã tỉnh lại trước khi chết. Nàng hỏi thăm người này người nọ và chết một cách sung sướng.


***
Như đã nói, ‘‘Khung Rêu’’ là chuyện biến cố trong gia đình ông Phủ. Từ một đơn vị nhỏ trong xã hội miền Nam vào 5 năm cuối của thập niên 40 của thế kỷ 20 cho tới 4 năm đầu của thập niên 50 cũng của thế kỷ này. Nhưng đọc qua những biến cố trong tác phẩm ‘‘Khung Rêu’’, chúng ta thấy ngay một xã hội toàn vẹn của đất nước Nam Kỳ trong thời chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh. Điều này, chúng ta cũng đã biết trong bộ ‘‘Khói Lửa Kinh Thành’’ (‘‘Kinh Hoa Yên Vân’’) của Lâm Ngữ Đường do Vi Huyền Đắc dịch. Cứ nhìn vào gia đình họ Tăng, họ Diêu, họ Ngưu thì chúng ta chẳng những biết ngay cái xã hội ở Bắc Kinh, mà còn ở vùng Hoa Bắc (miền Bắc Nước Tàu) và ở khắp địa lục Trung Hoa trong thời Trung Hoa bị Nhật Bản xâm chiếm. Trong khi đó, bộ ‘‘Hồng Lâu Mộng’’ của Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc không bao giờ hé cho độc giả biết cái xã hội của kinh đô Kim Lăng (Nam Kinh bây giờ) hay của miền Hoa Nam (miền Nam nước Tàu) tức là những cái bên ngoài Ninh Quốc Phủ và Vinh Quốc Phủ của họ Giả. Cũng vậy, bộ ‘‘Jalna’’ của nữ sĩ Mazo de La Roche không bao giờ hé cho độc giả biết cái xã hội ngoài trang trại tên Jalna của dòng họ Whiteoak, từ thế hệ ông cố bà cố cho tới thế hệ cháu chắt. Cho nên cái thành công của Nguyễn Thị Thụy Vũ là đã biết dùng cái nhỏ bé làm điển hình cho cái lớn. Chỉ tiếc một điều là chị thiếu nhấn mạnh để làm nổi bật cái xã hội ngoài gia đình ông Phủ bằng những chi tiết chọn lọc và tiêu biểu hơn để tô đậm bức tranh xã hội ấy bằng những nhát cọ sắc nét hơn, bén ngót hơn, có thể cứa mạnh vào ấn tượng của độc giả hơn.
Câu chuyện với nhiều biến cố trong gia đình ông ông Phủ chỉ là một tượng trưng cho sự dằn co giữa hai giai cấp: địa chủ và tá điền. Ông Phủ và bà Phủ điển hình cho giai cấp địa chủ. Ông Tám, Ngà và Đực điển hình cho giai cấp tá điền. Nhưng trong cuộc chiến Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, chủ điền chẳng những mất hết đất đai mà còn mất hết quyền lực. Vậy mà ở một vài địa phương, nhất là ở chốn thị thành, bởi mang cái thành kiến thâm căn cố đế ăn trên ngồi tróc đối với đám dân nghèo (chẳng hạn như bọn tôi tớ dưới tay mình hay những kẻ làm ruộng mướn cho mình), giai cấp địa chủ vẫn hà hiếp những kẻ làm ruộng mướn cho mình. Ông Phủ cưỡng bức Ngà làm cho Ngà phai mang thai. Vậy mà ông Tám, cha của Ngà không dám tỏ lời trách móc và không có một ý nghĩ đi thưa kiện.
Ông Tám vụt co ro như con cuốn chiếu trước cặp mắt sắc bén của ông Phủ mà ông có cảm tưởng lúc nào cũng chong thẳng về ông. Miệng ông lắp bắp:
-- Dạ... bẩm quan lớn... lóng rày được mạnh giỏi?
Cái mặc cảm thua thiệt vẫn không rời khỏi tiềm thức ông Tám. Ông khúm núm chưa dám ngồi làm ông Phủ phải nhắc lại:
-- Ngồi đi chú Tám. Tôi có câu chuyện muốn nói với chú đây.
Ông Tám như bị thôi miên bởi đôi mắt xếch ẩn dưới cặp chưn mày rậm của ông Phủ. Ông lấy chiéc khăn choàng tắm trải trên mặt ghế và áy náy ngồi lên trên.
Giọng ông Phủ lúc nào cũng oang oang, cái nhìn từ cặp mắt trũng sâu như mũi kiếm phóng về người đối diện làm ông Tám tuởng chừng tay mình dài và dư như tay con mực.
Ông Phủ mở đầu câu chuyện:
-- Chú tính lên rước con Ngà về dưới phải không?
Ông Tám đáp nhỏ như không dám xác nhận:
-- Dạ.
Ông Phủ châu mày:
-- Theo tôi, con Ngà đang lúc bụng mang dạ chửa chú nên để nó ở trên nầy
Tôi sẽ hết lòng lo cho mẹ con nó được vuông tròn.
Ông Phủ ngừng lại dò xét phản ứng trên mặt nguời đối diện rồi tiếp lời:
-- Dầu gì đi nữa, nó cũng là vợ tôi. Đứa nhỏ trong bụng nó là do khí huyết tôi tạo ra, lẽ nào tôi làm ngơ cho đành đoạn. Nếu chú bằng lòng, tôi sẽ sai trẻ nó về rước chú lên ở với anh Tự cho vui. Hai anh em bạn già hủ hỉ với nhau cho có bạn.
Ông Tám ngồi yên, miệng cơ hồ bị khóa lại. Ông còn chỉ biết gật đầu vâng dạ về mọi lời đề nghị của ông Phủ và như từ bao lâu rồi, ông thấy mình hèn hạ, bạc nhược, nhỏ nhoi trước con người mà ông đã nung nấu thù hằn. Ông Tám ngồi thừ ra như một khúc củi.
Ông Phủ ngó vào nhà giữa:
-- Ngà đâu? Ra đây biểu coi.
Ngà bước ra với chiếc áo bà ba vải phin trắng. Ả nhìn ông Tám, đôi mắt đẫm lệ. Còn ông Tám thấy con mình lệch bệch với cái bụng gần ngày ông cũng không cầm được nước mắt tủi cực. Ông đứng dậy, chắp tay lên ngực:
-- Con xin kiếu quan lớn. Xin phép quan lớn cho con nói chuyện riêng với con Ngà một chút.
Ông Phủ lại hỏi:
-- Chú chịu lên ở chợ không?
-- Dạ bẩm quan lớn để con suy nghĩ lại.
Ông Phủ cười có vẻ cởi mở:
-- Nếu chú không thích ở đâythì tôi cho bứt chú phần lúa mỗi năm.
-- Dạ cám ơn quan lớn.
Ông Phủ liếc qua Ngà rồi lại nói :
-- Bề gì tôi với chú cũng là chỗ thân tình với nhau. Chú đừng ái ngại gì hết.
Ông Phủ day qua lão Tự :
-- Hình như trong nhà còn chai rượu đế. Anh nên bắt con vịt cà cuống thật mập nấu cháo cho chú Tám giải lao. Phen nầy hai ông bạn già nhậu say một bữa.
Ông Tám bước xuống thềm lủi vào bóng tối. Ngà đợi ông ở nhà ngang, tại căn buồng riêng bỏ hoang từ mấy tháng nay của ả. Ả khêu ngọn đèn trứng vịt, rồi ngồi bên chiếc giường đóng bụi lờ mờ, khóc tấm tức tấm tủi.
Ông Tám dịu giọng:
-- Con tính sao đây? Muốn về với tía hay không?
Ngà hỉ mũi, giọng vẫn còn ướt đẫm nước mắt:
-- Con còn mặt mũi nào về dưới xứ nữa? Sống chết, vui buồn gì cũng phải rán chôn chưn ở đây, con nỡ nào báo đời tía hoài.
Ngà ngập ngừng một lát, rồi nói:
-- Quan Phủ cũng tử tế với con. Tía đừng lo. Có lẽ gần Tết, con sẽ về thăm
tía.
Thật ra, từ lúc bà Phủ giận chồng cho tới nay, ả nào có được một phút an vui? Ả đã leo lên lưng cọp thì phải ở lì nơi đó, rán mà chịu đấm ăn xôi.
Ngà hỏi:
-- Tía tính ở lại hay về ?
Ông Tám sầu thảm:
-- Lát nữa, tía về. Nếu có hưỡn, con nhớ về thăm tía. Chắc từ đây tới chết, tía không còn lòng dạ nào lên đây nữa.
(các trang 252, 253, 254)
Bởi có những kẻ cường hào ác bá, những tay điền chủ địa chủ ác ôn kia mà bọn Cộng Sản hô hào đấu tranh giai cấp, không phải vì muốn bảo vệ dân nghèo, cũng không phải cốt chống đối bất công trong xã hội mà cốt để dựng lên đảng cấp nguy hiểm và tàn độc hơn giai cấp gấp trăm nghìn lần. Chúng lợi dụng những kẻ thất bại trong xã hội, những đám lê dân ngu dốt vùng lên chống trả giai cấp địa chủ, giai cấp tư sản, luôn cả giai cấp trí thức tức là những phần tử may mắn hơn bọn nghèo nàn dốt nát. Chúng ta hãy đọc đoạn ông Phủ đi góp lúa do tá điền làm mướn ruộng của ông làm ra:
Ghe đổ vào con kinh trồng dừa nước hai bên. Trời đã xế chiều. Phương Tây nhuộm màu hồng rực rỡ. Ông Phủ xếp quyển sách, kéo kính trắng xuống sống mũi, ngồi bật dậy:
-- Mình nên ghé thằng Đực, nhờ nó hướng dẫn đi đường bộ ắt mau hơn đi ghe nhiều.
Mọt cho ghe lủi vào ụ lá và bước lên nhà núp dưới làn cây vú sữa. Con mèo mun mắt xanh biếc và trong veo nằm dã dượi ngoài sân, nghe tiếng chân Mọt, vụt đứng dậy, nhìn lơ đảng người khách lạ, rồi õng ẹo vào trong.
Mọt hân hoan bước vào hàng ba, lên tiếng:
-- Anh Đực đâu rồi?
Đực cởi trần, mình mẩy lực lưỡng và đen đúa, từ nhà bước ra.
Gã kềm hãm được sự ngạc nhiên vừa chợt biểu hiện trên khuôn mặt khi đã nhận ra Mọt. Gã chau đôi mày xếch rậm như người lúc bực mình lại bị quấy rầy. Gã hất hàm hỏi:
-- Xuống hồi nào đó? Đi với ai đây?
Mọt mỉm cười cầu tài:
-- Dớ! Khéo làm bộ hoài, tôi đi với quan lớn... ủa với ông thầy thuốc bắc chớ đi với ai? Không lẽ tôi đi một mình thì ai góp lúa đây?
-- Thầy thuốc bắc nào?
Mọt sợ sệt nhìn quanh rồi nói nhỏ:
-- Anh đừng có nói lớn. Thầy thuốc bắc tức là quan lớn đó đa anh. Quan lớn
sợ mấy ông Việt Minh bắt nên mới biểu tôi kêu là... thầy thuốc bắc.
Mọt bước vào nhà. Căn chính giữa bị bồ lúa cao nghệu choáng cả lối đi. Đực hướng mắt về phía xẻo lá, cười lạt:
-- Quan lớn của anh đi cũng chẳng ai thèm đong lúa, chớ nói gì anh hay
thầy thuốc bắc.
Mọt trố mắt:
-- Dớ! Anh nầy hỗn ghê! Sao dám ăn nói ngang ngược vậy?
Đực chắp tay sau mông:
-- Xuống biểu quan lớn của anh rút lui lẹ đi. Nếu lạng quạng đòi góp lúa ữa thì coi chừng bị bắt quản thúc bây giờ.
Mọt chưa kịp nói thì Đực gằn giọng:
-- Anh có biết ruộng đất của quan lớn anh do mồ hôi nước mắt của anh em
tá điền tụi tui đóng góp không?
Mọt ngơ ngác nhìn Đực. Có phải đây là một nhân vật mới do thời cuộc tạo nên không? Đực mở hai con mắt gườm gườm nhìn người đối diện, giọng rít lên:
-- Bọn chủ điền khốn nạn đã bao đời bóc lột anh em nông dân. Nhưng thời the61moi5 ngườ
thế đã đổi khác rồi. Ngày nay, nông dân đã giác ngộ quyền lợi, đứng lên tranh đấu, quyết không để bọn chủ điền đè đầu đè cổ nữa...
Đực nói thao thao, càng nói càng say. Những lời lẽ của Đực, đối với Mọt sao mà lạ tai. Mọt chỉ về phía ghe hầu:
-- Đó! Anh giỏi xuống dưới mắng quan lớn đi. Tôi đâu có ăn nhậu gì với
ruộng đất.
Đực hất hàm:
-- Tôi đâu có sợ ai. Anh giỏi học lại quan lớn của anh đi.
Ông Phủ đã leo lên bờ, chậm rãi đi vào sân nhà Đực. Mọt và Đực bắt đầu
đấu khẩu với nhau, mặt người nào, người nấy xanh dờn.
Ông Phủ cắt ngang câu chuyện:
-- Gì đó Mọt?
Đực quay lạy hỏi xẳng xớn:
-- Ông đi thâu lúa ruộng phải không?
Ông Phủ quắc mắt nhìn Đực. Chỉ mới chưa đầy một năm mà hắn đã thay đổi quá nhiều. Trước kia, khi hầu chuyện với ông, hắn co ro như một con cuốn chiếu. Bây giờ hắn đang hất mặt, hách dịch nhìn ông thiếu điều muốn ăn tươi nuốt sống ông. Nhưng ông vẫn giữ thái độ khinh thường.
Đực tiếp, giọng càng lúc càng cao lên:
-- Ông hãy quày ghe về ngay, nếu không vị chút tình nghĩa cũ, tôi đã ám hại
ông rồi. Tất cả ruộng đất của bọn tay sai cho Tây đều được chia cho dân nghèo hết rồi. Ông đừng có mong còn một hột lúa cho chim ăn, một thẻo đất cho chó ỉa nữa.
Đực chỉ nói như vậy rồi bỏ qua hàng xóm. Một lát sau, ông Phủ chợt thấy một bọn tá điền của mình tụ họp bên kia doi đất, nhốn nháo chỉ trỏ về phía ông. Trái với mọi năm, ông không còn được họ đón rước nồng nhiệt và thưa bẩm vâng dạ ngay khi ghe ông vừa cặp bến nhà Đực.
Ông Phủ thất thần hối Mọt:
-- Về mau, Mọt! Bây giờ vô miệt trỏng mà góp được vàng, tao cũng không
đi. Chèo mau đi con, tụi nó hạ sát bọn chủ tớ mình bây giờ đa.
(các trang 274, 275,276, 277)

***
Về vấn đề mô tả cảnh vật, nhân vật và tâm trạng nhân vật, Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ phác họa bằng những nét gảy gọn, không đi sâu vào chi tiết, không đào xới nhiều những vận sự rườm rà. Mỗi một khung cảnh có một lối dàn dựng riêng. Chẳng hạn như căn nhà thủy tạ của ông Phủ, tác giả không mô tả ngay chính nó mà tả những cái chung quanh nó hoặc bên ngoài nó:
Ngự ngồi hong tóc trên chiếc băng dài ngoài nhà thủy tạ. Mái tóc nàng dài quá nửa lưng còn ngan ngát mùi lá bồ kết. Nước sông đầy ăm ắp vỗ vào bờ đất từng đợt êm đềm. Ngự nhìn trời mênh mông. Giàn hoa lý kết từng chùm rũ xuống đầu nàng và tỏa mùi thơm nhẹ. Mảnh trăng chìm dưới nước với màu thủy ngân bạc thếch bị gió xô giạt từng cơn. Con sông như một giải lụa nhấp nhô dài bất tận. Gió sửa soạn cuộc hành trình bên bờ sông, lòn qua kẽ tóc, vuốt lên má, xoa nhè nhẹ trên làn da nàng làm nàng nhẹ nhõm, phơi phới. Ngự có thói quen, khi chiều xuống, là ngồi nhà thủy tạ cho đến lúc đi ngủ. Nàng thích ngắm mấy chiếc ghe thương hồ và cảnh tượng sinh hoạt muộn màng trên sông. (trang11).

Ở đoạn trên đây, tình cảm người ngắm cảnh không lọt vào khung cảnh rõ rệt, tức là không có vấn đề đối cảnh sinh tình. Nhưng ở đoạn sau đây, chúng ta mới thấy tình lồng vào cảnh, cảnh khơi dậy tình. Tác giả tả cảnh một buổi trưa nắng chói chang và tiện dịp giới thiệu con người tình cảm phong phú của Tịnh: Tinh là một cô gái đa cảm, nhìn đời bao dung, yêu cây cỏ thiên nhiên, mơ một thế giới khác lạ trong tương lai và muốn khám phá cảm giác của mình khi tiếp nhận hơi thở, nụ hôn và ánh mắt người tình. Nàng còn yêu con sông sau nhà vì có đôi lúc nó gợi cho nàng một cuộc đời bằng phẳng và thơ mộng. Buổi sáng nàng thường đứng dưới gốc cây khế nhìn những vệt sương mềm mại bốc trên mặt nước. Nàng còn yêu khu vườn bên nhà. Bóng cây râm mát có thể xoa dịu từng cơn nắng hè chói chang. Cây cối, chim chóc, trái ngọt trong vườn như có một ngôn ngữ bí mật riêng: Hãy yêu cuộc sống một cách cạn cợt hồn nhiên. Đó là tạo được niềm hạnh phúc trong sáng. Tịnh nhắm mắt lại để tưởng đến ánh mắt sắc ngọt của Hoàng. Tại sao chàng ăn Tết ở đây? Chàng nghĩ gì về cái Tết tha hương? Từ thuở nhỏ, Tịnh đã có một niềm trắc ẩn dồi dào. Gặp đám ma nào đó nàng khóc như chính mình vừa mất mát một người thân. Nàng cũng thường chăm tưới, săn sóc hoa kiểng. Khi gặp một con sâu. Tịnh không nỡ giết nó, chỉ lấy cái que gắp nó sang khóm cỏ dại. Nàng tưởng tượng nó sẽ lột cái vỏ xấu xí để thành con bướm rực rỡ. Bây giờ nghĩ tới nỗi cô đơn của chàng trai xa lạ, tự nhiên Tịnh cũng quyết tìm cách chia sẻ với chàng. Tịnh đi về phía lẫm lúa. Hình như nàng sung sướng một cách bồng bột. Nàng nhìn chiếc sân gạch tàu. Những cái sàn lót lá chuối khô bày đầy những trái chuối cau đã lột vỏ. Mật trong chuối, dưới sức nắng mặt trời đã đặc sánh lại. Chuối phơi như thế ngon hơn chuối sứ ép mỏng. Những con ong mật bay quanh quẩn bên sân. Tịnh chợt thấy nắng mỏng trong suốt tưng bừng mở cho nàng một thế giới xán lạn có những cây cau tỏa hương và rủ bóng mát bên thềm. (các trang 81, 82)

Hồ Trường An (em NTTV)

__________________

Phụ đính I:

Tình dục và các nhà văn nữ

Thế Uyên

Tình dục và các nhà văn nữ miền Nam 1955-1975
Nguyễn Thị Thụy Vũ

Trái với Túy Hồng gốc cố đô Huế cổ kính, quan liêu và quý tộc, Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất thân từ miền đất mới, là dòng sông Cửu Long. Bà mang sắc thái của thứ "văn minh miệt vườn" (chữ của nhà văn Sơn Nam), biểu lộ đầu tiên và rõ nét là văn phong của bà ngay thẳng, đôi khi thiếu chau chuốt, một truyền thống Nam kỳ từ thời cụ Nguyễn Đình Chiểu, thẳng băng, ít ẩn dụ, chữ khó và còn đượm màu sắc tươi rói của cuộc đời đang diễn ra.
Lui ra một khoảng cách không gian và thời gian, để thấy tại Nam kỳ lục tỉnh có hai thứ văn hóa, đạo lý song hành với nhau. Một là của tầng lớp trên, ảnh hưởng hơi nặng Khổng Mạnh, một thứ nho giáo nguyên thủy, nguyên chất hơn các miền khác. Lý do chính là khi tiến vào vùng đất mới, các quan lại và thầy đồ Việt đụng độ dân Cao Miên và dân Chàm thuộc một nền văn minh khác hẳn, chịu ảnh hưởng Ấn Độ, chứ không phải Trung Hoa nữa. Ngay cả Phật giáo miền này cũng là Tiểu thừa, chứ không Đại thừa quen thuộc cả ngàn năm. Và khi đụng độ một nền văn minh khác, cao chẳng kém gì mình, phản ứng người Việt là đề cao hẳn lên thứ nho học truyền thống của mình, áp dụng nguyên văn và khắt khe hẳn lên, như là phản ứng tự vệ về văn hóa nhằm bảo vệ bản sắc, căn cước của mình.
Đó là tầng lớp trên, thiểu số tất nhiên, nhưng không quá thiểu số vì thêm sự hiện diện của đồng minh, là cộng đồng Hoa đã đông thì chớ lại còn trải rộng trên địa bàn Nam Kỳ lục tỉnh, mà cộng đồng Hoa thì dù ở đâu trên trái đất, cũng bảo tồn được thứ văn hóa đạo đức của mình. Cộng các yếu tố vừa trình bày, tầng lớp trên của Nam kỳ thường "nhân lễ nghĩa trí tín", các nhà văn thơ hay "văn dĩ tải đạo", đời sống và sinh hoạt văn hóa nhiều nơi còn cổ kính hơn cả miền Bắc... Năm 1958-1960, khi nhận chức thầy đồ trẻ nơi trường trung học Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) và trung học công lập Kiến Hòa (Bến Tre), người viết đã ngạc nhiên thấy học sinh nam nữ còn mặc bà ba trắng đi học và cư xử với thầy cô, người lớn, một cách lễ nghĩa khỏi chê. Đến những giờ chót trước khi nghỉ tết Nguyên Đán, theo truyền thống cho học sinh được liên hoan, lập tức lớp chia làm hai phe nam nữ, hò với nhau vui vẻ như ông bà nội ngoại trên sông rạch, coi như không biết tới văn minh Tây phương là cái gì.
Nếu tầng lớp trên của Nam kỳ lục tỉnh sống đạo đức gò bó như vậy, tầng lớp dưới, tầng lớp nông dân ít chữ, thậm chí có nơi còn mù chữ, lại có nếp sống đích thực là dân khai hoang. Nghĩa là người nữ bình đẳng hơn với người nam, vợ chồng có bất đồng thì uýnh lộn nhau, chứ không có mục người vợ chịu ép một bề cho chồng đánh đập như miền đất cũ. Và dĩ nhiên truyện yêu đương và tính dục, cũng trực tiếp, nhanh chóng và thoải mái nhất nước. Trai gái đi đến đụng chạm thân xác dễ dàng, và cư xử với nhau bình đẳng, ít có mục con gái bắt đền con trai. Nếu gặp chàng họ Sở, chơi rồi chạy, người con gái có bầu vẫn có thể bình tĩnh sinh con và nuôi con, không có cảnh bị làng xã bắt vạ như miền đất cũ. Đất nước đầy kênh rạch chằng chịt, người nữ chót lỡ bước có thể chống xuồng đi miền khác dễ dàng, làm lại cuộc đời.
Sau khi phác thảo sơ khởi bối cảnh văn hóa xã hội miền Nam là như thế, khi đi vào văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh tại Vĩnh Long năm 1937, mới hiểu khi bắt đầu viết, tác giả này hay than thở về sự gò bó đến như ngạt thở của cái xã hội bà phải sống từ khi lớn lên, đầy những thành kiến hẹp hòi, cổ lỗ. Một nhân vật của bà than thở: "Tao nói với mày là phải đi khỏi tỉnh Vĩnh Long. Tao không chì đá như mày tưởng, tao chịu đựng không bền trước sự soi bói của bạn bè, người quen. Tao làm lơ, nhưng tao không đĩ thõa như thiên hạ tưởng... Đàn bà phạm tội vì trót yêu một người rồi giết một mầm sống trong bụng, phải trả một giá quá đắt... dẫu cho nước sông Cổ chiên cũng chưa rửa hết nhục nhã. Phải nuốt nước mắt, phải bịt mặt mà đi chỗ khác, để mai kia mốt nọ còn có cơ hội đi lấy chồng. Ở đây chỉ tổ làm gương xấu cho gái nhà lành. Tao phải đi, dầu có vào nơi cùng cốc thâm sơn cũng cam lòng".

Thụy Vũ và nhân vật trên của bà thuộc tầng lớp trên nên mới khổ sở nhiều về dư luận như vậy. Còn tầng lớp dưới, như đã nói, thường là nông dân gốc khai hoang, dư luận xã hội không gắt gao như vậy. Vợ người viết có lần mướn người làm là một cô gái quê Sa Đéc xinh xắn, được một thanh niên gốc Hoa thương yêu. Chàng thuê cho nàng một căn nhà nhỏ, ngay gần nhà chủ, để sáng đi làm, chiều tối về tổ ấm với chàng. Sống như một cặp vợ chồng, dù chẳng cưới xin gì cả vì chàng là con trưởng, do đó gia đình không chịu có dâu trưởng người Việt – dâu thứ nhì thì được. Rồi đương nhiên nàng có bầu. Khi cái bụng bắt đầu lớn, vợ người viết quyết định cho cô nàng nghỉ làm, về Sa Đéc ở với mẹ, không phải vì lý do đạo lý, mà vì tránh bạn bè dị nghị, nghi ngờ oan ông chồng của mình là tác giả cái bầu...! Hơn một năm sau cô gái Sa Đéc trở lại thăm, cho biết cô sinh con trai. Bố mẹ chàng người Hoa mừng vì có cháu đích tôn, thân chinh đi xuống Sa Đéc điều đình đón cháu về nuôi. Với gái Bắc không cưới xin mà chửa đẻ như thế, thường sẵn sàng cho bố mẹ của chàng nuôi đứa nhỏ để mình dễ đi lấy chồng khác, con gái Nam thì không. Cô người làm kể tiếp: Cháu chửi tưới hạt sen hai ông bà một trận, ai bảo không chịu cưới cháu trước đây. Còn đứa nhỏ do cháu đẻ ra, là con của cháu chớ, mắc mớ gì đến ai. Hai ông bà cứ lần khân hoài, cháu lên cơn giận cành hông, vô nhà lấy cái đòn sóc ra, quơ lên đuổi, cứ thế rượt chạy tới bến đò luôn!... Mấy năm sau vợ chồng người viết gặp lại cô đang ngồi bán bánh cuốn ở lề đường Nguyễn Kim, cô cho biết đã lấy chồng khác, và mọi sự vẫn zui zẻ... như thường.

Dù phản ứng có khác nhau như thế, hai người nữ, một của nhân vật Thụy Vũ thuộc giai cấp tư sản có học, một của giai cấp nông dân ít học như cô gái người làm gốc Sa Đéc, sau cùng có cách ứng xử giống nhau: bỏ nơi cũ mà đi thôi. Nhà văn Uyên Thao khi viết về Thụy Vũ, đã luận bàn khá hay về sự trốn chạy:"...Trong thế giới tù hãm của cuộc sống tỉnh lẻ vừa vụn vặt, vừa khắc nghiệt ấy, Thụy Vũ đã cho thấy tất cả những người đang sống chỉ thực sự sống bằng cách chạy trốn. Trong khi những kẻ yếu đuối chạy trốn vào vùng trời tưởng tượng bi thảm của mình thì những kẻ tương đối mạnh dạn hơn chạy trốn vào sự giả dối, che đậy. Ngoài hai lớp người ấy là một lớp người chạy trốn thực sự, chạy trốn bằng cách ném mình vào những cuộc phiêu lưu mà mọi tính toán chỉ dừng lại ở một điểm duy nhất: miễn là tách xa được thế giới tù hãm này". (Các nhà văn nữ VN 1900-1970, Nhân Chủ SG 1973, Xuân Thu tb 1991)
Đọc văn Túy Hồng, thấy thiếu gì chàng ra vô nườm nượp, nhưng thường là loại "người tình không chân dung"... Với Thụy Vũ, dân xứ nhiệt đới, dân miệt vườn gốc di dân khai hoang, mọi sự là khác: thân thể người nam người nữ đều được tả, đề cập tới một cách thẳng thắn. Sau đây là một "chân dung" một người tình nam: "Duy choàng tay qua đôi vai tôi, đôi môi chàng màu tro nặc mùi thuốc lá hờ hững đặt lên môi tôi... Tôi lách ra khỏi vòng tay ấy, ngoái lại nhìn chàng. Da mặt chàng trắng nhờn nhợt như da bụng con thằn lằn. Mắt chàng sần sùi và thở nặng như một tảng đá không còn làm da thịt tôi nháng lửa nữa. Đôi vai rộng và mông tròn của chàng ngày trước đã lôi cuốn sự chú ý của tôi..." (Chiều mênh mông)

Thụy Vũ có viết một truyện ngắn kể lại một ni sư già, khi hấp hối, nhất định đòi những người đang bao quanh lấy cho một muỗng nước mắm, một muỗng nước mắm thôi. Đó là ước nguyện sau cùng trước khi viên tịch của ni sư: thèm húp một muỗng nước mắm, nước mắm mà thôi. Những người chung quanh từ chối không lấy, cho rằng cả đời ni sư đã ăn chay niệm Phật, nay sắp thành chánh quả lại dở chứng đòi ăn mặn... là mê sảng, là bị Ma Vương quyến rũ... Rút cục ni sư sắp lìa đời còn thều thào: nước mắm, cho muỗng nước mắm.
Nhìn "chàng" mà thấy da mặt chàng giống như "da bụng con thằn lằn", nhìn bản thân khi tắm thấy bộ ngực lép xẹp, dư luận thì cổ lỗ soi mói khắt khe, còn về phía tăng lữ, ni sư cuối đời, lúc hấp hối còn thèm húp một muỗng nước mắm... Thụy Vũ và nhân vật của bà phải bỏ tỉnh lẻ Vĩnh Long mà lên Sài gòn, là phải thôi. Nhiều nhà văn khi đổi không gian sinh sống, môi sinh, khi viết cũng dễ đổi loại các nhân vật: Để mưu sinh nơi mới, Thụy Vũ đã có thời kỳ làm cô giáo kèm Anh văn cho các cô gái bán bar cho Mỹ. Cô giáo này vừa tò mò, vừa có trí nhớ tốt, ghi nhớ mọi chuyện để rồi sau này tạo dựng hai cuốn Lao vào lửa và Mèo đêm, hai tác phẩm đưa tác giả từø chỗ nổi tiếng bậc trung đến chỗ vang danh khắp nước, xếp vào hàng ngũ "bốn con nữ tặc"...

Thụy Vũ dùng ngôn ngữ nói hàng ngày, trực tả mọi sự, không có "ke" là tục hay nhã, ghi nhận sự việc sự cố và ngôn ngữ trung thực như một ký giả đi làm phóng sự vậy. Đủ mọi chuyện: gái bán bar bị lính Mỹ hành hạ thể xác, lính Mỹ biểu tình chống "Sàigòn-tea" tại vài đường phố Sàigòn để phản đối chủ các bar chém quá nặng, gái bán bar lường gạt lính Mỹ, coi cọp người khác tắm, đi phá thai, bị bệnh hoa liễu (hồi đó loài người chưa phát kiến ra bệnh AID), gái mới nhập môn học các ngón nghề của bậc đàn chị, trong nghệ thuật bán bar, và đôi khi đi khách như một gái hạng khá đắt tiền.
Nghề bán bar, xét thuần túy về sự vụ, đã có từ ngàn xưa ở châu Á cũng như châu Âu. Công việc hầu rượu, chuốc rượu cho đàn ông, trong mọi tiệc rượu, liên hoan lớn nhỏ, ở châu Âu như Pháp, Ý kêu là các nàng courtisane, ở Nhật được chuyên môn hóa cao độ thành các nàng geisha, ở Việt Nam các cụ gọi là đào rượu, phân biệt với các cô ca sĩ được gọi là đào hát. Dù là đào rượu, chứ không phải gái điếm, đôi khi khách say không về được, cũng cho khách nằm chung giường nhưng không có mục giao hợp. Chuyện đó phải có mục tán tỉnh, thỏa thuận trước đã. Bởi thế một trong những truyện tiếu lâm các ông nội ngoại chúng ta hay kháo nhau, là đêm hôm dùng lưỡi dao cạo cắt lén dây quần các cô đào... (Thời trước phụ nữ ngoài Bắc không mặc quần dây thun, mà quần có giải rút luồn trong cạp quần, khi cần phòng thủ thụ động, kéo một sợi dây cho nút cột tắc tị, rất khó cởi).
Như vậy chuyện gái hầu rượu cũ như việc ăn rau muống uống nước dừa, nhưng tự nhiên ồn ào hẳn lên trong thập niên 60 đầu 70 vì sự hiện diện của nửa triệu quân Mỹ và đồng minh nhập nội miền Nam. Dĩ nhiên họ khỏe mạnh sung sức (không quân đội nước nào bắt các ông Liễu Hạ Huê, quý ông Bá Di Thúc Tề, các thứ đàn ông bất lực, nhập quân ngũ cả), nên trông cậy ở đàn bà địa phương giải trí và giải quyết nhu cầu sinh lý cho họ... (ông Heftner &ø Cty có lần xin cho nhập tổ chức Playboy club và các cô playmate xinh xắn sexy ăn mặc như thỏ, nhưng chính quyền Việt lúc đó, lãnh đạo bởi thành phần công giáo bảo thủ, không cho phép). Lính Mỹ đến nước nào cũng vậy không có mục hiếp đàn bà, và vốn là một dân tộc trọng thương mãi, họ điều đình mua, thuê những phụ nữ cần thiết cho nhu cầu giải trí, giải lao và giải quyết sinh lý của mình. Dĩ nhiên bằng tiền mặt, những đồng dollar xanh hay đỏ (dollar đỏ chỉ dùng để mua hàng trong các PX của quân đội Mỹ), thứ đồng tiền vạn năng, mơ ước của dân nghèo, nhất là phụ nữ, ở Nhật (sau đệ nhị thế chiến), ở Phi Luật Tân, Nam Việt Nam, Nam Hàn... và nhiều nước kém mở mang khác.
Phụ nữ ở đâu cũng vậy, khi phải dùng của trời cho, vốn tự có để kinh doanh, cũng tiện tặn mặc cả ráo riết với đàn ông. Chỉ ngồi uống ruợu chung bàn thôi tán chuyện lăng nhăng, giá biểu khác, tính theo từng ly rượu chai bia chàng uống, từng ly nước trà giả rượu nàng uống (tục gọi "Saigon tea"). Cao hứng muốn sờ soạn lung tung, thì giá khác (khi quân đội Mỹ ra đi, ngày nay dân Việt từ bỏ các bar rượu, thay thế bằng các quán bia ôm, hiện nay thị trấn, thành phố nào cũng có, từ Hà Nội đến Cần Thơ...). Còn muốn giao hợp, dĩ nhiên ở một nơi ngoài quán, giá cả là thương lượng, cao thấp tùy ngoại hình xấu đẹp, nhiều hay ít kinh nghiệm, trẻ hay già, và kiểu giao hợp chọn lựa. Hoạt cảnh sau đây là điển hình trong các bar :
"Một tên Mỹ cao lớn, râu ria cạo nhẵn thính, những vết cạo trên râu quai nón vẫn làm tối sầm khuôn mặt hắn. Hắn nhẹ cười mơn trớn hỏi:
- Em tên gì?
Tôi trả lời cộc lốc:
- Tina.
Hắn lôi tôi vào lòng rồi đặt lên bắp đùi hắn. Bàn tay hắn sờ soạn lên ngực và eo của tôi. Chị Nam thường nói với tôi là tụi đàn ông Âu Mỹ lông lá như con dã nhân, mỗi ngày cạo râu hai lần thì hành sự rừng rú chịu không nổi. Tôi sợ sệt nhìn cánh tay hắn. Hắn buông thõng tay tôi tiếp tục cười:
- Ngủ với tôi đi.
Tôi giơ tay làm hiệu:
- Mười ngàn nghe.
Hắn lắc đầu:
- Mắc lắm cưng ơi! Nếu mười ngàn thì em phải trả tiền phòng và tiền ticket.
Tôi lãnh đạm lấy bông phấn ra sửa soạn lại nhan sắc... (Mèo đêm)
Thụy Vũ chuyển nguyên văn các đối đáp của gái bán bar ngoài đời vào truyện, thí dụ như đoạn tả ma cũ bắt nạt ma mới:
"Thắm nheo mắt châm chọc nhìn cô ả Khương. Nhan sắc như vầy mà dám vác mặt tới White Snow, chỗ hội họp của những người đẹp. Đã vậy nó còn dụ khị được tên Mẽo đi quân dịch nữa chứ. Từ hôm Khương về đây cô ả chưa thèm trình diện nàng. Đã vậy khi gặp nàng là ả phớt lờ, không coi nàng ra một gờ ram nào.
Vừa khi Khương định bước đi liền có tiếng gọi giật lại:
- Ê, con kia! Ở ngõ ngách nào tới đây?
Khương gượng cười:
- Tôi từ trên Phú Nhuận dọn về.
Thắm cười rũ và nhìn vào mặt ả:
- Ở đó gần Gò Vấp, Hạnh Thông Tây mà.
Biết Thắm ám chỉ mình là gái ăn sương hạng bét, chỉ chui rúc ở chỗ tối tăm nên Khương mím môi, nuốt nước miếng. Thắm đứng ưỡn ngực hách dịch hỏi:
- Ê, ra nghề hồi nào?
Khương đáp cụt ngủn:
- Cũng gần mười năm rồi.
Thắm cười châm chọc:
- Ủa, té ra cũng chưa già tay ấn đó mà. Nè, cái con hỗn láo kia, mày biết bà cố này đây là ai không?... Trời ơi! Té ra em này chưa biết danh bà Thắm Ngựa chớ"... (Ngọn pháo bông)
Ngôn ngữ sinh động, sống sượng như thế tiếp tục trong cuốn Lao vào lửa:
"Một người bạn cầm tay tôi suýt xoa:
- Cô Tina sắm chiếc nhẫn này bao nhiêu? Thằng "bồ" của con Thúy mua tặng đó hả? Mới vào nghề mà sao có phước quá. Chắc là con gái của ông trời. Tụi gái già này là thứ con ghẻ của ổng.
Đôi mắt hờn ghen quay sang lũ bạn. Một ả khác trầm trồ bằng giọng uốn éo:
- Gái trinh mới có giá như vậy chớ. Còn tụi tui tan hoang như ống cống thì chỉ có cách kiếm tiền mua hột xoàn giả..."
Như trên đã trình bày, gái hầu rượu có từ thời cả Jesus, Tất Đạt Đa, Mohamet, Khổng Mạnh... chưa ra đời, chỉ thay đổi tên gọi theo không gian, thời gian. Và thế giới của xóm dưới, xóm nhà lá, xóm chị em ta, xóm bình khang, khu đèn đỏ... thời nào nơi nào chẳng có. Nhưng ít thôi và thường ở vị trí khuất mặt bà con. Thập niên 60 và nửa thập niên 70 của thế kỷ 20, quân đội Hoa Kỳ đóng quân ở đâu, là lập tức các bar rượu xuất hiện ở đó, ngay ở các cổng ra vào có lính Mỹ. Và cái câu sáo ngữ "đồng tiền, khách hàng là vua, là Thượng Đế" vẫn cứ đúng, thêm một đặc điểm: vì có nhiều dollar tuôn ra, các chủ bar có phương tiện trang trí trang bị phòng ốc tối tân đẹp mắt, đủ màu xanh đỏ, giàn âm thanh tốt... dĩ nhiên với quầy rượu với các ghế cao cẳng bọc da giả, các kiều nữ ăn mặc nhiều màu nhưng hà tiện vải, đi đi lại lại như trong các saloon của Mỹ thời Tây tiến.
Mới đi ra ngoài ngõ vô đã thấy bắt mắt, các nhà đạo đức thật và giả địa phương rên la khóc than cho văn hóa dân tộc, truyền thống văn hiến có từ thời công chúa Tiên Dung còn tắm khỏa thân ở bãi cát ven sông... Những cái gì xảy ra bên trong các bar, các ông bà già trầu đâu có biết rõ, bây giờ bỗng có một nhà văn nữ loại có tài văn, là Nguyễn Thị Thụy Vũ, ghi chép thành văn chương và mang ra trình bày trong sách báo công khai, làm sao dư luận không sửng sốt, xôn xao, bàn tán khen chê, đôi khi còn kết án tác giả làm bại hoại phong hóa đạo đức dân tộc... Quên luôn Thụy Vũ ngoài đời chỉ là một cô giáo tỉnh nhỏ xinh xắn và đoan trang, sử dụng ngòi bút của mình miêu tả thế giới của gái bán bar lừng lẫy một thời. Miêu tả một cách trung thực, dùng ngôn từ đôi khi sống sượng gây sốc cho một số người đọc, chỉ vì các gái bán bar ăn nói như thế. Không lẽ lại để cho cô Tina hay Thắm Ngựa ỏn ẻn với một ông G.I. râu và lông rậm rạp vừa hành quân trong rừng về, như thế này: Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha? (Kiều)...

_______________

Sự khác biệt về tính dục trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ
và các nhà văn nữ khác

Du Tử Lê

Ðề cập tới trường hợp Nguyễn Thị Thụy Vũ, một cây bút nữ từng đưa tới nhiều nhận định khác nhau, thậm chí mâu thuẫn trong cách nhìn của một số người cầm bút ở miền Nam Việt Nam, trước cũng như sau biến cố 30 tháng 4, 1975.
Tôi nghĩ, để dễ theo dõi hành trình văn chương của cây bút nữ họ Nguyễn này, chúng ta có thể tạm chia hành trình đó làm ba giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất: Xuất hiện.
Những người từng dõi theo sinh hoạt văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ kể rằng, năm 1963, trên tạp chí Bách Khoa, Saigon, người đọc thấy xuất hiện một số truyện ngắn của một cây bút nữ lạ huơ lạ hoắc. Sự huơ, hoắc này không chỉ mang ý nghĩa một tên tuổi mới, mà, nó còn huơ hoắc ở cả phương diện nội dung nữa. Ðó là những truyện ngắn ký tên Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Nếu không kể những nhà văn nữ có tác phẩm và tên tuổi ít nhiều bập bùng bước trên lộ trình văn chương tiền chiến, (điển hình, ảnh hưởng dòng văn chương Tự Lực Văn Ðoàn, như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo...) thì đó là:
- Thời điểm của một Nhã Ca đã sớm có chỗ đứng riêng, vững vàng cả về thơ lẫn truyện.
- Thời điểm của một Túy Hồng đã định hình lấy cho mình bằng một văn phong chanh ớt, rất địa phương. Rất Huế.
- Thời điểm của một Trùng Dương muốn trở thành phát ngôn viên của triết lý Hiện Sinh ở miền Nam, thể hiện qua văn chương, nối tiếp bước đi của Françoise Sagan ở Pháp. (1)
- Và, đó cũng là thời điểm của một Nguyễn Thị Hoàng vừa chính ngọ, với tác phẩm “Vòng Tay Học Trò”...
Tuy xuất hiện có phần trễ hơn một chút so với những cây bút nữ vừa kể, nhưng tác giả “Mèo Ðêm” Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng đã cho thấy móng vuốt của mình. Những móng vuốt sắc, nhọn và, một võ công có thể gây hiểm nghèo cho địch thủ khi lâm trận...

Giai đoạn thứ hai của hành trình văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ, đánh dấu bằng tập truyện đầu tay, “Mèo Ðêm” của bà.
Tập truyện “Mèo Ðêm” của Nguyễn Thị Thụy Vũ, gồm 4 truyện ngắn được coi là tiêu biểu cho thời kỳ thăm dò, khai khẩn cánh rừng văn chương, chữ nghĩa của bà. Cả bốn truyện đều có nội dung như những lưỡi giáo lao thẳng vào các mục tiêu tình dục.
Tình dục qua tác phẩm này, có hai nguồn mạch chính:
- Ẩn ức sinh lý của các nhân vật là những người nữ quá thì (các truyện “Một Buổi Chiều” và “Ðợi Chuyến Ði Xa”).
- Hai truyện còn lại “Mèo Ðêm,” “Nắng Chiều Vàng” đề cập tới những hoạt động mưu sinh trên thân xác mình, của những cô gái bán bar và, bán thân cho quân đội Mỹ.

Không phải đợi tới lúc Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện, tình dục mới chiếm với trò chính diện, hay trở thành con bài chủ của thế giới văn chương nữ giới miền Nam Việt Nam.
Trước bà, người ta đã được đọc một Nguyễn Thị Hoàng với những trang văn xuôi cháy khét những hòn than tình dục táo tợn.
Trước bà, người ta cũng đã được đọc một Túy Hồng với những dòng chữ như những khối thuốc nổ cận giờ bộc phá.
Và, sẽ là một thiếu sót lớn nếu chúng ta không nhắc tới một Trùng Dương qua văn chương, đã cho thấy tham vọng chiếm lĩnh ngọn cờ đầu mang tên hiện sinh, với những trang văn xuôi mở vào những cuộc phiêu lưu tình dục không duyên cớ. Ý niệm quá khứ, tương lai gần như vắng mặt, nhường sân khấu cho tình dục, khi xác thịt lên tiếng.

Tới đây, theo tôi, đã đến lúc chúng ta nên nêu câu hỏi:
- Lý do gì hay tại sao những truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ ngay tự những xuất hiện thứ nhất, vẫn có khả năng khuất động biển nước tình dục, trong lúc nó vốn không thiếu những con sóng cấp bảy, cấp tám, hung hãn đánh vào những thành trì bảo thủ cố cựu theo truyền thống khép kín, ngậm thinh của đa số phụ nữ Việt Nam thời đó?
Một câu hỏi khác, theo tôi đáng kể không kém, cũng nên nêu lên là:
- Cùng khai thác đề tài tình dục từ chỗ đứng, từ cảm nghĩ của người nữ như những ngọn hải đăng soi đường, vậy liệu có khác biệt nào chăng giữa những cây bút nữ vừa kể với cõi giới văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ?
- Ðồng thời: Sự khuấy động trong lãnh vực tính dục của những cây bút nữ kia, có mang một ý nghĩa nào khác hơn chính sự... khuấy động?

Về câu hỏi thứ nhất, theo tôi, tuy cũng là chủ tâm mở toang cánh cửa cấm cản, phá sập hàng rào giam hãm mọi phát biểu về sinh hoạt tâm-sinh lý người nữ bởi phong tục, tập quán lâu đời của phương Ðông, nhất là của người phụ nữ Việt Nam... Nhưng, nếu những nhà văn nữ đi trước Nguyễn Thị Thụy Vũ như Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương hay Túy Hồng xây dựng bối cảnh tác phẩm của họ ở những thành phố lớn; với những nhân vật nữ hầu hết thuộc giai cấp trí thức, thành thị thì, bối cảnh của Nguyễn Thị Thụy Vũ lại là những nhân vật nữ tỉnh lẻ. Hầu hết không thuộc thành phần trí thức. Họ là những phụ nữ thuộc giới “chân quê.”
Vì thuộc giới nông dân, lam lũ, ít học, cho nên những nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ không mấy bận tâm tới những vấn đề trừu tượng, như con người được sinh ra để làm gì? Ðịnh mệnh nào đã trói thúc tay chân con người và, sẽ đẩy đưa thân phận họ tới những vùi dập, lãng quên nào?
Nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ đơn giản hơn. Chân thật, mộc mạc hơn. Mặc dù cũng buông thả theo nhu cầu của bản năng, nhưng nhân vật của tác giả “Mèo Ðêm” không được tác giả đắp, choàng lớp áo suy tư; sơn phết những lớp sơn triết lý lên thịt da trần trụi của nhân vật mình...
Tuy cùng khai thác đề tài tình dục từ chỗ đứng, từ cảm nghĩ của người nữ như những ngọn hải đăng soi đường, nhưng nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ vốn gốc tỉnh lẻ, chân quê, nên bà đã không cho họ bước ra tiền trường văn xuôi với nhung lụa văn chương rực rỡ, hoặc bóng bẩy, láng lẩy chữ nghĩa như Nguyễn Thị Hoàng.
Nhân vật của cõi-giới văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng không đặt vấn đề thượng đế đã chết hay vẫn còn sống? Họ không hề thao thức, trằn trọc trước lằn ranh ăn thua đủ với Thượng đế, như trong truyện của Trùng Dương. Họ chỉ sống. Thản nhiên, sống. Như không hề cật vấn, tại sao được sinh ra?!!
Cũng vì tính tỉnh lẻ, lam lũ kia mà, ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ, cũng là những đối thoại “trực chỉ.” Không lập lòa trí thức. Không ẩn dụ kỳ khu cao siêu.
Ðáng kể hơn nữa, theo tôi là thứ ngôn ngữ mang đầy tính miền Nam. Thứ ngôn ngữ nói thẳng đuột. Khỏe mạnh. Gân guốc. Sáng rỡ.
Thí dụ đoạn đối thoại trong truyện dài “Khung Rêu,” (2) một truyện lạc khỏi dòng chảy quen thuộc của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Một truyện được tác giả đặt trên vòng quay ngược thời gian, trở lại với những chủ đề ông chủ và đầy tớ, quan lớn và lê dân, tôi đòi thời phong kiến - Khiến người đọc nhớ tới những tác phẩm từng nổi tiếng một thời của chương xã hội, tả chân, thời tiền chiến. Ðiển hình như tiểu thuyết “Tắt Ðèn” của Ngô Tất Tố (3), “Giông Tố” của Vũ Trọng Phụng (4)...
Ðó là mẩu đối thoại đầy tính chất Nam bộ, trong buổi sáng mồng một Tết, giữa bà Phủ và cô đầy tớ (đã mang thai với ông Phủ) như sau:
Giọng bà Phủ làm ả chợt tỉnh:
-Sao? Chúc ông bà năm mới cái gì đây? Nói hết câu cho bà nghe coi.
Ngà nắm hai bàn tay vào nhau, ngập ngừng:
-Năm mới con chúc ông bà... trường thọ.
Bà Phủ cười cởi mở:
-Dữ ác hôn?
Ở lãnh vực tả cảnh, cũng vậy. Nguyễn Thị Thụy Vũ không chủ tâm làm văn chương. Bà cũng không cho những cảnh tượng ghi nhận một so sánh hay liên tưởng tân kỳ nào, ngoài thứ ngôn ngữ mạnh mẽ, như những cú đấm thẳng tay. Chắc nịch.
Thí dụ, khi tả bóng đêm đã về trên đường phố, nếu là Nguyễn Thị Hoàng người đọc sẽ được thưởng thức chí ít cũng một đoạn dài, nếu không muốn nói là có thể dài tới nửa trang viết.
Nhưng ở thế giới văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ, nó đã được thu gọn trong một câu rất ngắn mà, rất gợi hình (kể cả gợi dục):
“Bóng tối đã ôm choàng thành phố ngoài khung cửa...”
(“Ðợi Chuyến Ði Xa,” trong “Mèo Ðêm.”)
Trong truyện “Lao Vào Lửa” (xuất bản năm 1967,) khi tả sự ganh ghét, tỵ hiềm của những “đồng nghiệp” thâm niên trong nghề bán thân, trước sự may mắn hãn hữu của một “lính mới,” được một chàng GI bất ngờ thương yêu thành thật, mua tặng cô những món quà quý giá... qua bút pháp của mình, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã ghi lại “phát biểu” của một “đàn chị” cùng nghề:
“Gái trinh mới có giá như vậy chớ. Còn tụi tui tan hoang như ống cống thì chỉ có cách kiếm tiền mua hột xoàn giả!”
Với những nét đặc thù kể trên, tôi không tìm thấy một đồng dạng thấp thoáng nào giữa cõi-giới văn xuôi của những nhà văn nữ ở miền Nam và chữ nghĩa của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Nếu không muốn nói chúng là những mặt khác thô nhám, nhầy nhụa nhất của tình dục, nhìn từ đáy bùn. Cặn bã.

Chú thích:
(1) Françoise Sagan nữ văn sĩ Pháp, tên thật là Françoise Quoirez. Bà sinh năm 1935, mất năm 2004. Bà nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay “Bonjour Tristesse” viết năm 1954, khi mới 18 tuổi. Ðộc giả Việt Nam khá quen thuộc với tác phẩm này, qua bản dịch “Buồn Ơi Chào Mi.” (Theo Wikipedia)
(2) Tác phẩm được trao giải thưởng văn chương bộ môn Văn, năm 1970.
(3) Ngô Tất Tố sinh năm 1893 tại phủ Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là huyện Ðông Anh, Hà Nội. Ông mất năm 1954 ở Yên Thế, Bắc Giang. Tiểu thuyết “Tắt Ðèn” của ông bị chính quyền Pháp cấm lưu hành năm 1939. (Theo Wikipedia)
(4) Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912 tại Hưng Yên. Lớn lên và mất tại Hà Nội năm 1939. Phóng sự xã hội “Giông Tố” được đăng tải từng kỳ trên tờ Hà Nội Báo, với tựa đề “Thị Mịch.” Trước khi xuất bản thành sách, tác giả đổi tựa thành “Giông Tố.” “Giông Tố” do nhà Văn Thanh xuất bản bản lần đầu tiên tại Hà Nội, năm 1937. (Theo Wikipedia)
Ngoài họ Nguyễn, cũng có những nhà văn khác dùng ngòi bút của mình để săm soi hiện tượng xã hội xuống cấp: Sự xuất hiện của một thành phần xã hội mới. Thành phần mà thời đó, người ta thường gọi là “Me Mỹ.”
Nhưng trước nhất, hầu hết những cây bút này thuộc nam giới, hiểu theo nghĩa họ không thể tiếp cận một cách triệt để đối tượng của họ.
Thứ đến, nhân vật cũng như bối cảnh của họ là những cô gái bán bar tại đô thị hay những thành phố lớn. Do đấy, tính xác thực qua những tâm sự về những cảnh đời của những cô gái kia có một tỷ lệ rất mỏng; nếu không muốn nói là nhiều phần được dàn dựng bài bản lâm ly, éo le, bi thảm... Ðó là chưa nói tính chất xa lạ, mới mẻ không đáp ứng được nhu cầu tò mò của độc giả. Trường hợp Nguyễn Thị Thụy Vũ, ngược hẳn.
Chẳng những có lợi thế cùng giới tính, bà còn là người dạy tiếng Anh cho những cô gái nhà quê (nhiều người không biết chữ).
Tiếng Anh với thành phần mới, thành phần “Me Mỹ” của xã hội miền Nam tỉnh lỵ, trước 1975 là “chìa khóa vàng,” nụ cười ma quỷ hay nhan sắc rực rỡ của định mệnh giúp họ mở được những cánh cửa bước vào những ngôi nhà kín bưng, của những chàng GI nắm trong tay cả đống tiền đô xanh, đô đỏ...
Ðã thế, hầu hết truyện ngắn cũng như truyện dài của Nguyễn Thị Thụy Vũ, luôn có cốt truyện rõ ràng, lớp lang đâu đấy... Nên căn bản, đề tài của bà vốn là một từ trường có sức hút mạnh mẽ. Ðồng thời, chúng còn đáp ứng được bản chất tò mò của người đọc nữa.
Tuy nhiên, sự thành công vang dội, nhặm lẹ của Nguyễn Thị Thụy Vũ, giúp bà sánh vai cùng những nhà văn nữ cùng khuynh hướng khác, như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Trùng Dương... không có nghĩa bà hoặc những người đồng thời với bà nhằm mục tiêu tranh đấu cho nữ quyền.
Bình tâm nhìn lại, chúng ta sẽ thấy, dòng văn xuôi 20 năm miền Nam phong phú, đa dạng được, do nơi nhà văn có những biên độ tự do đủ để chọn lựa, thể hiện xu hướng văn chương của mình. Từ chọn lựa viết về người lính miền Nam, chống Cộng, phản chiến tới lãng mạn, viễn mơ, xã hội, lịch sử, phong tục, tập quán, vân vân...
Tóm lại, sự khuấy động mặt nước ao tù tính dục của Nguyễn Thị Thụy Vũ (cũng như một số nhà văn nữ thời đó), là những chọn lựa ứng hợp với cảm quan văn chương của họ Nguyễn.
Hành trình văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ theo tôi, sẽ chỉ có hai giai đoạn rõ rệt là giai đoạn khởi đầu, với những truyện ngắn trên báo. Mau chóng định hình với tác phẩm đầu tay “Mèo Ðêm” và những tác phẩm kế tiếp.
Với tổng số 10 tác phẩm được ấn hành, tính đến tháng 4, 1975, càng về sau, Nguyễn Thị Thụy Vũ càng có những truyện mà, tính dục như ngọn triều lùi xa bờ cát. Vai trò chính diện, con bài chủ trong một số truyện của họ Nguyễn đã sang tay... Tính dục vẫn có đó. Nhưng nó chỉ như cái cớ để dẫn đến những mặt khác của bản chất con người. Thí dụ, truyện “Trôi Sông” với hai nhân vật chính: Một ông già và một đào hát bội hết thời.
Theo mô tả của tác giả thì cả hai có cùng một mẫu số chung là mơ ước có được những ngày cuối đời sung túc, thơ mộng như một giải mã cho ẩn ức gay gắt tới nứt nẻ suốt thời thanh xuân. Những khát vọng cháy bỏng không tưởng của họ, xét cho cùng, cũng là một phản ứng tự nhiên. Rất con người. Mặc dù, cuối truyện, hai nhân vật “trôi sông” kia vẫn không được định mệnh “hồi tâm,” ngoảnh lại, dành cho họ một nụ cười an ủi. Mà, khi hai chiếc đò nát gặp nhau, họ đã xáp lại như hai con thú cùng đường, động kinh. Ðể rồi trong một ảo giác sau chót, ông già chết trên bụng bà đào hát hết thời. Như tiếng nấc hay lời nguyền rủa ai oán cuối cùng của những phần số bất hạnh.
Cũng vậy, trong truyện ngắn “Ðêm Tối Bao La,” (còn có tên là “Bà Ðiếc”), Nguyễn Thị Thụy Vũ tả một thiếu nữ (cực khác của tuổi già?), mơ ước làm lại cuộc đời sau khi bị phụ tình. Cô phải phá thai. Nhưng không vì thế cô lạnh, nguội khát khao một lần được làm mẹ (bản năng bẩm sinh của người nữ)!
Trước phần số bùn đen của hai nhân vật trong truyện kể trên, định mệnh đỏng đảnh vẫn không mở khóa cánh cửa tương lai cho tuổi trẻ còn đó, của người con gái này!
Ở những truyện loại vừa kể, người đọc vẫn đối diện với một Nguyễn Thị Thụy Vũ móng sắc. Một Nguyễn Thị Thụy Vũ lúc hòa huỡn. Khi sôi nổi. Ngậm ngùi... Cũng vẫn còn đâu đó bản năng. Nhưng chúng là mặt khác của những mô tả dục tình thô nhám, trần trụi. Tôi muốn nói, bà đã xẻ dọc cánh rừng văn xuôi của bà, để mở lấy cho mình, một lối đi khác.
Trên con lộ mới xuyên qua thân phận làm người này, những mơ ước chín đỏ cuối kiếp, hay xanh ương đầu đời, đã được bà đề cập (đào xới), như một bản năng song hành với bản năng tính dục. Tuy nhiên, phải đợi tới khi truyện ngắn “Lòng Trần” ra đời thì, giai đoạn thứ ba trong lộ trình văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ mới rõ ràng hiển lộ.
“Lòng Trần” là một truyện ngắn tách thoát quyết liệt, toàn phần với thế giới văn xuôi bao nhiêu năm của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Nó như một đứa con văn chương tư sinh của bà. Trong phần nói về truyện ngắn “Lòng Trần” của mình, theo yêu cầu của nhà xuất bản Sóng, bà cho biết, truyện ngắn “Lòng Trần” của bà có tới tám mươi phần trăm sự thật. (5)
Nhân vật cô Năm Thàng, một nghệ sĩ hát bội, là bà con xa với bà nội Nguyễn Thị Thụy Vũ. Trong truyện, cô Năm được một ông phú hộ bỏ ra phân nửa số ruộng đất của ông để chuộc cô ra khỏi gánh hát, đem về làm vợ. Chồng chết, cô Năm Thàng ở vậy, thủ tiết nuôi con. Mỗi khi đến ngày giỗ chồng, cô Năm lại nhập vai đào hát ngày xưa, với đầy đủ mũ mão, cân đai của sân khấu hát bội...
Cô Năm cũng giắt lông trĩ trên đầu. Cầm gươm trước bàn thờ chồng, cô biểu diễn những vai đào võ mà, trước kia ông phú hộ từng say mê qua tài diễn xuất của cô. Nhân vật thứ hai, ni cô Diệu Tâm, vẫn theo tác giả, cũng là chỗ bà con xa với bà nội của bà. Và, “ni cô chay lạt nâu sồng từ hồi còn nhỏ, nhưng đến khi chết, lại đòi uống một muỗng nước mắm...”
Trong truyện, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã nhập hai nhân vật vừa kể, làm một. Tác giả “Khung Rêu” viết:
“...Cô Năm Thàng là mẫu người quá khứ của ni cô Diệu Tâm, để cho người đọc thấy rõ là ni cô Diệu Tâm luôn mến tiếc thời vàng son của mình. Khi truyện này được đăng trên tạp san Văn thì các văn hữu gởi lời khuyến khích. Thật ra, ngay khi sáng tác, tôi không nghĩ rằng mình viết một truyện hàm chứa một vài tư tưởng Phật Giáo trong quyển kinh Lăng Nghiêm, mà tôi chỉ thấy rằng cốt truyện có nhiều chi tiết ngộ nghĩnh, thế thôi.”
(Trích “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương ta,” trang 399.) (5)
Sau mấy chục năm, đọc lại phát biểu của tác giả “Mèo Ðêm,” về truyện ngắn “Lòng Trần,” tôi thấy rõ hơn bản chất chân chất của bà. Tôi không dùng hai chữ “ngay thẳng” - Vì đôi khi sự “ngay thẳng,” cũng ẩn tàng cái chủ tâm muốn chứng tỏ của người sử dụng chúng.
Nhưng “chân chất” thì không! Vì “chân chất” theo phân biệt của tôi, là ngay thẳng hồn nhiên. Nó có sẵn tự bản chất. Nó làm nên nhân cách đời thường Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Sự “chân chất” của họ Nguyễn nằm nơi hai tiết lộ đáng kể trong trích đoạn trên. Ðó là, bà được các văn hữu khuyến khích vì nó hàm chứa một vài tư tưởng Phật Giáo...
Từ cảm nghiệm vừa kể tôi bỗng hiểu ra, tại sao tác giả “Lòng Trần” có thể bình thản, mạnh mẽ sống lo cho các con. Trong số đó có một bé gái tên Thụy, sinh năm 1973. Cháu bị liệt từ năm lên 2 vì tai nạn té ngã trong nhà; do sự vô trách nhiệm của của chị người làm trông nom cháu thời đó.
Vào những năm tháng đầu sau biến cố tháng 4, 1975, nhà văn Văn Quang cho biết, có một thời gian tác giả “Chiều Xuống Êm Ðềm” đã phải làm lơ xe đò, chạy đường Saigòn-Thủ Ðức. Suốt ngày bà chỉ đứng một chân... cho tới khi kiệt sức, không kham nổi, bà mang con cái về nhà mẹ ở Lộc Ninh. Chốn ở mới của bà là một nơi “...không có điện, không có nước, (bà và các con) sống như người rừng!”
Về “đời sống thực vật” của cháu Thụy, nhà Văn Quang ghi lại như sau:
“Suốt ngày hôm đó, cái hình ảnh cháu Khôi Thụy ám ảnh tôi không rời. Buổi trưa tôi ngồi với Ngân ngay trên sàn gạch nhà ngoài. Tôi nghe phòng bên văng vẳng tiếng cười rúc rích của Thụy Vũ, tiếng chị nựng nịu, tiếng nước chảy ào ào rửa nhà và tiếng hát ru của chị vẳng lên giữa núi rừng. Tôi có cảm tưởng như chị sống rất hồn nhiên, vui vẻ bên đứa con thơ hai ba tuổi. Càng nghe chị cười, chị thủ thỉ với con, tôi càng thấy nghẹn ngào. Ðôi mắt Ngân chớp mau, cô nói như để che lấp nỗi lòng mình:
-Anh thấy không, đó là nét đặc biệt nhất của Thụy Vũ. Chị luôn coi đứa con chị như khi còn hai tuổi và chị cứ hình dung cháu không hề bị bệnh, chị vẫn nựng nịu cháu, cười đùa hồn nhiên với cháu. Có miếng gì ngon chị cũng để phần cho cháu, dù chị biết rõ hơn ai hết rằng nó không hề phân biệt được cái gì là thức ăn chứ đừng nói đến ngon dở. Nhưng đó là tấm lòng bao la của người mẹ...
-Phải nói rằng một người mẹ tuyệt vời và một tấm lòng can đảm vô bờ bến.” (6)
Chỉ với một đoạn văn trên của nhà văn Văn Quang, đã cho thấy nhân cách Nguyễn Thị Thụy Vũ có phần chói lòa hơn cả văn nghiệp của bà.
Do đó, tôi không thấy cần thiết phải viết thêm dù chỉ một dòng, về cây bút nữ đầy cá tính của 20 năm văn học miền Nam này!
(3 tháng 11, 2010)

Chú thích:
(4) Nhà xuất bản Sóng do nhà văn Nguyễn Ðông Ngạc chủ trương. Năm 1974, ông xuất bản một tuyển tập nhan đề “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương ta,” gồm 45 truyện ngắn của 45 nhà văn miền Nam (tính từ 1954 tới 1973).
(5) Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Băng Lĩnh, sinh năm 1939 tại Vĩnh Long. Bà làm nghề gõ đầu trẻ tại tỉnh lỵ này cho tới năm 1961 thì dời lên Saigon.
(6) Trích “Người con gái 27 năm với đời sống thực vật,” Văn Quang, Saigon, tháng 4, 2000.

__________________

Chén trà, cây bút và một ngọn đèn

Hồ Trường An
(Em trai của nhà văn Thụy Vũ)

Nếu chúng ta chỉ biết tới những văn nghệ sĩ mà không nói tới những người làm văn hoá, những ký giả...tôi e thiếu sót, và bất công nữa là khác.
Và hôm nay nắng hạ đang trở về từng bừng trên lá cây bạch dương, trên những mặt tiền xám của các khu chung cư, trên mái ngói đỏ, trên những chùm trái anh đào chín mọng...
Nắng càng gay gắt, tôi càng nhớ anh Nguiễn Ngu Í. Mỗi năm vào mùa nóng nực, cơn điên trở về với anh. Anh chạy long nhong từ nhà văn hữu này sang nhà bạn văn kia, độc thoại thôi liên tu bất tận. Có nhiều lần chị Thoại Dung, vợ của anh, phải kiếm anh hụt hơi để đưa đi dưỡng trí viện Biên Hoà.
Đã nói tới anh Nguiễn Ngu Í, tôi không thể quên ký giả Lê Phương Chi, người em kết nghĩa của anh Ngu Í. Cả hai viết ký sự về văn học rất hay, phỏng vấn văn nghệ sĩ thật tuyệt. Anh Ngu Í có khuyên tôi một câu để đời:"Muốn phỏng vấn văn nghệ sĩ cho hay là phải đọc nhiều sách báo, đọc rồi phải suy nghĩ ...". Sống trên đất Pháp, vào tối thứ sáu lối 9 giờ, tôi thích xem cuộc hội thoại giữa ký giả Bernard Pivot với tác giả các tác phẩm vừa trình làng trong tuần trên đài truyền hình Authène 2 . Nhìn Bernard Pivot, tôi nhớ tới anh Ngu Í và anh Phương Chi, hai ký giả tận tâm yêu nghề, mê đọc sách và có kiến thức sâu rộng.
Về sau, khi vào quân đội, qua Tô Thùy Yên, tôi biết thêm ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc. Ông giữ mục tạp ghi trên nhật báo Tiền Tuyến , viết rất linh hoạt về đủ mọi đề tài: văn chương, sân khấu, ca nhạc, điện ảnh , chính trị, xã hội, phong tục ...Có một thời gian ông vắng mặt, nhà văn Thanh Tâm Tuyền viết thay nhưng không tạo được cái không khí hấp dẫn nồng mặn như ông .
Một ký giả lão thành có kiến thức thâm hậu về văn hoá là cụ Văn Lang Trần Văn Ân, chủ nhiệm kiêm chủ bút tập san Đời Mới , một trong hai tạp chí có giá trị của miền Nam thời thập niên 50 (tập san kia là tờ Nhân Loại do Đông Hồ chủ trương )
Vậy thì hôm nay, tôi sẽ viết về Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc và cụ Văn Lang Trần Văn Ân.
Nắng bên ngoài phai dần. Mãi đến 11 giờ đêm, bóng tối mới chịu trở về. Tôi lại ngồi vào bàn viết, đối diện với thếp giấy trắng. Thôi thì , tôi phải viết, tự mình bắt buộc mình, dù có cảm hứng hay không , về những ký giả thượng thặng kia. Mười lăm năm qua rồi, nếu tôi chần chờ, không chịu ghi lại, tôi sẽ quên ráo khi tuổi già bắt đầu lấp ló bên kia cầu nhân sinh.
Đã có thếp giấy nõn nà, hãy cho tôi một chén trà, một cây bút và một ngọn đèn . Quá khứ dẫu có lùi vào cõi xa xăm, tôi sẽ bắt nó sống dậy trên từng dòng chữ. Và tôi thấy lại chặng đời đó, khoảng năm 1964, sau khi Ngô Triều sụp đổ, cơn khủng khoảng chính trị ở miền Nam đất nước bắt đầu trầm trọng. Đó là lúc Văn Lang tiên sinh vừa được phóng thích, từ Côn Đảo trở về; Nguyễn Ngu Í đang làm chấn động văn giới bằng loạt bài phỏng vấn đăng trên bán nguyệt san Bách Khoa.
Vào mùa hè năm 1987, tôi không đi nghỉ hè ở đâu cả. Rồi tháng tám trôi qua, tôi cảm thấy mất thăng bằng tâm lý dữ dội . Trong nội giới của tôi, từng trận dao động làm đêm đêm tôi mất ngủ, khoác áo lạnh đi lang thang trên những con đường vắng ngắt; đi như mê, đi trong cơn bán mộng du cho đến khi ý thức được sự hiện hữu cùng nỗi đau khổ của mình tôi mới trở về nhà, thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề và cơn hồi hộp.
Có lẽ tôi cần thay đổi không khí. Và nhân dịp tháp tùng theo người bạn đi Vannes, một tỉnh lỵ ven biển vùng Bretagne, tôi quyết định sẽ ghé thăm nhà chí sĩ Văn Lang Trần văn Ân hiện đang cư ngụ tại Rennes, một thành phố to lớn với những kiến trúc bằng đá cực kỳ tráng lệ.
Văn Lang Trần Văn Ân là cựu ký giả, là nhà cách mạng và cũng là cựu cố vấn tổng thống Thiệu, một kẻ sĩ thanh liêm trong chế độ tham nhũng và một người rất ưu tư về văn hoá. Tôi kính mến tiên sinh không hẳn vì ông là người tiết tháo vì tôi vốn ít quan tâm đến chính trị. Lý do chính vì ông là bạn thân của nữ sĩ Song Thu, kế mẫu của ba tôi. Những năm sau cùng của bà Song Thu, chính tiên sinh đã cấp dưỡng, giúp đỡ bà cho tới ngày bà mệnh chung vào cuối xuân 1970.
Đã quyết định, tôi liền điện thoại cho Văn Lang tiên sinh. Bốn năm qua, ông đã tái hợp với phu nhân và cậu con thứ chín. Mỗi ngày tiên sinh miệt mài dịch thơ Đường ra Việt ngữ, dịch thơ mình ra Pháp ngữ, sáng tác truyện dài, truyện ngắn...Chính phu nhân sắp xếp các bản thảo rồi đánh máy, trình bày từng tập rất đẹp cho tiên sinh.
Một ngày u ám đầu tháng chín, chúng tôi lên đường . Khởi hành từ sáng sớm, đến 2 giờ chiều chúng tôi mới đến Rennes, gỡ cửa nhà Văn Lang chí sĩ.
Phu nhân mở cửa chào đón. Bà còn trẻ , độ năm mươi ngoài. Lúc đó tiên sinh đang ngồi viết miệt mài tại bàn tròn. Ông mừng rỡ, bảo tôi lễ bàn thờ tổ Hùng Vương, gần bàn thờ Phật. Nơi đó có bản đồ Việt Nam làm bằng thạch cao, có rồng cuốn theo chiều dài hình chữ S. Bản đồ được sơn một lớp kim nhũ lấp lánh và đóng khung gỗ chạm trổ. Sau tấm gỗ là lá quốc kỳ bằng vải. Hai bên bàn thờ tổ là cặp liễn bằng giấy hồng điều viết chữ chân phương bằng mực tàu đen lánh:
Thiên tương hoá nhật thư thanh cảnh
Thất hữu xuân phong tự thái hoà.

Với trà sen nhấp giọng và kẹo đậu phọng điểm xuyết, chúng tôi cùng nhau hàn huyên chuyện cũ. Phu nhân Văn Lang tiên sinh đem ra hai tập album gắn đầy những tấm ảnh mà tiên sinh chụp chung với các nhân vật lịch sữ Pháp Việt thời đầu thế kỷ, giảng giải cho người bạn Pháp của tôi nghe. Trong khi đó tiên sinh đọc những vần thơ đời Đường, đời Tống và những dịch phẩm mà tiên sinh đã hoàn tất.
Trong lúc phu nhân sửa soạn bữa ăn chiều dưới bếp, tôi yêu cầu Văn Lang tiên sinh kể cho tôi nghe về những nhà lãnh đạo, những chánh khách mà tiên sinh đã tiếp xúc như cựu hoàng Bảo Đại, đức thầy Hùynh Phú Sổ, các nhà ái quốc Phan văn Hùm, Tạ Thu Thâu ...Tiên sinh cũng thuật lại những ngày tù ở khám lớn Côn Nôn. Ngày ấy, tiên sinh là tử tội dưới Ngô triều, không hy vọng có ngày về đất liền, nhưng chỉ đọc qua một lượt quyển Kim Cang Đại Thừa , tiên sinh đã nhiếp tâm, đã phá chấp, đạt sự khinh an. Trong khi đó, học giả Hồ Hữu Tường đã ngã lòng, khiếp sợ bạo quyền nên sách động các tù nhân chính trị làm thỉnh nguyện xin ân xá, rồi hoá điên, rồi mắc chứng cuồng dâm, cảnh huống rất thảm thương! Cái cuồng dâm của ông về sau còn rớt lại trong cuốn Cẩm Hồng Xuất Giá , trong cuốn Hoa Di Cẩm Trận. Tội nghiệp cho Hồ tiên sinh biết bao! Nỗi tuyệt vọng đã dồn ông vào một tình thế cay đắng, để chân tướng hoạt đầu, bần tiện của ông xuất lộ . Và sau khi Ngô triều sụp đổ, ông lăng ba vi bộ trong chính trường, bị báo chí gìỡn nhột khinh lờn, bị bà dân biểu Trần Kim Thoa lấy guốc đập lên mặt, lấy quần trùm lên đâu ! Nhắc tới cái chết của ông dưới chế độ Cộng sản, không ai là không ngậm ngùi thương xót !
Tối hôm đó tôi được Văn Lang tiên sinh chỉ điểm thêm về phương pháp toạ thiền . Tuy lên giường lúc một giờ sáng nhưng mải đọc vài chương sách của tiên sinh, mãi đến ba giờ sáng tôi mới ngủ.
Sáng hôm sau, tôi thức giấc với thần trí thanh thản như vòm trởi đẹp nắng ngoài cửa sổ. Văn Lang phu nhân đãi cả nhà món bún bò Huế trước khi chúng tôi kiếu từ để đi viếng vùng biển Vannes. Thời gian trôi nhanh, tôi tiếc mình không được gần gũi Văn Lang tiên sinh thường xuyên. Kiến thức về văn hoá và kinh nghiệm sống của ông thật dồi dào, chắc chắn ông sẽ soi sáng cho tôi nhiều vấn đề mà tôi đang suy gẫm.
Năm 1971, Tô Thùy Yên cùng nhóm nhân viên phòng văn nghệ cục Tâm Lý Chiến, kẻ bỏ công người bỏ của ra thực hiện đặc san Bông Hồng . Yên cửa tôi đi phỏng vấn các ca sĩ, minh tinh điện ảnh, các điện ảnh gia, các nhà văn nữ. Tờ báo rất đồ sộ, khổ nhật báo dày ngót nghét 160 trang do Tô Thùy Yên trình bày, đẹp lộng lẫy.
Khi giao cho tôi một ấn bản Bông Hồng còn thơm mùi mực, Tô Thùy Yên bảo tôi:"Lô Răng Phan Lạc Phúc chịu các bài phỏng vấn của cậu, nhất là loạt bài phóng sự viết về nghệ sĩ trình diễn. Ông ta khen cậu có vẻ thạo nghề"..Ngẫm lại, tự một nhà văn thất bại, tôi nhào qua lãnh vực ký giả, chỉ mới được Phan Lạc Phúc khen mà thôi .
Tôi đã gặp, trước đó, ký giả Lô-Răng Phan Lạc Phúc tại toà soạn nhật báo quân đội Tiền Tuyến toạ lạc tại tổng hành dinh cục Tâm Lý Chiến vào năm 1971. Lúc đó Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Lê Tất Điều cùng làm việc ở đây . Khác với Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, Hoài Điệp Tử, Nguyễn Khắc Nhân ..chỉ mặc thường phục đến sở, Lô-Răng mặc quân phục rất đẹp. Vóc dáng ông cao lớn, vai rộng, mặt mày phương phi.

Khi Lô-Răng cộng tác với nhật báo Tiền Tuyến, Vũ Khắc Hoan, Mai Thảo cùng Nguyễn Đình Toàn đến viếng ông luôn. Họ "binh" xập xám ngay tại toà soạn; họ nhậu nhẹt cả giờ này sang giờ khác ở câu lạc bộ. Vậy mà ngòi viết của ông một khi đặt lên trang giấy là chạy thoăn thoắt như ngựa phi, từng ý tưởng sâu sắc như gió táp mưa sa trải lên trang giấy. Có một lần ông viết về kỷ niệm hương hoa bưởi đăng trên tạp chí Vấn Đề do Vũ Khắc Hoan chủ trương, bài viết thật giản dị và vô cùng truyền cảm.
Ký giả Lô-Răng là người có nếp sống sung túc nhất trong hàng ngũ ký giả. Ông có năm căn phố lầu khang trang đẹp đẽ và làm chủ một tiệm vàng đồ sộ ở chợ An Đông. Nhóm cái bang văn nghệ của Vũ Khắc Hoan gồm Vũ Khắc Hoan, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Hoài Bắc, Phan Lạc Phúc, Thanh Nam. Họ nhậu nhẹt thường trực ở phòng trà Đêm Màu Hồng, ở Givral, ở La Pagode.
Lô-Răng đã có lần nhận xét về bút pháp của các nhà văn nữ thời danh như sau: Túy Hồng thông minh, Nhã Ca tha thiết, Nguyễn thị Hoàng làm dáng, Trùng Dương sống sượng, Nguyễn thị Thụy Vũ ngang ngược.
Từ năm 1971, Phan Lạc Phúc được chọn làm trưởng ban giám khảo giải điện ảnh trong giải văn học nghệ thuật toàn quốc. Trong thời gian làm truởng khối chíến tranh chính trị taị Quân Đoàn 3 (Biên Hoà) trừ những đêm ứng chiến, chiều nào ông cũng về Sài Gòn. Sáng ông chỉ uống một ly cà phê sữa điểm tâm. Trưa, một ly cà phê đen, không ăn trưa . Lúc đầu tôi nghĩ ông ta ăn theo một cái régime nào đó, nhưng sau tôi mới vỡ lẽ: ông kén ăn chỉ thích ăn những món do vợ con nấu nướng.
Làm việc ở Quân Đoàn 3, Lô Răng tỏ vẻ không thoải mái. Ông cạy cục để được về Sài Gòn . Thanh Tâm Tuyền lúc đó đang dạy trường Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt cũng đang vận động để về thủ đô. Sau cùng, vào cuối năm 1974, cả hai được thuyên chuyển về Bộ Quốc Phòng để trông coi nguyệt san quốc phòng.
Sau ngày 30.4.75, tôi tá hoả tam tinh thấy ký giả Lô-Răng còn kẹt lại. Ông mất hết phong độ, vẻ mặt dớn dác, lo lắng. Tôi hỏi thăm về các nhà văn trong nhóm Sáng Tạo, ông cho biết:"Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ có đủ phương tiện để qua Guam. Tôi cũng thế. Nhưng đi để làm gì? Mình đã sinh ra trên đất nước này thì mình cũng chỉ muốn chết trên đất nước này". Tôi nghe mà bùi ngùi cảm khái. Nhưng rồi có tin đồn rằng ông là chủ tiệm vàng, không dám ôm vàng xuống tàu qua Guam vì sợ lúc hỗn quân hỗn quan, kẻ bất lương sẽ "khoắng" hết vàng của ông .
Giờ đây ký giả Lô-Răng Phan Lạc Phúc nằm nhà chờ con cái bên Úc bảo lãnh. Xin cầu chúc ông may mắn.
Năm 1960 tôi đọc tạp chí Bách Khoa , theo dõi say mê cuộc phỏng vấn các văn nghệ cầm bút do Nguiễn Ngu Í thực hiện. Và qua một bức thư gửi cho anh qua toà soạn Bách Khoa , cuộc quen biết bắt đầu .
Anh Ngu Í không chỉ là ký giả mà còn là nhà thơ, nhà văn. Anh có tham vọng đơn giản hoá và cải tiến chữ quốc ngữ. Thay vì dùng chữ 'y', anh dùng chữ 'i': kỉ niệm thay cho kỷ niệm. Trong chữ 'qu', anh bỏ chữ 'u' : qê hương thay cho quê hương, qan trọng thay cho quan trọng. Trong chữ 'ngh' anh bỏ chữ 'h' chỉ giữ chữ 'ng' : ngi lễ thay cho nghi lễ ...Cái ước vọng đó anh chỉ có thể thực hiện khi viết thư cho bạn bè, còn khi viết văn viết báo anh bắt buộc phải viết như mọi người. Mãi đến khi viết cuốn Quê Hương anh móoi dám dùng chữ Qê hương để làm tựa.
Nguiễn Ngu Í có nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu mà anh ưa xài nhất là Ngê Bá lí . Nghe nói Nghê là họ mẹ của anh. Bút hiệu Trần Hồng Hừng của anh ít phổ thông hơn . Có một dạo anh sáng tác chung nhiều bài thơ với Yã Hạc Nguyễn văn Trung, k1y tên là Trinh Nguiên. Tên Yã Hạc (Dã Hạc) đã cầu kỳ, tên Trinh Nguiên (Trinh Nguyên) cũng lập dị không kém, nhưng thơ của cặp Yã Hạc Trinh Nguiên thì hay lắm, không kém thơ của Đoàn Thêm và Bùi Khánh Đản.
Nguiễn Ngu Í tên thật là Nguyễn Hữu Ngư, sinh tại Hàm Tân (Bình Tuy), con một ông đồ ái quốc lỡ vận. Là cựu học sinh Trương Vĩnh Ký, anh là bạn thân của nhà nhạc học Trần văn Khê, nhà văn Bình Nguyên Lộc, học giả Hồ Hữu Tường. Với bạn bè, anh ăn ở rất chí tình . Anh đã đem ông Trần văn Khê, bà Mộng Trung (người bạn đồng hành của ông Khê) vào Bách Khoa qua loạt bài Nhạc Việt trên xứ người. Nhà văn nữ Vân Trang, Minh Đức Hoài Trinh đều do anh giới thiệu với Bách Khoa khi cả hai chưa có chút tên tuổi nào trên văn đàn.
Phu nhân nhà nhạc học Trần văn Khê là bà Nguyễn thị Sương vốn là giáo sư Pháp văn dạy Kiệt Tấn và tôi trong thời gian chúng tôi theo học trường Cao Tiểu Vĩnh Long (1949-1953). Năm 1964, tôi có dịp đến thăm bà ở đường Trần Quang Khải, bà cho biết:"Trong các bạn bè của thầy (chỉ ông Trần văn Khê), cô chỉ thấy anh Ngu Í là có lòng. Anh ấy lo lắng cho thầy nhiều, gửi sách báo qua cho thầy đầy đủ"
Anh Ngu Í cũng đã hết lời khuyên lơn ông bà Bình Nguyên Lộc nên bằng lòng để bác sĩ Tô Dương Hiệp (trưởng nam ông Lộc) cưới cô gái mà bác sĩ thương dù nhiều noi giàu sang địa vị nỏ ý muốn kết sui gia với nhà văn này. Bởi đó, ông bà Hiệp rất cảm mến anh Ngu Í. Mỗi năm, vào lúc tiết trời viêm nhiệt, khi anh Ngu Í nổi cơn thì chính bác sĩ Hiệp tận tâm săn sóc cho tới khi anh hồi phục.
Nguiễn Ngu Í đã cho xuất bản Khi người chết có mặt (1962, truyện dài), Sống và viết với ...(1966, ký sự văn nghệ sĩ học giả), Hồ Thơm Nguyễn Huệ Quang Trung (1967, biên khảo), Qê hương (1969- hồi ký); và một tập truyện ngắn viết chung với vợ, chị Thoại Dung, tựa là Suối bùn reo
Chị Thoại Dung thấp người, không đẹp nhưng có học, dạy trường Aurore, chiều chồng và tế nhị. Nhưng anh Ngu Í thì yêu lung tung những nhưng đàn bà làm văn nghệ. Mối đam mê oan nghiệt nhất là tình yêu của anh đối với nhà văn nữ Nguyễn thị Hoàng. Sự đeo đuổi dai nhách của anh là chị Hoàng bực bội, phải bẳn gắt , đôi khi nói nặng mà anh vẫn đắm đuối yêu. Có dạo chị Hoàng lên Đà Lạt, anh làm bài thơ:
Mừng em giờ đã lên non
Mừng em giờ quyết bồng con đứng chờ
Thời gian cứ lướt hững hờ
Mừng em sắp đến bến bờ bể dâu
Sương ôm nắng ấp ai cầu
Mối sầu dằng dặc dễ hầu phôi pha
Trăng hờn, nước giỡn, gió ca
Thấu chăng lòng đá, lòng ta, mấy lòng?

Lại có một thời gian ngắn anh si mê Thụy Vũ qua hình ảnh, thư từ. Nhưng khi gặp mặt Thụy Vũ, anh dội ngược. Lúc đó Thụy Vũ bịnh hoạn, ốm yếu, gió thổi bay. Anh có lại nhà rủ Thụy Vũ viết truyện. Thụy Vũ từ chối:"Em bỏ nghề cô giáo làng lên Sài Gòn kiếm sống. Chưa tìm được chỗ làm vững chãi , em còn tâm trí đâu mà viết văn ? Nay mai em phải vô nhà thương để mổ hốc mũi nữa!"
Thụy Vũ bị đau mũi kinh niên, phải chịu mổ xương hốc mũi để vét nạo mủ dơ và vết nám trên xương. Cứ mỗi lần chịu giải phẩu , chị tôi phải nằm nhà thương cả tháng.
Kỳ Thụy Vũ nằm nhà thương lần thứ nhì, anh Ngu Í cũng bắt đầu nổi cơn điên. Một sáng, anh chạy xồng xộc đến nhà cô Phương Đài kiếm tôi, hổn hển:"Thụy Vũ nằm nhà thương nào? Phòng số mấy? Anh muốn đi thăm nó!"
Tới nhà thương, anh Ngu Í đâm hoảng. Thụy Vũ tóc tai xụ xọp như con ma đội mồ, mặt chè bè như cây quạt mở rộng, sưng chần dần như một tảng bánh đúc . Tuy đang lên cơn điên, nhưng vừa thấy Thụy Vũ lồm cồm ngồi dậy, anh sợ điếng hồn, vội tháo lui ra cửa, miệng hét:"Anh chúc em chóng bình phục!" Thụy Vũ ngơ ngác bước ra khỏi phòng. Anh Ngu Í hoảng hốt, hồn bất phụ thể, chạy vắt giò lên xuống cầu thang mất biệt.
Sau nầy, khi tập truyện ngắn đầu tay Mèo Đen Thụy Vũ trình làng, một buổi sáng oi bức, chúng tôi nghe tiếng mô-by-lết nổ tành tạch trước nhà. Ngó qua cửa sổ, tôi thấy anh Ngu Í mặt mày tươi tỉnh, tóc chải cẩn thận, áo quần thẳng nếp. Biết là anh chưa tới cơn, tôi mở cửa mời anh vào. Thụy Vũ vừa thức giấc, đang nấu nưóc, mời anh vào. Thụy Vũ vừa thức giấc, đang nấu nước. Chị hỏi anh ăn sáng chưa, anh trả lời đã ăn rồi nhưng giọng yếu xìu. Thụy Vũ đem khăn nhúng nước ấm mời anh lau mặt rồi sai tôi đi mua hủ tiếu và bánh bao, xíu mại, còn chị thì pha ba ly cà phê phin. Vừa ăn sáng, anh vừa kể cho chúng tôi nếp sống của các văn nghệ sĩ mà vì vừa chân ướt chân ráo vào làng văn nên chị em tôi chưa biết nhiều. Anh kể:"Trong những người đàn bà cầm bút tuổi từ 20 đến 40 hiện giờ chẳng có ai đẹp ngoài Nguyễn thị Vinh, Trùng Dương và bà Vân Trang, nhưng cũng chẳng ai xấu cả. Như Túy Hồng tươi mát, Hoàng Hương Trang ngăm đen mà có duyên. Thụy Vũ đỡ gầy nên coi mướt hơn." Anh cố tránh không nhắc đến Nguyễn thị Hoàng.
Nguiễn Ngu Í là ngườ bất mãn kinh niên về đủ thứ: sự nghiệp, thời cuộc, lý tưởng, tình ái v.v..Anh dã làm những câu thơ trác tuyệt tặng hai đứa con khi cảm hoài ý nguyện không thành của thân phụ:
Chí ông, ba đã cúi đầu.
Mơ ba, con có ngẩng đầu không con?
Anh thích làm thơ. Thơ của anh rất truyền cảm. Trong tập Có những bài thơ của anh có một bài anh tặng Thụy Vũ khi nhìn tấm ảnh chụp hơi nghiêng của chị:

Ai thương giùm tôi cô giáo nhỏ
Khi phấn son chưa đày đoạ mặt nghiêng nghiêng.
Nếu Nguyễn thị Hoàng cảm thấy bị xúc phạm khi biết Ngu Í yêu mình thì Thụy Vũ chỉ cười hăng hắc khi đọc những vần thơ âu yếm của anh. Chị bảo:"Kệ ảnh, ảnh muốn mơ hình tưởng bóng, xây mộng dệt mơ gì đó thì cứ mặc sức. Tao có sứt mẻ, chết chóc gì đó mà sợ?"

Từ khi biết Tô Thùy Yên và Thụy Vũ kết nhau, anh Ngu Í thôi không đến thăm chúng tôi nữa. Anh chỉ ghẹo Thụy Vũ lúc trao đổi thư từ, chứ lúc gặp gỡ, anh tỏ ra đứng đắn lắm.
Năm 1977, khi định cư ở Paris, tôi được tin anh Ngu Í từ trần. Anh chết vì nghèo đói, thiếu thuốc men. Thật tình, tôi cảm thấy mừng cho anh. Dưới chế độ cộng sản, đối với anh , đa thọ chỉ đa nhục, đa gian truân. Song, gìở chồng Bách Khoa đọc lại bài của anh, tôi bỗng thương xót anh vô hạn. Anh đã gặp lắm cảnh lỡ làng khi dấn thân vào cuộc đời nghệ sĩ. Tôi như thấy lại khuôn mặt hơi thỏn, hàm răng hơi vẩu, đôi mắt lờ đờ mệt mỏi và nhất là hàm râu không cạo kỹ lởm chởm, le the quanh miệng anh. Còn cái vóc mình gầy gò khô héo của anh nữa chi! Ấy vậy mà anh siêng năng đi hết nhà văn nghệ sĩ này đến tư gia học giả khác để phỏng vấn, thăm viếng. Phải có một đam mê nào đó với văn nghệ, phải có sự tha thiết mến thương nào đó với văn giới, anh mới có thể hoạt động hăng say như vậy ..Năm 1964, tôi đến thăm anh gặp lúc anh đang cúng đầy tháng cho đứa con thứ hai. Đứa thứ nhất là con nuôi. Mãi gần 50 tuổi, tòc đã hoa râm, chị Thoại Dung mói sanh được một qúi tử. Chị Thoại Dung chậm sanh nở cũng là một mối lo lắng cho anh và anh rên siết về sự muộn màng của vợ. Nhưng khi có con rồi, anh cũng vẫn mỗi năm nổi cơn điên một lần. Cơn điên càng lúc càng dài làm anh chỉ còn da bọc xương. Anh chết đi, tôi thấy nhẹ nhỏm cho anh hơn. Anh đã để lại một sự nghiệp văn nghệ, tuy không rỡ ràng nhưng cũng đủ cho con cháu tự hào. Song cuộc đời anh bi thảm quá, sự nghiệp văn nghệ nào đủ để bù sớt được cho anh ?
Lê Phương Chi tên thật là Lê Thanh Cảnh, còn có tên là Lê Thanh Thái, cộng tác với tạp chí Bách Khoa từ năm 1960 cho đến ngày chung cuộc đau buồn của miền Nam.
Trong toà soạn Bách Khoa, kể về ban điều hành và biên tập viên thì bốn người xinh trai nhất là : Lê Ngộ Châu, Lê Tất Điều, Lê Phương Chi và Vũ Hạnh. Nhưng Lê Ngộ Châu bột quá, Lê Tất Điều gầy qúa, Vũ Hạnh thiếu đậm đà và cặp mày thưa quá. Chỉ có Lê Phương Chi là khôi vĩ, mặn mà nhất với màu da bánh mật hồng hào.
Anh không phải là người khoa bảng nhưng anh đọc sách nhiều. Mỗi khi phỏng vấn một tác giả nào, anh đọc gần như toàn bộ tác phẩm của người đó rồi nghiền ngẫm các tình tiết cũng như phân tích sở trường sở đoản của tác giả khiến những bài phỏng vấn của anh đang trên Tin Sách rất tươi tắn, linh hoạt, duyên dáng.
Nhiều người thường bảo Lê Phương Chi điếm đàng, riêng tôi chỉ thấy anh là một ký giả có tài, có lương tâm tuy đôi lúc hơi tự tôn về vẻ điển trai của mình cũng như có khá nhiều mặc cảm tự ti về việc thiếu thốn bằng cấp.
Về chuyện ve vãn gái, anh có biệt tài bao nhiêu thì trong hôn nhân anh gặp nhiều cay đắng bấy nhiêu. Vợ anh sau khi sanh cặp gái song sinh là Lê Chi Phương và Lê Phương Chi, bỏ đi lấy Mỹ rồi theo chồng về Mỹ, đem theo cô bé Chi Phương, để lại cô bé Phương Chi cho anh. Nhưng tai hoạ lại giáng xuống năm 1973, cô bé Phương Chi qua đời làm anh già sụp xuống, tóc bạc đi nhiều.
Tôi quen anh Lê Phương Chi vào năm 1966, lúc đang học Dược khoa. Ngày ấy sau khi đọc xong cuốn Thở Dài của Túy Hồng, tôi cảm thấy thích nên viết bài Những nhà văn nữ miền Nam Việt Nam gửi cho tập san Tin Sách . Đâu chừng hai tuần sau, một người đàn ông trạc tuổi 40, da ngăm đen, cao lớn, ăn mặc lịch sự, cỡi vespa đến tìm tôi. Ông ta tự giới thiệu là Lê Phương Chi, tổng thư ký tập san Tin Sách . Lê Phương Chi bảo: "Cụ Vi Huyền Đắc, cố vấn văn bút và ông Vũ Hoàng Chương, chủ tịch văn bút kiêm chủ nhiệm Tin Sách , có đọc bài viết của An, thích lắm, nên họ ngỏ ý bảo tôi đến mời An cộng tác với Tin Sách"
Thật ra Tin Sách chỉ là một bulletin khổ 20x15 dùng để giới thiệu sinh hoạt của các văn thi sĩ, giới thiệu sách xuất bản trong tháng và điểm sách. Lê Phương Chi vừa là tổng thư ký toà soạn, vừa kiêm việc trình bày, sửa bản vỗ. Tờ Tin Sách đẹp, bìa màu nhạt, ruột mỏng, nhưng cách sắp xếp bài vở gọn gàng. Tờ Tin Sách đình bản vào cuối năm 1966 vì ngân quỹ văn bút không đủ.
Khi cuốn Mèo Đêm của Thụy Vũ trình làng thì bà Nguyễn thị Nhiên, chủ nhân một cái kiosque bán sách ở đường Lê Lợi đến thăm, ngỏ ý muốn tái bản cuốn đó. Và tuy có tiền nhưng chưa thạo nghề xuất bản nên rủ chị tôi cùng hùn hạp. Suốt đêm, hai chị em tôi cứ bàn bạc tới lui, xuôi ngược. Sáng hôm sau, chị tôi đi vay bạc bà hàng xóm và bán một số nữ trang. Cò tôi và nghệ sĩ diễn ngâm Đoàn Yên Linh lên cư xá Lữ Gia kiếm Lê Phương Chi . Tôi muốn nhờ anh giữ phần trình bày sách và giao thiệp với văn nghệ sĩ để mua tác quyền.
Chúng tôi đến trước một nếp nhà khang trang xinh xăn , tường quét vôi trứng sáo, cổng gỗ màu thiên thanh, trước cửa là hai chậu sứ Thái Lan men thúy lục bóng ngời đơm hoa đỏ chói, một cây dừa lửa lùn tịt trong sân lá dài cứng cáp điểm những trái dừa nâu hồng như màu da anh ký giả họ Lê.
Hôm đó anh không có nhà, tôi đành để lại vài chữ cho cô em anh rồi từ giã ra về.
Hai hôm sau, Lê Phương Chi ra quán sách gặp bà Nhiên và Thụy Vũ để bàn việc thành lập nhà xuất bản Kim Anh.
Lê Phương Chi và Thụy Vũ vừa gặp nhau là đã trúng một cú sét rùng rợn. Chi vừa bị vợ bỏ. Thụy Vũ là gái lỡ làng. Dạo đó chị mập mạp, tươi mát. Họ trông đẹp đôi lắm. Không nói, nhưng má tôi và tôi cứ hy vọng cả hai sẽ làm đám cưới càng sớm càng hay, càng mau càng tốt.
Sau khi thoả thuận, cả ba đồng ý tung ra đợt đầu các cuốn Ba miền mười khuôn mặt gồm truyện ngắn của mười tác giả, Vòng tay học trò của Nguyễn thị Hoàng.
Đáng lẽ Lê Phương Chi và Thụy Vũ phải lấy nhau. Họ đang ở trong giai đoạn "tình trong như đã mặt ngoài còn e" . Nhưng chưa gì hết mà Lê Phương Chi đã tuyên bố là Thụy Vũ mê man đắm đuối anh. Anh đi khoe tùm lum, đụng ai khoe nấy, bạ đâu khoe đó. Anh diễn dịch cái "tình trong như đã" thành chuyện phiêu lưu tình ái lâm ly rùng rợn, thật bất lợi cho Thụy Vũ. Đã vậy anh lại còn ra vẻ ta đây hào hoa, được nhiều gái mê nên xun xoe mời một cô bạn gái của tôi đi khiêu vũ. Đêm anh đưa cô bạn đi vũ trường là Thụy Vũ ở nhà khóc ròng.
Tuần sau, Thụy Vũ đi dự bữa tiệc đính hôn của cặp Thanh Nam - Túy Hồng. Trong bữa tiệc này, chị tôi gặp Tô Thùy Yên. Tan tiệc, Yên đưa Thụy Vũ về. Sáng hôm sau anh trở lại rủ hai chị em tôi đi ăn món Huế.
Một tuần sau đó, Thụy Vũ mời bà Nhiên và Lê Phương Chi đi ăn. Trong bữa ăn , chị rót bia cho anh Chi, đặt chiếc phong bì lên bàn:
- Cám ơn anh đã giúp tôi nhiều về việc trình bày sách. Nhưng tôi không dám làm rộn anh thêm nữa. Xin anh nhận món tiền này gọi là công trình bày quyển Ba miền mười khuôn mặt và Vòng tay học trò .
Chị nở một nụ cười nhợt nhạc và lạnh ngắt bảo bà Nhiên:
- Tô Thùy Yên rủ tôi lập nhà xuất bản đó chị Nhiên.
Lê Phương Chi tái mặt. Anh đã hiểu, vì suốt tuần qua, Tô Thùy Yên và Thụy Vũ đeo dính nhau một bước không rời. Tôi cũng buồn lắm, nhưng đó là chuyện của Thụy Vũ. Má tôi rất có cảm tình với Lê Phương Chi, tội nghiệp cho anh vì khôn quá hoá dại! Anh muốn 'chài' Thụy Vũ nhưng lại gây tổn thương tự ái của chị quá nặng nề.
Anh cũng có viết một bộ truyện phiêu lưu tựa là Đào mã Tần Thủy Hoàng , ký tên Thái Tâm Canh.
Sau ngày 30 tháng 4, vào mùa mưa 1976, tôi gặp lại Lê Phương Chi trong khoá bồi dưỡng Chính trị. Anh thân ái hỏi thăm gia đình tôi và Tô Thùy Yên. Mới cách có bảy năm mà coi anh già sụm, duy cái nhìn ấm áp, nụ cười tươi tắn là trẻ mãi không già.
Vào một dịp bất chợt nào đó, hình ảnh quá khứ bỗng nhiên sống dậy, lọt vào cơn chiêm bao của tôi. Tôi như thấy lại khung cảnh phòng trà Đêm Màu Hồng, nơi có cái bàn đặc biệt dành cho Mai Thảo và nhóm cái ban. Trong nhóm đó, ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc phi mỹ nhất, khôi ngô nhất. Vầng trán ông cao, sáng và bóng lên dưới ánh đèn mờ ảo.
Tôi cũng đã thấy lại căn nhà hẹp té của anh Nguiễn Ngu Í ở gần chợ Vườn Chuối. Trên căn gác lửng mờ tối, cạnh bàn thờ thần tài thắp sáng bởi ngọn đèn trứng vịt bóng đỏ là bàn viết của anh, trên đó giấy má, tập vở xếp gọn gàng có con ốc biển vân nâu vàng dằn lên. Giá sách của anh rất ngăn nắp. Tủ sách bày nhiều cuốn bìa da, chữ mạ vàng. Nhưng bên hình ảnh đó, tôi cũng thấy lại dưới ánh nắng chói chang , anh Ngu Í quần áo xốc xếch, tóc tai bù xù, mặt mũi dớn dác cỡi mô-by-lết vượt đèn đỏ, chạy đến tôi nói không ngừng nghỉ, tròng mắt đỏ như tôm luộc, bọt bèo đóng trắng hai bên mép.
Tôi cũng thấy lại khu cư xá Lữ Gia êm đềm tĩnh mịch. Trên những lối đi viền cây đại hoa trắng, cây bằng lăng hoa tím, người bán kem đầy xe mì, thỉnh thoảng dừng lại, gõ hai thanh trẻ vào nhau lắc cắc. Và trong căn phòng khách mát rượi quét vôi màu kem sáng sủa, anh Lê Phương Chi đang mở băng cassette đã thu cuộc phỏng vấn, chăm chú nghe rồi ghi ghi xoá xoá..
Trời ơi, mới đó mà đã 15 năm. Mười lăm năm miền Nam lọt vào tay cộng sản, mười ba năm tôi sống đời ly hương. Viết bài này , tôi coi như một nén tâm hương đốt lên để tỏ lòng mến mộ các văn nghệ sĩ, trong đó có những kẻ nếu không đi vào cõi hư vô thì cũng đã chìm vào dĩ vãng hoặc còn mắc kẹt giữa vũng lầy cộng sản mà trước kia , do một cơ duyên nào đó, họ đã đến, đã dạy tôi nhiều điều bổ ích trong bút nghiệp.

_______________

Trường hợp Nguyễn Thị Thụy Vũ

Du Tử Lê

Năm 1963, trên tạp chí Bách Khoa, xuất bản tại Saigòn, bắt đầu xuất hiện một số truyện ngắn của một cây bút nữ lạ huơ lạ hoắc. Sự huơ, hoắc này không chỉ mang ý nghĩa một tên tuổi mới, mà, nó còn huơ hoắc ở cả phương diện nội dung nữa. Đó là những truyện ngắn ký tên Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện trên văn đàn miền Nam khi Nhã Ca đã có một chỗ đứng riêng biệt vững vàng cả về thơ lẫn truyện; khi Túy Hồng đã định hình lấy cho mình bằng một lối văn chanh ớt, rất địa phương, rất Huế; khi Trùng Dương được nhìn ngắm như kẻ đang cầm ngọn cờ đầu trong nỗ lực đuổi theo phong trào văn chương hiện sinh; và, khi Nguyễn Thị Hoàng vừa chính ngọ với tác phẩm "Vòng Tay Học Trò," như một táo tợn bất ngờ hiếm thấy của với văn chương Việt Nam ở thời kỳ còn quá nhiều rào cản.
Tuy xuất hiện có phần muộn màng so với những cây bút nữ vừa kể, nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng đã có lấy cho mình một tư thế, một móng vuốt riêng.
Tư thế xuất hiện mang tên Nguyễn Thị Thụy Vũ kia, là sự trần trụi của những chuyện kể mang nhiều tính tự sự về phần đời khuất lấp của cô. Đó là mặt thật của một người phụ nữ làm nghề dậy Anh văn cho những cô gái bán “bar,” cho những vũ nữ, những cô me mới tỉnh lẻ. Đó là thời điểm những người lính Mỹ ngơ ngáo, hùng hục xuất hiện trên phần đất miền Nam Việt Nam. Những truyện ngắn có cốt truyện, lớp lang đâu ra đấy, đã hấp dẫn số đông, lớp độc giả chỉ thích đọc những truyện có có cốt chuyện và câu truyện đáp ứng được tính tò mò.
Móng vuốt mang tên Nguyễn Thị Thụy Vũ kia, là những mô tả thật thà, mộc mạc với những suy nghĩ và đối thoại rất đường phố, rất gần gụi với bản năng cùng dục tính.
Không kể Nhã Ca và Túy Hồng, có một hướng đi khác; trước Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương và Nguyễn Thị Hoàng cũng khai thác thể tài tình dục, hoặc ẩn ức tâm sinh lý như cốt lõi hình thành tác phẩm. Nhưng trước một Trùng Dương còn cố tình mặc khoác cho tình dục chiếc áo ngủ triết lý và trí thức, trước một Nguyễn Thị Hoàng còn nỗ lực son phấn, chồng chéo nhiều mẫu mã thời trang diêm dúa cho tình dục thì, Nguyễn Thị Thụy Vũ lại giữ nguyên trạng, giữ nguyên cái trần trụi, cái thô tháp rất bản năng, rất con người của tình dục. Sự trần trụi, thô tháp này, khiến không ít những người nhân danh đạo đức, nhân danh truyền thống, một thời, đã phải nhăn mặt, lên án... Và, đấy cũng là mặt thành công của hành trình vào văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ vậy.
Tên thật là Nguyễn Băng Lĩnh, Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh năm 1939 tại Vĩnh Long. Cô làm nghề gõ đầu trẻ tại tỉnh lỵ này cho tới năm 1961 thì dời lên Saigòn.
Về truyện ngắn Lòng Trần mà, chúng tôi sẽ trích đoạn để mời quý thính giả thưởng thức sau đây, theo lời kể của chính tác giả thì, nó có tới 80 phần trăm sự thật. Thụy Vũ nói:
“Đó là cuộc đời của cô Năm Thàng, một nghệ sĩ hát bội, bà con xa với bà nội tôi. Cô được một ông phú hộ bỏ ra phân nửa số ruộng đất của ông để chuộc cô ra khỏi gánh hát, đem về làm vợ. Sau khi chồng chết, cô Năm Thàng ở vậy, thủ tiết nuôi lũ con. Mỗi khi đến ngày giỗ chồng, cô Năm Thàng mặc trang phục hát bội, giắt lông trĩ trên đầu, và cầm gươm múa trước bàn thờ của chồng, biểu diễn những vai đào võ mà, trước kia ông phú hộ đã say mê qua tài diễn xuất của cô. Còn ni cô Diệu Tâm cũng là người bà con xa của bà nội tôi. Ni cô chay lạt nâu sòng từ hồi còn nhỏ, nhưng đến khi chết, lại đòi uống một muỗng nước mắn... Nhưng trong chuyện này, tôi cho cô Năm Thàng và Ni cô Diệu Tâm là một nhân vật. Cô Năm Thàng là mẫu người quá khứ của ni cô Diệu Tâm, để cho người đọc thấy rõ là ni cô Diệu Tâm luôn mến tiếc thời vàng son của mình.”
Lòng Trần là một truyện ngắn lạc dòng, nó như một kẻ lạ mặt trong ngôi nhà truyện ngắn nhung nhúc những nhân vật lúc nào cũng rằn rật đòi hỏi gay gắt tình dục một cách tự nhiên, đơn giản như nhu cầu cần có một con khô, một miếng cóc đưa cay trong những tiệc rượu xắn quần và phanh bụng ì xèo vậy.

________________


Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và những cánh thiêu thân

Tạ Tỵ

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, nhà văn phái nữ, hiện diện giữa khung trời văn nghệ với một sắc thái đặc thù. Những ý nghĩ bỏng cháy và giãy giụa về thân xác trong mỗi tác phẩm, đôi khi vượt quá ý nghĩ của nhiều người. Thuỵ Vũ mới ngoài ba mươi tuổi đời, tuổi nghề vừa lên 6 (1971), nhưng tự tạo cho riêng mình một thế đứng, một cương vị trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Người ta đã hỏi nhau, bàn tán, phê bình về bút pháp cũng như nội dung mỗi truyện của Thuỵ Vũ, vì nó không nằm trong khuôn nếp thông thường của một nữ nhi, nó đã bay ra ngoài quỹ đạo dự tưởng.
Người ta còn băn khoăn, thắc mắc về mỗi tình tiết, mỗi dữ kiện được nhà văn tỏ bày trong văn chương. Từ băn khoăn đến thắc mắc, rồi nghi ngờ về thực trạng của mỗi vấn đề, mà Thuỵ Vũ đã đặt ra trước xã hội, về khả năng hiểu biết cuộc sống, một cuộc sống chả lấy gì làm hãnh tiến, và sự góp mặt của những chứng tích đó, có nên dành vinh dự cho nhà văn nữ giới?
Cùng đi chung đường với các nhà văn trẻ hôm nay, Thuỵ Vũ mở đầu văn nghiệp bằng những truyện ngắn đăng rải rác trong các tạp chí văn nghệ. Sự đóng góp của Thuỵ Vũ trong khu vườn văn chương đã gây ngay sự chú ý, nhờ vào một bút pháp mạnh mẽ xuyên qua từng dòng chữ bỏng cháy với suy nghĩ về tình dục, về xã hội trong nét sống đặc biệt của các cô gái thuộc giới snack bar thành phố.
Mấy chục năm trước, khi Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ, vẽ lại nếp sống của lớp người du thủ du thực, ăn cắp, ăn trộm tại các bến tàu, các ngôi chợ. Cách thức sinh hoạt của hạng người đó, với những ngôn từ chuyên môn (nói nôm na là tiếng lóng) do họ sáng chế để dùng riêng với nhau, được Nguyên Hồng viết ra thực chính xác, sống động. Sở dĩ Nguyên Hồng có thể đào sâu vấn đề để tác động đến tâm thức người đọc, một phần nhờ vào hoàn cảnh có thực. Nguyên Hồng thuở niên thiếu, mồ côi cha, sống với mẹ tại một xóm lao động ở Hải Phòng, nơi tập trung khá đủ các hạng người cặn bã của xã hội. Dù muốn dù không, cái nề nếp sinh hoạt đó cũng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của Nguyên Hồng, nên những sự việc được nói đến, chẳng những trong cuốn Bỉ vỏ mà còn ở những truyện ngắn khác, đều phản ánh một cách minh triết về trạng thái xã hội lúc ấy dưới sự cai trị của thực dân Pháp.
Đọc Bỉ vỏ, người ta cảm thấy như được xem một màn trình diễn trong hí viện vừa vĩ đại vừa nhơ nhớp, vừa đáng thương vừa đáng ghét. Ở đấy, mọi lừa lọc, gian manh và tủi cực, được tỏ bày như một hiển nhiên. Người đọc bị hút vào cơn lốc, xoay tròn từng vòng quay thê thảm, tượng trưng cho một dòng sống không thuộc vào dòng sống chung của xã hội. Nó có đấy, nhưng không được thừa nhận. Nguyên Hồng viết nó, nhưng ở ngoài nó cũng như trường hợp Vũ Trọng Phụng viết Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy TâyLàm đĩ v.v… Ai cũng biết Vũ Trọng Phụng không biết đánh bạc chứ đừng nói đến bạc bịp, nhưng khi đọc Cạm bẫy người với những lối bịp cao tay trong trò chơi đổ bác, người đọc nghĩ rằng, nếu tác giả không phải tay sành sỏi về môn này, chắc khó mà viết được chính xác, linh động như vậy. Sự thực, nhà văn chỉ giữ vai trò ghi chép và nghệ thuật hoá nó qua lời kể của ông chú, một tay đổ bác khét tiếng của Hà Nội ngày xưa. Cũng như trong Kỹ nghệ lấy Tây, Vũ Trọng Phụng đã điều nghiên qua kẻ khác.
Trái lại, có nhà văn muốn những điều mình viết ra, nó phải được chứng minh qua sự thật, nghĩa là, mình phải sống qua cái môi trường đó một cách thực tình với sự trả giá của bản thân như Marie Choisy, nữ ký giả Pháp, đã lăn lóc trong các hộp đêm của Paris và ngoại ô, đóng vai gái điếm, để hiểu cái thực chất của nghề nghiệp mãi dâm. Trường hợp Marie Choisy là ngoại lệ.
Ở xã hội Việt Nam, không thể nào có một Marie Choisy, tuy rằng trong địa hạt văn chương phóng sự, không thiếu gì các nhà văn khai thác về khía cạnh truỵ lạc, sa đoạ nhưng họ đều thuộc nam giới. Sự xuất hiện của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ như một kỳ lạ, giữa khung trời nghệ thuật miền Nam Việt Nam. Thuỵ Vũ viết truyện ngắn với nhiều thể tài, mỗi thể tài đều hàm chứa sự cuồng nhiệt của tuổi trẻ trong vấn đề tình yêu, cũng như nỗi nhức mỏi về thân phận, thân phận người con gái với những ước mơ táo ạo về dục tình.
Thuỵ Vũ hãy còn trẻ lắm, nên những sự việc đề cập tới dù ở khía cạnh nào, dù ở trạng huống nào, cũng chỉ để tỏ bày, để nói ra những gì mình nghĩ, một cách ngay tình không dùng những ẩn dụ nào che đậy, hay có ý khuyến dụ ai, chìm khuất phía sau những dòng chữ. Bởi vậy, văn của Thuỵ Vũ thiếu chiều sâu ý thức. Người đọc Thuỵ Vũ, có thể nhất thời, bị lôi cuốn vào guồng máy, nhưng sau khi đọc đến dòng cuối, bắt gặp cái khoảng trắng mênh mông, người đọc không còn phải thắc mắc, hay suy nghĩ về trường hợp vừa được nói đến. Đó là cái bản chất văn chương của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và nhà văn, chắc cũng chẳng mấy bận tâm về điều đó.
Colette, nữ văn hào Pháp. Người đã từng viết nhiều về cuộc đời luân lạc, gian truân của mình. Vốn bẩm sinh phóng túng lại lận đận cảnh chồng con, nhưng trời phú cho một năng khiếu về văn chương, với cái nhìn thật tinh tế và sâu sắc, nên những truyện do bà viết đều được hoan nghênh nhiệt liệt. Bỏ chồng, đi hành nghề vũ công, dưới tên Renée, Colette sống cô đơn và cực nhọc trong những năm tự lực mưu sinh. Bà đã viết về khoảng đời mấy năm làm vũ công, với những vui buồn của đời sống, tình yêu và nghề nghiệp trong cuốn La Vagabonde (Kẻ lang thang). Viết, đối với Colette là cái nghiệp, nên bà đã say sưa bày tỏ quan điểm trong phạm trù văn chương, bằng những đoạn văn bất hủ.
… Viết! Chuẩn bị để viết! Có nghĩa là trải dài mơ mộng trước trang giấy trắng, với những dòng nguệch ngoạc vô ý thức, những trò chơi của ngòi bút quay vòng tròn quanh vết mực, nó nghiến nát những chữ bất toàn, nó gượng ép, nó lởm chởm như những mũi tên nhỏ, nó giăng mắc như những sợi dây trời, như những vụn vặt, cho tới lúc mặt chữ mất đi, biến thành loài côn trùng cánh bướm tiên…
… Viết! Là trút xuống với đắm đuối tất cả thành thực của lòng mình trên mặt giấy cám dỗ, thật nhanh, nhanh đến nỗi bàn tay đôi khi cưỡng lại, tỏ ra ghê tởm, mệt mỏi vì đã được hướng dẫn bởi một vị thần linh không kiên tâm… và rồi lại tìm thấy, ngày hôm sau, ở nơi nhánh cây vàng diệp, sự hiển hiện một cách linh diệu trong một giờ rực rỡ, một cành gai khô, một đoá hoa rơi…
Viết! Nguồn vui và đau khổ vô dụng! Viết!... Tôi cảm thấy tốt đẹp, từ phía xa tắp, cái nhu cầu khẩn thiết như cơn khát giữa mùa hạ, phải ghi chép, phải vẽ ra… Tôi viết tức là bắt đầu trò chơi nhào lộn và giả trá, để chụp bắt cầm giữ, dưới ngòi bút uyển chuyển, cái hào nhoáng, cái phù du và cái mê cảm của hình dung từ… Nhưng đó chỉ là cơn biến động ngắn, là sự ngứa ngáy của một vết sẹo…
(La Vagabonde, trang 15-16)
Viết đối với Colette chẳng những là cái nghiệp còn do ám ảnh, nỗi vò xé của suy tư, cùng sự quyến rũ đến thôi thúc trong mỗi dòng, mỗi chữ dù vui, dù buồn do tình ái hay cuộc đời tác động vào tâm thức. Nguyễn Thị Thuỵ Vũ cũng trải hồn mình trên trang giấy và vẽ vào đó những nét mạnh bạo, đôi khi phũ phàng để bắt người đọc phải cùng chung vui buồn với mình trong một khoảng thời gian ngắn, dài nào đó. Chuyện bốn cô gái ở trọ nhà chị Tám, một goá phụ, đã nói lên những cảnh huống dị biệt ở tâm tư mỗi người con gái lứa tuổi khác nhau. Vì còn trẻ, nên Thuỵ Vũ cũng không quên đùa nghịch qua văn chương, mỗi khi có dịp, như chuyện rình kẻ trộm trong Đợi chuyến đi xa. Đàn bà con gái bắt trộm ai tin được, nhưng đó chỉ là cái cớ để các cô có dịp thoả mãn sự tò mò trong vấn đề tìm hiểu thân xác đàn ông.

… Thình lình cây đèn bấm từ hướng chị Tám bật lên tiếp theo là tiếng the thé của chị.
“Kìa nó đó.”
Chúng tôi đứng phắt đậy, chạy dồn lại chỗ chị Tám. Chúng tôi chụm đầu nhau về phía thang gác nhà bên cạnh. Nhà tắm đặt sát trên mái bếp của nhà láng giềng hiện ra một khoảng sáng, rộng. Một người đàn ông đang tắm… Chị Tám bàng hoàng kinh ngạc đến độ quên tắt đèn bấm. Mọi người ngơ ngác chưa kịp cười thì thằng Bình (con út chị Tám) la lên:
“Tưởng gì! Té ra thầy Năm.”
Lúc thầy Năm quấn xong cái thân mình loáng ướt, chị Tám mới chịu tắt đèn. Thầy Năm chửi thề, rồi la:
“Người ta tắm, làm gì rình rập như vậy?”
Chị Tám bỏ nước nhỏ:
“Xin lỗi thầy Năm nghe. Tụi tôi tưởng trộm rình nhà. Ai dè mà…”
Chị Tám vừa đi vừa càu nhàu:
“Ăn ở như vậy mà coi sao được chớ? Vậy mà còn chửi thề nữa.”
Chúng tôi bây giờ mới cười rộ. Chị Tám cũng cười theo nhưng trên nét mặt chị còn vẻ sượng sần lẫn hờn dỗi…
(Mèo đêm, “Đợi chuyến đi xa”, trang 35-36)

Tập Mèo đêm gồm 7 truyện ngắn. Mỗi truyện ít nhiều cũng để tỏ bày về thân phận người con gái trước tình yêu và cuộc sống với băn khoăn, rạo rực. Tuy không bất mãn hoặc chán đời, nhưng cuộc đời cô đơn quá, với những ước mơ cứ chồng chất theo số tuổi mà tương lai thì vẫn mịt mù! Đứng hoài trong tư thế chờ đợi đâu được, người con gái cần yêu vẫn phải yêu, dù yêu trong đau đớn, nhục nhằn. Yêu mà không hy vọng nắm được hạnh phúc trong tay, nhưng thà có một người tình để an ủi, vỗ về còn hơn sự trống vắng của tâm hồn.
… Anh Duy, bây giờ chỉ còn một mình anh có can đảm bắt tình với em thôi! Em chỉ còn một mối tình không say mê hào hứng nữa. Nhưng mất nó, em không hiểu mình sẽ bám vào cái gì để tiêu nốt quãng đời trống rỗng còn lại…
(Mèo đêm, “Đợi chuyến đi xa”, trang 45)
Thật tội nghiệp! Làm kiếp con gái, trời bắt xấu, thân thể khô khan, mỏng lét, da mặt tươi mát giả tạo qua lớp phấn kem, không có bộ phận nào hấp dẫn con trai cả, nên tự mình phải chấp nhận một hoàn cảnh gượng gạo, không tin ở mình, chỉ còn tin vào một may mắn nào đó, do định mệnh run rủi.

Từ những tình cảm đơn phương của cá nhân, Thuỵ Vũ đi vào vùng đất cấm của xã hội, với cái nhìn soi mói qua cảm xúc, tạo nên rung động trong mỗi truyện ngắn viết về đời sống của những cô gái bán bar. Hoàn cảnh đất nước trong những năm gần đây, đã xô đẩy một số người vào vực thẳm sa đoạ. Người con gái nào đó, đang sống yên lành, tử tế, bỗng nhiên vì hoàn cảnh trở thành gái điếm, hoặc gái bán bar. Một người vợ hiền, một người mẹ gương mẫu chỉ một sớm một chiều đi vào con đường đó, không không tìm ra lối thoát nào khác, để cứu vãn sự sống của mình bằng cách làm ăn lương thiện. Vấn đề gái điếm, không phải do sự có mặt của quân đội Mỹ tại miền Nam.
Nó là vấn đề cũ, nhưng cung cách sinh hoạt và tổ chức theo danh xưng mới snack bar. Danh từ kép này, ngoài nghĩa chính là quán giải khát có bán đồ ăn nhẹ, nhưng ở đây nó còn bao hàm nghĩa bóng: nhà chứa trá hình. Nó là nơi mồi chài, mở đầu cho việc trả giá nhục dục sẽ thực hiện ở địa điểm khác. Cái thế giới dâm loạn đó, được nhà văn diễn tả với nhận xét tỉ mỉ, với kỹ thuật hành văn vô cùng phác thực, đau xót trộn lẫn đam mê, tủi nhục, đôi khi kiêu căng lố bịch và cái thú tính được trình bày như biểu tượng của thời đại.
Người đọc văn Thuỵ Vũ bị hút sâu vào một thế giới lạ lùng, ở đấy, chỉ đoán biết theo trí năng chứ không thể nhận định theo suy luận. Nhiều đoạn, nhiều ý, nhà văn đã kinh qua cái nữ tính của mình, làm sửng sốt, bàng hoàng tâm cảm. Câu chuyện học Anh văn của mụ gái điếm đã gần tàn xuân sắc mang tên Mi-sen (Michèle) với những nét đặc biệt về vóc dáng và cung cách ăn nói, đều được Thuỵ Vũ viết với suy nghĩ sinh động. Mi-sen từ thuở nhỏ không biết chữ, kể cả chữ Việt, nay vì nhu cầu giao dịch với ngoại kiều, bắt buộc nàng phải học. Cái tên Michèle do người khác đặt cho, nàng cũng không biết viết ra sao, mỗi lần lên Quận làm giấy tờ, thay vì ký, Mi-sen đánh dấu thập. Nhưng Mi-sen dưới mắt nhà văn, nàng cũng có những nét riêng,
… Mi-sen không hẳn đẹp. Gương mặt nàng có những nét vụng về ghép vào những nét tuyệt xinh. Răng nàng hơi hô, mà cặp môi dày ít khi che kín. Đó là dấu hiệu của con người cởi mở và nồng nàn…
… Hôm nay như thường lệ, tôi đến dạy Mi-sen vào những buổi trưa nắng gắt. Vào giờ này cánh cửa sắt trước nhà đã được chị Tư mở sẵn. Tôi cứ việc ung dung dẫn xe đạp vào tự tay đóng cửa lại, không phải gọi chuông inh ỏi nữa. Đi ngang qua phòng khách tôi rẽ tấm màn quẹo qua buồng ngủ Mi-sen, rồi gõ nhẹ cửa.
“Cô giáo đó hả, vô đi.”
Tôi đẩy cửa bước vào, rồi bất chợt dừng lại. Mi-sen cười ngặt ngoẹo:
“Vào đi cưng. Chờ chị làm massage một chút nghen.”
Tôi tìm chiếc ghế ngồi cạnh giường, Mi-sen pha trò:
“Cô giáo hôm nay bắt gặp học trò trần truồng như nhộng. Chỗ đàn bà với nhau cả phải không cô.”
… Bây giờ tôi được dịp quan sát Mi-sen kỹ hơn. Nàng nằm trên một chiếc khăn lông hồng, trải tấm nệm mút, phủ “ra” trắng. Bà làm massage quỳ hai gối xuống nệm, hai bàn tay thoăn thoắt trên các bắp thịt mông và lưng nàng. Mồ hôi rịn ướt trên đôi tay gân guốc của bà. Mắt Mi-sen lim dim, dáng điệu nàng như con mèo sưởi nắng một cách khoan khoái. Lúc nào nhìn người đàn bà khoả thân tôi cũng có một cảm giác lạnh lẽo và tê tái như nhìn một bức tranh tĩnh vật với màu sắc hết sức ảm đạm. Riêng đối với Mi-sen, tôi nghĩ rằng tấm thân nõn nà, với làn da mịn màng đó, có cái gì mong manh. Tuổi già đã gần kề nàng. Chẳng bao lâu nữa, những bắp thịt thon đẹp kia sẽ nở bung ra, bụng sẽ nhão nhoẹt. Nghĩ tới giai đoạn đó, tôi cảm thấy buồn hơn là ganh tị…
(Mèo đêm, “Đợi chuyến đi xa”, trang 88-89)

Giọng văn của Thuỵ Vũ gọn. Viết như nói chuyện rất hồn nhiên, dù viết về một thực trạng không kém mỉa mai, chua chát! Mi-sen biết mình sắp về già nên muốn kéo dài nhan sắc bằng mọi cách, tuy lúc nào cũng tự khoe có hàng chục ông “Giôn-sơn” say đắm thân xác mình. Nhưng nàng đã quên rằng, trên cõi đời, không thiếu những bông hoa tươi thắm hơn, và muốn ăn khách sộp, nàng vẫn phải nhờ vào môi mép của lũ ma cô dẫn mối. Lời đối thoại giữa tên ma cô và Mi-sen về chuyện này, được ghi nhận như từng câu nguyền rủa vào mặt xã hội, một xã hội còn cố níu lại lấy hai ông thầy Khổng Mạnh làm cứu cánh cho nền đạo đức cuối mùa. Ở đây, họ không cần thứ đó, họ có đạo đức riêng. Họ không vụ danh từ mà căn cứ vào thực tế, nên họ có tụt quần áo trước mặt đàn ông, làm ái tình như máy và bóc lột khách làng chơi bằng mọi mánh khoé tàn nhẫn cũng là chuyện thường vì nó nằm trong quy luật giang hồ. Cũng như việc đời đâu có êm trôi theo ý muốn, nên Mi-sen đã bị tên Phrăng (Frank) đánh trọng thương vì nó đã nhìn thấu cái dã tâm của nàng. Nằm bệnh, mặt mũi sưng vù, nhưng lạ thay, chẳng bao giờ Mi-sen coi đó là bài học tủi hổ, nàng vẫn phác hoạ đời mình ngày mai với đắm đuối,
… Khi mạnh, tôi nuôi da thịt cho thật mịn, tôi mua son rồi mở tạp chí thời trang sắc đẹp ra để tô môi. Tôi may áo đầm cho thật chiến, tôi…
Bóng tối đã ôm choàng thành phố ngoài khung cửa…
(Mèo đêm, “Đợi chuyến đi xa”, trang 107)

Thuỵ Vũ không chỉ nhìn vào cuộc sống đó với khía cạnh xấu, đôi lúc nhà văn đi vào những uẩn khúc của từng tâm trạng, thứ tâm trạng thiếu hụt ở mỗi nhân vật được viết ra. Tuy bề ngoài họ vẫn vui nhộn theo ánh đèn đêm, họ vẫn làm đẹp thân xác để quyến rũ khách ngoại kiều, họ có những ngón nhà nghề để móc túi đàn ông, họ vẫn tạo ra đam mê cho riêng mình nhưng, tự đáy sâu suy nghĩ, sau những đêm dài vật vã với đồng tiền và dục vọng, sau những hờn ghen, đố kỵ, đích thực, họ vẫn muốn giữ lại cho mình một cái gì, để gọi là an ủi. Cái đó là nỗi ước vọng mù khơi của một tâm hồn đã quá ê chề giữa vũng lầy truỵ lạc. Trong khi tìm mọi cách để thu hút khách hàng, bằng đùi, mông, ngực, và dùng cả bùa ngải nữa để mê hoặc nếu cảm thấy thua sút chị em, khi khách không ham sờ đùi, vỗ vế cho uống như xưa. Nhưng cái đó cũng chỉ là tạm bợ, vấn đề chính, làm sao giải quyết được cuộc đời, lúc thân phận đã trở thành đồ phế thải sau bao đêm dài mê mải truy hoan!...
Tác phẩm Lao vào lửa gồm 3 truyện. Cả 3 truyện đều viết về một vấn đề. Mỗi truyện mở ra một hoạt cảnh dị biệt về những thân phận đàn bà đang quay cuồng, giẫy giụa trong mê cung không lối thoát. Từng cô gái lao vào lửa dục vọng như những cánh thiêu thân lao vào ánh đèn. Chẳng cần bâng khuâng và hối tiếc trong kích thước cuộc sống này. Câu chuyện phá thai, làm tình, rồi phá, lại làm tình quá thường, nên phút nào có nghĩ tới, cũng chỉ là truyền cho nhau những kinh nghiệm với mục đích bảo vệ nghề nghiệp. Nhưng tiếp thị, không phải lúc nào, giờ nào các cô gái làng chơi cũng có thể vui vẻ, múa hát với đồng tiền, thứ tiền kiếm được bằng sự khó nhọc của thân xác. Có những giờ phút trống rỗng, từ đâu chẳng biết, từng ý tưởng tối đen bay lởn vởn với ám ảnh về số phận trong ngày mai, khi đường cong và duyên dáng không còn hấp dẫn được khách. Có người lo xa muốn kiếm ít vốn để dành tiêu xài mai hậu, như trường hợp Tâm với chiếc giường mới của nàng. Tâm đã phá thai hai lần, cảm thấy thân xác bắt đầu mệt mỏi sau bao đêm thức khuya, sau những cơn hành lạc. Nàng hốt hoảng khi nhìn thấy dung nhan mình trong gương. Tuổi già chập chờn ẩn hiện xung quanh. Muốn đạt được ý muốn, nàng cần được sự hỗ trợ của thần linh, của một phép màu nào đấy để khỏi thua sút chị em. Tâm đã lặn lội lên suối Lồ Ồ để nhờ ông thầy bói Trọng Ích đoán quẻ, xem số mạng và tiền tài. Ông này, tuy không có ngải như ông thầy bùa Tân Châu, nuôi rắn hổ để trắc nghiệm số phần của khách hàng. Sau cho rắn bò quanh người, ông thầy Tân Châu làm phép vô ngải bằng cách xức tóc và cho thêm một gói củ ngải mang về nhà trồng, để yểm trợ công cuộc mần ăn được kết quả mỹ mãn. Ngải rất linh, người vô ngải bắt buộc phải kiêng cữ một vài thứ, nếu làm trái sẽ phát điên lập tức.
Ông thầy bói Trọng Ích khuyên Tâm đóng chiếc giường ngủ theo ngày đã định trong quẻ, phải kê giường theo hướng bắc. Với cái giường mới, dù nàng có xấu như Chung Vô Diệm đi nữa, đàn ông cũng tìm đến nườm nượp. Tâm đã thực hành đúng lời thầy bói và buổi tối hôm kê giường xong, quẻ đã linh ứng, một tên Mỹ khờ khạo đã mời nàng uống thả giàn. Tối đó nàng thu nhiều tích kê, nhưng Tâm chưa muốn đưa tên này về nhà ngủ vào chiếc giường mới, vì nó bị nàng lột rách như xơ mướp rồi. Nó lại khoẻ như voi, với thân xác ấy, nếu hành lạc nàng chắc chịu hết nổi! Vì tin tưởng vào ma lực của chiếc giường. Tâm bắt đầu kiêu hãnh, để đánh bạt mặc cảm bị đào thải. Nhưng thực ra, tự đáy lòng, nàng vẫn cảm thấy như có gì vướng mắc,

… Nàng rùng minh khi tưởng tới mình sẽ nằm trong vũng tối quên lãng trong khi nàng chỉ mới bốn mươi. Ở cái tuổi này, nàng cảm thấy lòng mình lai láng những ước vọng. Dĩ nhiên là sự tấn công cuối cùng của xác thịt không mấy rõ rệt vì nàng đã thường tiếp xúc với những cơ thể xa lạ của kẻ khác phái… Nhưng cớ sao nàng vẫn còn thèm khát cái thân thể của anh chàng nào đó, có thể nhen nhúm một ngọn lửa trong tâm hồn mù mịt của nàng và sự rung động trên từng thớ thịt của nàng. Người đàn ông đó như một hình bóng chuyện hoang mà nàng như người đui, quờ quạng đi tìm một thứ trái cây đầy cám dỗ vượt xa tầm với của mình…
(Lao vào lửa, “Chiếc giường”, trang 25)
Người gái giang hồ bốn mươi tuổi, đã nhìn thấy một phần kết quả cuộc đời, đã lọc lõi trong nghệ thuật làm tình mà nay trong hồn vẫn cảm thấy thiếu vắng, vẫn cần đến vỗ về, an ủi trong những giờ phút trống rỗng mà tiền bạc không thể khoả lấp được. Phải chăng là ảo ảnh, một thoáng gợn của lương tri mỗi con người khi biết mình sắp mất hết?
Nỗi ám ảnh bất ngờ đó cũng không ở lâu, chiều mai, khi ánh điện vừa thắp sáng thành phố, Tâm thành khẩn lên nhang đèn khấn vái thần linh xin khai trương chiếc giường mới. Buổi tối đó, nàng vui tươi bả lả và dạy dỗ “đàn em” các ngón nhà nghề,
… Em lựa lúc nào mà nó ngà ngà say, hay lúc cơ thể của nó nổi loạn vì sự đụng chạm của em. Chừng ấy em mặc sức mà ăn gian. Đừng có thiệt thà quá thua sút người ta, em cưng ơi!
(Lao vào lửa,Chiếc giường”, trang 27)
Sau giờ làm, nàng dẫn một tên Mỹ về nhà. Chiếc giường mới linh thật, dù bị đánh thức tới hai bận, nhưng trên mặt giường, một xấp đô la nằm ngổn ngang làm Tâm bàng hoàng run rẩy đếm. Mắt nàng sáng lên với nụ cười, trong lúc thân xác mệt mỏi vì qua hai lần hành hạ.
Công việc làm ăn của Tâm cứ thăng tiến mỗi đêm, nàng đã có nhiều tiền. Một tối, nàng đang mơ chiếm huy chương vàng cuối năm về thành tích ăn khách nhất bar thì Minh bạn nghề, bảo nàng cho thuê giường vì có bồ mới từ Bến Cát về. Sau một hồi văng tục, chiếc giường ngã giá một ngàn. Tuy không đưa khách về nhà, nhưng đêm ấy Tâm kiếm được hơn trăm miếng “bông” cộng với một ngàn tiền giường. Tâm ôm gối ngủ thiếp trong khoan khoái.
Nguồn vui chưa được bao lâu, mới sáng, đứa tớ gái mét cho Tâm biết, qua đêm Minh thấy tháng mà vẫn đi Mỹ, chiếc giường đã bị Minh vẽ sơn thuỷ và tấm “ra” với những nét đỏ lòm. Cũng từ đêm đó, chiếc giường hình như mất linh thật. Tâm vắng khách dần, nàng oán giận, gây gổ với Minh nhưng sau, biết mình nhầm vì ế khách là tình trạng chung do phong trào linh Mỹ chống Sài Gòn-Tea.
Cuộc sống của các cô gái bán bar khi lên voi, khi xuống chó tuỳ theo may rủi và cũng tuỳ theo kỹ thuật non già của mỗi người, nhưng nó là một nghề tương đối dễ kiếm tiền, nếu không dư giả, cũng chẳng đến nổi túng thiếu. Cái nghề duy nhất không cần vốn, ngoài cái “vốn” trời cho. Trường hợp các cô gái thơ ngây vì hoàn cảnh gia đình phải vào chốn này cũng không hiếm. Mỗi cái bar như chiếc vực thẳm, người con gái nào nhìn vào, đều chóng mặt rồi bị nó hút xuống như bỡn. Miếng cơm kiếm bằng công việc lương thiện càng lúc càng khó khăn, dần dà dìm mỗi số phận vào nghiệt ngã, cơ hồ muốn buông trôi tất cả. Từ một cô gái nhà lành, mang cái tên rất hiền, rất ngoan, chẳng mấy chốc đã khoác cái tên khác nửa Tây, nửa Mỹ không ăn nhập vào nguồn gốc của mình. Nào Agnès, nào Juliette, nào Tina, nào Michèle v.v… Những cái tên vô nghĩa ấy, mỗi đêm gọi nhau loạn xạ trong một kích thước hôn mê với âm hưởng điên cuồng, qua hơi rượu và mùi da thịt ướp đẫm phấn son. Ở đây, bài học vỡ lòng cho kẻ mới vào nghề cũng vô cùng cứng rắn do luật lệ giang hồ riêng biệt. Cô học trò nhỏ với chiếc áo dài màu thiên thanh còn thơm mùi long não của tuổi nữ sinh, trình diện một cách quê mùa trong một khung cảnh toàn mini-jupe với những lời nói chớt nhả, tục tằn lcùng những bàn tay lông lá khua động vào da thịt đàn bà xen tiếng cười dâm dật. Sự đụng chạm lần đầu với cái không khí ấy, làm choáng váng mặt mày, làm kinh sợ một tâm hồn hãy còn trong trắng,
Chị Năm!”
Tiếng kêu của tôi gần như lời cầu cứu. Mí mắt tôi nóng và ẩm ướt. Kinh sợ làm cổ họng tôi khô. Tôi muốn trốn ánh đèn và quầy rượu.
Chị Năm chạy lại tôi, hỏi dồn:
“Gì vậy Tina?”
Tina? Đầu óc tôi cuốn tròn trong sự ngỡ ngàng tủi nhục. Tôi khóc:
“Gã làm ẩu em.”
Chị Năm cười sằng sặc rồi kề tai tôi:
"Tina à! Em đừng sợ gã. Nếu em tránh gã sẽ có người khác đến với em. Biết đâu kẻ đó còn hung hăng hơn gã gấp trăm lần. Chiều gã một chút đi. Có mất mát gì đâu."
Giọng chị Năm như khuyên lơn:
"Em đừng mắc cỡ. Vô đây là vậy đó. Chỉ trừ em ra khỏi nơi đây thì chẳng ai dám đụng tới lông chưn em. Có kẻ nào lại quăng tiền ra cho mình mà họ không có sơ múi gì."
Chị vuốt ve một nhánh tóc tôi, rồi ngọt ngào mơn trớn:
"Em đã thấy chị uống giỏi nhất trong bar này ít ra chị cũng bầm dập. Ngoài ra chị còn có cái bí quyết đặc biệt nữa…"
Chị dừng lại như sợ người ngồi cạnh tôi nghe. Chị kề miệng vào tai tôi nói rất khẽ:
"Em phải biết cách điểm huyệt họ, làm cho sự khoái cảm của họ sôi lên thì mới mong trút bóp họ…"
(Lao vào lửa, trang 60-61)
Cô gái mới vào nghề nghĩ rằng minh bị xúi bậy nên cương quyết không thực hành lời khuyên vì thế, đêm này qua đêm khác nàng vẫn đói rách trong vai thu ngân viên, lương tháng ba ngàn. Nhưng rồi cái gì đến sẽ đến, chiếc áo màu thiên thanh được vĩnh viễn quăng vào xó tủ và bộ đùi trắng xanh lộ ra với chiếc mông tròn bó chặt trong chiếc jupe, hai cánh tay nõn nà để hở đến nách, đã biến cô nữ sinh thành kẻ khác. Tina, cái tên mới bắt đầu nhập cuộc.
Một tên Mỹ “ngọt” đã mê Tina, mỗi đêm hắn trở lại với bó hồng đỏ thắm trên tay và những ly nước trà thay rượu được gọi tơi bời. Gã đàn ông lông lá đó yêu Tina thực, nên đã không tiếc tiền, mua tặng nàng cả nhẫn kim cương. Được khách chiều đã là nỗi vui cho riêng mình nhưng cũng làm bạn bè ghen tức qua lời nói cạnh khoé:
"Gái trinh mới có giá như vậy chớ. Còn tụi tui tan hoang như ống cống thì chỉ có cách kiếm tiền mua hột xoàn giả!..."
Lời nói có độc nhưng không sai. Nó là luật chơi. Thời gian qua đi mau chóng và những đêm nối tiếp nhau trong cái không khí khốn nạn này, làm sao tránh được cái kết quả tất nhiên cho mỗi số phận đang quay cuồng giữa vực, ngay cả chị Năm nữa, người đã cho Tina bài học vỡ lòng cũng đang bị cuộc đời tặng những cú tát nảy lửa. Cái không khí vui nhộn giả tạo nơi đây được thay bằng màn bi kịch ngắn giữa chị Năm (có tên Jane) với một tên Mỹ. Tên Mỹ thuộc thành phần chống Sài Gòn-Tea, nên nó đến để trả thù. Nó nói với chị Năm rằng, tối nay chị muốn uống bao nhiêu cũng được với điều kiện mỗi lần uống, chị Năm phải nghe nó nói một câu thôi. Câu đó là câu gì, chị Năm chưa biết, nhưng trước mớ tích kê lớn lao, chị khinh bạc và bằng lòng.
Tên Mỹ gọi bồi đem ly whisky và ly trà thứ nhất. Nó tợp một hơi cạn ly rượu rồi đưa ly trà cho chị Năm, gằn giọng:
"Uống nước đái tao đi Jane!"
Chị Năm lạnh lùng uống ly trà nước đái Mỹ rồi dằn mạnh ly thách thức:
"Nữa đi Bob, tao chờ câu thậm tệ hơn của mày."
Thằng Bob lại gọi bồi đưa ly rượu và nước trà.
"Uống nước đường mương và nước ống cống đi Jane."
Chị Năm lại hùng hục uống. Rồi ly nước thứ ba, thứ tư và tiếp tục với những lời thô bỉ nhất do tên lính Mỹ nghĩ ra, cho đến ly thứ một trăm.
Cuối cùng tên Bob chịu thua gan lì của chị Năm. Bây giờ đến lượt chị Năm kêu hai ly whisky “sec” chị ta đưa gã một ly, chị uống một ly, đột nhiên chị nhổ ngụm nước miếng từ miệng chị bay thẳng tới mặt gã, rồi chị ném ly vỡ tan tành với lời chửi: "Đồ man rợ!" Chị đưa hai tay cấu vào mặt gã, Bob chụp lấy cổ chị Năm xiết mạnh. Cuối cùng, hắn vẫn phải móc bóp trả tiền bước mạnh ra khỏi quán. Câu: "đồ man rợ", chị Năm chửi tên Bob, văn minh quá, sự thực, ở trường hợp này, người đàn bà Việt Nam có ngôn ngữ riêng, rất nôm na nhưng vô cùng thực tế. Có lẽ, vì kính trọng độc giả nên Thuỵ Vũ không viết thành văn.
Cứ như thế, như thế, đồng tiền và dục vọng thắt dần con người vào một vị trí nhất định, muốn thoát cũng không được. Tina đã trở thành gái bán bar lành nghề và đêm nào cũng đi khách, nàng chỉ ngủ được vào khoảng hai giờ sáng và giấc ngủ thường bị gián đoạn. Đôi khi mệt, cứ ngủ thức chập chờn mặc khách hành sự, xong lúc nào cũng chẳng hạy! Tụi đàn ông Mỹ làm ái tình rừng rú lắm, Tina đã quá quen thuộc đến nỗi mất cả cảm xúc và trở thành nhà nghề lúc nào cũng không biết.

Kỹ thuật hành văn của Thuỵ Vũ đôi khi tàn nhẫn, nhưng dữ kiện được đặt ra bao giờ cũng minh triết. Người đọc cảm thấy như đang chứng kiến cái khung cảnh kỳ quái đó ở phía trước, và nhà văn đang đóng vai đạo diễn mà giấu mặt đâu đây, miệng tủm tỉm cười, nụ cười tinh nghịch và thông minh. Những trạng huống khốn khó mà con người phải gánh chịu ở trần gian này không phải tự nó hình thành mà có hoàn cảnh hỗ trợ. Nếu không gặp lan, không gặp Agnès, nếu không có chị Năm thì cô nữ sinh ấy làm sao trở thành một Tina, trở thành một vấn đề cho xã hội?
Từ cái khung cảnh hỉ, nộ, ai, lạc của Sài Gòn-Tea, Thuỵ Vũ đi vào khung cảnh khác, ở đấy, không còn hoa bướm, không còn ánh đèn mờ ảo, không còn tích kê, không còn những bàn tay lông lá lượn tròn trên da thịt, không còn đam mê, chỉ còn lại cái cười ngượng ngập, lời nói lạnh lùng và nỗi đau đớn chảy từ trong tâm não thoát ra ngoài. Những cái tên Lina, Jackie, Nga, Bích v.v… gắn liền với những con số in đậm nét trong sổ bộ của nhà thương Bạc Hà.
Từng khuôn mặt chai sạn trình bày đến trơ trẽn vì quá quen thuộc. Bị lính kiểm tục giữ, sau khi “lên bàn”, nếu không bệnh, được tha, nếu có, phải nằm lại. Có người ra vào nhiều lần đến nỗi tưởng như nơi đây là nhà thứ hai của mình. Họ thông thuộc lề lối làm việc cũng như tổ chức của bệnh viện. Những lời nói sỗ sàng, chớt nhả được ném vào mặt nhau bừa bãi để giải buồn. Người ta không tìm thấy một chút e dè ngượng ngập trong cách thức sinh hoạt giữ vòng đai bệnh viện, từ vài khuôn mặt mới,
… Lina tay khoanh trước ngực, lơ đãng nhìn đăm đăm về phía trước. Bỗng chị vỗ vào vai tôi – Nếu ngày mai lên bàn mà tao bị “kẹt”, mày ra được, nhớ lại nuôi tao nghe hôn? Tiếng “lên bàn” như tiếng pháo chuột làm ê ẩm đầu óc tôi. Tôi hỏi chị: – "Trường hợp nào mình bị giữ lại?" – "Máu xấu! Có nhiễm trùng".
(Lao vào lửa, "Đêm nổi lửa", trang 99)
Những người con gái bị đưa vào đây đều khổ sở về chuyện mất tự do nhiều hơn chuyện khác. Họ đã quen sống cuộc đời phóng túng của lũ ngựa hoang với những bất ngờ mỗi ngày, mỗi tối, nay họ phải cúi đầu phục tùng kỷ luật, thứ kỷ luật đúng giờ, đúng giấc qua tiếng chuông làm họ phát điên. Nhất là những buổi chiều, họ nhớ đến không khí đam mê dành riêng cho họ với thân xác khoẻ mạnh của những người đàn ông xa lạ, những ly rượu và bao nhiêu lôi cuốn khác. Tuy cuộc sống thực của họ không có gì đáng khích lệ, nhưng họ muốn thế, ông trời đã bắt họ phải như thế, và họ chỉ lo sợ ngày nào họ không được phép núp giữa bóng tối của một con ngõ nào đó chờ khách, hoặc ở căn phòng có giường nệm mút, ôm chặt một thân xác lông lá mà ngủ vùi sau nhiều lần hành lạc,
… Bước tường vôi trắng và những chiếc giường sắt trùng điệp như bủa kín lấy tôi. Đây là thế giới đạo đức có trách nhiệm hoán cải tôi. Ý nghĩ đó làm tôi chán ghét vu vơ. Lina đã vắt mùng rồi, chị ngồi bó lấy gối đối diện tôi và Nga. Chị chép miệng: – "Hôm nay có bốn đứa mình lên bàn. Còn mấy bà nội kia chỉ chờ thả hay được thỉnh về Bình Khang an nghỉ để học nữ công, nữ hạnh." Jackie bỏ chân xuống xề qua ngồi cạnh Lina. Nàng mỉm cười nhìn chúng tôi: - "Bích! Mày mới nhào vô đây lần đầu, còn tụi tao thì năm hồi mười hiệp rồi, khó mong tránh khỏi bà chúa ngục Bình Khang hú lắm!"
(Lao vào lửa, "Đêm nổi lửa", trang 107)
Những ý nghĩ của họ được phản ánh qua lời nói. Họ chấp nhận nó như chấp nhận những giọt thuốc độc nhẹ, sẽ làm họ chết mỏi mòn trong hoan lạc, còn hơn được tiếng lương thiện với những bó buộc làm mất cái thú sống ở đời.
Nhưng, xã hội không cho phép họ được gây ung độc làm xấu xa toàn thể những kẻ vô can, nên họ phải gánh chịu những phiền luỵ cuộc đời, với lính kiểm tục, với không khí chán nản của bệnh viện, với dụng cụ y khoa sáng loáng, với dao kéo và ống chích, với chiếc bàn cao lênh khênh, với nét mặt lạnh băng của những người bác sĩ hoặc cô y tá, với tiếng chuông mỗi sáng, mỗi trưa, mỗi chiều. Nhưng cũng may, họ không hoàn toàn cô đơn, các bạn đồng nghiệp chưa “bị” vẫn thăm nom, an ủi họ và cho họ biết tin tức bên ngoài. Để tránh cảnh giam hãm mà sức họ không chịu nổi quá lâu, họ tính kế thoát ra khỏi nơi này, để tiếp tục chuỗi ngày đam mê nhục thể và để đón mùa xuân sắp tới. Jackie đã cầm đầu vụ đốt bệnh viện vào lúc hai giờ sáng bằng bông gòn tẩm dầu hôi. Bệnh viện náo loạn với tiếng người kêu, với còi hụ của xe chữa lửa. Lợi dụng cơ hội này những người con gái cởi quần áo buộc lại làm thang leo qua tường thoát ra, có cô chỉ còn mặc chiếc si líp.
Hòn đá ném xuống mặt hồ, một bụm nước tung lên rồi tản ra thành những chiếc vòng lớn dần, lớn dần, trong nháy mắt mặt hồ lại êm ả như cũ.
Câu chuyện thật bất ngờ nhưng vô cùng lý thú qua ngòi bút của Thuỵ Vũ. Khi viết truyện này chắc nhà văn nhớ tới câu của Chúa Jésus: Cái gì của César phải trả về César! Và luật lệ, đàn ông xã hội chỉ còn là con đê nhỏ đã bị thẩm lậu qua nhiều mùa nước lũ, chờ dịp bị băng tràn.
Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, một nhà văn phong phú, luôn luôn tìm về cho mình nguồn sáng tạo mới. Nhưng dù ở môi trường nào, Thuỵ Vũ vẫn bắt gặp những băn khoăn, rã rời ngay cả với tình yêu đang ươm hồng tuổi trẻ xuyên qua thân phận mình và quê hương có dòng sông Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long. Những cuộc tình đi qua trong tiểu thuyết hay trong thực tế chỉ mang lại đắng cay,
… Sau vài cuộc tình ái phất phơ, bây giờ tôi mệt mỏi thật sự. Tôi bất chấp dư luận để sống mà rồi vẫn cô đơn. Tìm được kẻ mà mình đắc ý, tính cho chàng ta đắc cử vào giấy hôn thú thì tôi gặp cảnh hụt đõi luôn luôn. Bây giờ tôi bám vào Duy để lấp vào những ngày trống rỗng. Chàng nhạt nhẽo quá. Tôi đã mơ cao để rồi số tuổi càng ngày chồng chất theo nỗi chán chường…
(Chiều mênh mông, "Đêm tối bao la", trang 44)
Thân phận người con gái, nhất là con gái làm văn chương bao giờ cũng đặt ra với mình nhiều nghĩ ngợi, với từng giọt đắng thấm vào tâm hồn làm khô dần ước muốn. Mỗi ngày qua đi, hoàn cảnh vẫn y nguyên trước mặt với ngần ấy rụng rời, ngần ấy băn khoăn làm nhà văn sững sờ, tê tái. Tuổi trẻ có mặc dù là con gái, không phải chỉ quẩn quanh với những chứng tích thuộc về quá khứ mà từng sự vật như nhắc nhở, như gò ép thân phận vào khuôn thức không mấy thích hợp. Tương lai là của ai đó, và sự chờ đợi nào có ích chi khi mình đã đoán biết những gì đang đón ở cuối ngả đường ước vọng! Một người tình không như ý muốn, một nếp sinh hoạt lạnh lẽo và nỗi cô đơn trải rộng trước tầm nhìn. Còn những đêm dài, ôi! Những đêm dài hoang liêu với xúc cảm bơ vơ, với buốt giá tâm hồn, với ray rứt triền miên, vật vã qua làn ánh sáng vàng vọt của tin yêu. Kèm theo đấy, vóc dáng khốn khổ của người đàn bà già luôn luôn sống trong cơn hoảng hốt với ác mộng! Cái thân phận già nua khốn khổ đó qua mấy lần đam mê tình ái chẳng còn lại gì ngoài kỷ niệm xót xa, vì người bạn tình thứ hai, ông Năm Còn đã tặng cho bà một túi vi trùng hoa liễu, làm rụng cả hai hàm răng, nhưng không phải vì thế mà lòng dục của bà tắt đi. Đêm đêm vẫn thường có tiếng la thất thanh,
"Mợ Hai ơi! Con Linh (nhân vật xưng tôi trong truyện) bị mấy thằng sửa cầu hãm hiếp, máu ra đầy quần nè! Mở cửa mau đi!" Tôi nắm vai bà lắc mạnh hét:
"Tôi đây, tôi đây nè!"
Bà Điếc vẫn la thất thanh:
"Ai cứu nó. Trời ơi! Nó là con gái mà" Nhìn đôi tay run rẩy của bà, tôi chợt hiểu. Bây giờ là lúc bà đang sống ở một trạng thái mê loạn, quái đản. Tôi gào lên:
"Tỉnh đậy đi bà! Tôi đâu có đi ra khỏi nhà." Bà Điếc ngẩn người một lúc rồi nhếch cái miệng méo xệch, không còn một chiếc răng giống hệt cái miệng rùa, cười tỉnh cơn mê:
"Vậy hả! Mầy không việc gì sao? Tao thấy…"
(Chiều mênh mông, “Đêm tối bao la , trang 39)
Hai thân phận một già mê loạn, một trẻ khắc khoải cứ phải nhìn nhau, chịu đựng nhau, trong những suy nghĩ khác nhau giữa một khung cảnh buồn nản của ngôi nhà cổ đã có một thời oanh liệt. Những ngôi mộ nằm rải rác, nơi nghỉ chân của những đàn quạ rỉa lông với tiếng kêu chát chúa. Vài líp rau bỏ vắng, những gốc cây cổ thụ, tổ của lũ chồn đèn, chồn mướp đêm đêm rình bắt gà vịt. Và ngôi nhà mái thấp, từng cụm rêu màu xanh mướt, như những dấu vết thời gian in đậm vào cảnh vật và lòng người. Khung sống đó càng lúc càng thê thảm. Bà Điếc cũng qua đời sau nhiều ngày nằm bệnh, thuốc thang. Hai thân phận tách rời để người còn lại phải gắn liền vào số mệnh khắc nghiệt cũng do tình ái khơi nguồn. Người con gái chợt biết mình đã mang thai, rồi phá thai để tránh tiếng. Mặc cảm sát nhân đã cấu xé lương tâm một cô gái từ chối bổn phận làm mẹ! Nhưng cuộc đời phía trước còn cho nhiều mơ mộng, nàng sẽ dùng phương tiện cuối cùng mình có được, như hai lạng vàng và chiếc máy may để cố hàn gắn lại nhan sắc đã suy sụp do vụ phá thai,
… Đời em chưa hẳn tàn nha là cảnh chợ chiều. Em sẽ chắt mót từng đồng để tìm bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ. Em sẽ bơm cái ngực teo trở thành cái ngực vĩ đại, sẽ nhờ ông ta vá lại màng trinh. Để rồi anh xem. Em sẽ lấy chồng sĩ quan Thủ Đức!...
(Chiều mênh mông, “Đêm tối bao la”, trang 67)
Người con gái phải trả giá cuộc đời quá đắt. Tình yêu chỉ mang lại cho nàng cái kết quả bi đát. Những giây phút thần tiên sống bên nhau, cho nhau mặn mà, nồng thắm, du dương thể xác qua rồi, qua nhanh như cơn gió đêm hè mà buồn thương, ân hận thì lãng đãng suốt đời!...
Những nhân vật con gái trong tác phẩm của Thuỵ Vũ không ai gặp may mắn và hạnh phúc. Tất cả hình như đã được an bài trong một bối cảnh ngột ngạt mà mỗi số phận phải chia sẻ một phần tủi nhục. Từ người con gái ngây thơ trinh trắng tới các cô gái làng chơi, sự an bài nào đấy đã chờ sẵn ở cửa ngõ định mệnh. Phá thai, một hình thức sát nhân, nhưng ở vài trường hợp, người ta coi như chuyện thường tình, vì nếu để lại, người mẹ sẽ chết vì ô danh hay túng thiếu, hoặc vì muốn nhẹ nợ chồng con để tự do bay nhảy.
Thuỵ Vũ đã dùng ngòi bút thật uyển chuyển, đưa người đọc vào một khung cảnh, ở đấy, câu chuyện phá thai với các chuyên viên hành nghề bất hợp pháp. Biết rằng, mỗi lần phá, mỗi lần ân hận. Nhưng không phá lấy gì mà sống? Những đường con bay bướm quyến rũ đàn ông sẽ không còn nữa và cuộc truy hoan huyên náo không thể tiếp diễn, rồi những ngày đêm giam mình trong phòng kín chờ lúc “bể bầu” làm họ phát điên. Lẽ đơn giản, họ không thuộc hạng đàn bà nặng tình mẫu tử. Thế giới của họ là quán rượu, là những thân thể đàn ông trần trụi, là ánh đèn mờ ảo, là những mệt mỏi rả rời trong kích thước chiếc giường nệm “mút”. Tuy chuyện phá thai cũng làm họ sợ không ít, nhưng họ lại sợ cuộc đời hơn, nên họ vẫn cúi đầu tuân theo luật sống,
… Tôi dừng lại, ngạc nhiên vì số người có mặt ở đây đông đảo. Mọi người yên lặng, những đôi mắt đợi chờ trộn lẫn lo âu chốc chốc hướng về căn buồng với cánh cửa màu da trời đóng im.
… Tôi quay sang bà bên cạnh gợi chuyện:
“Bà đến đây lần đâu phải không?”
Thiếu phụ phục sức sang trọng với bộ đồ lụa phơn phớt vàng, nàng nhìn tôi mỉm cười:
“Lần thứ ba rồi.”
Tôi không bỏ lỡ cơ hội, phỏng vấn ngay:
“Đau lắm không bà?”
Thiếu phụ lắc đầu mỉm cười trấn an tôi…
… Thành ló mặt ngoắc tôi vào phòng biểu tôi ngồi xuống chiếc giường sắt loang lở nước sơn xanh. Chiếc chiếu mới trải trên mặt giường. Ngọn đèn néon bật sáng. Mụ chủ biểu tôi nằm xuống rồi lôi chiếc bassin để ở dưới gầm giường kẹp miếng bông gòn trong cái pince de crochet lau sơ qua một lượt đoạn đặt dưới mông tôi. Chiếc quần sa-ten đen của tôi tuột dần xuống rồi rút ra khỏi đầu ngón chân cái…
… Mụ lôi chiếc ngăn kéo lấy ra cái mâm nhỏ đựng vài sợi thun đỏ dài bằng chiếc đũa ăn cơm bít đi một đầu.
Mụ vuốt đùi tôi dỗ dành:
“Em đừng lo, qua sẽ làm cho em rất êm, không có chút gì đau đớn hết.”
Mụ ung dung lấy cây sắt trên tường cho vào ống thun.
… Tôi chỉ nghe chiếc đũa sắt đang nô giỡn trong tận cùng sâu kín của thân thể…
(Chiều mênh mông, “Cây độc không trái”, trang 166-168)
Thuỵ Vũ viết tàn bạo một chút ở vấn đề này, nhưng cuối cùng câu chuyện cũng được mở ra một cách thoải mái qua hình ảnh đứa bé mút ngón tay trỏ, trong lịch quảng cáo sữa Guigoz với câu nói: Tao cần giữ một đứa trẻ nào đó để tao coi mình có thích thú làm mẹ hay không? Câu nói hơi chủ quan đấy, chuyện có con đâu phải hễ muốn lúc nào được lúc đó, nhất là đối với các cô gái hành nghề truy hoan!

Viết về sa đoạ của xã hội, đúng ra, đã nhiều cây bút viết trước Thuỵ Vũ, tuy hình thức có khác, nhưng nội dung chỉ là một. Những sự việc, dù được trình bày dưới khía cạnh nào, vẫn có mục đích, đặt trước lương tâm xã hội một vấn đề, còn giải quyết ra sao, không thuộc thẩm quyền nhà văn. Thuỵ Vũ viết, chính đã giải toả cho mình nỗi dằn vặt trong thâm tâm với thân phận đàn bà, với những thiệt thòi minh bạch đã từ lâu bị khoả lấp vào quên lãng, nay được khơi động lại từ dưới đáy vực những chứng tích xác thực, hiển nhiên, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ không hoàn toàn ném mình vào cuộc sống bỏng cháy hoan lạc cả đâu. Thuỵ Vũ đã đốt ngọn đèn tâm tưởng để truy nguyên quá khứ, để giành giữ cho mình những khung trời tuy không trong sáng bao nhiêu, nhưng cũng vừa đủ soi tỏ bản thân với tác phẩm Khung rêu (1969). Kỹ thuật dựng truyện ở Khung rêu , Thuỵ Vũ quay về phương pháp cổ điển, nghĩa là nội dung được dàn trải quanh một cơ cấu (structure) ở đó, Thuỵ Vũ chạm trổ những gì đã được ấn định trong tâm thức.
Khung rêu, tác phẩm dài, trình bày một nếp sống đã qua rồi, trong bối cảnh ngột ngạt của gia đình ông Phủ, tượng trưng cho giai cấp quan liêu, phong kiến đã một thời oanh liệt, sống nghênh ngang trên xương máu lê dân. Để minh định vị trí của mình, tác giả trình bày lý do đã thúc đẩy để hoàn thành tác phẩm đó,
Từ hồi còn nhỏ, tôi đã phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. Nguyên nhân chính của sự suy sụp bệ rạc này thì ai cũng biết: chiến tranh. Một cuộc chiến tranh dằng dai hai mươi lăm năm, khoảng thời gian gần bằng số tuổi tôi.
… Khi khởi công viết quyển truyện này, tôi đặt trước cho mình một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thuở nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải toả nó cho xong.
(Lời nói đầu)
Cái xã hội suy sụp và bệ rạc đó, được Thuỵ Vũ gói ghém trong hơn bốn trăm trang sách với những xâu xé, giằng co, đam mê và tội lỗi đã diễn ra thật sống động trong một gia đình quyền thế ở miền Nam trước và đầu cách mạng.
Các nhân vật xoay quanh tác phẩm, mỗi người đều được tác giả vẽ bằng những nét riêng thật độc đáo để cuối cùng nhoà nhạt, chìm vào cái bi thảm không thể tránh được do sự chuyển vận của lịch sử. Cuốn truyện được khơi động trong kích thước không mấy rộng lớn, nhưng vừa đủ để nói lên những khía cạnh tâm lý cũng như xã hội vô cùng chao động, vô cùng đau đớn với các khuôn mặt: ông Phủ, bà Phủ, Ngự cháu ruột bà Phủ, Tịnh cháu ruột ông Phủ, Canh, Tường, Thụ các con riêng của ông Phủ và Chiêu, ái nam ái nữ, con chung của ông bà Phủ, lão Tự – tên gia nô trung thành, Ngà – đứa con gái ở đợ vài năm để trừ nợ thiếu lúa cho bố, con Lài, tên Mọt – tôi tớ và Hoàng, bạn Tường – kẻ ở trọ.
Ông Phủ đã về hưu chỉ trông mong vào số lúa thu mỗi năm do các tá điền đóng góp. Tuy đã có tuổi với hai đời vợ nhưng ông không an phận vẫn còn say mê tình dục, lang chạ với Ngà, con lão Tám tá điền, đến mang thai. Bà Phủ đảm đang nhưng khô khan, nghiệt ngã trong vấn đề giáo dục, lúc biết chồng ngủ với tôi tớ, giận đến lúc chồng chết vẫn chưa tha thứ. Canh, đứa con trai lớn, chơi bời truỵ lạc, muốn làm một thứ Bạch Công tử, nhưng đôi khi, trong đầu lại nuôi ảo vọng cải hoá xã hội! Tường, đứa thứ hai, dốt nát bạc nhược, mê gái. Thụ tương đối có ý thức và cũng là nhân vật được tác giả nâng niu nhất trong cuốn truyện. Chiêu, vì trời bắt tội, nên chả ra làm sao. Ngự đứa con gái trắc nết, yêu vì quyền lợi. Tịnh con gái đáng thương, đem tình yêu trao tặng cho trai không xong, thất vọng, nổi điên mà chết. Lão Tự, tượng trưng cho tấm lòng nhân hậu cổ sơ ngày trước, bây giờ không còn tìm thấy. Con Ngà, cam chịu số phận, cũng biết đam mê. Con Lài và thằng Mọt được dùng như cái chốt an toàn của bộ máy. Còn Hoàng, gã thanh niên lạc loài đến khung cảnh này gây rắc rối tình cảm cho Tịnh, cho Lài và cả Chiêu nữa, tự nhiên bỏ đi!...
Đó, từng ấy nhân vật, từng ấy cá tính, quấn riết lấy nhau, hành hạ lẫn nhau, trong một môi trường sắp vỡ nát và mỗi thân phận cuối cùng đều tan rã như bọt bèo trôi nổi trong đại dương cuộc đời hay khuất chìm vĩnh viễn vào lòng đất.
Câu chuyện bắt đầu vào những này cuối năm, mọi người đều bận rộn chuẩn bị cho mấy ngày Tết, nhất là ông bà Phủ, tuy đã có một đời chồng, lấy kế ông Phủ, nhưng vốn người đảm đang, nên lúc nào cũng vì gia đình nhà chồng mà cố giữ danh giá qua nếp sống phong lưu, để che giấu thiên hạ sự đang xuống dốc của một gia đình quan lại. Cái gia đình ấy trông bề ngoài có vẻ êm ấm. Nhưng bà Phủ chỉ lo được những vấn đề trước mắt như thóc gạo, mắm muối và dạy bảo hai cô cháu gái vào khuôn phép, thứ khuôn phép được vâng dạ trước mặt. Thụ và Chiêu học trên tỉnh, trở về ăn Tết với gia đình. Sự hiện diện của hai nhân vật này, được nhà văn tạo cho nhiệm vụ để gây nên những sự tình, đóng góp thêm cho tấn thảm kịch gia đình những sự thực không chối cãi. Rồi về sau, vì không chịu đựng nổi hoàn cảnh khắc nghiệt, cả hai theo cách mạng, chưa chắc đã vì lý tưởng.
Bà Phủ, tuyệt đối tin vào danh dự, tin vào uy thế cũng như tư cách của ông Phủ, nên bà đâu có ngờ chính ông đã tự tay phá vỡ gia đình mình vì một hành động dâm đãng. Trong chuyến bà đi thăm người em trai ở miền đất đỏ, ở nhà, ông đã hủ hoá với con Ngà, đứa con gái miệt ruộng, ở đợ trừ nợ lúa cho cha.
Thuỵ Vũ viết chuyện ông Phủ và con Ngà với đoạn văn vô cùng bỏng cháy, xác thực như chính mình được chứng kiến,
… Từ trước, khoảng cách biệt giữa ông Phủ và ả như được ngăn chặn bởi một bức màn sắt kiên cố. Nét mặt lạnh lùng, lời nói thị oai của ông chủ như đẩy ả vào khuôn khổ, bổn phận phục dịch trong nhà. Vòng tay ông Phủ siết chặt lấy ả, hơi thở dồn dập như muốn làm võ toang lồng ngực của ông. Ả không thể kêu cứu ai được vì chính ả cũng bị sự kích thích hung dữ, mới mẻ lung lạc. Lời kêu cứu ấy nếu có, cũng chỉ dành cho kẻ đang ghì chặt thân thể mang nhiều lửa cảm xúc của ả.
“Đừng ông!... con sợ lắm. Bà biết được chắc con chết.”
Bóng tối trong dần… ông Phủ đắm đuối nói:
“Coi kìa… Để quan… thương Ngà một chút.”
Ông Phủ vừa nói dứt câu, Ngà đã bị quật xuống giường lò xo. Toàn thân tê tại, ả đẩy mặt chủ ra một cách yếu ớt, miễn cưỡng. Ả bất lực trong vùng cảm xúc sôi trào với cái thân thể rực lửa. Ả lờ mờ ngắm chủ múa quay cuồng như cái bông vụ…
(Khung rêu, trang 43)
Rồi từ đấy, công việc buông màn, làm giường cho ông Phủ mỗi tối ít nhiều gì cũng có đụng chạm giữa hai thân xác một già, một trẻ. Giữa lúc đó, mối tình của Ngự và Tường cũng đang nhen nhúm trong bóng tối, dưới những gốc cây trải rộng mịt mù hoa trái, với lời yêu nồng ấm đầu môi, với những ước vọng tràn đầy trong trí tưởng tượng của hai kẻ yêu nhau. Cả Tịnh và Hoàng nữa, họ cũng yêu, nhưng là thứ tình yêu câm lắng, hờn hận, vì sự không dám dấn thân của Hoàng, người trai ở trọ, rồi đến Chiêu, tuy ái nam ái nữ mà cũng say mê Hoàng như say mê một người tình thực sự. Với Chiêu, có lẽ tác giả cố tạo cho vai trò đã bi đát này, càng bi đát hơn, khi Chiêu thích làm gái mà bà Phủ bắt Chiêu ra trò với tác phong con trai, học trường con trai, sinh hoạt như con trai. Nhưng đau đớn thay, các cơ phận của Chiêu lại nảy nở mạnh về nữ giới. Bởi vậy, cảm xúc của Chiêu luôn luôn hướng đến con trai, do đó, cơn thèm muốn tình dục lẽ dĩ nhiên chỉ nghĩ về giống đực. Thuỵ Vũ cho Chiêu mê Hoàng một cách tuyệt vọng trong đoạn văn,
… Hơi thở Hoàng toát ra sự đầm ấm. Chiêu chìa bàn tay đặt lên bụng Hoàng và bàn tay chàng mắc cạn luôn ở đó…
… Từng giọt thời gian chậm chạp nhỏ xuống tâm hồn Chiêu như chất cường toàn rỉ rả trên da thịt. Chiêu vụt ứa nước mắt, lẩm bẩm: Nếu mình là con gái?...
(Khung rêu, trang 211)
Cả con Lài nữa, không cam phận tôi đòi cũng say mê chàng trai biết kéo cây đàn cò tây rỉ rả, làm tên Mọt, gã gia nhân lai Miên, ghen tức ấm ức trong lòng. Lão Tâm, bố con Ngà đâu có ngờ sự việc lại xảy ra quá quắt như vậy? Làm tá điền, đến mùa thiếu lúa góp vì quá nghèo, lão đành đem thế chân bằng đứa con gái duy nhất ở đợ, trừ tiền nợ cho chủ điền. Con Ngà đã được lão hứa gả cho thằng Đực, người chòm xóm, cũng là tá điền của ông Phủ. Đực, gã nông dân quê mùa nhưng cũng biết đắm mê sắc đẹp người vợ chưa cưới xin. Trong ngày nộp lúa, Đực chỉ mong nhìn lại mặt người yêu cho đỡ nhớ. Nhưng vụ lúa năm nay Ngà cố tình tránh né không cho Đực gặp. Linh tính đã báo cho Đực biết có gì thay đổi trong lòng người yêu. Đực hỏi ông Tám, ông lặng thinh lơ đãng nhìn ra sông, vì trong lòng cũng cảm thấy con mình đã khác trước, nó không còn cười giỡn hồn nhiên như xưa. Nhưng cũng để an ủi đứa con rể hờ, ông vẫn đoan quyết, trừ xong nợ lúa, sẽ gả Ngà cho Đực. Đực, tuy quanh năm cày sâu cuốc bẫm mà cũng tinh tường lắm. Gã đoan chắc có trục trặc cho phận mình, nhất là lão Tư lại nói sẽ làm mai Lài cho gã. Sự thực, gã thèm khát cái thân thể mơn mởn của Ngà. Trước khi về xứ, gã muốn chiếm Ngà, ngày mai ra sao, mặc kệ. Đêm trước ngày về, gã thực thi ý định bằng cách vào buồng Ngà để cưỡng bức ân ái. Gã đã toại nguyện và thân xác Ngà lại bị xâm phạm bằng cường lực, lần này dũng mãnh hơn lần với ông Phủ, vì Đực còn trẻ, thật sung sức.
Thuỵ Vũ viết đoạn này có lẽ hấp tấp chăng, hoặc chưa điều nghiên kỹ? Vì thực tế, không dễ dàng gì nhét được chiếc khăn vào miệng con gái để chặn tiếng kêu, hơn nữa, thời gian bế cô gái từ trên chiếc giường tre xuống đất, có ai cấm cô gái la lên nếu không thuận, khi ngay sát vách, lão Tư vẫn trở mình húng hắng ho. Cưỡng bức ái tình không phải chuyện dễ, nhưng người đọc cũng biết chắc sự việc này được diễn tiến hoàn toàn do có tưởng tượng, vì thế, không thể tránh khỏi sơ hở về nhận xét, dù là nhận xét qua lăng kính suy luận. Bởi vậy, những tiếng kêu: cứu cháu, ăn trộm… càng làm cho sự giả tạo thêm rõ ràng.
Cái bối cảnh gia đình ông Phủ cứ từng bước một, tan rã lần lần qua mỗi sự vụ. Chuyện Ngà mang bầu với ông Phủ không còn giấu được ai, trừ bà Phủ vì quá tin tưởng vào danh giá và lòng tự tôn của ông chồng. Những lời của Thụ, đứa con trai thứ ba, nói với ông Phủ như từng gáo nước lạnh dội vào giữa tâm can vị quan già bê bối, trong lúc ông đang mê mải vui ngắm đàn cá lia thia tàu vàng rực bơi lội tung tăng dưới đám rong rêu,
… Ông Phủ nhìn chăm chú vào mặt nước trong veo. Thụ ngó quanh một lúc ngập ngừng:
“Thưa ba, con muốn nói với ba một chuyện khá quan hệ.”
Ông Phủ hơi sửng sốt:
“Con cứ nói.”
“Chị Ngà đã có mang.”
Ông Phủ hốt hoảng:
“Sao… sao con… biết?”
Thụ cười buồn:
“Chị ấy thú thật với lão Tự… Lão Tự nhờ con nói lại với ba, nhờ ba giải quyết giùm chị.”
Ông Phủ đứng sát gần Thụ hơn và hạ thấp giọng:
“Nó đã có mang với…”
Thụ tiếp lời cha:
“… với ba. Đáng lẽ chị phải tỏ thật với ba, nhưng chị còn ngại.”
“Biểu nó lên gặp ba tối nay.”
(Khung rêu, trang 140-141)
Từ phút ấy, trong lòng ông Phủ như có sợi dây thắt lại. Đã thế, hình ảnh Canh, đứa con trai lớn lại hiện ra như châm chọc vào uy quyền ông. Canh hư hỏng, ăn chơi, nghiện hút, bố chưa chết đã đòi chia gia tài. Mỗi vụ lúa trở về lấy phần bán đi lên tỉnh ăn chơi cho sướng thân. Đã có lần, Canh ăn nói hỗn xược bằng cách doạ ông, hắn sẽ vô đạo Thiên Chúa để khỏi cúng giỗ thờ phượng ai hết. Ông mỉa mai lại bằng lời nói cay đắng,
“Mày lo gì, tao mà chết rồi, mày chịu khó quàn xác tao lại trong nhà này chừng mười ngày, nửa tháng. Chừng đó, thiếu gì người đến đem tiền phúng điếu để mày kiếm chác thêm mớ nhắm nộp cho tiệm hút.”
(Khung rêu, trang 145)
Sự không may cứ tới tấp rơi xuống kích thước này như những tiếng sét. Mọi người đều vui đùa một cách giả tạo vì mỗi thân phận đang bị cấu xé bởi lý do riêng biệt. Ngà nằm bệnh vì bị bào thai hành, nhưng do tập tục ngày Tết, nàng vẫn phải lên nhà chào mừng ông bà Phủ sáng mồng Một, với tư cách tôi tớ,
… Giọng bà Phủ làm ả chợt tỉnh:
“Sao? Chúc ông bà năm mới cái gì đây? Nói hết câu cho bà nghe coi.”
Ngà nắm hai bàn tay vào nhau, ngập ngừng:
“Năm mới con chúc ông bà… trường thọ.”
Bà Phủ cười cởi mở:
“Dữ ác hôn?”
Bà day lại giục chồng:
“Thôi lì xì cho nó lấy hên đi ông.”
Ông Phủ ngập ngừng một chập, trao gói tiền mừng tuổi cho Ngà rồi lặng lẽ đi lại chỗ khay trà.
Bà Phủ truyền lệnh bằng một giọng lanh lảnh:
“Ông cho thì cầm đi để có mà xây xài trong mấy ngày Tết…”
(Khung rêu, trang 154)
Thuỵ Vũ viết thật chắc và mô tả tâm lý rất sát trong đoạn văn tuy ngắn nhưng tóm gọn được tất cả mọi khía cạnh của vấn đề. Ngà bóp nát số tiền ông Phủ cho trong lòng tay căm giận, tủi hổ, xong lại chui vào căn buồng nhỏ hẹp, khóc cho thân phận. Nhưng rồi bà Phủ cũng biết Ngà có thai, sau khi mời ông Bàng đến bốc thuốc xem mạch. Bà nghi quanh quẩn cho những ai ai chứ không dám ngờ ông Phủ. Về phía ông Phủ, biết rằng giấu không được nữa đành thú thật với vợ, cái bào thai đang hành hạ con Ngà là của ông.
Bà Phủ cắn chặt hàm răng, không nói điều gì xúc phạm hoặc trách móc chồng nửa lời. Bà muốn thu xếp cho tên Mọt nhận cái thai trong bụng Ngà, ông không chịu. Từ bữa ấy, ông ngồi ăn cơm một mình, còn bà luôn luôn lẩn tránh khỏi giáp mặt chồng. Không muốn nhìn thấy ai nữa, vì chuyện xấu xa kia, bà lấy tiền của riêng, cất một căn nhà sàn ở mé sông, sống một mình. Trong nhà có thờ Phật Quan Âm. Bà Phủ cạo đầu để mong rũ sạch nợ đời, lấy kinh kệ làm vui chuỗi ngày còn lại.
Trong lúc đó, Ngự cũng đã mang bầu với Tường con trai thứ ông Phủ. Sau nhiều suy tính, Tường nghe Ngự ăn cắp đồ vật, vàng bạc của cha rồi cùng người yêu đi xây tổ uyên ương. Buồn thay chỉ mấy tháng sau, cái tổ ấy vỡ vì tình yêu không thể nuôi bằng ảo tưởng. Họ lại quay về dưới mái nhà xưa với cái bụng chình ình và để nghe những lời sỉ nhục của ông Phủ.
Ngà thay bà Phủ mỗi tối lên nằm giường lò xo và hiến dâng xác thịt cho ông Phủ, lúc này vì chán cảnh gia đình nên ông chẳng mấy tha thiết làm Ngà buồn và nhớ Đực. Canh lại lù lù trở về bán lúa và gây sự với cha về cái hành động bỉ ổi, nhơ nhuốc với Ngà. Rồi lão Tám với đau đớn khi đinh ninh lên đón con về gả chồng vì đã mãn hạn nợ. Lão Tám đâu muốn làm tía ông Phủ. Lão chỉ muốn giữ lời hứa với Đực và mong con gái dù có lấy chồng cũng ở gần mình để trông nom lão lúc về già. Lão căm giận và có ý nghĩ phải bắt Ngà về bằng mọi cách dù phải trả bằng máu! Nhưng ý nghĩ chỉ là ý nghĩ, trước mặt ông Phủ, lòng hăm hở của lão Tám chùng xuống. Lão đi những bước nhẹ nhàng, lòng vẫn sợ sệt thứ uy quyền tuy đã thuộc về dĩ vãng,
… Ông Phủ mở đầu câu chuyện:
“Chú tính lên rước con Ngà về dưới phải không?”
Ông Tám đáp nhỏ như không dám xác nhận:
“Dạ!”
Ông Phủ chau mày:
“Theo tôi, con Ngà trong lúc bụng mang dạ chửa, chú nên để nó ở trên này. Tôi sẽ hết lòng lo cho mẹ con nó vuông tròn.”
Ông Phủ ngừng lại, dò xét phản ứng trên mặt mặt người đối diện, rồi tiếp lời:
“Dầu gì đi nữa, nó cũng là vợ tôi. Đứa nhỏ trong bụng nó do khí huyết tôi tạo ra, lẽ nào tôi làm ngơ cho đành đoạn. Nếu chú bằng lòng để tôi sai trẻ nó về rước chú lên ở với anh Tự cho vui. Hai anh em bạn già hủ hỉ với nhau cho có bầu bạn.”
Ông Tám ngồi yên, miệng cơ hồ bị khoá lại. Ông chỉ còn biết gật đầu vâng dạ về mọi lời đề nghị của ông Phủ, vì như từ lâu rồi, ông thấy mình hèn hạ, bạc nhược, nhỏ nhoi trước con người mà ông đã nung nấu thù hằn…
(Khung rêu, trang 315)
Lão Tám đâu ngờ con Ngà cũng phụ lão. Nó không muốn quay về nơi chôn rau cắt rốn vì đã ăn phải bả vinh hoa. Lão Tám phóng lẹ xuống ghe như để dứt khoát với những tủi nhục nơi đây.
Mối tình của Tịnh lê dần vào tuyệt vọng vì một buổi sớm Hoàng đã giã từ không gian địa ngục này đi tìm chân trời khác. Đau khổ đã làm nàng nằm bệnh rồi phát khùng, chết tại nhà thương điên Biên Hoà! Thật đau đớn và tội nghiệp cho một linh hồn trinh nữ! Đứa con gái Ngà sinh ra cũng chẳng sống được mấy tháng. Cái dòng sữa quý báu nàng đem nuôi đứa con của Ngự – người đàn bà đoảng, ích kỷ và trắc nết.
Từ khi Tịnh lâm bệnh nặng bà Phủ bớt khe khắt với Ngà, bà lại ra mặt cai quản gia đình nhưng vẫn lảng tránh chồng, dù ông Phủ đã nhiều lần muốn nối lại dây thân ái tình ngãi vợ chồng.
Thụ cũng bỏ nhà vào chiến khu để chống lại giai cấp của cha mình, chống bất công, thối nát. Ông Phủ lúc này như quay cuồng giữa cơn ác mộng và ông bắt đầu nhìn rõ những gì Trời đã dành cho mình trong những ngày cuối của kiếp người. Ông chán hết, ngay cả thân xác nõn nà của Ngà tràn đầy sinh lực, hằng đêm vẫn nằm bên ông với rạo rực trong lòng. Còn lão Tự hằng ngày, hằng đêm vẫn phải chứng kiến sự đổ vỡ không tránh được của một gia đình mà lão đã hết lòng phục vụ, như một nhân chứng bất đắc dĩ. Chiêu cũng ra đi theo Thụ để tránh phải nhìn thấy cảnh tan rã chung và riêng với mặc cảm thân xác bất toàn. Ông Phủ lúc này mất hết, mất vợ con, mất nguồn lợi hằng năm vì các tá điền đã theo cách mạng không chịu nộp lúa nữa. Ông thấy mình gần lão Tự hơn vì lão cũng chẳng có gì suốt một đời nô bộc. Ông vơ vẩn tự hỏi: không biết bên kia cái chết, có còn một đời sống nào khác nữa không? Câu hỏi đó, người sống không thể trả lời được.
Ông chợt nghĩ đến tổ tiên, đến các bậc đã sinh thành ra mình đang có mặt qua tấm ảnh trên bàn thờ, rồi bỗng nhiên, ông quay cuồng, điên đảo, ông buông xuôi hai tay ngã quỵ xuống nền gạch lạnh toát…
Nghe tin chồng chết, vì vẫn nặng lòng oán giận nên bà Phủ chỉ ngó sững thây ma không một tiếng khóc, không một cử chỉ xót thương. Khi cơn uất hận đã lắng xuống, bà muốn nói với ông vài lời vĩnh biệt, đã muộn! Nỗi hờn ghen của bà Phủ ghê gớm thật. Nó là một hình phạt ác độc nhất trong các hình phạt mà con người có thể đối xử với nhau để đoạn tuyệt tình nghĩa phu thê, trăm năm chăn gối! Thuỵ Vũ đã viết, viết đúng vì ở cuộc sống này đã có, những người đàn bà ghen như bà Phủ. Lúc thương yêu thì yêu thương da diết, lúc phụ rẫy lại hạ nhục đến chết mới nghe. Chao ôi! Tình nghĩa, chao ôi! Dục vọng, chao ôi! Cuộc đời!...
Tác phẩm Khung rêu được kết thúc bằng sự băng hoại thê thảm của một đẳng cấp đã từng thịnh mãn ở miền Nam nước Việt. Hình ảnh Thụ, con người ý thức của tác phẩm đã hiện lên như niềm hy vọng, tuy chẳng ấm áp gì nhưng có hơn không. Còn Hoàng, sau những ngày tháng chạy theo cách mạng, đã lấy vợ và có một bầy con. Trở về Thành làm chủ tiệm xe đạp, không một lần nhắc đến Tịnh người con gái đã chết vì mình, cho mình.
Một đêm, mười năm sau, Thụ ngồi trước ngọn đèn chong mờ tỏ, giữa một khung cảnh tan hoang, một tương lai lo lắng chẳng biết có thuộc về mình?...

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, cây viết trẻ, đã thẳng thắn bày tỏ suy nghĩ của riêng mình về cuộc sống tình cảm cũng như xã hội. Nhiều ý tưởng táo bạo, mạnh mẽ như những nhát búa đập thẳng vào trí não người đọc làm choáng váng mặt mày. Nhà văn chẳng cần giữ ý, chẳng cần úp mở với những vấn đề được đề cập tới trong tác phẩm. Ý hướng sáng tạo của Thuỵ Vũ giống như một thác nước cao đổ ào ạt xuống triền sâu mặc cho sức đập phá và cuốn theo bao nhiêu cỏ cây hoa lá, cũng như rác rưởi trôi xuôi theo dòng đời muôn vạn ngả.
Nhưng đích thực, Thuỵ Vũ vẫn gìn giữ cho mình một phần trách nhiệm, vì trong mọi trạng huống dù khốn khó đến đâu bao giờ nhà văn cũng mở ra một chiều hướng tốt, một ý nghĩ tốt cho kết quả. Bởi vậy, đừng có ai khắt khe cho rằng sự dâm ô trong kích thước văn chương Thuỵ Vũ là độc tố phá hoại ngấm ngầm ý thức con người, nó chính là liều thuốc an thần cho mỗi con người đã mất thăng bằng tâm não. Ngoài những tác phẩm được nói tới, Thuỵ Vũ còn hai tác phẩm: Ngọn pháo bôngThú hoang cũng không đi ra ngoài ý hướng chuyên biệt đã tạo nên Nguyễn Thị Thuỵ Vũ hôm nay.
Cánh cửa đã mở, xin mọi người cứ thong dong thưởng ngoạn.
Trích văn Thuỵ Vũ
… Bà Phủ uể oải đứng lên. Ông Phủ vẫn ngồi y nguyên chỗ cũ. Tâm trí ông xoay tròn trong câu chuyện mà ông sắp sửa nói với vợ ông. Đột nhiên, hình ảnh người vợ trước hiện lên. Mẹ Cang ngày xưa ngoan hiền trong mọi việc, nhưng đối với những vụ ngoại tình vụn vặt của ông, bà trở nên dữ dằn, không còn giữ lại chút lý trí nào. Những hành động âm thầm, những mưu chước tinh vi của bà chỉ dành cho cuộc lùng bắt, săn đuổi tình địch. Thế rồi những trận đánh ghen sôi nổi diễn ra: sởn tóc tình địch, thuê một lũ đàn bà đến vây khốn, lột truồng tình nhân của ông.
Đàn bà ghen thoạt đầu vì tình yêu, dần dà họ ghen vì tự ái bị động chạm và vì quyền lợi mình bị hao hụt. Cái chết thê thảm của người vợ trước trong lúc ở cữ sống lại mãnh liệt trong trí nhớ ông. Qua một thời gian sống cảnh gà trống nuôi con dài đằng đẵng, ông hứa với người quá cố sẽ sửa chữa, tu tỉnh. Nhưng rồi, niềm ân hận cũng phai đi, hình bóng người chết cũng nhạt nhoà theo năm tháng…
Ông Phủ nuốt nước miếng, từng cơn lốc lướt qua đầu. Suối hai mươi năm liền sống với người vợ kế, ông cũng có những mối tình phất phơ không đáng kể. Nhưng bà Phủ đã tự tin cái địa vi kiên cố trong lòng ông. Bà đã thắng tất cả những người đàn bà vây quanh ông vì bà có chút nhan sắc và có thừa công trạng đối với nhà chồng. Năm nay, bà đã bốn mươi hai tuổi, nhưng mặt mày còn tươi rói, khoé nhìn và nụ cười thật sắc sảo. Bà ăn trầu vén khéo, nên răng trắng trong, và khi bước ra khỏi nhà bà bới đầu lèo, đeo hột xoàn, tô son dồi phấn rực rỡ. Bà vẫn tin tưởng mình nắm trọn trong tay mọi quyền hành. Bà là loại người chỉ huy chồng bằng sự dịu dàng. Mọi quyết định từ trong ra ngoài phần lớn đều phát xuất từ một tay bà.
Ông Bang cầm chiếc dù cán ngoéo đứng dậy chào bà Phủ. Bà đon đả đưa ông xuống nhà ngang. Ngà vẫn nằm lim dim bên Lài đang chế nước sôi vào ly đựng gừng, trà và bỏ trần bì. Ông Bang kéo ghế đẩu ngồi lại cạnh giường. Ngà thảng thốt ngồi phắt dậy như bị điện giật. Ả thiểu não nhìn bà Phủ:
“Thưa bà con chỉ cảm sơ sịa, có gì đâu phải nhọc đến ông Bang?”
Bà nhìn ả, nói như ra lịnh:
“Con này chướng. Thầy thuốc đến tận giường mà không cho chẩn mạch hả? Đói ăn rau, đau uống thuốc chớ.”
Ngà vẫn dụ dự không đưa tay cho ông Bang. Ả biết rõ căn bịnh của mình. Đó chẳng qua là do thai hành cộng thêm những đêm mất ngủ liên tục, những nỗi sợ sệt bám lấy ả không rời. Tựu trung đều tại cái thai.
Lài dỗ dành:
“Rán uống tít thang thuốc cho mau mạnh đi chị. Đừng có nuôi bịnh như vậy.”
Ngà rướm nước mắt, nhìn lão Tự đứng xớ rớ gần đó như cầu cứu. Lão Tự giục:
“Cháu đưa cho ông Bang chẩn mạch. Việc gì mà cháu ngại. Có bác đây chi?”
Lão Tự nhìn Ngà trấn an. Ngà biết đây là dịp bà Phủ khám phá cái tội lầm lỡ của ả. Trái tim của ả muốn ngừng đập. Ả rụt rè chìa tay về phía người thầy thuốc.
Ông Bang chậm chạp lột cặp kính lão, kéo lấy vạt áo the lên lau, rồi chăm chú chẩn mạch. Bỗng đôi mày ông cau lại, ngạc nhiên. Bà Phủ sốt ruột trước cử chỉ chậm chạp, khệ nệ của ông. Bà ngập ngừng:
“Thưa ông Bang. Con nhỏ này đau làm sao vậy?”
Ông Bang hớp ngụm trà, rồi cười nửa miệng:
“Bẩm bà lớn, cô em đây có gia thất chưa?”
Bà Phủ đáp gọn:
“Nó còn con gái mà.”
Ông Bang ngần ngừ một lúc, rồi lắc nhẹ đầu:
“Cổ chẳng bịnh hoạn gì hết. Cái thai đang hành đó thôi.”
Bà Phủ buột miệng kêu hai tiếng “Hèn chi!” rồi cao giọng:
“Nó có bầu hả? Kỳ quá vậy?”
Bỗng Tịnh hớt hơ hớt hải chạy đến vừa lúc bà Phủ cùng ông Bang sửa soạn đi lên nhà trên. Tịnh nói mau:
“Thưa mợ, cậu Phủ mời mợ và ông Bang lên cho cậu hỏi thăm.”
Ông Bang khệ nệ chiếc bụng lùm lùm như cái mả lạn bước lên tam cấp. Chiếc dù cán ngoéo của ông dùng một lúc hai việc: che mưa nắng và còn chiếc gậy nâng đỡ cái thân hình bề bộn thịt mỡ của ông.
Mọt đã thay ấm mới, còn đứng xớ rớ chờ lệnh. Ông Phủ biểu gã rót trà ra chung rồi lui đi. Ông Bang bước vào trung đường rợp hơi mát của mấy cây nhãn trồng ngoài hiên. Trong khi ông Bang còn đang nói chuyện với ông Phủ, bà Phủ toan xuống nhà ngang mở cuộc thẩm vấn Ngà, ông Phủ ngăn lại:
“Mình ở lại đây, tôi có chuyện muốn nói.”
Ông Bang sau một lúc nói chuyện vãn nắng mưa, mùa màng, xuống chiếc ghe bầu về nhà. Bà Phủ có vẻ lăng xăng:
“Để tôi xuống dưới nhà, coi con Ngà lỡ dại với thằng trời đánh nào? Mình phải thu xếp tống lôi, tống khứ thứ đồ hư thân mất nết đó cho mau. Thiệt nuôi tớ gái trong nhà như nuôi ăn trộm.”
Ông Phủ nhìn vào mặt vợ, hạ thấp giọng như một lời kinh sám hối:
“Đứa nhỏ trong bụng là con của tôi.”
Bà Phủ ngó ông lom lom rồi không nói thêm được một lời nào nữa. Bà tưởng như tai mình lùng bùng bởi một điều phát giác trắng trợn. Bà đứng dựa lưng vào cây cột, cảm thấy mái nhà xiêu vẹo và mọi vật trước mắt như phủ một làn sương mỏng. Ông Phủ bước tới dìu bà vào ghế phô tơi. Ông Phủ nói:
“Mình thương tôi, hãy cứu mạng giùm nó. Chuyện đã dĩ lỡ rồi!”
Bà Phủ cắn chặt hàm răng để không nói điều xúc phạm, trách móc chồng. Rồi bà bỏ đi nằm. Trong gian phòng vắng ngắt, chỉ có tiếng muỗi vo ve. Bà Phủ nằm bất động, tay vắt trên trán. Ánh nắng buổi trưa trườn qua khung cửa sổ. Trước mặt bà bây giờ là một vùng trắng thinh không. Bà biểu Lài bước ra ngoài để bà nằm nghỉ ngơi.
Trong hai mươi năm, bà đã bồi đắp, gói ghém, che giấu những thăng trầm của nhà chồng một cách khéo léo. Bà ngỡ Trời Phật trớ trêu đã cho bà một đứa con tật nguyền cũng đủ lắm rồi. Vậy mà giờ đây, bà phải nhận thêm một bất hạnh ô nhục nữa: ông chồng ngoại tình với kẻ tôi tớ trong nhà. Phải dè cớ sự như vầy, bà đã đi cưới cô Năm Thành, một đào hát bội nổi danh cho ông. Lúc bà chưa sanh Chiêu, bà nghĩ rằng mình là một thứ cây độc không trái. Hồi đó, ông Phủ mê xem hát của gánh Bầu Đỏ. Những ngày gánh này ghé lại đình làng, ông Phủ nhất định giành vai cầm chầu để xem cô Năm Thành đóng vai Đắc Kỷ, Phàn Lê Huê, Hồ Nguyệt Cô. Nhan sắc chim sa cá lặn của cô đào hát bội đó trong lớp phấn son hoá trang và trong y phục Quảng Đông rực rỡ hào quang đã thâu đoạt hồn phách của ông. Mỗi khi tan hát, ông về nhà say sưa nhắc nhở tài nghệ của cô với nụ cười và ánh mắt đờ đẫn và mộng mị.
Bà Phủ vẫn biết cô Năm thật ra có màu da bánh ích, một thân hình hơi khô và cô lại còn ưa ăn trầu. Nhưng trước khi sắm tuồng cô Năm đánh răng, súc miệng, uống một chén sâm và bắt đầu xức một loại thuốc gia truyền trên mặt để cho làn da dễ dàng ăn phấn. Hoá trang xong, cô Năm đốt nhang lạy tổ nghiệp và từ trong cánh gà tuôn ra sân khấu, cô đã trở thành một thần nữ mà khoé mắt, nụ cười, giọng hát cao vút như ướp bùa ngãi ma quái, dễ làm cho ông Phủ, ông Cai tổng, thầy Bang Biện phải mê mẩn rụng rời. Bà Phủ rất bực mình khi giữa đêm khuya, bà vụt chợt tỉnh vì tiếng mơ của chồng gọi cô Năm ơi ới. Bà đã lén mướn cậu Trùm Xuyên Bình dò la những nơi mà ông Phủ dắt cô Năm Thành đi ăn chè cháo khuya để kịp thời ngăn chặn sự dan díu của chồng.
Hình như lúc còn tại chức, ông Phủ có lần muốn chuộc cô Năm Thành bằng một phần ba gia sản. Nhưng cái ý định của ông chưa kịp thành hình thì đùng một cái cô Năm Thành mang bầu với tên kép chánh trong gánh. Tên này thường sắm vai tướng quân, nguyên soái oai phuông lẫm lẫm. Hắn hát ở quận nào trên một tháng là có được ông Phủ gói ghém trong nét mặt lầm lì, khắc khổ. Thỉnh thoảng, bà Phủ, trong câu chuyện nửa đùa, nửa thật, cũng nói trêu chọc:
“Phải chi có Năm Thành chưa lỡ dại, tôi sẽ đem trầu cau lạy lục rước cổ về cho mình rồi.”
Bà Phủ lúc đó như thoát khỏi một cơn ác mộng. Rước cô Năm Thành về cho chồng là một mối hiểm hoạ cho bà. Bà sẽ là cái bóng mờ nếu cô Năm có con với ông Phủ. Người đàn bà lừng danh đó chắc sẽ nhận chìm bà một cách thảm hại.
Bây giờ, có thể nào tưởng tượng một kẻ tôi đòi quê mùa, cục mịch như Ngà lên làm chị làm em với bà được không? Đuổi Ngà ra khỏi nhà hay để ả sanh nở xong rồi bắt đứa nhỏ? Hay là năn nỉ dụ dỗ Mọt đứng ra “nôm” Ngà để cứu vãn danh giá cho chồng? Đầu bà nhức như bị búa bổ. Bà cảm thấy càng cựa quậy lung tung, bà càng lún sâu vào nỗi khó khăn, thất vọng. Bà nằm không muốn nhúc nhích nữa. Tứ chi bà như rời rã, thần sắc thiểu não. Đến mấy ngày liền, thân xác bà sa sút thịt mỡ. Gian nhà vốn đã âm u càng trở nên nặng nề khó thở.
Ông Phủ chúi mũi vào sách báo, nhưng chữ nghĩa trơn trợt trong tâm trí ông. Ông muốn gần vợ để năn nỉ, ỉ ôi bà vì ông dư biết đàn bà dễ xiêu lòng. Nhưng ông cảm thấy ngượng ngùng. Hình như giữa ông và vợ, tự dưng đã đào sâu một khoảng cách mênh mông không sao lấp nổi nữa. Thái độ yên lặng của bà như đe doạ ông. Người đàn bà không ồn ào quát tháo đáng đề phòng hơn. Hai mươi năm qua, ông ngờ mình rành rọt tất cả những nẻo đường đổ về tâm hồn bà. Nhưng bây giờ, im lặng của bà có phải là dấu hiệu của sự cố gắng thoả thuận hay là giai đoạn mở đầu của những mưu toan đen tối sắp được thực hiện?
Mỗi lần ông toan đến gần bà để phân trần, để kêu gọi lòng từ bi, đại lượng của bà thì lập tức bà ngồi bật dậy, bước ra khỏi giường, rồi bước vào buồng riêng của Chiêu, khoá kín cửa lại. Thái độ câm nín, lạnh nhạt của vợ trong mấy ngày nối tiếp hành hạ ông ghê gớm.
Nhưng ông đã cố gắng hy vọng chờ đợi sự việc sắp tới sẽ trơn tru, êm đẹp. Biết đâu được, lòng người đàn bà nay vầy mai khác. Ông tự an ủi mình nhưng lại không ngớt lo lắng, bứt rứt…
(Trích Khung rêu, từ trang 238-246)

__________________

Hãy nói về miền Nam

Jennifer Trần

Câu chuyện về một "Muỗng Nước Mắm" của Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Nhưng câu chuyện về một Deep South của Quentin không chấm dứt với chiến tranh. Đại tá Sutpen về nhà, [Quentin] nói, để thấy rằng vợ đã chết, con trai, một kẻ trốn chạy, những nô lệ của ông phân tán (họ bỏ chạy trước khi được giải phóng bởi quân đội Union), và hầu hết đất đai của ông bị trưng thu do nợ nần.
(Malcolm Cowley giới thiệu William Faulkner, trong The Portable Faulkner, nhà xb The Viking Press New York)
"Tại sao anh thù ghét Miền Nam?", Shreve McCannon hỏi, sau khi nghe xong câu chuyện – "Tôi không thù Miền Nam", Quentin trả lời liền lập tức. "Tôi không thù Miền Nam," anh lập lại, như thể nói với tác giả, và với chính mình. Tôi không thù …. Tôi không. Tôi không thù! Tôi không thù!
William Faulkner. Absalom, Absalom! (1936)

Trong số những truyện ngắn của Thụy Vũ, có một, ít được nhắc tới, nhưng có lẽ đây là truyện ngắn hay nhất của bà, cho thấy cái mạch ngầm của ‘dòng văn học miền nam’: thiên về tâm linh, và nó ‘nhập thế’ qua hình ảnh của một đạo gia hơn là của một nhà văn. Đây là điểm thật khác biệt giữa hai dòng văn chương, một mang "chiến đấu tính", và một tuân theo sức mạnh vô hình, của điều được gọi là "thiên tài của nơi chốn", hay của Thần Đất (genius loci, the spirit or guardian deity of the place).
Đó là câu chuyện về một người đàn bà, hình như một ‘Chị Hai’ trong một gia đình miền nam. Chị Hai nhiều khi không hẳn là một ruột thịt trong gia đình, mà chỉ là một người làm công lâu đời, người viết không khỏi liên tưởng tới người vú da đen, trong Âm Thanh và Cuồng Nộ của William Faulkner: những con người gìn giữ lương tâm của cả một miền đất. Malcolm Cowley viết về những nhân vật của Faulkner: dù anh hùng, hay tiểu nhân, họ có một cảm quan kỳ cục: nhẫn nhục với số mệnh của mình (They… carry, whether heroes or vilains, a curious sense of submission to their fate).
Bà Chị Hai của Thụy Vũ, suốt đời ăn chay niệm Phật, tới phút hấp hối, bỗng muốn được hưởng mùi trần: hãy cho tôi nếm thử một muỗng nước mắm! Thế là có người thì giẫy nẩy, đây là Quỉ ám, cản trở không cho bước vào cõi Phật. Họ viện dẫn, ngay cả Đức Phật trước khi đắc đạo, trước nhìn ra ý nghĩa đau khổ của cõi đời sinh tử lão bịnh, và tìm ra được giải thoát ra khỏi vòng luân hồi, cũng đã từng bị Quỉ ám ảnh. Có người gật gù, phải thực hiện ao ước cuối cùng của một linh hồn trước khi lìa đời….

Tôi không nhớ Thụy Vũ đã ‘quyết định" ra sao, về nhân vật của mình, "chấp nhận luân hồi, anh bước vô", hay là…
Theo tôi, câu chuyện muỗng nước mắm của Thụy Vũ nằm trong dòng văn chương "tâm linh", như một "Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp" của Hồ Hữu Tường. Hay một Cửa Tùng Đôi Cánh Gài, của Nhất Hạnh. (1)
Ở hải ngoại, chúng ta thấy không khí tâm linh này thấp thoáng ở một số tác giả như Miêng, Phạm Hải Anh…
"Hãy nói về Miền Nam", một người bạn học ở chung phòng tại Harvard nói với Quentin. Một tay người Canada tên là Shreve McCannon vốn tò mò về một vùng đất chẳng ai biết (unknown) vượt bên ngoài Ohio. "Nó ra sao", anh ta hỏi. "Người ta làm gì ở đó? Tại sao người ta sống ở đó. Tại sao người ta sống, vậy đó?"
Nỗi băn khoăn về một miền đất quá bên kia dẫy Trường Sơn, có thời được coi là Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân, nhưng bắt đầu trở thành "unknown", không phải với một người Canada, mà là với chính mình, đó là một ám ảnh viết mở ra Khung Rêu, của Thụy Vũ:
"Từ hồi nhỏ, tôi phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở Miền Nam. Nguyên nhân chính của sự suy sụp này thì ai cũng biết: chiến tranh… Khi khởi công viết quyển truyện này, tôi đặt trước cho mình một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thuở nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho xong".
Khung Rêu, tác phẩm được giải nhì văn học toàn quốc (1970) làm độc giả say mê Faulkner nhận ra trang trại nho nhỏ có tên là Sutpen’s Hundred, lọt thỏm trong Thiên Đàng Giả Tưởng: Xứ Yoknapatawpha (The Yoknapatawpha Country) của ông. Khung Rêu, qua tóm tắt của Vương Trùng Dương, trong bài viết Nguyễn Thị Thụy Vũ Giữa Dòng Đời Nghiệt Ngã: "Bối cảnh câu chuyện xoay quanh gia đình ông Phủ, điền chủ, quan lại, giai đoạn về hưu. Nhìn bên ngoài gia đình giầu sang nhưng bên trong từ ông Phủ đến con cái chẳng ra gì, con trai có đứa thì chơi bời trụy lạc, đứa thì dốt nát, con gái có đứa lăng loàn, đứa thì thất tình hóa điên, đứa thì ái nam ái nữ. Ông Phủ lắm vợ nhưng đầu óc đầy nhục dục, hãm hiếp người làm trong nhà tuổi bằng con cái… tạo ra thảm kịch, băng hoại của gia đình đến thời suy sụp"
Như trên cho thấy, Thụy Vũ đổ cho chiến tranh gây nên sự suy sụp. Nhưng Faulkner nhìn xa hơn, ông cho rằng sự suy tàn của Miền Nam, là do chính những con người của nó. Như Malcolm Cowley chỉ ra: Miền Nam Sâu Thẳm được cai trị bởi những điền chủ, một số là quí tộc như bộ lạc Sartoris, trong khi một số khác, là dân ở đâu mới tới, như Colonel Sutpen. Cả hai đều cùng chung một mục đích: xây dựng một trật tự xã hội lâu dài, trên một vùng đất họ cướp được từ những người thổ dân da đỏ. Đầu óc thẳng băng, sống theo một qui luật nhất định (fixe code), nhưng "sâu thẳm" ở trong họ, là một ám ảnh tội lỗi, ở trong cách sống của họ, ở trong mơ ước tạo lập thiên đường hạ giới của họ (but there was also an inherent guilt in their "design", their way of life); và chính chế độ nô lệ mà họ bắt dân da đen phải chịu đựng, đã gieo vào mảnh đất một lời nguyền, và từ đó, là Cuộc Nội Chiến. Như trong thư của Faulkner viết cho Cowley, đám con cháu của Sutpen đã coi ông như là một thứ rác ruởi, đồ trôi sông lạc chợ (trash, originless), nhưng lại cảm thấy được an ủi, bởi sự kiện: rằng một người như Sutpen, giấc mơ của họ mới cao làm sao, nhưng chỉ đủ sức mạnh, và sự dẻo dai, để thất bại một cách thật là cao cả (the fact that a man like Sutpen ‘could only have dreamed so high but have had the force and strength to have failed so grandly.) Do đó, không phải do tính tình, mà chính là do số mệnh, mà Sutpen trở thành một nhân vật mang tính biểu tượng của Miền Nam.
Faulkner thường được coi như là một "ông già nhà quê", với độc giả người Mỹ. Và không phải nước Mỹ, mà là thế giới, đặc biệt là nước Pháp, đã "khám phá" ra ông. Nếu trí nhớ không phản lại người viết, khi ông được Nobel văn chương, tờ NY Times, trong một bài báo đã "cảnh cáo" độc giả nước ngoài: đừng nghĩ rằng ở Mỹ, nơi nào cũng có những thảm kịch loạn luân, thù hận da đen, như trong tiểu thuyết của Faulkner mô tả.
Cuộc Nội Chiến, kết quả của nó, là một nước Mỹ hùng cường ngày nay. Liệu một khi người Mỹ nhẩy vào Miền Nam Việt Nam, họ có mơ tưởng một lập lại lịch sử của chính họ, tại một vùng đất "unknown" nơi đầm lầy nhiệt đới Việt Nam? Và họ đã thất bại một cách thật là cao cả?
Trên đây chỉ là một "giả tưởng", của người viết bài này, nhưng trên thực tế, với tác giả Thụy Vũ, nó là một hy vọng thực sự, nếu chúng ta để ý đến hoàn cảnh gia đình của bà, mà như tác giả Vương Trùng Dương, qua bài viết đã dẫn ở trên: "Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long. Nhà văn sống giữa lằn ranh Quốc-Cộng trong gia đình. Vì sống giữa lằn ranh đó, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã gánh chịu bao điều ngộ nhận về khuynh hướng chính trị… thân phụ là nhà thơ Mặc Khải, tác giả Phấn Nội Hương Đồng. Mặc Khải nằm vùng, hoạt động cho Cộng Sản…". Nếu Thụy Vũ cho rằng chiến tranh là duyên do của suy sụp, nhưng bởi vì "sống giữa lằn ranh", bà cũng còn tin tưởng, chiến tranh dưới dạng giải phóng, là khởi đầu một hưng thịnh của nó.

Chú thích:
(1) Người viết xin tóm tắt sơ qua, cái nghiệp của một con thằn lằn. Tác giả của nó, Hồ Hữu Tường, theo người viết, cũng là một thứ đạo gia, xuống núi hành hiệp, qua những vai trò: hiệp sĩ, khi chấp nhận triết lý hành động của một Đệ Tứ, nhà văn, khi viết Phi Lạc, thiền sư, trong Trầm Tư Của Một Tên Tội Tử Hình, và sau cùng, một người dân Miền Nam, như tất cả mọi người, sau 1975.
Câu chuyện Con Thằn Lằn mở ra tại một ngôi chùa hẻo lánh, tại một miền đất xa xôi. Bữa đó, có hai người khách lãng du tình cờ ghé qua. Đúng vào ngày cuối cùng, trước khi quyết định lên giàn hỏa tự thiêu của vị sư trụ trì. Nhân câu chuyện lúc cùng khách, vị sư cho biết, ông đã tụng đủ mấy ngàn lần một bộ kinh, và theo như truyền thuyết, sau khi tụng xong lần cuối cùng vào tối nay, ông sẽ lên giàn hỏa, tự thiêu, và sẽ thành… Phật. Hai ông khách, khi về phòng riêng, nói chuyện với nhau, cho rằng nhà sư đã hiểu lầm ý nghĩa của bộ kinh, hơn nữa còn hiểu sai Phật Giáo, vốn cấm con người tự huỷ mình. Không ngờ khi họ nói chuyện, con thằn lằn trong chùa đã nghe được. Đây là một con thằn lằn đã tu nhiều đời, hiểu được tiếng người. Và nó cũng đã tin tưởng như nhà sư, và cũng tính theo ông lên giàn hoả, sau khi nghe ông tụng xong lần cuối bộ kinh. Thế là con thằn lằn cố tìm cách cứu mình, và cứu vị sư. Bằng cách uống dầu đèn, nó làm cho vị sư không làm sao tụng xong lần thứ… chót của bộ kinh, để lên giàn hoả tự thiêu. Vị sư sau cùng khám phá ra, và tiện tay cầm vồ tụng kinh, ông đập chết con thằn lằn, rồi tụng tiếp, và tự thiêu. Hồn cả hai lên gặp Phật. Phật quở vị sư, tu mà còn đủ sân si, lại còn thêm tội sát sinh, bắt trở lại làm người, tu tiếp. Còn con thằn lằn, Phật giải thích, tuy đã ngộ ra được một phần chân lý, nhưng phương tiện "nuốt dầu" như thế là còn có tính "bạo động", ép buộc, và "ngẫu nhiên". Phật cho phép con thằn lằn được tự chọn nghiệp, trước khi đầu thai, và phải "độ" cho được, tất cả con số chúng sinh đầu thai thành người, từ tro than của "nhục thân" một con thằn lằn, tức là kiếp trước của nó. Như người viết còn nhớ, truyện lần đầu chấm dứt ở đây, nhưng sau đó (trên tờ Văn ở Sài Gòn, sau 1954, trước 1975), tác giả viết thêm, cho con thằn lằn đầu thai, làm một nhà văn hóa.
Liệu có thể coi Cửa Tùng Đôi Cánh Gài, là một tiếp nối Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp? Đây là câu chuyện một vị sư trẻ xuống núi hành hiệp, mang theo một cây gươm, và một cái kiếng chiếu yêu. Nhờ kiếng chiếu yêu, chàng dũng sĩ trong chiếc áo thầy tu đã dùng cây kiếm trừ khử được rất nhiều yêu quái đội lốt người… nhưng dần dần, anh ít sử dụng tới kính chiếu yêu, và do đó, cũng ít phải có dịp rút kiếm ra khỏi vỏ, như thể thiên hạ đã hết cả yêu quái… Rồi tới một ngày kia, nhớ thầy, nhớ chùa, anh trở lại. Cửa chùa ngày anh còn, thường luôn luôn mở rộng, sao nay khép lại, trước anh? Buồn rầu, anh ngồi bên con suối xưa, thấy bóng mình trên dòng nước: một con người mệt mỏi, chán chường… Anh tự dưng có ý định soi một lần bóng mình, trên kiếng chiếu yêu… và rụng rời thấy, một con quỉ trên mặt suối giận dữ nhe nanh…
Không hiểu Hồ Hữu Tường đã từng đọc Nhất Hạnh, và tự hỏi như trên: liệu có thể coi Cửa Tùng Đôi Cánh Gài là một tiếp nối Con Thằn Lằn, và vị dũng sĩ thiền sư đã thất bại, như chính ông đã từng thất bại… ?
Và Nhất Hạnh, đã có lần nào đọc (lại) Cửa Tùng?

________________

Phụ đính II:

Đàn kiến lửa

Châu dẫn Biểu, người đánh xe thổ mộ đến trình diện bà Tư. Mọi việc đều thỏa thuận êm xuôi. Biểu đem một cặp vịt xiêm, hai chai rượu nếp than, một lít rượu đế xuống nhà bà mẹ nuôi để làm lễ ra mắt họ hàng bên vợ. Hôm đó, ông anh bà con của Biểu từ miệt Củ Chi cũng xuống chứng đám. Thế là Châu, hăm hở lên ngã Ba Cây Quéo để coi sóc nhà cửa cho chồng.
Bà Tư vẫn cờ bạc đều đều, vẫn chửi lộn hà rầm với hàng xóm. Cuộc đời không tiến mà cũng không lùi. Một hôm bà đang ngồi trên bộ ngựa gõ têm trầu thì Châu gánh một gánh rau bước vô, nét mặt lo lắng. Chị ta lột chiếc khăn rằn bịt trên đầu, lau mồ hôi, hổn hển nói:
- Má nên lo gã chồng cho con Ngọc đi. Nó đang có chửa với thằng Chơn ở mướn cho thiếm Bảy Bụng.
Bà Tư sững sờ, chết điếng:
- Ai nói mày vậy?
- Không tin thì má thử hỏi đầu trên xóm dưới đi. Ở trong nhà chẳng ai hay mà người ngoài biết ráo trọi rồi.
Bà Tư hét:
- Sao hồi đó tới giờ mày không nói cho tao biết?
- Tui thấy cũng chưa có chuyện gì. Nhưng bây giờ, nó thú thật với tui là nó có thai được hai tháng.
Bà Tư trợn mắt:
- Thiệt vậy hả? Chắc phen này tao phải đội quần hết thảy bàng dân thiên hạ xóm này còn gì.
Châu nói nhỏ:
- Thủng thỉnh rồi tính. Má làm inh ỏi lên thì người ngoài hay hết trọi bây giờ.
- Mày nghĩ coi, còn non nước gì nữa mà giấu, vài ba tháng nữa là cái bụng nó thè lè ra. Bộ mày tưởng lấy thúng úp miệng voi được à?
- Mình phải o bế thằng Chơn để nó làm đám thú phạt với con Ngọc. Có vậy mới vớt vát mặt mũi mẹ con mình.
Bà Tư ra lệnh:
- Mày đi tầm con Ngọc, kéo đầu nó về đây cho tao.
Châu bước lẹ ra khỏi cửa. Bà Tư nhai nát miếng trầu, nhưng cớ sao miệng bà lạt nhách. Càng nghĩ bà càng tức âm ách. Ngọc không bằng một phần ngàn của bà thuở trước. Trong cuộc hôn nhân, bà luôn lèo lái một con ngựa ngoan hiền. Mỗi tiếng ho, mỗi cái ngáp của bà cũng đủ làm cho họ mất vía. Vừa mãn tang người chồng thứ nhất, bà nghĩ ra ý định chiêu phu. Điều kiện rất dễ dàng: nuôi bà ngày hai bữa cơm và cho tiền bà đậu vài chếnh bài tứ sắc mỗi ngày. Bà không cần bông vàng, trầu rượu, heo gà gì hết.
Từ khi ý định chiêu phu của bà được phổ biến trong xóm thì biết bao nhiêu gã si tình đến quán cơm của bà chầu chực. Sau hết, một tay anh chị Lăng Tô lọt vào mắt xanh của bà, nhưng trớ trêu một nỗi là gã đã có vợ. Bà vợ lớn tìm tới khóc lóc, năn nỉ bà Tư. Nhưng bà Tư thản nhiên:
- Ai mà thèm giữ chồng chị? Nó lủi đầu vô ở với tui, chớ phải tui rủ quyến gì nó đâu.
Người vợ bất hạnh từng nghe đồn bà Tư là tay đâm thuê, chém mướn nên chịu lép một bề. Bà cùng người con trai chở bàn thờ cha mẹ chồng xuống giao cho bà Tư thờ phụng giỗ quẩy.
Trong đời tình ái của bà Tư, đàn ông chỉ là thứ Thiên Lôi để bà sai đâu đánh đó. Đằng này Ngọc khờ khạo quá, bị người tình cướp trên tay đời con gái mà không dám mở miệng buộc hắn làm đám cưới. Được rồi, bà nhất quyết ra tay trừng trị thằng tiểu yêu đã làm bại hoại gia phong nhà bà. Bà đi xuống bếp, lấy con dao xắt chuối, cất dưới gầm giường.
Ngọc đã về, rón rén sau lưng bà như một con mèo hoang, không dám hó hé gì cả. Châu lên tiếng:
- Nó về đó má.
Bà Tư quay lại:
- Nè con đỉ chó, mày cặp xách với thằng Chơn đằng nhà bà Bảy Bụng phải không?
Ngọc thổn thức gật đầu, nói:
- Dạ con dại có bầu với ảnh…
Bà Tư nổi xung, túm lấy tóc Ngọc:
- Mày ngựa quá mà. Bây giờ nó tính sao với mày đây?
Ngọc khóc ấm ức. Bà Tư bạt tai nàng xiểng niểng vì cái tội ngu, chứ không phải vì tội làm điếm nhục gia phong. Ngọc ấp úng:
- Tuần sau ảnh đi quân dịch rồi nên ảnh hẹn lúc nào về phép sẽ mời ba má ảnh lên để nói chuyện với má.
Bà Tư rít lên:
- Mày là đồ uống máu dơ. Đợi đến lúc nó về phép thì cái bụng mày chình ình rồi. Nếu nó thiệt bụng thương mày thì đâu có hẹn lần, hẹn lữa…
Bà Tư ngó qua Châu:
- Mày qua mời bà Bảy Bụng với thằng Chơn nhín chút thời giờ lại đây cho tao hỏi thăm vài câu chuyện… quan hệ. Đừng có lộn xộn phanh phui về chuyện con Ngọc nghe chưa?
Một lát sau, Châu trở về với hai người khác. Một bà tuổi xồn xồn, bụng phệ, mặt mày sần sượng vì giấc ngủ trưa bị lủng đoạn. Gã con trai mặc quần xám, áo sơ mi trắng, chợt lộ vẻ lo lắng khi thấy Ngọc ngồi củ rủ ở mép giường.
Bà Bảy Bụng hỏi:
- Có đủ “tay xòe” chưa chị Tư?
- Ối, hôm nay không có cờ bạc gì hết. Tui mời chị lại nói chuyện đời cho đở buồn vậy thôi.
Bà Tư quay qua Chơn, chỉ chiếc ghế đẩu:
- Em ngồi đây chơi.
Chơn khép nép sợ sệt. Ngọc cúi mặt nhìn xuống đất. Bà Tư đứng dậy khóa trái cửa lại, giữ chìa khóa trong túi áo, rồi thong thả nhả xác trầu vào ống nhổ và hớp nước trà súc miệng:
- Chắc cậu em cũng đoán biết tại sao qua mời cậu em qua đây? Bà gằn giọng – và gài kín cửa như vầy?
Chơn ấp úng:
- Dạ… dì Tư có điều chi dạy cháu?
Bà Tư cười lạt, nói với bà Bảy Bụng:
- Nó là thằng làm công cho chị, tui coi như là chị thay mặt cho cha mẹ nó.
Bà Bảy Bụng hơi ngạc nhiên, ngó Chơn rồi day qua bà Tư:
- Gì vậy chị Tư?
- Còn chuyện gì nữa? Thằng Chơn rủ quyến con Ngọc cho tới mang bầu rồi làm lơ chị biết hôn?
Bà Bảy ré lên:
- Trời đấy quỉ thần thiên địa ơi, ai mà dè.
Bà Tư ngó Chơn không chớp mắt, rồi thò tay lấy con dao xắt chuối bén ngọt lạnh lùng đặt trước mặt Chơn làm Chơn xanh mặt:
- Nè, cậu em. Tui hỏi cậu điều này, nếu cậu trả lời suông thì thôi. Còn ngược lại, tui sẽ chém cậu từng lóng tay, nghe chưa. Cậu thử hỏi chị Bảy đây coi con già này hồi xưa như thế nào. Tui coi việc tù tội như đi hứng mát Ô Cấp vậy.
Bà Bảy Bụng hạ thấp giọng:
- Chị cứ dạy cháu. Bao giờ nó không nghe thì trừng trị nó sau.
Bà Tư nhếch mép cười:
- Cậu có dám nhận là cậu đã lấy con Ngọc nhà tui cho tới nó mang bầu không?
- Dạ hai đứa con lỡ dại… thương nhau.
- Rồi cậu tính làm ngơ chuyện cưới hỏi phải không?
Chơn sợ sệt, ấp úng:
- Dạ con đã nói với con Ngọc, đợi lúc con về phép thăm nhà rồi sẽ…
Bà Tư quắc mắt:
- Trời đất! Từ đây tới ba tháng nữa cậu mới tính tới chuyện cưới hỏi thì con nhỏ tui có nước đội quần thiên hạ. Bộ cậu muốn rút êm hả?
Rồi bà gằn giọng, dữ tợn:
- Tui nói cho cậu biết. Nội trong ngày mai nếu cậu không về mời ba má cậu lên đây thì tôi quyết liều sống chết với cậu, nói có chị Bảy đây làm chứng.
Chơn cúi mặt buồn xo:
- Ba má cháu nghèo lắm. Dì Tư rán huởn cho con vài tháng nữa. Cần phải có vài chục ngàn mới làm đám cưới không đến nổi xập xệ.
Bà Tư lắc đầu lia lịa:
- Tui chỉ cần một lời nói phải quấy của tía má cậu thôi. Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm. Tui không đòi hỏi giết heo mổ gà gì cả.
Chơn lặng thinh. Ngọc vẫn khóc rấm rức. Bà Bảy Bụng chen vào:
- Chuyện đâu còn có đó. Để tui lảnh phần làm mai cho.
Bà Tư nhai trầu ngấu nghiến:
- Cậu phải tính cho xong trước khi cậu đi lính. Nếu không, tui sẽ chém cậu ra làm ba khúc rồi sau đó có ra sao thì ra. Nếu cậu trổ mòi đoản hậu, tôi nói thiệt, dẫu có chạy lên trời cũng không thoát khỏi tay tôi đâu.
Bà Tư chụp lấy con dao hoa lên vài đường trông ớn lạnh, rồi đặt mạnh xuống bàn:
- Bây giờ tui tu rồi đó. Nếu chuyện này mà xảy ra vào cái thuở tôi còn mạnh tay khỏe chân thì không được êm thắm như vầy đâu.
Chơn đã giẫm phải ổ kiến lửa rồi. Không phải gã định đánh trống bỏ dùi, nhưng gã cần phải chờ hốt vài chân hụi để sắm một đôi bông búp bằng vàng làm sính lễ, cùng heo gà để bày tiệc đãi đằng. Bây giờ bà Tư ví gã vào thế kẹt quá. Khạc chẳng ra, nuốt chẳng vào. Nếu bà đừng buộc gã làm con rễ gì trơn thì gã đâu có lúng túng khổ sở như vậy?
Bà Tư nghiến răng:
- Cậu hứa trước mặt chị Bảy là cậu sẽ đi cưới con Ngọc đàng hoàng trong nội tuần này đi.
- Dạ… con xin phép dì Tư cho ngày mốt con mới rảnh rang công việc.
- Đâu có được. Cậu phải gật đầu liền bây giờ hè. Cậu cưới vợ cho cậu chớ đâu có phải cho tía cậu. Nếu cậu không có tiền sắm nổi đôi bông cho nó thì tui cũng phải bù đắp, bao chi hết. Tui muốn vớt vát chút ít danh dự cho nhà tui, chớ tui đâu dám thèm tiền bạc của cậu. Con gái tôi tuy buôn gánh bán bưng chớ vòng vàng đeo đỏ tay, có thua gì con gái ông Phủ, ông Huyện đâu mà.
Bà Bảy can:
- Chị cứ tin lời nó. Kiến trong miệng chén có bò đi đâu
- Ờ đúng vậy đó. Đừng ai giởn mặt với con già này mà chuốc họa vào thân nghe.
Khi khách ra về rồi, bà Tư lấy cái tô đá múc nước mưa, uống ừng ực. Nước tới đâu mát tới đó. Ngọc cầm khăn mù xoa quẹt nước mắt. Cử chỉ đó làm xốn mắt bà mẹ nuôi. Bà têm trầu, quát:
- Thấy con đỉ ngu si này khóc mà sao tao ứa gan? Mày lấy bậy cho sướng thây mày để cho tao phải mỏi miệng, rát nước miếng.
*
Đám cưới của Ngọc thật đơn sơ. Bữa nhóm họ, bà Tư mời miệng chòm xóm đến nhà bà để dùng tiệc trà. Chính bà đích thân đến từng nhà trong xóm, nên khó ai từ chối.
Nguyệt thắc mắc, không biết phải mua quà như thế nào để mừng Ngọc.
Ngỡi thành thạo:
- Ở đây không ai ưa nhận quà đâu. Mình đi tiền là tiện nhứt.
Nguyệt rủ:
- Chiều nay, tui đi làm về xong, tụi mình cùng đi một lượt. Chị tính đi bao nhiêu coi cho được?
Ngỡi nói không cần suy nghĩ:
- Qua bên đó, tụi mình chỉ hớp được ly nước ngọt. Đi nhiều uổng tiền. Tiền nhiều để dành cho ăn mày còn được phước hơn.
Thấy Nguyệt chưa kịp hiểu lời. Ngỡi giải thích:
- Nhà đó là chúa tham. Để rồi chị coi, qua cái đám thú phạt này là họ cải nhau giành phần chia chác. Họ ó ré, sâu xé rùm xóm, chịu đời không thấu.
Ngỡi nhìn ra cửa sổ:
- Lại nữa, đi ăn cưới thì không sao. Đi ăn đám thú phạt xui lắm. Tưởng họ mổ gà, vật heo gì đó. Hên lắm mình được ăn bánh mua trong tiệm Khách Trú.
Nguyệt hỏi:
- Mình nên đi chải tóc, phun keo và làm móng tay coi cho được mắt một chút. Để u trệ người ta quở.
- Ồ, hơi nào! Uổng tiền lắm. Bộ chị tưởng bên đó dập dìu tài tử giai nhân gì sao mà phải bỏ công chải chuốc tóc tai?
Đến chiều, Nguyệt và Ngỡi mặc áo đồng một màu xanh ve chai, không son phấn bước qua nhà bà Tư. Ngoài hàng ba, ánh đèn “măng sông” trong vắt quét một vệt ánh sáng vào bên trong. Tiếng radio mở ồn ào hòa lẫn tiếng ó ré của mấy người bà ngoài hẻm tưởng chừng ở đây có một đám giặc. Các bợm nhậu kéo giọng nhừa nhựa, nói những câu đầu Ngô mình Sở, không ai chịu nổi.
Bà Tư hớn hở kéo ghế mời Nguyệt và Ngỡi ngồi. Nguyệt liếc vào phía trong. Chiếc màn ni-lông trắng chen hồng lay động. Ngọc bẻn lẻn bước ra. Chiếc áo dài màu gạch thêu kim tuyến trắng bó sát lấy tấm thân bụ bẫm của cô ta, và đố kỵ nước da đen mốc của cô ta. Ngọc nghiêng đầu chào hai người, Ngỡi đứng dậy, cầm bao thư đựng tiền mừng trao cho Ngọc. Cô ả lí nhí cám ơn khi Nguyệt chúc cho cô được trăm năm hạnh phúc.
Bà Tư lật phong thư không dán kín, lôi món tiền ra trước mặt Nguyệt, giọng thản nhiên:
- Châu biên vào sổ đi… Cô Nguyệt đi năm trăm đồng, còn cô Ngỡi ba trăm.
Châu khom người xuống tập giấy, nắn nót từng chữ một. Nguyệt ngượng chín người. Ngỡi nheo mắt nhìn qua Nguyệt, cười tinh quái.
Bà Tư mời Nguyệt:
- Mời cô Hai dùng chút nước ngọt mừng cho em đi.
Tuyệt nhiên, bà không đá động tới Ngỡi. Ngọc lẹ miệng mời thay:
- Mời chị Ngỡi ăn chút bánh lấy thảo.
Nguyệt hớp ngụm xá xị rồi đứng dậy kiếu từ. Khi bước ra ngoài sân. Ngỡi nói nhỏ:
- Cái bọn họ tiếp khách tùy theo món tiền của người đi mừng. Phải dè, tôi không thèm bỏ tiền vào bao thư làm chi cho mắc công.
Nguyệt cười ngất:
- Từ cha sanh mẹ đẻ cho tới bây giờ, tôi chưa thấy cái đám cưới nào thâu tiền bừa bãi, kỳ quái như vầy. Thiệt, mấy người đó thấy tiền còn hơn thấy Phật.
Bỗng có tiếng ú ớ của người đàn bà vang đột ngột giữa lúc đám cưới bớt ồn ào, Nguyệt đã gặp bà này một vài lần ở bên nhà bà Tư. Hôm nay, bà mặc áo dài màu hường tươi, màu áo chửi rủa tuổi tác năm mươi ngoài của bà. Bà là mẹ đẻ của Châu và Ngọc. Ít khi bà đến nhà bà Tư, trừ những ngày giỗ chạp, tết nhứt, hoặc những dịp Châu sanh nở. Bà ở miệt Hòa Hưng, suốt ngày chỉ tới các chùa lân cận, làm công quả để kiếm chác hai bữa cơm chay. Bà mê Phật còn hơn mê nhân tình. Tuy không thể đọc được kinh, không rành lần chuỗi hột, nhưng không ngày nào bà không đến chánh điện để chiêm ngưỡng dung nhan Đức Thích Ca Mâu Ni.
Nguyệt lủi vào nhà, kéo Ngỡi theo. Cả hai châu đầu ngó qua cửa sổ. Nguyệt chắc lưỡi:
- Bả già ngắt mà ăn bận lòe loẹt, hực hỡ giống như ma bóng quá.
- Tuy vừa câm vừa điếc mà bả ngựa giàn trời. Bả không có chồng mà vẫn sanh con mệ Châu và con Ngọc như thường.
Nguyệt tò mò:
- Ai lấy bả vậy chị?
- Ai mà biết. Bà Tư chưa tìm ra thủ phạm thay.
Nguyệt tinh quái:
- Không lẽ Hộ Pháp trong chùa nửa đêm tuột xuống bàn thờ để lấy bả?
- Nghe nói hồi xưa, lúc hai mươi tuổi bà Cam coi cũng ngọt mắt, sắc lẻm lắm chớ. Bả đi nấu cơm cho một tiệm sắt nguội trong Chợ Lớn. Tối, trời nực bả kê ghế bố ngoài hàng ba hóng mát. Bọn du thủ du thực nửa đêm đi coi hát về, làm bậy vài phát là bả ôm trống chầu, đẻ ra con mẹ Châu.
- Còn trường hợp của Ngọc?
- Ối, ai mà biết. Bả đâu có nói được mà tố cáo ai? Đã vậy lại không biết chữ nữa.
Nguyệt ngậm ngùi:
- Tội nghiệp quá!
Ngỡi trề môi:
- Xí, biết đâu bả sướng thứ điều bay tới chín từng mây. Tôi hỏi chị, có ai nở gièm siểm, bắt bẻ một người vừa câm, vừa điếc không?
Bỗng Nguyệt kêu khẽ:
- Ủa, bà Năm Út tới kìa.
Năm Út hôm nay tô son, trét phấn, đeo cẩm thạch, xách bóp đầm. Chiếc áo màu xanh thẫm điểm bông lớn bằng cái trứng gà không hợp với màu phấn tô mặt của mụ.
Ngỡi nói:
- Ý cha! Bả nịt bụng hay sao mà có co, có eo, coi được quá chớ?
Nguyệt thường trầm trồ đôi bàn tay mềm mụp, mát rượi của mụ. Ngón tay mụ suông đuột, phao móng tay hình hột hạnh nhân, trời nóng cũng như trời lạnh đều ửng hồng. Bàn tay đó không hề làm bếp hay giặt giũ quần áo, chỉ biết xòe những lá bài tứ sắc suốt ngày.
Trước kia Năm Út có nhiều tiền và cất mấy dãy phố lầu nhờ nghề cho vay đặt nợ ở mấy gánh hát để cho muớn. Thỉnh thoảng, mụ ta cũng nổi máu nghệ sĩ tính, xin soạn giả cải lương , đóng mấy vai con tỳ nữ giễu cợt với bọn hề mặt mốc, hoặc biểu diễn những màn chưng bươm bướm trước khi đoàn hát diễn tuồng nồng cốt. Sau đó, mụ ta bị mẹ ép gả cho ông Năm Út. Thua buồn hoặc bất mãn về tình duyên nào đó, mụ đâm ra bài bạc, bán đứt mấy dãy phố lầu rồi dọn về đây. Ông chồng thì bán cà phê, nước giải khát. Còn mụ vẫn đỏ đen lu bù, lâu lâu bày ra bán cháo trắng thịt phá lấu hoặc cơm tấm bì.
Năm Út chợt thấy bà Cam mặc áo hường, đúng bên bình bông huệ, liền ứng khẩu hát lảnh lót:
“ Người ngọc bên hoa, hoa ửng sáng,
Hoa cười bên ngọc, ngọc thêm trong”.
Mọi người cười ồ ồ. Bà Cam tuy không hiểu trọn câu nói của bà bạn hàng xóm, cũng cười bẻn lẻn, tình tứ như công chúa bị hoàng tử ve vãn trong phim Ấn Độ.
Bà Tư mừng rỡ:
- Thiệt tao bằng bụng lắm, Năm Út à. Mày tới đây chia vui với em út, quí biết chừng nào.
Năm Út ung dung ngồi xuống ghế, lấy phong thư, liếc liếc bà Tư rồi ỏn ẻn nói:
- Thôi đi bà nội. Để tui nói chuyện phải quấy với vợ chồng con Ngọc một chút. Đâu, cô dâu chú rể lại chị Năm coi.
Chơn và Ngọc bẻn lẻn, bước lại. Mụ nhìn Ngọc từ trên xuống dưới khen:
- Con Ngọc hôm nay sao đẹp mê ly quá xá. Tuy nó đen đúa, nhưng mà đen theo điệu xôi nếp than, càng ăn càng bùi miệng.
Ngọc cúi xuống cằn nhằn:
- Chị Năm… nói kỳ quá hé.
Năm Út làm bộ tỉnh khô, khẽ lấy tay nhịp xuống bàn ca mấy câu vọng cổ đã thâu thanh vào đĩa hát Asia qua giọng ca của cô Tư Sạng hồi hai mươi năm về trước:
Con ôi! Tháng Chạp tới đây là ngày tên con sẽ ghi vào cuốn sổ nhơn duyên, cung đàn bấm phím tơ loan cho trăm năm được bề chắc ơ… ơ… ơ…
Một người đàn ông ngồi đối diện la lên:
- Đ.m… bà này ca bản xưa mùi tận mạng.
Năm Út tra gân cổ lên chót chét ca nữa. Bà Tư háy dài một cái:
- Thì mừng cho em út đi. Ca lý hoài làm tụi nó nóng ruột.
- Bất nhơn dữ không? Mà tụi nó nóng ruột… để làm gì vậy a bà Tư?
- Con nhỏ coi bộ muốn điên.
Năm Út trao phong thư cho Ngọc rồi lên giọng dạy đời:
- Nè Ngọc, chị khuyên em một câu: hể con gái thì xuất giá thì tùng phu… Ông bà mình thường dạy như vậy…
Rồi mụ quay qua Chơn:
- Con Ngọc thì lo bề xuất giá tùng phu, còn mày cứ việc chổng khu… đẩy ghe vô ụ.
Cả đám cưới cười ồ ồ. Bên này Ngỡi nằm lăn ra “đi-văng” cười muốn hụt hơi. Nguyệt cũng cười đến nỗi đau cuống họng, nặng cả ngực và muốn tróc mỡ sa.
Bên kia, Năm Út uống nước cam rồi bóc chiếc bánh ú nhai lách chách. Mụ õng ẹo chê bai:
- Nè bà Tư, đi ăn đám cưới như vầy hoài chắc tôi bớt mập, có thể leo lên sân khấu vũ “xét-xi” ngon lành một cây.
Bên này, Ngỡi xầm xì với Nguyệt:
- Con mẹ Năm Út chì lắm. Một khi con mẻ xì ra, ba làng bụm họng y thị cũng không kịp.
Năm Út xách bóp đứng dậy kiếu gia chủ, liếc Chơn một cái thật lẳng, rồi núng ninh ngoáy cặp mông tròn vo ra cửa:
- Chị biết hai em cũng chẳng vui sướng nhiều bằng cặp vợ chồng mới cưới khác. Đêm nay, bất quá…
Bà Tư trợn mắt, tức mình:
- Con đĩ heo nái, ăn nói vô duyên.
Năm Út hát lảnh lót:
“Đêm nay dầy sướng mỏi mê
Đường đi nước bước đi về từ lâu”
Năm Út vừa bước ra hẻm, chợt thấy Ngỡi và Nguyệt thập thò ở khung cửa sổ vàng rực ánh đèn liền bước vào. Nguyệt niềm nở mời mụ ta ngồi và đưa cái quạt phất giấy cho mụ quạt.
Ngỡi cười:
- Bà này ưa soi bói chuyện của người ta hoài. Nhè chỗ nhột của người ta mà cù lét chớ.
Năm Út liếc qua bên nhà bà Tư:
- Con Ngọc muớn tiệm may nào may áo không biết mà khi ngó vào là thấy cái bụng nó nổi tròn vo, ngứa mắt quá chừng.
Ngỡi hăm he:
- Xong đám cưới, bà Tư sẽ đào mồ cuốc mả ông bà, ông vải chị đa.
Năm Út cười tỏn tẻn:
- Sức mấy. Bả là anh hùng một cõi, còn tao đây là đồ xả rác hay sao? Hồi xưa tao cũng cầm đầu một toán đánh ghen tập thể, ở miệt Lăng Tô, Tân Thuận, thử hỏi ai mà không biết?
Ngỡi bật cười:
- Chị bảnh quá he? Vậy thì chết thiên hạ còn gì?
Năm Út trề môi:
- Chẳng bảnh, chẳng bao giờ hết. Nhưng ai bảnh hơn con này chắc là khó sống.
Đám cưới tản mác dần. Trời tối mịt ở ngoài cửa sổ. Nguyệt sửa soạn khăn mặt, đi tắm. Đồng đi chơi cũng vừa về. Cả hai qua nhà Ngỡi dùng cơm không chờ Đăng vì Đăng đã dặn trước là tối nay chàng đi coi hát bóng tới muời giờ mới về.
Cơm nước xong xuôi, Đồng đi ngủ sớm. Nguyệt bưng hộp đồ thêu ra, tẳn mẳn thêu thùa cho qua một buổi tối. Ngỡi sau khi gội đầu xong, bước qua nói chuyện khào.
Con nít xúm lại la ó rùm beng ở dưới mái hiên nhà bà Tư. Chúng xúm quanh bàn bầu cua cá cọp, sát phạt nhau từng đồng bạc nhỏ, nhưng không kém hào hứng.
Năm Út bước lại thùng chứa rác, bỏ vào đó xác vỏ quít, ngứa miệng:
- Tụi bây, đừng có làm om xòm. Để chị Ngọc bây ngủ cho khỏe để nó kiếm con.
Khi bọn tiểu yêu tản mác thì Năm Út lẫn Tư Búp bước vào nhà Nguyệt. Tư Búp nói nhỏ:
- Có con trong bụng rồi mà còn kiếm nổi gì? Chắc là thằng Chơn chỉ có nước tráng men cho đứa nhỏ…
Năm Út nói:
- Có chửa rồi nên kiêng cữ ăn nằm với chồng họa may con cái sau này thông minh, học giỏi.
Đèn bên nhà bà Tư, không hiểu sao, tắt lịm. Bà loay quay lo thắp đèn dầu, và bắt đầu cằn nhằn, trách móc Tư Búp giễu cợt tầm ruồng, ăn nói xô bồ xô bộn.
- Tui lóng rày sức tàn vóc mỏi rồi. Hồi trước, con vợ thằng Út mà nói giọng đó, tôi xé nó tét háng.
Ngỡi xuí bậy:
- Bả chửi chị kìa. Ăn thua đủ với bả cho tụi này xem chơi.
Năm Út cười:
- Ối, hơi nào, bả nói lén mà ai thèm chấp nhứt.
Bà Tư bước ra hiên nhổ xác trầu, liếc sang nhà Nguyệt, nét mặt cùng hung cực ác. Khuôn mặt bà nhiều thịt hum húp như bị chứng phù thủng không thể làm giảm ánh mắt sắc sảo và cặp mày xếch ngược, đầy uy quyền.
Bà nói với bà Bảy Bụng:
- Chi Bảy nghĩ coi. Con cháu tui tuy là nghèo hèn vậy chớ cũng được một lần cưới hỏi rỡ ràng. Mấy con đĩ chung quanh đây ganh ghét, xầm xì nói hành nói tỏi. Mà nói cho cùng, nếu lấy trước cưới sau, nó cũng chỉ lấy có một thằng. Còn cái thứ đàn bà dâm đãng nay cụp thằng này, mốt cụp thằng nọ. Đã vậy, mà mấy con đĩ trời đánh thánh đâm đó không biết vinh, biết nhục, cứ xáp lại nói xóc óc mẹ con tui.
Bà Bảy cười hềnh hệch:
- Ối, hơi nào chị để ý chuyện tẹp nhẹp đó? Họ nói gì mặc họ. Mình tử tế, đàng hoàng thì mình biết.
Năm Út, Tư Búp, lẫn Ngỡi bị một câu “bứt mây động rừng” ấy, nhột nhạt, xốn xang. Tư Búp trề môi:
- Tưởng bả tử tế gì đó. Cái thứ đoạt chồng thiên hạ, ác đức, tội lỗi dẫu tắm nguyên con sông Đồng Nai cũng chưa rửa hết tội.
Năm Út nhún vai:
- Nghe nói hồi xưa bả dựng bảng kén chồng. Trời ơi! Đĩ ngựa một cây đó.
Không khí hai bên bắt đầu căng thẳng. Nguyệt muốn tìm chỗ trốn để khỏi nghe hai bên chửi bới lẫn nhau. Nàng miễn cưỡng ngồi tiếp khách, lòng hồi hộp. Ngỡi đứng dậy, Tư Búp trề môi, nói khích:
- Mày chạy mặt bà Dạ Xoa đó rồi hả?
Ngỡi ngoảnh lại:
- Có muốn sanh sự với bả thì làm ơn ra khỏi nhà chị Nguyệt, kẻo chỉ mắc họa lây.
Năm Út đứng dậy:
- Mày làm bộ biết điều, còn tụi tao là hạng ăn ở bội thiên nghịch địa vậy.
Tư Búp mỉm cười rồi ngáp ồn ào, nhìn qua bà Tư giọng châm biếm:
- Làm gì mà mình lúc nào cũng buồn ngủ y như là đàn bà có chửa vậy cà?
Năm Út cười:
- Tại mang tiếng đ… bậy nên có chửa chớ sao.
(Văn – Xuân Quí Sửu - 1973).
Bản của Ấn Thư Quán

_________________

Một buổi chiều

... Đối với những anh em văn nghệ ở ngoài tòa soạn đó, tôi là Nguyễn thị Thụy Vũ. Nhưng đến nó tôi vẫn là cô Nguyễn Băng Lĩnh. Tất cả xem tôi như một người thân. Anh em tòa soạn đó đã từng chứng kiến tôi trong lớp gái Lục Tỉnh bước lên Sàigòn, thường đỏ mặt tía tai mỗi khi nghe những câu hỏi tếu của bất cứ ai. Tôi đến tờ tập san đó bằng thái độ e dè, có cảm tưởng mình làm văn nghệ như mình hát xiệc trên hai sợi dây căng ngang tít trên cao. Tôi đã nhận năm trăm đồng tiền nhuận bút ở tác phẩm truyện ngắn đầu tay do ông chủ nhiệm đưa. Năm trăm đồng bạc thuở đó cũng như năm ngàn đồng bạc bây giờ chớ ít ỏi gì sao. Nhưng thuở đó sống trong sự bảo bọc của cha mẹ, tôi viết văn vì thích viết mà thôi. Năm trăm đồng chỉ làm cho tôi nghĩ rằng, bài mình được một tạp chí "lớn" đoái hoài tới. (trích Những Dòng Mực Cuối Năm, đăng trong số này)
1.
Con đường Võ Tánh đưa tới Bảy Hiền cho tôi một ý nghĩ là lạ: quen thuộc mà dửng dưng. Tôi đi trên con đường ấy nhiều lần, nhưng ý nghĩ ấy không thay đổi. Tôi còn xa lạ đối với không khí Thủ Đô. Tôi chẳng thấy ở đây có chút một gì vui tươi. Ở đây nhộn nhịp, nhưng tôi có một thế giới riêng, thế giới tẻ ngắt, như lúc tôi sống ở Long Xuyên.
Chiều thứ bảy hôm nay, đường Võ Tánh vẫn vắng. Ở đây gần như ở ngoại ô. Ngồi trên chiếc Vélo Solex, tôi không buông hết ga. Chiếc Solex bò từ từ gần như là chiếc xe đạp. Tôi đi qua những mái nhà lụp xụp, rải rác hai bên lề. Thỉnh thoảng vài anh chàng trẻ tuổi, cặp tay một ả mặc jupe bó sát lấy cái mông đầy thịt, từ trong ngõ vắng đi ra. Đường nầy ít xe cộ. Tôi qua khỏi Lăng Cha Cả, qua một nghĩa địa của người Pháp với những ngôi mộ vuông mang những chữ thập trắng thẳng hàng. Sự lặng lẽ trên con đường này càng tăng thêm. Thỉnh thoảng một chiếc trực thăng vượt ngang đầu tôi xé tan cái không khí yên lặng của nghĩa địa.
Tôi đã đến cổng nhà một cô bạn người Mỹ. Con đường vào nhà nhỏ hẹp, hai bên viền cây ngọc lan, dẫn tôi đến một biệt thự trắng xóa ẩn một nửa dưới chòm cây. Tôi đi vòng sau bếp, rồi leo lên thang gác. Ở đây, tôi có thể nghe tiếng đoàn quân xa chạy rần rộ bên đường Lê Văn Duyệt. Tôi lò mò lên phòng Martha Smith, cô bạn gái kiêm cô giáo tôi.
Đáng lẽ giờ này Martha còn đi bơi ở hồ tắm Cộng Hòa, nhưng nàng đã hứa tiếp tôi. Bước nhè nhẹ vào phòng, tôi đến bên cạnh nàng, nhưng nàng chưa hay biết. Martha đang mê mải đọc một tờ báo Việt vì nàng cũng đang trau dồi Việt ngữ.
Tôi kêu lên:
- Hi! Martha!
Nàng giật mình buông rơi tờ báo, vỗ lấy vai tôi:
- Tôi sẽ đi Vũng Tàu tuần sau. Bây giờ tôi dành cho chị cả buổi chiều nầy.
Martha hơi nhỏ nhắn đối với gái Tây phương. Nàng có lần hỏi tôi:
- Nầy Linh, chị trông tôi giống gái Tàu không?
Thật vậy, nàng giống ả xẩm nếu mái tóc nàng đen. Tóc Martha hớt kiểu Jeanne d’Arc. Nàng ít mặc đầm, chỉ thích mặc quần tây, áo sơ-mi ngắn. Trông Martha có vẻ thể thao lắm. Nàng bảo rằng nàng ưa hát tiếng Việt mặc dù giọng còn cứng lắm, và nàng lại có biệt tài bắt chước các ca sĩ Việt Nam. Tôi vội khai thác ngay:
- Martha! Hát tặng tôi một bản nhạc Việt đi. Nàng nhận lời ngay, không từ chối. Bỗng nhiên Martha đứng phắt dậy, xách cái đàn Guitare ra. Cô ta đặt cây đàn dựa vào thành ghế.
- Linh! Thí dụ đây là máy vi âm. Và hôm nay tôi hát tặng chị bản “Mưa Rừng”.
Bất chợt, Martha móc chiếc khăn tay ở túi. Tay trái cầm khăn, tay mặt vịn cái cán đàn. Tôi hiểu ngay, nàng đã quan sát tỉ mỉ các nàng ca sĩ Việt Nam. Tôi vụt cười thành tiếng. Lúc đầu, Martha làm ra vẻ mơ màng. Sau đó nàng cầm khăn mùsoa vừa hát vừa chớp mắt lia lịa, vừa nhún nhẩy.
Hát xong, nàng hỏi tôi:
- Tại sao các cô ca sĩ Việt Nam khi trình diễn lại cầm khăn tay?
Tôi không biết giải thích thế nào cho ổn. Sau đó, tôi nói bằng một giọng rầu rĩ:
- Vốn đa cảm, họ phải cầm khăn tay theo để phòng khi họ khóc. Nhạc buồn dễ làm cho người Việt chúng tôi khóc lắm.
Martha ngạc nhiên rồi ngẫm nghĩ:
- Nhưng tôi gặp họ trình diễn nhạc nhộn mà. Vả lại khi hát họ tươi cười.
Tôi nói liều:
- Họ cười, nhưng họ khóc sau hậu trường.
Martha cười nghiêng ngửa. Sau màn ca hát, Martha đi pha trà. Nàng vừa làm vừa hát khe khẽ. Điệu bộ nàng nhí nhảnh. Sau vài phút, chúng tôi ngồi bên nhau nói chuyện tâm tình. Giọng Martha không vui tươi như lúc đầu. Tôi tấn công nàng:
- Sao chị sang đây một mình? Chị không nhớ nhà sao?
Martha nhướng mày so vai.
- Cũng đôi khi thôi, chị à! Nhưng tôi thích xa nhà. Tôi muốn tìm không khí mới, vả lại tôi muốn… gặp chị như hôm nay đây.
Martha lấy điếu thuốc, rồi bật que diêm. Dáng điệu nàng chậm chạp như để xếp lại quá khứ cho có thứ tự. Khi làn khói xám từ trong miệng nàng bay ra, nàng duỗi người trên ghế sofa, mắt nhìn lên trần nhà:
- Linh à! Sở dĩ tôi sang đây vì tôi thất tình. Tôi yêu một thanh niên cùng học ở Michigan, nhưng… chàng ta có người đẹp khác. Chán quá, tôi thích thay đổi cái không khí lạnh lẽo của quê tôi và tìm đến xứ chị để được ấm áp hơn.
- Nhưng chị còn đi đâu ngoài Việt Nam không?
- Có chứ. Tôi sẽ đi Nhật, Thái Lan và Cambodge nữa. Chưa đi các xứ sở đó nên tôi cảm thấy quê chị cho tôi khá nhiều kỷ niệm đáng nhớ.
Tôi cám ơn nàng bằng một cái nhìn âu yếm.
- Chị sẽ làm gì sau khi chu du Á Châu?
- Dĩ nhiên là tôi về quê hương sống ở nông trại dưỡng già và viết hồi ký. Thế nào trong trang đầu hồi ký của tôi, chị cũng là nhân vật đáng kể.
Bỗng nàng dụi điếu thuốc chỉ cháy một nửa, rồi ngồi phắt dậy như cái lò xo:
- Nầy Linh! Sắp tới giờ Bill đến thăm tôi đây.
Tôi vội xin phép ra về, nhưng Martha níu tôi lại:
- Sao lại về? Hôm nay tôi dành cho chị một sự ngạc nhiên.
Cứ ngồi đây chờ tôi một tí đi.
Không hiểu sao tôi ngoan ngoãn ngồi lại chỗ cũ.
Martha vào phòng riêng khép cửa lại.
Tôi nhìn quanh quất. Căn phòng hình chữ nhật, sơn trắng xóa. Giữa nhà, một bộ xa-lông nệm mousse màu nâu thẫm. Chiếc ghế sofa kê sát tường, bên cạnh cái pick up, và đối diện kệ sách báo rất ngăn nắp.
Có lần Martha bảo: “Tôi chưng dọn phòng nầy sơ sài nhưng nó có cái nghĩa riêng của nó. Mỗi lần đi làm về, tôi nằm trên chiếc ghế nầy hút thuốc. Lúc đó tôi quên rằng tôi sống xa nhà, chị ơi! Vì cái phòng nầy giống hệt phòng mà má tôi dành riêng cho tôi lúc tôi còn ở Texas. Chỉ thiếu cái lò sưởi kiểu cổ đun bằng củi thôi.
Trong không khí yên vắng, bỗng vang tiếng thụ cầm của bà mục sư già gần bên làm tôi dễ buồn ngủ.
2.
- Linh mạnh đấy chớ?
Tôi quay lại. Bill đã đến bên tôi. Chàng niềm nở bắt tay tôi. Bill to lớn, mắt chàng trong xanh như đôi mắt mèo. Tóc chàng hoe vàng, màu của dây tơ hồng bò trên hàng giậu. Tôi quen Bill qua một cô bạn rồi Bill mời chúng tôi đến nhà. Bill đưa chúng tôi thăm trại gia súc ở Bảy Hiền. Bill thích pha trò và rất lịch sự. Có lần Bill lái xe đưa chúng tôi đi thăm trại heo giống. Đến chuồng những con heo khổng lồ, chúng tôi phải bưng lấy mũi vì cái mùi bất hủ của chúng nó. Bill thấy chúng tôi tỏ vẻ khó chịu liền cười khanh khách:
- Linh! Tôi đưa Linh vào hãng nước hoa đấy!
Bill đưa chúng tôi từ chuồng heo đến tàu ngựa. Mỗi nơi Bill giải thích một cách dí dỏm. Ngoài những lúc đi thăm trại gia súc, Bill còn chịu khó dạy tôi học Anh văn. Bill thân với tôi ngay từ đầu. Bill có lần bảo:
- Linh! Tôi thích có những người bạn gái Việt. Sao họ lành quá. Đẹp nhất là lúc các cô thẹn thì dễ mến lạ.
Bill đưa mắt đảo khắp gian phòng. Tôi hiểu ngay là Bill muốn hỏi tôi về Martha:
- Đợi một chút, Bill. Martha sẽ cho lũ chúng mình một sự ngạc nhiên. Chờ xem!
Bill ngồi xuống cạnh tôi cười vơ vẩn. Bốn mắt chúng tôi dán lên cánh cửa phòng nàng và chờ đợi. Cửa phòng bật mở. Martha hiện ra với chiếc áo dài Việt Nam màu hồng, tay cầm chiếc nón lá. Càng ngạc nhiên hơn, tóc nàng biến thành dài, đen óng và bỏ xõa trước ngực (đó là mái tóc giả). Nàng chậm chạp tiến về phía chúng tôi trịnh trọng cúi đầu.
- Chào Bill. Linh xem tôi thế nào?
Bill cười:
- Martha! Em tuyệt thật!
Martha quay sang tôi, bảo:
- Linh! Tụi mình đi chơi phố. Có tôi hẳn chị không từ chối đi với con trai Mỹ chớ?
Tôi gọi:
- Kìa Martha, sao lông nheo chị lại nâu vàng vậy?
Martha kêu lên:
- Ấy chết! Tôi quên.
Martha chạy xổ vào phòng, ngồi lại bàn trang điểm. Tôi bỏ Bill ngồi đó, vào ngồi bên nàng để làm cố vấn sắc đẹp cho nàng. Martha lấy cái bàn chải nhỏ đánh cho đôi hàng lông nheo biến thành đen nhánh. Martha nhìn lần nữa vào gương, mắt nàng mơ màng, miệng nàng cười đắc ý. Nàng chạy đến bên Bill, giục:
- Đi, Bill! Hôm nay anh đi dạo với hai cô con gái Việt. Linh, thôi chúng mình ra xe đi.
Tôi mượn cớ bận việc vì tôi có mặc cảm bây giờ mình là người thừa. Bill Chilion là bạn của tôi, Martha Smith quen với Bill do tôi giới thiệu. Bây giờ hai người yêu nhau.
3.
Tôi chưa chịu trở về căn nhà trọ ở Hàng Xanh. Tôi cho xe chạy ra bến Bạch Đằng. Trời tối hẳn. Cuộc sinh hoạt ở đây náo nhiệt hơn. Phần nhiều người ta đi chơi có bè có bạn. Làm một cuộc phiếm du đơn độc, tôi bỗng có cảm tưởng thiên hạ quên tôi. Tuy vậy, tôi thấy dễ chịu. Pho tượng hai bà Trưng đặt giữa công trường Mê Linh dường như lãnh đạm ngó xuống lớp người nhốn nháo chung quanh. Tôi gửi chiếc Solex, rồi thơ thẩn trên những lối đi trải sạn, giữa những bồn cỏ hình vuông dài, những cây liễu trồng giữa bồn ủ rũ dưới ánh điện lờ mờ. Tôi men lại bể cá vàng giữa công trường. Cuộc sinh hoạt của loài cá rực rỡ này cũng nhộn nhịp. Tôi mua một gói bắp rang bơ, rồi thả từng hột xuống bể cho chúng đớp.
Tự nhiên, tôi buồn rũ. Martha xa nhà thiếu hẳn tình thương gia đình, nhưng bù lại nàng được nhiều người say mê. Nàng có nhiều mối tình. Sắc đẹp Á Đông của nàng dễ quyến rũ những người chuộng vẻ đẹp xa lạ như Bill.
Tôi xa gia đình và rất nhớ Duy. Tôi nhớ những khi tôi chưa lên Sài Gòn, chiều nào Duy cũng đưa tôi đi chơi phố.
Bây giờ, tôi bỗng như người vô hồn giữa phố đông xa lạ. Cảnh vật vẫn hoạt động theo nhịp điệu cũ, như không buồn ngó ngàng đến tôi như những chiều trước. Và Duy không có ở đây. Hình như tất cả đều quay mặt không nhìn tôi.
Thuở đó, ba má tôi xuống Sóc Trăng lập nghiệp. Em gái tôi đã lên Sài Gòn học. Chỉ còn có một mình tôi sống trong căn nhà cổ âm thầm này. Tôi làm nghề giảng tập viên, lương thì ít, cực thì nhiều. Nỗi buồn lờ mờ tưởng như không sao dứt được.
Cứ mỗi sáng thức dậy, chưa rửa mặt, tôi bước ra cổng nhà chờ bà bán xôi. Chỉ một đồng, tôi đã được một bữa ăn sáng và sửa soạn đi dạy học. Nói là sửa soạn cho oai, chứ chỉ khoác lên người chiếc áo nội hóa và với cái mặt xanh nhợt không son phấn. Trên con đường đến trường (một trường làng cách nhà tôi lối mười phút đi xe đạp), tôi vừa đạp vừa nghĩ vu vơ. Đôi khi tôi đuổi theo một giấc mơ hết sức ngớ ngẩn. Tôi mơ thành triệu phú nhờ một tấm vé số kiến thiết. Rồi thì bao nhiêu chuyện đẹp xảy ra sau khi thành nhà triệu phú. Tưởng tượng đó làm tôi bật cười. Nếu gặp mấy con bạn thấy bất ngờ cái cười quái gở ấy, chúng lại kêu lên: “Cười gì vậy?” Tôi chỉ biết cười thêm để trả lời cái câu hỏi đột ngột ấy.
Cái xã hội nhà trường cứ đều đều như tiếng tích tắc đồng hồ. Sau giờ hò hét con nít, tôi trở về cái nhà cũ kỹ, lạnh ngắt ấy. Đêm nào tôi cũng nghe tiếng sông róc rách sau nhà, tiếng tàu xà lan chạy xình xịch. Hình như đêm nào tôi cũng chìm trong những tiếng động đó. Tôi phải ra đi. Ra khỏi cái nhà nầy, cuộc đời tôi sẽ thay đổi. Tôi tin chắc như vậy. Thừa dịp nám phổi, tôi làm đơn nghỉ hẳn việc dạy học.
Sau khi tôi được phép nghỉ, ông hiệu trưởng trường tôi âm thầm tổ chức một bữa tiệc tiễn hành.
Bữa tiệc tổ chức tại nhà hàng thuộc vào hạng trung trong tỉnh. Chúng tôi gồm tất cả 11 người (tám nữ và ba nam kể cả ông hiệu trưởng). Các bạn nữ đồng nghiệp của tôi có vẻ quyến luyến tôi thực tình. Chắc hẳn họ tiếc mất đi một con bé dám cầm đầu cãi cọ với ông hiệu trưởng có tí “máu xấu”. Thực vậy, sau bài diễn văn của ông hiệu trưởng, các bạn gái của tôi tỏ vẻ cảm động mặc dầu tôi hiểu ngay ông ta làm một chuyện theo nghi lễ đối với nhân viên ông ta thôi việc hay bị đổi. Nhưng tôi cảm thấy buồn buồn trước một sự đổi thay dù tôi tha thiết muốn như thế.
Sau khi tiệc tàn, và được mỗi bạn tặng cho một cái vỗ vai hay cái siết tay gần như muốn gãy hết cả ngón, tôi lủi thủi trở về. Căn nhà càng tăng thêm lạnh lẽo, cái lạnh lẽo của nhà xác đúng hơn. Tôi xếp vội vài thứ cần dùng mang theo. Khi mọi việc đâu vào đó, tôi vào giường cố dỗ giấc, nhưng bao nhiêu ý nghĩ vui buồn cứ lần lượt quấy rộn tôi. Cứ trằn trọc mãi, tôi có cảm tưởng đêm dài không bao giờ hết. Bất chợt đồng hồ buông năm tiếng, tôi thức dậy sửa soạn lên đường. Tôi chỉ đánh thức người anh họ và gửi gắm nhà cửa cho anh rồi lặng lẽ ra đi. Ông anh họ tôi còn ngái ngủ. Tôi nói huyên thuyên nhưng không biết mình nói những gì. Nhưng tôi cần tuôn hết những ý nghĩ lộn xộn trong lòng tôi. Cuộc đời ở đây đè nặng làm tôi nghẹt thở.
Ra khỏi đây, tôi nhẹ cả người. Nhưng, như người ngồi mãi trong chỗ tối tăm, khi ra ánh sáng lại bị chói mắt, đột nhiên nước mắt tôi trào ra. Ông anh họ an ủi tôi. Cái ý tưởng một cuộc đời khác nối liền theo chuyến đi không làm tôi phấn khởi chút nào. Bây giờ tôi là một vì sao đổi ngôi. Vòm trời nơi đây có một bộ mặt dửng dưng nhưng sao lúc nầy nó lại ràng buộc tôi như vậy? Ra đi một mình, khi trời còn mờ tối, cảm xúc ủy mị xui cho tôi cái cảm tưởng bị người xứ sở hắt hủi.
Giòng sông Mỹ Thuận trôi xiết. Mùa nầy nước sông đục. Trong nắng sớm, những cánh buồm xa thấp thoáng. Tôi đã sang sông, nhưng không phải đi lấy chồng. Tuy vậy, tôi tin sẽ gặp một cuộc đời khác. Rồi nghĩ lại tự nhiên mình rứt khỏi cuộc sống cũ, tôi hơi hối tiếc. Nhưng tôi phải đi. Cuộc đời ở đây đứng sựng lại. Tôi muốn tìm cái gì khác hơn cái tôi đang có. Nếu tôi như con chó ngậm một miếng thịt rồi đi qua cầu, thấy bóng miếng thịt lớn hơn, vội nhảy ùm xuống nước bắt lấy, thì ít ra tôi cũng hái được một chút kinh nghiệm.
Tôi ra đi hơi đột ngột và lặng lẽ quá. Ba tháng sau, Nga, bạn tôi gởi thư cho tôi, thuật lại những lời nhận xét của các đồng nghiệp tôi về chuyến đi của tôi. Có người nói tôi trốn xứ để đi sanh nở. Có người đồn tôi xách gói theo ông hiệu trưởng (vì sau khi tôi nghỉ việc, ông hiệu trưởng cũng bị đổi đi về miền đất đỏ sau một tuần). Đọc thư Nga, tôi ngơ ngẩn không rõ nên vui hay buồn. Sở dĩ thiên hạ đồn như thế vì tỉnh tôi nhỏ bé quá, mọi chuyện gì họ cũng thích bàn tán. Họ giàu tưởng tượng và khoái thêm thắt vấn đề. Hơn nữa những cô giáo xin nghỉ việc thình lình chỉ có hai lẽ: đi đẻ hay đi theo trai. Chuyện ấy xảy ra thường cho các cô lâm vào cảnh không may ấy. Cách đó vài tháng, lang thang ngoài chợ Bến Thành, tôi gặp một người chị bạn đồng nghiệp và đồng xứ với tôi. Tôi không giấu được mừng rỡ khi cầm tay chị. Vô tình tôi bắt gặp đôi mắt của chị dọ thám xuống bụng tôi. Bất giác tôi không nín được cười. Tôi vụt hiểu cái nhìn nhiều ẩn ý ấy. Nhưng sau năm tháng bỏ quê, chị không thể thấy bụng tôi lên cao được một phân nào.
4.
Anh Duy! Bây giờ em học Anh văn. Em trở lại làm nữ sinh. Hai mươi bảy tuổi rồi, em không còn một tâm hồn nữ sinh nữa.
Em còn nhớ khi ở quê nhà, mỗi buổi chiều thứ bảy em mặc áo trắng, dẫn bạn học trò gái đi dạo ở vùng ngoại ô tỉnh lỵ. Thầy trò ngồi xúm xít dưới bóng cây. Chúng nó cúi đầu trên khung thêu. Còn em thì kể chuyện đời xưa, có tính cách giáo dục. Anh kiếm em, rồi ngắm em. Chung quanh em toàn là màu xanh của lá cây. Anh bảo em là nàng tiên trong nội cỏ của thiên đường.
Bây giờ em ở đây. Cái vẻ bỡ ngỡ quê mùa của em không ăn khớp cảnh xa lạ của thủ đô đầy màu sắc nầy. Rời khung cảnh cũ, em hết là nàng tiên rồi.
Bây giờ anh đi xa…Em nối lại đời học trò. Mộng em thì to, và nỗi cô đơn không nhỏ. Cuộc yêu đương của chúng mình kéo dài chỉ gieo cho em nhiều cái nhàm chán. Em đã quá lứa rồi. Em cần phải có nghề nghiệp hẳn hoi. Em cắc ca cắc củm để dành từng đồng, từng xu. Còn gì chua chát hơn làm một cô gái già vô nghề nghiệp, sống nhờ đứa em gái, giữ con cho nó như một vú em. Rồi mỗi khi nhìn sự dan díu của vợ chồng nó, rồi tủi thân, rồi ghen ghét cái hạnh phúc của kẻ khác. Em sợ lắm, anh Duy ơi!
Tôi cho xe chạy về Gia Định. Ý nghĩ đó làm cho tôi buồn, nhưng trong cái buồn ấy có vẻ hài hước. Xe hết xăng, nhưng tôi không lại trạm đổ xăng và cứ đạp chầm chậm. Đến một khoảng tối của con đường Bạch Đằng, một đứa bé chận tôi lại rồi nói:
- Cô ơi! Có ông Huê Kiều muốn nói chuyện với cô.
Không hiểu sao tôi thắng xe lại. Trong bóng tối mờ mờ một người Huê Kiều, mập, lùn và bụng bự, nói với tôi bằng tiếng Việt bập bẹ:
- Hà! Cái lầy chào cú lẻng (cô nương). Cú lẻng ăn cơm chưa? Li coi hát pống với tôi nhá!
Tôi ngạc nhiên, rồi đau đớn bàng hoàng. Nếu đi với Duy, thì tôi đâu có gặp cảnh nầy. Một người con gái đi một mình trong đêm. Ý nghĩ ấy làm tôi sợ hãi.
Tôi nói bằng một giọng run run, và không hiểu sao nước mắt tôi gần như muốn tuôn ra:
- Nị lầm rồi. Tôi đi học lớp tối mới về.
Hắn luống cuống xin lỗi tôi. Tôi lạnh lùng đạp xe. Đường vắng, tôi cần phải đạp mau. Nghĩ đến lát nữa đây, mình sẽ nằm trong bóng tối trên căn gác xép, tôi muốn trở về Long Xuyên ngay. Ở đó, tiếng sông róc rách sau nhà có lẽ sẽ vỗ về tôi. Và tôi sẽ nằm dưới bầu trời quen thuộc, ôn lại những chuyện thời thơ ấu.
(Trích Bách Khoa số 162, phát hành năm 1963)
Nguồn: Thư Quán Bản Thảo tập 48 Tháng 9-2011”

________________

Những dòng mực cuối năm

Lật bật mà cái năm Quý Sửu sắp qua đi. Chữ nghĩa văn chương vì nạn khan hiếm giấy mà thiếu môi trường hoạt động. Hiệp định Ba Lê, tình trạng phi hòa phi chiến, vụ sì-căng-đan Watergate, cuộc chiến tranh bùng nổ ở Trung Đông vẫn chưa làm tôi ngao ngán bằng tình trạng khan hiếm giấy. Đường và gạo dù có trục trặc, thuế T.V.A dù có thiết lập ra với bao điều giải thích nhưng rồi cũng giải quyết êm thấm, duy có tình trạng khan hiếm giấy thì biết đến bao giờ thanh toán cho xong đây?
Tôi ôn lại những chặng đường của cuộc hành trình mà cây bút của mình đã trải qua. Tám năm rồi đó. Cây bút của tôi đã bị biết bao dư luận mà trải qua cuộc thăng trầm. Nói theo âm nhạc là khi thì nó lên dièse, khi thì nó đổi thành bémol. Nói theo cách làm bếp thì khi chay, khi mặn. Dù thế nào đi nữa, dù có khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, tôi vẫn sung sướng là mình đã vào đời, tham dự giọt lệ nụ cười của cuộc đời bằng ngòi bút của mình.
Năm Quý Sửu, một năm lắm chuyện của thời sự quốc tế, và cũng là một năm lắm chuyện cho tôi - chuyện vui thì ít mà chuyện bực mình thì nhiều. Và hôm nay, ngồi ở bàn viết, lắng tai nghe cơn mưa cuối mùa lướt qua mái nhà, tôi có cảm tưởng năm tháng trôi qua mau quá, mà giấc mộng ngày xanh của tôi đêm đêm vẫn thấp thoáng trên dòng chữ, trên trang giấy để hiện lên… cuộc đời văn nghệ người đàn bà này bắt đầu khoảng tuổi trung niên, mà mãi tới bây giờ vẫn chưa nghĩ tới chuyện gác bút để tiếp tục đẻ con, tiếp tục đọc sách và nhất là để suy nghiệm lại những gì mình đã viết. Trong văn giới, mình hãy còn trẻ quá mà.
Năm cùng tháng tận rồi, cái xuân Giáp Dần sắp đến. Mình sẽ bước qua một khúc quanh nào trên dòng định mạng đây? Mâm cơm chiều đã dọn ra. Mưa vẫn còn rơi. Đêm đến quá sớm. Chén cơm nóng, nấu bằng một thứ gạo tầm thường. Dĩa cá nục kho nâu sẫm. Ăn cơm để mà tri ân những kẻ đã giúp mình cầm bút, để nghĩ tới tờ báo đã đăng bài mình đầu tiên. Lúc mới cầm bút là mình chỉ muốn giải tỏa ẩn ức trên giấy, sau này rõ ràng là mình sống bằng ngòi bút. Vứt bút đi là mình sẽ ôm con nhịn đói và có thể pha thuốc chuột để mẹ con đồng tránh cơn đói hoành hành. Sinh nhai bằng ngòi bút là chuyện quá bi thảm đối với người đàn bà. Nhưng ở đời, thiếu gì chuyện lươn lẹo, tréo hèo. Thiếu gì chuyện ngược đời ăn trầu bằng bột, gói bánh bằng vôi, hoặc giã gạo bằng nồi, nấu cơm bằng cối. Vậy mà mọi việc rồi sẽ quen mắt, thuận tai dần đi...Mâm cơm của thời buổi kinh tế mắc bịnh bán thân bất toại. Tô canh chua nấu với xương khô, một dĩa rau luộc. Đâu dám kêu ca gì. Vắt một miếng chanh, dầm một trái ớt vào dĩa nước mắm này đi. Cơm nóng, canh nóng, cả nhà ngồi đông đủ, và bên ngoài mưa lạnh rơi đều đều, thánh thót. Hạnh phúc đơn giản quá. Không có gì phải phàn nàn, nhưng thật sự cũng chẳng có gì đáng tự mãn.
Cơm nước xong thì cơn mưa đã dứt. Mới có tám giờ tối mà tôi tưởng chừng đêm đã vào sâu. Tôi ngồi lại bàn viết, xem lại bản thảo của thiên tự truyện mình đã đăng trên một tờ nhật báo. Tôi còn phải sửa chữa thêm thắt lại, vì theo nhu cầu feuilleton tôi đã phạm quá nhiều sơ hở, hoặc những lỗi lầm khá buồn cười trong công việc dựng truyện cùng đúc kết cái dàn bài của nó. Tôi đọc lại đoạn tôi đem một truyện ngắn cho nhà văn Võ Phiến xem, lòng vui vui với cái thuở làm văn nghệ đầu mùa. Tôi hình dung lại khuôn mặt của ông cùng hình ảnh cái tòa soạn tập san đã đăng bài đầu tiên của tôi.
Trong các cuộc phỏng vấn, trong thiên tự truyện "Thắp Ngọn Đèn Cho Tôi", tôi nói nhiều về trường hợp tôi bước vào văn đàn. Tờ tập san đó là cánh cửa đầu tiên đã tiếp đón tôi. Gần tám năm qua, tờ tập san đó vẫn đều đặn ra mắt độc giả, nửa tháng một kỳ. Đó là một tập san sống dai nhất. Trong năm nhà văn nữ thuộc thế hệ trẻ có bốn cô nàng xuất thân từ tờ tập san đó.
Tôi đã chính thức sống bằng ngòi bút của mình. Đó là nghiệp chướng hay là một diễm phúc, tôi cũng không rõ nữa. Tôi vẫn nhờ ngòi bút của mình mà vượt khỏi quãng đời tăm tối, và tôi phải ốm o so bại cũng tại vì kiếm sinh nhai bằng ngòi bút. Trong nghiệp chướng oan khiên vẫn nẩy bông hoa hạnh phúc, và trong vòm trời hạnh phúc vẫn có mầm mống thiên tai. Cứ lý luận như vậy tôi không dám kêu ca hiện tại, hoặc tự mãn về sự nghiệp văn chương của mình.
Nhớ thuở nào, tôi viết dăm ba truyện ngắn đưa cho ông Võ Phiến, mạch văn của tôi không được trôi chảy lắm. Viết văn lúc đó là cả một sự ì ạch như trâu kéo cày. Thuở đó, nhà văn nữ rất hiếm. Người đàn bà có ý thức chút đỉnh dễ nổi tiếng ngay. Huống chi tờ tập san đó là một tờ báo vốn có sẵn ít nhiều uy tín từ trong quá khứ. Quãng đời đó đối với tôi hình như xa quá. Tôi bước vào văn đàn với lốt gái già và bốn năm sau ly khai với tờ tập san đó, tôi đã là bà mẹ độc thân. Năm nay tôi lại đập bầu thêm một lần nữa. Cuộc đời thay đổi, đường lối văn nghệ của tôi cũng thay đổi năm hồi mười hiệp rồi. Thế mà thân mình tôi vẫn khô khan, mỏng lét cũng như tòa soạn tập san đó, vẫn âm thầm rầu rĩ bên đường Phan Đình Phùng, với cái mặt tiền thâm u, trầm lặng. Nơi đó, ông chủ nhiệm làm việc âm thầm.
Tôi đã ly khai với tờ tập san đó, không có nguyên nhân nào rõ rệt. Vì viết feuilleton nhiều nên tôi đâu có thì giờ viết truyện ngắn. Nếu tôi xắn truyện dài thành từng mẩu truyện ngắn, thì tờ tập san không tán thành công việc đó. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng mình sẽ phải viết một cái gì cho nó. Ngưỡng cửa danh vọng đầu tiên của tôi là chỗ đó. Tôi viết feuilleton như một cô gái đã có chồng mà còn đi ăn sương. Các nhật báo, các tuần báo khác là những tình nhân, những khách làng chơi xộp, trút tiền như bươm bướm xuống người tôi. Riêng tờ tập san đó là một ông chồng già khó tính, nhưng chung thủy, luôn đợi tôi trở về.
Năm nay có thể là tôi trở về tờ tập san đó. Nhưng tôi phải ra đi để đối phó với cuộc đời củi quế, gạo châu nầy. Có thể năm tới, tôi trở về thăm tờ tập san đó một lần nữa, thăm chốc lát rồi ra đi. Các bạn gái đồng nghiệp của tôi cũng đi ngang về tắt như tôi. Không ai muốn nắm nuối ở tờ tập san đó. Ở đó, chỉ có thể làm văn nghệ, chớ không phải là chỗ kiếm cơm. Ở đó tôi phải viết lách đứng đắn, phải làm việc thận trọng. Tôi lìa tờ tập san đó, chớ không phải bỏ nó, và tôi đi chinh phục kế sinh nhai bằng hình ảnh tòa soạn của nó trong tâm tư tôi.

Tôi biết cây bút của mình bớt ăn khách dần, và hình như đã xuống giá. Tôi đâu có thì giờ làm văn nghệ nữa. Khi bước vào tòa soạn đầu tiên, tôi còn lý tưởng hóa văn nghệ, đầu ỏc không hề in dấu đồng, ước vọng vẫn lai láng như con nước lớn tràn sông. Bây giờ, tôi vừa viết văn vừa đợi ngày đào thải... Nhưng, tôi vẫn cảm thấy sung sướng. Mình đã được làm mẹ, và nuôi con bằng óc não của mình. Đó là một cái cớ chính đáng mà tôi không thể cộng tác với tờ tập san đó bằng tác phẩm truyện ngắn. Tôi bạc tình và vô ơn chăng? Nhiều lúc tôi tự hỏi như vậy và mỉm cười, lòng vui vui một cách vô cớ. Tờ tập san đó cần phải có những khoảng đất trống để vun quén những bông hoa văn nghệ khác. Lứa hoa của chúng tôi đã mãn khai, phải sang một vuông đất khác, và lâu lâu chỉ có thể rải một chút phấn nhụy về tờ tập san đó. Đó là chuyện hết sức tự nhiên. Nó còn phải khai thác cho những tài năng khác mà lại.
Đối với những anh em văn nghệ ở ngoài tòa soạn đó, tôi là Nguyễn thị Thụy Vũ. Nhưng đến nó tôi vẫn là cô Nguyễn Băng Lĩnh. Tất cả xem tôi như một người thân. Anh em tòa soạn đó đã từng chứng kiến tôi trong lớp gái Lục Tỉnh bước lên Sàigòn, thường đỏ mặt tía tai mỗi khi nghe những câu hỏi tếu của bất cứ ai. Tôi đến tờ tập san đó bằng thái độ e dè, có cảm tưởng mình làm văn nghệ như mình hát xiệc trên hai sợi dây căng ngang tít trên cao. Tôi đã nhận năm trăm đồng tiền nhuận bút ở tác phẩm truyện ngắn đầu tay do ông chủ nhiệm đưa. Năm trăm đồng bạc thuở đó cũng như năm ngàn đồng bạc bây giờ chớ ít ỏi gì sao. Nhưng thuở đó sống trong sự bảo bọc của cha mẹ, tôi viết văn vì thích viết mà thôi. Năm trăm đồng chỉ làm cho tôi nghĩ rằng, bài mình được một tạp chí "lớn" đoái hoài tới.
Bây giờ, đến tất cả tòa soạn báo nào, tôi hiện thân là một cơn lốc, cười giỡn, tung hứng từng câu, đốp chát sực mùi dao búa, bụi đời... Nhưng đến tòa soạn đó cũng như đến tòa soạn Văn, tôi trở về con người cũ. Anh em ở đây đã biết tôi là ai, tôi xuất xứ từ đâu rồi. Họ đã biết căn cội, nguồn gốc cùng con người thật của tôi. Tôi hiện nguyên hình là con gái Lục Tỉnh, gót còn dính phèn đất ruộng, ngôn ngữ vẫn còn sực mùi rẫy bái.
Đây là chỗ để tôi thảo luận nghiêm chỉnh, đây là chỗ để tôi sống lại một quãng đời làm văn nghệ đầy thú vị. Ngồi ở tòa soạn của tờ tập san đó chừng một buổi thôi, tôi sẽ gặp rất nhiều người quen cũ. Họ đến đó ung dung, với thái độ nhàn nhã, tự tại. Ở đây không có những khuôn mặt thảng thốt chạy đua theo sự tăng vọt của sinh kế vì ở đây không phải là chỗ mưu cầu đồng tiền bát gạo. Người đến tòa soạn đó thường cất giấu bộ mặt sinh kế qua một bên để hỏi thăm lẫn nhau về mức sáng tác, về những quyển văn nghệ đã đọc qua. Không khí ở đó thật êm ả. Tiếng quạt máy trên trần nhè nhẹ. Ngọn đèn rải xuống bàn ghế, giấy má một thứ ánh sáng lạnh lẽo. Bao năm trôi qua, những người ngồi nói chuyện với nhau đã già rõ rệt, nhưng tôi có cảm tưởng như hôm qua mình đã đến đó và khi bước ra tòa soạn tờ tập san đó tôi vẫn hòa mình vào guồng máy sinh hoạt thật dễ dàng.

Nói đến tờ tập san đó, tôi nghĩ ngay đến ông Võ Phiến. Trong thiên tự truyện trên nhật báo Sóng Thần tôi đã viết đầu đuôi câu chuyện tiếp xúc giữa ông và tôi. Hèn lâu tôi không gặp ông. Ngay đến ngày cưới của người trưởng nam của ông, tôi không được thiệp báo tin lẫn thiệp mời, và khi tôi hay được thì đã trễ nửa năm rồi còn gì. Đời tôi là một chuỗi dẫy đầy thiếu sót, vụng về. Tôi còn giữ một chút liên lạc những gì với tòa soạn tập san đó qua hình ảnh cô bạn gái viết văn của tôi. Một cô thì làm chủ nhiệm một tờ nhật báo ở Thủ Đô. Một cô thì vừa dạy học vừa viết feuilleton, vừa làm bếp và săn sóc chồng con. Cô đầu, hôm tôi đi đập bầu có đến thăm. Tôi viết văn mỏi cả lóng tay mà tới lúc vào nhà sanh tôi chỉ còn có vài ngàn bạc trong túi. Trước khi sanh tôi còn phải chở một bao gạo từ chỗ mua tới nhà rồi mới yên lòng mà đập bầu. Mà nào có yên lòng nằm trên giường đẻ đâu. Bốn cái feuilleton phải viết cho đúng hẹn kỳ, dầu trước đó tôi đã thức khuya lắc khuya lơ để viết trừ hao. Đứa con đầu tôi nuôi bằng sữa Guigoz, đứa con thứ hai bằng sữa SMA, nhưng đứa con thứ ba tôi nuôi bằng sữa hộp Trái Núi Trắng. Con bé này mặc quần áo thừa của anh chị nó. Chiếc xe Mini Lambretta của tôi đã bán từ lâu nên tôi ít đi đó đi đây vì sợ tốn tiền xe. Tôi đã mượn tiền trước một vài nhà xuất bản mà vẫn chưa sửa chữa lại các tác phẩm để giao cho họ.
Hát bài ca con cá hoài có lẽ tự mình làm nhàm tai mình. Than thì cứ than, nhưng tôi vẫn thầm biết mình có hạnh phúc. Ba đứa con tôi, đứa nào cũng dễ nuôi. Tôi tự nhủ thầm là con mình dễ thương, nhưng viết ra đây thì tôi chỉ có thể nói là đứa nào cười cũng có lúm đồng tiền như điều tôi mơ ước lúc tôi mang thai chúng. Tôi chỉ có thể nói là thằng con trai tôi sẽ không có hàm răng vẩu. Răng có lún thì nụ cười mới tươi. Người đàn bà bước đầu trong việc nuôi con là sợ mình xấu xí, tàn tật. Thoát khỏi hai ám ảnh đó cũng như thoát khỏi hai chặng đầu của cơn ác mộng.
Thằng em tôi chỉ thích tôi sanh con trai. Nhưng năm nay khi đi xa về, nó vào phòng tôi, hỏi liền:
- Thế nào, trai hay gái đó?
Tôi mỉm cười:
- Lại thêm một tiện tỳ nữa.
Nó vui vẻ:
- Năm nay sanh con gái tốt lắm nghen. Nam Nhâm, nữ Quý mà lại.
Nó vẹt mùng lên ngắm nghía chán rồi xem tướng một cách ngon lành:
- Mày thanh nhã, hình vòng nguyệt: quí tướng. Răng hơi vẩu, đàn bà răng hơi vẩu thì dễ tô son. Ava Gardner và Elizabeth Taylor đều có răng hơi vẩu cả nên họ hôn rất giỏi trên màn bạc và họ mà chửi chồng thì chồng có cảm tưởng mình nghe nhạc Beethoven. Mũi con bé nầy hơi hỉnh càng tốt vì mai sau nó sẽ nhận thức được mùi son, mùi nước hoa lạ trên môi, trên thân thể chồng để dễ bề kiểm soát chồng. Móng tay con này chưa chi mà đã mọc dài, tốt lắm, chừng nữa nó sẽ có móng vuốt để cào mặt tình địch và để ngắt véo để trị tội ngoại tình của chồng.
Tôi cũng vái trời cho con tôi được như lời tiên đoán của cậu nó. Ai lại không muốn cho con trai mình biết trị vợ và con gái mình giỏi bắt nạt chồng. Mẹ tụi nó có máu ăn hiếp chồng, thì tụi nó có tánh ăn hiếp vợ nên thủy hỏa khi tương giao thì sẽ sùng sục, còn khi tương khắc thì ào ào như trận gió kinh thiên thì ầm ầm như ngói tan trúc chẻ…
Hạnh phúc có nhiều bộ mặt và tôi tự hỏi mình chiếm được bộ mặt gì? Tuy nhiên càng đông con tôi chẳng có một khoảng hở thời gian để lui tới tòa soạn của tập san đó.

Thỉnh thoảng tôi đến chơi tòa soạn báo bán nguyệt san Văn. Trước khi đến đó, tôi đến viếng phòng mạch của ông bác sĩ quen thân. Tôi thường điện đàm cho một anh bạn đồng nghiệp túc trực thường xuyên ở tòa soạn đó. Trong cuộc điện đàm, tôi thường xưng:
- A-lô, anh N.X.H. đó hả? Phải, tôi đây, bà mẹ độc thân đây. Hồi mới vào văn đàn, người ta lấy cái tựa của tác phẩm đầu tay của tôi là "Mèo Đêm" để làm cái hỗn danh cho tôi cũng như tôi kêu nhà văn Lê Xuyên là Chú Tư Cầu vậy. Sau đó, có lẽ họ thấy kêu như vậy là không ổn, nếu không là méo mó nghề nghiệp một cách oan ức cho tôi, nên họ tự động bỏ cái hỗn danh đó đi. Sau nầy, sau khi trả lời cuộc phỏng vấn trên tập san Văn, tôi được mọi người kêu là bà mẹ độc thân và tôi rất hài lòng cái hỗn danh này. Đôi lúc, tôi nghĩ có phải mình sống thành khẩn với hoàn cảnh của mình hay là trâng tráo một cách rẻ tiền khi tự xưng mình là bà mẹ độc thân.
Ở tòa soạn Văn có quá nhiều nhà văn lớn, có hào quang danh vọng che ngợp văn đàn nên tôi nói năng giữ kẽ, thùy mị đoan trang như gái đợi chồng, khép nép như nàng dâu trình diện cha mẹ chồng. Còn rất nhiều tòa soạn của các nhật báo nữa. Ở đó không khí huyên náo hơn, đầy câu nói đốp chát hơn. Máy in chạy rần rần, tiếng cười cợt, cãi vã, bông đùa cũng càng sôi nổi hơn, lăn theo một nhịp điệu hối hả, gấp rút. Lại còn những quán ăn, những tách cà phê và những khuôn mặt của các phóng viên, nhà báo nữa. Đời sống ở những nơi đó vô trật tự, có khi vô liêm sỉ nữa, nhưng rất linh động và phồn thịnh đã kích thích tôi, để tôi tiếp tục bán chữ để đổi lấy chén cơm.
Vào xuân năm Giáp Dần, tôi chẳng biết cầu chúc cho mình hơn là giữ mãi một nhịp sống không xê dịch, không biến cố. Thúy Kiều sau mười lăm năm phong trần lưu lạc, được về quê hưởng “duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào” ở lứa tuổi ba mươi. Tôi cũng lưu lạc, tuy không phong trần gì, nhưng cũng bị định mạng cấu véo những lần đau điếng. Tôi cũng muốn được an thân, dưỡng vóc ở trong cái Làng Báo Chí nầy. Cầu chúc cho cơn khủng hoảng giấy má chóng qua. Cầu chúc cho những tờ văn nghệ đứng đắn khỏi tình trạng ra mắt độc giả dưới hình thức một đặc san hay một giai phẩm. Cầu chúc cho ông chủ nhiệm đã đăng bài đầu tiên của tôi khám phá thêm nhiều tài năng văn nghệ mới. Cầu chúc cho ông chủ nhiệm báo Văn bình phục hẳn để hoạt động lại những cơ sở văn nghệ của ông. Cầu chúc luôn cho sự thù tạc của mình giúp mình đánh tan những ganh tị hiềm thù nhỏ nhen cùng san bằng những thành kiến tai hại của những kẻ mà mình không ngờ đứng ở hàng ngũ đối lập với mình.
Xuân Giáp Dần nầy chắc không vui lắm vì tôi vẫn chưa chuẩn bị một số tiền xài Tết. Nhưng mà, tôi vẫn lạc quan. Tôi sắp thoát khỏi tuổi bị sao Kế Đô chiếu mạng. Lần sanh nở thứ ba, máu huyết tôi thay đổi nhiều nên sức khỏe có lẽ dồi dào hơn trước.
Tôi chợt khám phá một điều: bao nhiêu biến cố đến với tôi như con nước lớn ròng, nhưng niềm lạc quan của tôi vẫn như một cái vỏ ốc ở dưới đáy sông. Vỏ ốc dù nhỏ nhưng nó vẫn có hình tượng và có sự hiện hữu của nó.
(nguồn: Văn giai phẩm Xuân Giáp Dần)
Nguyễn Thị Thụy Vũ
Nguồn: Thư Quán Bản Thảo tập 48 Tháng 9-2011” (Chủ đề: Viết về tạp chí Bách Khoa)

_________________

Phụ đính III:

Người con gái 27 năm với đời sống thực vật

Văn Quang

Rời Sài Gòn trên chuyến xe đò cuối cùng vào 5 giờ chiều một ngày đầu mùa mưa cuối tháng 4-2000, chúng tôi đến thị trấn An Lộc vào lúc gần 8 giờ tốị Thành phố nhỏ, heo hút ánh đèn vàng, hai bên đường trùng điệp những vườn tiêu, vườn cây ngút ngàn nhấp nhô trên những sườn đồi dưới ánh trăng mười sáu mờ đục Chiếc xe đò thả hai chúng tôi xuống trước trụ sở của Hạt Kiểm Lâm An Lộc. Nhà chị Thụy Vũ ở bên kia con dốc, sát bên Quốc lộ 13. (Tôi xin phép được nhắc sơ qua về nhà văn Thuỵ Vũ: - Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh năm1937. Tên thật Nguyễn Thị Băng Lĩnh. Tác giả nhiều tác phẩm nổi tiếng ở miền Nam VN trước những năm 1975. Tác phẩm: Mèo Đêm (tập truyện ngắn đầu tay); Nhang tàn thắp khuya; Chiều xuống êm đềm; Khung rêu (giải thưởng văn học toàn quốc); Thú hoang; Lao vào lửaà và một số tác phẩm đã đăng trên các báo nhưng chưa xuất bản. Công tác với các báo Dân Chủ Mới, Bút Thép). Nghe tiếng xe dừng giữa đường, chắc Thụy Vũ đã đoán ra nhà mình có khách đường xa tới thăm. Chị đứng chờ sẵn ngoài hiên, khom mình dưới tấm rèm cũ, nheo mắt nhìn hai chúng tôi bước vào sân và chị nhận ngay ra chúng tôị. Nét vui mừng hiện rất rõ trên khuôn mặt gầy guộc của chị:
Trời ơi, ông định làm tôi vỡ tim chắc? Bất ngờ quá.
Rồi chị nắm áo Ngân:
Sáng nay điện thoại sao không nói gì?
Ngân chỉ tôi:
- Tại cái nhà ông này, bốc đồng lên rủ người ta đi, chứ tui thăm bà làm cái gì khi chưa có tiền. Tôi hiểu là hai người đàn bà này thân với nhau lắm, thân hơn chị em ruột. Khi còn ngồi ở nhà tôi, điện thoại cho Thụy Vũ xong, Ngân bỗng nói: “Em phải đi thăm con nhỏ này, nhớ nó quá rồi, chịu hết nổi”. Thế là hai chúng tôi ra xẹ. Thụy Vũ đưa chúng tôi vào căn phòng khách nhỏ đã dăng sẵn cái mùng trên tấm nệm mút mỏng dính. Có lẽ ở những nơi xa xôi như thế này người ta có thói quen đi ngủ sớm. Chị đãi chúng tôi bữa cháọ. Đang cơn đói, không cần đợi chị mời, tôi ăn uống ngon lành. Bỗng tai tôi chói lên vì một tiếng hú. Tiếng hú của một con thú nào đó từ rừng hoang vọng lại nhưng rất gần, sát bên chỗ chúng tôi đang ngồị Tôi ngơ ngác, nhưng mọi người thì vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy rạ. Chị Thụy Vũ lặng lẽ đứng dậy, Ngân thấy tôi nhìn qua khung cửa sổ bèn mỉm cười nói ngay:
- Nó khóc đấy!
Tôi vẫn ngớ mặt:
- Nó là cái gì? Con khỉ hay con heo rừng hay con chó sói ?
- Con Thụy, con gái chị Thụy Vũ đấy, anh không biết sao?
- Chỉ nghe nói chị Vũ có một người con bị bệnh bại liệt thôị
- Không phải bại liệt mà cháu sống như cây cỏ từ 27 năm nay rồị. Cháu nằm đó mà không hề hay biết gì hết. Năm nay cháu 29 tuổị. Em đã từng chăm sóc cháu ngay từ khi cháu còn nhỏ. Lúc đó thì còn có thể bồng bế cháu dễ dàng, đưa lên xe lăn, đẩy cho cháu ra ngoài chơị. Nhưng bây giờ thì cháu lớn quá rồi, không ai trong nhà này bế nổi cháu lên xe nữa, đành chịu vậy thôị. Mỗi lần đi đâu, em nhớ và thương nó không thể xa nó lâu được.
Tôi hiểu rằng câu Ngân nói khi còn ở Sài Gòn là nhớ con bé con chị Thụy Vũ chứ không phải nhớ chị. Tôi nhìn Ngân và hỏi lảng:
- Vậy ra cơ thể cháu phát triển bình thường?
- Vâng, cháu phát triển như những người con gái khác, chỉ có đôi chân không di chuyển được nên cứ teo tóp lạị Người cháu rất nặng.
Tôi hỏi đến nguyên nhân có phải là thứ bệnh bẩm sinh không. Ngân lắc đầu:
- Hồi nhỏ, cháu rất xinh đẹp. Đến năm 2 tuổi, cháu đã biết đòi nghe nhạc, rất duyên dáng. Có lẽ là do một chị người làm trông nom đã làm cháu ngã, đầu va vào góc thành giường nên từ đó cháu nằm liệt luôn và không biết gì nữạ Chị Vũ nuôi cháu trong một hoàn cảnh rất cơ cực. Sau năm 1975, còn sống ở làng Báo Chí Thủ Đức, không có cả bo bo mà ăn. Chúng em đã buôn thúng bán bưng đủ các thứ nghề để nuôi cháụ. Chị Vũ làm lơ xe buýt đường Sài Gòn - Thủ Đức, suốt ngày chỉ đứng có một chân trên 10 chuyến xe như thế cho đến tối mịt mới về đến nhà. Mệt quá lăn ra ngủ, bữa đói bữa nọ. Con cái nhốt lại cho đứa lớn coi đứa nhỏ. Sau một thời gian chịu không nổi, chẳng biết sống bằng gì, chị Vũ đưa ba đứa con về đây sống với mẹ. Căn nhà này là của bà mẹ chị để lại, bà cụ mới mất cách đây vài năm. Anh thấy nhà cửa coi bộ khang trang nhưng chỉ có cái xác nhà chứ bản thân chị Vũ thì chẳng bao giờ có đồng xu dính túị Tôi nhìn căn nhà, gọi là khang trang chứ thật ra chẳng có gì đáng kể. Chỉ có phía trước mới được sửa sang lại tí đỉnh cho đám cưới đứa con gái út của chị cách đây vài tháng, còn phía sau, nơi chúng tôi ngồi ăn thì vẫn lợp tôn tuềnh toàng. 25 năm trôi qua, người khác đã có thể vượt qua cơn khốn quẫn, ít ra có bát ăn bát để, nhưng chị dường như vẫn vậỵ. Vẫn sống bữa nay chưa biết bữa maị. Ngân kể tiếp:
- Thằng con lớn của chị đã có vợ, nhưng chị cũng chẳng nuôi nổị. Cháu phải đưa vợ vào tuốt trong rừng làm cái lán ở, trông nom miếng đất trồng trọt cho người ta lấy công. Một nơi không có điện, không có nước, sống như người rừng. Đứa con gái út mới lấy chồng. Nhà chỉ còn lại mình chị với đứa con nhỏ bệnh tật. Chị có miếng đất bỏ hoang phía sau nhà, mấy người bạn thương hại, đầu tư cho chị chút vốn trồng vài trăm gốc tiêu, ít cây ăn tráị. Nhưng mới chỉ là ban đầụ. Một mình chị đóng cọc, làm cỏ, tưới cây, chăm bón và khi nghe tiếng con hú lại tất tả chạy về. Nguồn thu lợi chính của chị là dạy học thêm cho chừng hơn 10 đứa học trò nhỏ, tháng được vài trăm ngàn, không đủ tiền ăn cho hai mẹ con chứ đừng nói đến tiền thuốc thang cho cháụ. Chị cũng chẳng thể làm gì hơn trong hoàn cảnh như thế này và ở một nơi chốn như thế nàỵ. Sáng hôm sau, khi Thụy Vũ mải làm cỏ cho đám cây mới lớn ngoài vườn, tôi nhờ Ngân đưa vào thăm cháu Khôi Thụỵ. Trong căn phòng nhỏ hẹp, trên chiếc giường lạt tre thưa thớt, một thân hình con gái trắng nhễ nhại với chiếc quần cụt, chiếc áo thung ngắn tay nằm ngay đơ trên chiếu chỉ trải có nửa giường. Bởi nơi đó là nơi cháu vừa ăn ở, vừa đi vệ sinh, vừa làm chỗ tắm. Cháu không thể nằm nệm vì chẳng có thứ nệm nào chịu cho nổị. Phải nằm nửa giường lạch tre thưa để tiện cho mọi công việc ăn uống, tắm rửạ Hơi thở thoi thóp, cái thân hình con gái căng đầy, cặp chân nhỏ xíu chẳng cân xứng chút nào với thân hình. Cháu không hề biết mình sống hay chết, không biết đói no, không biết gì hết ngoài hơi thở là của con ngườị Cho ăn thì ăn, ăn bất cứ thứ gì được mẹ hay các cô dì, bạn của mẹ đưa vào miệng. Không cho ăn, cháu cũng chẳng đòị Thỉnh thoảng cháu hú lên không phải vì đói mà vì một lẽ gì đó không ai biết. Tiếng hú như tiếng kêu của một oan hồn hơn là một con thú hoang. Nghe tiếng hú, tay tôi cầm chiếc máy hình run lên, nước mắt tôi bỗng trào ra, nhòe nhoẹt ống ngắm. Tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài cái tiếng kêu ấỵ Biết đâu cháu chẳng có một chút tri thức nhỏ nhoi nào đó còn sót lại trong cái đời sống thực vật kiạ. Biết đâu chẳng phải là tiếng nói nghẹn lại trong nỗi ẩn ức vô cùng không thể diễn tả thành lờị. Cứ nghĩ như thế tôi lùi dần ra ngoài cánh cửa gỗ mùi hôi nồng tanh tưởi còn đọng lại mặc dù căn phòng được lau rửa hàng ngàỵ. Những người quanh cháu đã quen với cái thứ mùi này rồi nên không để ý, nhưng người mới tới lần đầu là thấy ngaỵ. Ngân phải cầm máy hình, chụp giúp tôi vài tấm. Thú thật là ngay lúc đó tôi chưa biết phải làm gì với mấy tấm hình đó. Tôi chỉ cảm thấy cần phải có vài tấm hình của cháu mà thôị. Ngân chỉ chiếc xe lăn bên cạnh phòng:
- Có vài chiếc xe lăn của mấy người bạn chị Vũ ở nước ngoài gửi về cho cháu như anh Triển cùng chị Triều Giang, chị Trùng Dương. Nhưng đã bán hết, nay chỉ còn lại một chiếc còn để đó, chẳng ai trong nhà này bế cháu lên nổi xe lăn nữạ.
Suốt ngày hôm đó, cái hình ảnh cháu Khôi Thụy ám ảnh tôi không rờị. Buổi trưa tôi ngồi với Ngân ngay trên sàn gạch nhà ngoàị. Tôi nghe phòng bên văng vẳng tiếng cười rúc rích của Thụy Vũ, tiếng chị nựng nịu, tiếng nước chảy ào ào rửa nhà và tiếng hát ru của chị vẳng lên giữa núi rừng. Tôi có cảm tưởng như chị sống rất hồn nhiên, vui vẻ bên đứa con thơ hai ba tuổị. Càng nghe chị cười, chị thủ thỉ với con, tôi càng thấy nghẹn ngàọ. Đôi mắt Ngân chớp mau, cô nói như để che lấp nỗi lòng mình:
- Anh thấy không, đó là nét đặc biệt nhất của Thụy Vũ.
Chị luôn coi đứa con chị như khi còn hai tuổi và chị cứ hình dung cháu không hề bị bệnh, chị vẫn nựng nịu cháu, cười đùa hồn nhiên với cháụ. Có miếng gì ngon chị cũng để phần cho cháu, dù chị biết rõ hơn ai hết rằng nó không hề phân biệt được cái gì là thức ăn chứ đừng nói đến ngon dở.
Nhưng đó là tấm lòng bao la của người mẹ
- Phải nói rằng một người mẹ tuyệt vời và một tấm lòng can đảm vô bờ bến.
Ngân tiếp:
- Suốt bao nhiêu năm sống bên cạnh chị Vũ, em chưa hề nghe
chị phàn nàn một tiếng nào trong việc phải cực khổ trông nom nuôi nấng đứa con bệnh tật đau khổ này.
Tôi buột miệng hỏi:
- Còn cha nó? Có thăm nom gì không?
- Cha nó ở bên Mỹ, nhưng từ ngày ra đi, ông quên mẹ con chị Vũ rồị. Mặc dù bạn bè ai cũng biết, mấy mẹ con chị sống khổ cực cay đắng đến như thế nào 25 năm qua, cho đến bây giờ đời sống vẫn vậỵ. Không đủ tiền cho con ăn, lấy tiền đâu uống thuốc? Sống hôm nay biết hôm nay, ngày mai nói chuyện saụ. Tính chị Vũ vẫn vậỵ.
Hôm sau tôi hỏi lại chị Vũ về việc này cho rõ ràng. Chị chỉ gật đầu:
- Đúng thế. Tôi không hề biết địa chỉ của anh ấỵ. Thỉnh thoảng mấy đứa con anh ấy về chơi, chúng rất có cảm tình với tôị. Có lẽ vì thấy...
Chị bỏ lửng câu nói ở đấy rồi bắt sang chuyện khác. Tôi cúi đầu, một nỗi đau tràn đầy, niềm tủi buồn dâng ngập.
Và đêm đó tôi lại nghe tiếng hú của cháu vang lên trong đêm dài giữa núi rừng An Lộc lộng gió. Cái bóng âm thầm của chị Thụy Vũ vọt dậy, lặng lẽ đến với đứa con, tiếng hát ru nhè nhẹ của chị sợ làm kinh động giấc ngủ của khách và nhà hàng xóm. Tôi làm sao mà ngủ lại được!
Ngày hôm sau, chị Vũ đưa hai chúng tôi ra trước cửa trụ sở của Hạt Kiểm Lâm đứng đón xe đò trở về Sài Gòn. Chiếc xe chuyển bánh, người đàn bà gầy gò đứng chơ vơ trên sườn đồi đất đỏ. Chị cúi đầu trở lại với công việc làm cỏ khu vườn tiêu và với đứa con bệnh tật cùng với cuộc sống vô cùng thiếu thốn cô đơn của chị. Cái hình ảnh ấy khiến tôi ngồi dại đị. Ngân cũng chẳng hơn gì tôi, mặc dầu với tôi đây là lần đầu tiên tôi đến thăm Thụy Vũ, nhưng với Ngân đây là lần tạm chia tay với mẹ con Thụy Vũ không biết là lần thứ bao nhiêu rồị. Tôi biết rằng tôi phải làm một cái gì đó. Một lát sau, tôi nói với Ngân:
- Anh phải viết một bài về chị Thụy Vũ và cháu Khôi Thụỵ. Nhưng không biết có chạm đến lòng tự ái của chị Thụy Vũ hay không. Bởi chị là người không hề than thở với ai điều gì bao giờ, chị luôn luôn tìm tiếng cười trong cuộc đời vô cùng bất hạnh của chính mình.
Ngân suy nghĩ một chút rồi nói:
- Nếu anh hỏi ý kiến thì chị Vũ có thể sẽ từ chối đấỵ. Nhưng anh hãy làm cái gì mà anh thấy cần làm. Em sẽ nói với chị ấy saụ. Anh tin vào tình thân của em với chị Vũ thì cứ làm.
Tôi nói với Ngân:
- Bạn bè anh ở nước ngoài đã có một số biết về tình cảnh của chị Thụy Vũ và đã có “yểm trợ”. Nhưng còn một số anh chị em khác vẫn chưa biết.
- Em hiểu, thỉnh thoảng chị Thụy Vũ cũng có được những ngày vui, đầy đủ với con cáị. Nhưng chỉ ít ngày sau là lại túng thiếụ. Vì thế vấn đề bây giờ là phải làm sao cho chị ấy có vốn để buôn bán hoặc trồng trọt, tính đến cuộc sống lâu dài, chị ấy cũng 63 tuổi rồi chứ ít saọ. Chị ấy thường lo rằng nếu chị ấy chết trước thì cháu Khôi Thụy sẽ khổ hơn nữạ. Anh em nó cũng chẳng ai đủ sức lo cho nó được. Chị thường nói: Nếu hai mẹ con chết cùng một lượt thì vui biết mấỵ. Nghe câu “vui biết mấy” mà tôi muốn dựng tóc gáỵ. Đó cũng là tính cách đặc biệt của Thụy Vũ. Đau buốt ruột mà vẫn dỡn đấy, dỡn đấy mà là dỡn thiệt chứ không phải mỉa maị. Tôi đã đề nghị chị viết lại một tập hồi ký về đời mình. Chị lắc đầu:
- Thèm viết lắm, nhưng làm gì còn thì giờ, còn tâm trí đâu mà viết nữạ. Vả lại bỏ nghề lâu rồi chẳng biết mình viết nữa thì sẽ ra saọ. Tôi hiểu rằng chính cái thiếu thốn trăm bề khiến chị không còn thì giờ đâu mà ngồi vào bàn viết. Tôi phải bàn với Ngân tìm tạm một cơ hội nào đó cho chị rảnh rang chân tay để cho có được một tác phẩm chắc chắn là sẽ rất haỵ. Ngân đồng ý là sẽ hết sức cố gắng làm công việc nàỵ. Thuyết phục mãi, chị Thụy Vũ hứa là sẽ tiếp tục việc viết lách. Và tôi rất hy vọng sẽ có một tác phẩm mới của Thụy Vũ vào một ngày không xạ. Chính vì vậy, tôi nghĩ đến việc thông tin cho các bạn tôi ở nước ngoàị. Nhưng như tôi đã nói với Ngân:
- Các bạn tôi ở nước ngoài cũng là những người chẳng dư giả gì, có ông còn đói dàị. Nhưng họ vẫn gửi về giúp đỡ anh em mỗi khi cần đến. Vì sự nhún nhường thường có của các anh chị em, tôi không tiện kể tên ra đâỵ. Tuy nhiên nếu tôi lên tiếng đề nghị thì chắc chắn sẽ lại có anh em tiếp tay ngaỵ. Nhưng ở đây, tôi xin gửi đến tất cả độc giả thông tin này để nếu có thể tiếp tay cùng anh chị em chúng tôi lo cho đời sống của mẹ con chị Thụy Vũ một cuộc sống vững vàng hơn. Và nếu như có một cơ quan từ thiện nào sẵn lòng giúp đỡ cho cháu Khôi Thụy được đi chữa bệnh thì vấn đề sẽ được giải quyết tốt đẹp hơn rất nhiềụ
Sau cùng, tôi xin lỗi chị Thụy Vũ vì đã viết bài này mà chưa hề biết ý kiến của chị. Tôi chỉ làm một công việc mà tôi thấy cần phải làm. Tôi đã hoi ý kiến của bạn bè thân ở Sài Gòn và ở nước ngoài, hầu hết anh em thân thuộc đều cho phép tôi được viết bài nàỵ. Tôi hy vọng sẽ có rất nhiều bạn đọc có tấm lòng sẵn sàng giúp đỡ và để khỏi phải qua một trung gian nào, xin liên lạc thẳng với chị Thụy Vũ theo địa chỉ sau:
Nguyễn Thị Băng Lĩnh,
Hộp Thư 08 - Bưu điện Lộc Ninh
Tỉnh Bình Phước.

_______________

Thụy Vũ chăn dê

Đỗ Tăng Bí
(nguồn: nguoiviet online)

Nửa đàn dê còn lại sau một trận dịch quét qua. Mỗi con dê bán lấy giống được khoảng 5 triệu. Cỏ trong máng do nhà văn Thụy Vũ trồng ngay trên rẫy.

Một chuyến đi Lộc Ninh
Một ngày đầu Tháng 11, 2004, Nguyễn Ðạt và tôi đi Lộc Ninh thăm nhà văn Thụy Vũ. Kể từ khi bài nói về cuộc sống thực vật của cháu gái của chị do anh Văn Quang viết ra, cuộc sống chị có phần thay đổi. Bạn bè, văn hữu, độc giả có chia sẻ với chị ít nhiều nỗi khó khăn nhọc nhằn trong cuộc sống khốn cùng. Bây giờ, Thân Mẫu chị mới mất, chị được thừa hưởng căn nhà ngói sát bên lề tỉnh lộ đi Lộc Ninh, đời sống có đỡ khổ cực nhiều. Cháu gái nhờ thuốc men cũng có bớt hơn chút ít, có chỗ trú mưa trú nắng, có bữa cơm nóng mỗi ngày, chị cũng đỡ cực hơn. Nhưng chưa thể nói chị có cuộc sống đầy đủ, chưa thể nói chị được hưởng chút an nhàn.
Chúng tôi ở chơi với chị Thụy Vũ và chị Văn Quang gần 5 tiếng đồng hồ. Theo chị lên rẫy nơi cách đây mấy năm chị và cháu gái sống đời cùng cực dưới mái lều dột nát. Ðứng trước căn lều rộng chưa tới 12 mét vuông, tôi băn khoăn không hiểu chị nghĩ gì để có đủ dũng cảm sống suốt những tháng năm đọa đầy bên cháu gái liệt giường? Bây giờ chị đã trồng được mấy trăm gốc tiêu, dựng được một chuồng nuôi vài con dê, một con bò, và một khoảnh đất trồng cỏ. Tiêu bây giờ đang mất giá, thu hoạch sẽ chẳng được bao lăm, cứ để chúng sống lây lất. Túp lều trước đây chị trú ngụ nay dành cho cậu bé canh rẫy, mỗi năm cũng phải trả công cậu mấy triệu bạc. Nạn dịch mới đi qua, chị mất nửa chuồng dê, nay đang cố gầy dựng lại.
Những gì tôi ghi dưới đây là câu chuyện chúng tôi nói với nhau khi ngồi uống nước, lúc ở trên xe, khi đi thăm rẫy, lúc ngồi ăn ngoài chợ Lộc Ninh... Có thể có những câu hỏi với những câu trả lời, có thể là những câu chuyện kể ra nhân không khí thân thiết vui vẻ, chứ thực ra không phải là một cuộc phỏng vấn. Chúng tôi dùng vế “Hỏi” để đưa ra những câu hỏi, câu nói của Nguyễn Ðạt và tôi, và vế “Th. Vũ” để đưa ra những câu trả lời, những lời trò chuyện của chị Thụy Vũ. Ðôi khi có câu hỏi, câu nói của cháu Khôi Hạo hay chị Ngân tức chị Văn Quang.
***
Dù sao, những câu nói ghi dưới đây hoàn toàn có thực. Những câu chị Thụy Vũ trả lời, những câu chị Thụy Vũ kể chuyện, dù nội dung có chua xót đến đâu cũng được chị nói ra với một tràng cười thoải mái, không một chút đắng cay. Chị nói chuyện mình như nói chuyện người ta.
Tôi không nhớ lắm từ đâu mà câu chuyện bắt qua thời chị Thụy Vũ ngoài hai mươi tuổi. Nhưng nhớ rõ chuyện chị kể về những lúc “đầu đời” này:
Th. Vũ: Khoảng giữa thập niên 1960 là lúc tôi khá túng quẫn. Một anh bạn, có lẽ cũng thuộc loại uy tín sao đó đối với giới bán phấn buôn hương, đề nghị tôi đi học Anh văn rồi anh sẽ thu xếp để tôi dạy tiếng Mỹ cho các “Chị em ta” (mà tiếng bình dân gọi là “Ðiếm”). Lúc đó quân đội Mỹ vào Việt Nam đã đông, “Chị em ta” cặp kè với các chàng GI khá nhiều, nên chuyện học vài ba câu giao tiếp rất cần thiết đối với các nàng. Khổ một cái học tiếng Anh cho đủ để đi dậy đâu phải là dễ, đâu phải một sớm một chiều là có đủ vốn liếng mà dậy. Nhưng chuyện cần kiếm tiền sống lại là khẩn thiết đối với tôi, nên anh bạn tôi nghĩ ra mẹo này: Anh nói tôi cứ ghi tên học Hội Việt Mỹ đi, sau khi học được một hai tuần là bắt đầu đi dậy. Anh tập hợp đám các “Chị em ta’ lại và nói:
- Này nhé, tao mời cô giáo đến dậy tiếng Mỹ cho mấy đứa bay. Cô giáo bận rộn đủ thứ chuyện, không có thì giờ nhiều đâu. Cô giáo dậy chi học nấy, cấm không được đứa nào hỏi để cô mất thì giờ. Rồi, mỗi tuần ba buổi, từ giờ... đến giờ... tất cả phải học hết, học phí bây nhiêu... đóng tiền thẳng cho cô giáo. Ðứa nào chạy làng là biết tao à nghen!
Thế là tôi học được cái gì ở trường, tuần sau cứ thế dậy lại. Ðâu đứa nào dám hỏi nên cái dốt của mình đâu có lòi ra. Vậy mà tôi sống cũng được hai năm lận.
Hỏi: Thế Má chị có biết chuyện đó không?
Chị cười ròn tan trả lời: Bả biết chớ. Nhưng chỉ biết cái khoản tôi học hôm trước hôm sau đi dậy, chớ đâu có biết mình dậy ai. Bả đâu có biết mình là “thầy điếm”.
Hỏi: Ngoài chuyện dạy chữ chị có dậy “Nghiệp Vụ” không?
Th. Vũ: Trời ơi, cái khoản nghiệp vụ đó bọn chúng thay nhau nhồi nhét cho mình, thiếu điều bắt mình thực hành. Riết tôi phải cấm không cho nói chuyện nghề nghiệp chi hết. Chỉ có học chữ thôi. Ai muốn tâm tình chi cũng được nhưng cấm cái khoản mánh khóe, vòng trong vòng ngoài này nọ... Thực ra suốt hai năm đó cho tôi rất nhiều vốn sống. Chỉ riêng các câu chuyện đời của ngần ấy đứa đủ cho tôi viết bao nhiêu chuyện ngắn, chuyện dài, học hỏi hiểu biết bao nhiêu về tâm lý con người.
Hỏi: Suốt hai năm đó chắc nhiều chuyện vui phải không chị.
Th. Vũ: Ngày nào cũng có chuyện. Ðể tôi kể nghe sơ một chuyện này thôi: Con nhỏ đó có thằng bồ Mỹ đen, theo thường lệ thì sáng hôm sau thằng bồ mới về. Con nhỏ chắc ăn, kêu thằng bồ đen khác đến, lúc 2, 3 giờ chiều hai đứa sà nẹo nhau trong phòng, tôi dậy mấy đứa khác học ở phòng khách. Bỗng nghe tiếng xe thắng ngoài đầu ngõ, nhìn ra tôi thấy thằng da đen bước xuống xe giống thằng bồ con nhỏ kia, hỏi mấy đứa đều xác nhận là đúng. Tôi nhào vào tông cửa buồng, hai đứa còn trần truồng ấp nhau. Tôi nói nhanh với con nhỏ: Mẹ, thằng bồ mày nó về kìa. Con nhỏ xanh xám mặt mày hỏi: Sao bi giờ cô giáo. Tôi bảo nó mày mặc quần áo vào còn thằng kia cứ nằm đó. Nói xong tôi lao lên giường nằm đắp mền với thằng Mỹ đen. Vừa lúc thằng bồ Mỹ đen mở cửa phòng bước vào.
Nó hỏi:
- Bộ cô giáo mày cũng có bồ hở.
Con nhỏ trả lời:
- Thì bà ấy cũng cần bồ chứ bộ.
Nó vặn lại:
- Thế tại sao mày ngồi đây làm chi vậy, bộ cho mượn phòng rồi mà không muốn họ làm ăn hở.
Con nhỏ đáp lại:
- Thì bà ấy nói cứ ngồi đó, kéo màn lại có sao đâu.
Mọi chuyện êm xuôi, thằng bồ thứ hai và con nhỏ cám ơn tôi rối rít. Cả hai đứa đều nói không nhờ có tôi nhanh trí chắc thằng kia xách súng bắn chết hết quá. Vậy mà con nhỏ còn hỏi tôi chớ lúc nằm như vậy tôi có khoái không. Thiệt hết chỗ nói.
Hỏi: Mà hỏi thiệt chị chớ lúc nằm sát vậy chị thấy sao?
Th. Vũ: Sợ thấy mồ. Thiệt đó, tôi nằm mà tim đập thình thịch, sợ lỡ thằng cha Mỹ đen nó đang cơn như vậy bị cúp cái rụp, nó ôm đại mình thì không biết chống cự ra sao. Tự nhiên mình nhào vô chứ bộ. Trời Phật thương, không có chi xảy ra. Sau này cả cái nhà điếm đó nó chọc ghẹo hoài, nhưng họ càng thêm thương mến mình, bao nhiêu tâm sự cứ thế tuôn ra hết, tôi như cái thùng rác chứa đủ thứ hằm bà lằng của đời các cô gái điếm, các cô me Mỹ. Mà có điều lạ mấy đứa chơi với Mỹ vậy đó đều bám theo một anh không quân. Một dãy appartements gồm mấy đứa học trò tôi, mỗi đứa đều cõng một anh không quân, lo cung phụng đủ thứ, tôi cũng chưa biết tại sao.
Hỏi: Vậy chị là sư phụ của điếm. Sau này chị có gặp lại mấy cô đó không?
Th. Vũ: Sau 75 tôi có gặp lại một đứa, nó khóc quá trời. Nó kêu thằng Mỹ bỏ nó lại. Tôi nói bỏ lại là đúng rồi, nó còn vợ con bên đó, mà mình có phải vợ con gì của nó đâu. Khi hết dậy điếm là giai đoạn tôi vào làm việc ở xí nghiệp, rồi vào nghề viết lách... nghĩ lại cũng thấy xâm mình chớ, đàn bà lao vô mấy chỗ đó cũng dễ hư lắm, tiền nhiều quá mà... Mà đời cũng kỳ thiệt. Trước 75 lấy Mỹ là cái gì xấu xa, sau này có con lấy Mỹ thì ngon lắm, lo diện con lai đủ thứ để đi. Bởi đời nhiều điều kỳ khôi như vậy mà tôi trở thành thầy bói...
Hỏi: Từ đâu mà chị thành thầy bói vậy?
Th.Vũ: Sau 75, đâu còn ai cho viết, xí nghiệp làm sao xin vào, điếm thì còn đó nhưng đâu ai cần học tiếng Mỹ. Chưa biết tính toán sao thì có thằng em hỏi: Chị Hai, chị học nghề bói không? Sực nghĩ thời buổi lúc đó không ai biết tương lai mình ra sao, chắc nghề thầy bói coi bộ trúng đó. Tôi bèn trả lời: Thì học chớ. Thế là nó lấy bộ bài ra dậy tôi. Tôi học cũng chăm chú nhưng thiệt tình không nhớ gì lắm. Ruột gan lúc nào cũng rối bời, nhớ gì nổi. Vậy mà “chó ngáp phải ruồi”, cái đám ở khu làng báo chí (Thủ Ðức) đó, toàn bọn thanh niên nam nữ thuộc loại lý luận nghiệp vụ, chúng tin tôi lắm. Ðứa nào cũng thắc mắc chuyện tình duyên, mình cứ “tâm lý” mà giải đáp, bọn chúng tin rần rần. May mắn gặp mấy đứa đầu mình đoán trúng sao đó, một đồn mười, mười đồn trăm. Mà tôi đâu có lấy tiền, đứa cho gạo, đứa cho bánh, đứa cho chuối, thế là cũng đủ ăn.
Các anh biết không, Nguyễn Ðình Toàn đó, hắn đi nói với người ta: “Cái mụ Thụy Vũ đó nó là phù thủy của tao”. Ðến lúc ông ta đi vượt biên, mới ghé lại nói: “Ê Thụy Vũ, bói tôi một quẻ coi”. Tôi bói rồi nói: “Nè, đi rồi về nghe! Ði hẹn tắc xi đi để nó đón về”. Rồi ông ta đi lúc 7 giờ, 11 giờ lò mò về, qua nhà tôi chửi: “Ráng mà chúc dữ nghe. Chúc dữ rồi có ngày...” Vậy là ông ta nói với người ta tôi là phù thủy, “khi nào nó nói tao đi được là được, nói không là không...” Còn Lê Thị Ý nữa. Lê Thị Ý hẹn chồng tiền người ta 3 cây vàng buổi tối để sáng hôm sau đi. Trước khi chồng tiền không biết nghĩ sao kêu xe ôm nhảy xuống nhà tôi hỏi: “Ê Thụy Vũ, mày dở quẻ tao coi”. Bày quân bài ra tôi hỏi: “Mày có làm ăn với ai phải không, đàn ông đó?” Nó nói thì có làm ăn, hùn hạp, chứ nó không nói nó vượt biên, nó vẫn giấu. Tôi hỏi: “Ngày mai mày hẹn trả tiền phải không? Mày trả tiền coi chừng bị lừa đó”. Mấy hôm sau nó chạy xuống nói: “Tao đỡ mất 3 cây vàng...” Nó mới kể chuyện mấy người kia vượt biên bị lừa. Nó đãi tôi chầu ăn. Ðến kỳ chót nó đi được, nó cũng xuống đòi bói. Tôi dở bài ra rồi nói: “Chắc kỳ này tao với mày xa nhau quá...” Ði thoát, nó gửi cho tôi 4 bộ bài theo đường bưu điện, có ghi mấy chữ: Phen này mày bói cho gãy tay luôn. Hồi đó năm 77, 78 gì đó, bọn nó tịch thu hết đâu có phát cho tôi. Lê Thị Ý là em của Vương Ðức Lệ đó.
Hỏi: Chị bói như vậy theo linh tính hay sao?
Th. Vũ: Không biết sao nữa. Làm như khi mình dở bài ra, nghe tiếng ai nói đâu đó rằng vậy vậy đó, rồi mình cứ thế nói theo. Rồi đôi khi cũng là mánh nữa. Lúc mới đầu, ngay sau vụ 75, có lần tôi đi với Sao Biển, với đứa bạn nữa. Ba đứa không có tiền, không có chi hết. Buổi trưa đói quá, thằng Sao Biển mới nói, nè tao chỉ mày vô cái nhà đó nghe, mày coi bói. Nó nói hết cái nhà đó có những ai, vợ chồng, con cái ra sao, đủ thứ... Rồi nó vô nhà đó trước, nói với người ta là có cái bà ở núi Tà Lơn xuống, bây giờ tôi rước vô cho chị coi. Thế là bà chủ nhà mời vô, cơm bưng nước rót. Xong tôi dở bài ra, nhớ những gì Sao Biển nói tôi nói lại, trúng quá, bà ấy khóc. Ngặt tôi ở núi Tà Lơn xuống nên không lấy tiền, bả đãi tụi tôi một chầu ăn quá xá là ăn. Vậy đó, năm 75, 76 đó tụi tôi đi dài dài, đói quá là kiếm ăn kiểu đó cho cả đám bạn bè. Nghĩ lại cũng kỳ kỳ nhưng mà vui.
***
Xe đi qua khu vực chợ Lộc Ninh, Thụy Vũ nói:
- Hồi đó (Trước 1975) Ba tôi có hiệu thuốc tây ở đây nè.
Hỏi: Trước đây ba chị là dược sĩ?
Th. Vũ: Ðâu có. Ba tôi có bằng gì kiểu như Trữ Dược đó. Ổng mở một tiệm thuốc tây nhỏ ngay khu chợ Lộc Ninh, thực tình để ổng nuôi cán bộ, trợ cấp tiền bạc cho Việt Cộng. Ổng là Cộng Sản mà. Ổng mê Cộng Sản lắm, nói nó lý tưởng. Ðâu dè sau này... Sau 75, ổng là cố vấn cho Hội Văn Nghệ gì đó. Mới “giải phóng” vô, tổ chức học tập, bọn chúng đến nói ba tôi: Anh không biết dậy con (Thụy Vũ). Con anh nói nhiều cái khó nghe quá. Ông già tôi nói: Tôi hãnh diện vì nó. Nó có lý tưởng nó, tôi có lý tưởng tôi. Ông ấy điệu lắm. Ổng mất hai mươi mấy năm rồi. Hồi mới kêu bằng “Quân Quản” đó thì ông ấy là cố vấn Hội Văn Nghệ ở Sài Gòn. Lúc đó có Bảo Ðịnh Giang. Hồi xưa Bảo Ðịnh Giang đánh xe ngựa cho ông già tôi. Một hôm ổng đến nhà Bảo Ðịnh Giang nói với anh gác cửa: Vào nói Bảo Ðịnh Giang có thằng đánh xe ngựa tới thăm. Thật đúng bây giờ đổi đời... Mấy anh biết cái nhà từ đường của nhà tôi ở Vĩnh Long không, trời ơi là một gia tài đó, bao nhiêu đồ cổ quí giá, vậy mà năm 75 ổng hiến tặng cho nhà nước. Bây giờ người ta vẫn nói nhà đó tiền tỷ tỷ mà con gái thì chăn dê, chăn bò khổ cực. Ðây nè, thằng con trai tôi nè, nó học xong đại học Anh ngữ rồi đó chứ, bây giờ về giúp mẹ chăn bò... Nhiều khi chơi với thú vật sướng hơn, nó không có phản bội mình...
Hỏi: Nhắc chuyện phản bội tôi mới nhớ có mang theo bản copy của tạp chí thơ (California) số mới nhất cho bà xem, trong có bài thơ của Tô Thùy Yên nè... Nghe nói khi ổng đi tù về không nhìn mặt chú con trai này phải không?
Th. Vũ: Ðúng mà cũng không đúng. Số là sau 13 năm đi tù, ổng về nhà, thằng Hạo này ở bên cô nó qua thăm, ông ấy tưởng con hàng xóm, ngồi một lúc ông ấy đuổi: Thôi đi về đi mày cho chú nghỉ. Nó cũng không thèm nói nó là con ai, bỏ đi về. Lát sau cô nó hỏi: Ủa, thằng Hạo mới đây đâu rồi? Ổng mới nói: Thằng đó là thằng Hạo hở? Lúc đó ổng mới kêu lên: Trời ơi tôi đuổi con tôi rồi. Thằng bé lúc qua gặp bố có chào nhưng lí nhí trong miệng ổng không nghe. Ðến chiều ổng đi kiếm... Lúc đó nhà ở Lê Quang Ðịnh đó. Tôi nghĩ đó cũng là cái điềm ổng không nhìn đứa nào hết.
Hỏi: Trông nó giống ông ấy quá đi chớ sao ổng không nhận ra kìa.
Th. Vũ: Mà điều nó không có hô phải không? Thằng này nó cũng đọc sách dữ lắm.
Hạo: Vậy mà ông ấy không nhận ra con.
Hỏi: Hồi đó chị có viết cái gì như “Hai chàng Thi Sĩ Họ Tô” phải không, Tô Kiều Ngân và Tô Thùy Yên?
Th. Vũ: Anh Ngân bây giờ đi chụp hình cho các văn nghệ sĩ, mà chụp loại hình để thờ. Ảnh nói: Bây giờ anh đi chụp hình thờ, em cho anh chụp một tấm để thờ. Tôi nói được rồi, nhưng phải chụp cho đủ năm ngón tay nghe. Ổng năm nay bảy mươi mấy rồi mà trông còn trẻ lắm, trẻ hơn ông Văn Quang. Hồi đó tôi vô phòng kiếm ông Tô Thùy Yên thấy ông Văn Quang mà đâu dám nói chuyện.
Hỏi: Hồi đó ông Văn Quang Trung Tá, ngậm ống vố trông oai lắm. Tôi ở phòng ông Nguyễn Ðạt Thịnh, nghe nói ông Tô Thùy Yên là thi sĩ nên tôi xin chuyển qua phòng đó. Ai ngờ ổng là thi sĩ mà quái gở quá phải không chị?
Th. Vũ: Hồi đó người ta nói ông ấy “Ðinh Thành Tiên”, tức là Ðiên Thành Tinh. Ðiên mà thành tinh thì kinh lắm, công nhận ông ấy điên điên thiệt...
Hỏi: Hồi đó tại sao chị viết?
Th. Vũ: Hồi đó tôi đi dậy học mấy cô điếm đó, khi về nhà gặp thằng An (Hồ Trường An) nó nói: Trời ơi, tôi nói thiệt với bà, tôi thấy bà nói chuyện được thì bà viết được. Tôi nói tao viết thì ai mà đọc. Nó nói riết tôi cũng hỏi ông Võ Phiến cho tôi viết thử, chuyện đầu tay là “Mèo Ðêm”. Ông Võ Phiến đọc xong khen: Cô có triển vọng lắm đó. Do đó tôi mới tà tà viết cho đến đứt phim mới nghỉ. Hồi đó tôi bắt đầu viết vào năm 28 tuổi, đến năm 33 tuổi thì lãnh cái giải gì đó của ông Thiệu, đó là lúc tôi đẻ thằng Khôi Hạo này, lúc đó 1970. Truyện trúng giải là chuyện kể về gia đình tôi, chuyện “Ðại Gia” còn viết dài dài được, nhưng sau đó tôi mất hứng, rồi lười quá, không viết tiếp.
Hỏi: Bây giờ vừa viết vừa chăn dê cũng được phải không chị?
Th. Vũ: Tôi thì bây giờ nửa thầy nửa thợ, đâu biết làm gì, nên mới bàn với thằng Hạo vay tiền nhà nước 10 triệu mua đại con dê về nuôi. Hồi đó tôi cũng bày đặt nuôi heo nhưng lỗ quá. Ông già tôi nói hoài: Thứ gì mà cỏ biến thành thịt thì lời, còn cám hóa thành thịt thì 5 ăn 5 thua, nhiều khi lỗ nặng. Nên hai mẹ con tôi bắt đầu nuôi dê. Chỉ cần con dê cái đẻ một con thôi, mà là dê cái nữa, là bán được mươi triệu đủ trả nhà nước rồi. Hai mẹ con gây chuồng dê cũng được mấy con rồi, ngặt kỳ mới rồi dịch chết mất nửa chuồng. Bây giờ các anh hùn mua dê chúng tôi nuôi cho rồi mình chia nhau mà sống. Thằng Hạo bây giờ biết thuốc phòng bệnh cho dê khá lắm, khỏi tốn tiền thuê chích thuốc, nó còn chích giúp người ta nữa. Mà nó làm thơ hay lắm đó. Bây giờ bà bạn của tôi nè thấy chúng tôi có ít đất, chịu khó làm ăn, coi mòi đất lành nên đã xúi ông Văn Quang mua lấy một mẫu cất nhà ở, mấy tuần nữa là làm xong nhà rồi đó.
Hỏi: Ủa, bà Ngân này không phải em chị hở? Coi còn trẻ quá mà.
Th. Vũ: Ừa, nó là bạn vong niên của tôi đó, còn kém tôi 15 tuổi lận. Hồi đó làm mai cho ông Văn Quang còn sợ ông ấy mắng vốn là giới thiệu trẻ nít., nó kém ông Văn Quang 19 tuổi lận...
Bà Ngân: Trời, chị em gì. Mỗi lần bà ấy lên nhà ông Văn Quang, buổi sáng tôi pha cà phê hầu hai ông bà. Tôi bưng cà phê ra: Ly này mời Bố, ly này mời Mẹ. Hai người hành tôi dữ quá. Sau này chết tôi sẽ thờ cả hai...
Hỏi: Chắc khi đó chị giới thiệu chị Ngân cũng là để trốn “nghĩa vụ quân sự” đối với ông Văn Quang?.
Th. Vũ: Nói thiệt với anh, nhiều người hỏi tôi rằng hồi lúc ông Tô Thùy Yên với bà chia tay sao bà không lấy chồng? Tôi trả lời rằng khi lấy ông Yên là coi như tôi lấy hết đàn ông trên thế giới này - đàn ông thế giới nghe chứ không phải chỉ đàn ông Việt Nam – Thế là đủ quá rồi, sợ quá rồi... Cũng như hồi ông Yên đi cải tạo, tôi ra thăm, nói lại các anh không tức cười thì thôi.
Bước vô thì công an ngồi đầu bàn, tôi với ông ấy ngồi đối mặt. Tôi hỏi: Anh ơi, anh đi cải tạo mấy năm rồi? Ông ấy trả lời hơn bảy năm rồi. Tói nói: Ủa, sao mau dữ vậy. Thằng công an nó tức cười quá, người ta vợ con vô khóc bù lu bù loa, còn mình nói câu lãng xẹt. Ông Yên mới nói: Em ơi, xa mặt cách lòng! Tôi nói: Ðáng lý ra anh phải hỏi câu này nè: Em ơi, làm sao em nuôi nổi con? Còn xa mặt cách lòng hở, mai này anh về, trong giới giang hồ anh cứ hỏi cái con Thụy Vũ này nó có lăng nhăng bậy bạ không? Mà như vậy không phải tôi chung thủy với anh đâu nghe, mà chỉ vì tôi ngán đàn ông quá rồi. Nghe vậy ông ngồi mặt méo xẹo. Ông công an nín cười không nổi phải bước ra chỗ khác che miệng mà cười. Nghĩ cũng tội nghiệp, tới chừng lên xe mưa tầm tã, bà già ông ấy mới nghĩ đến con khóc khúc khít. Bà nắm tay tôi hỏi: Con ơi thế con hết thương thằng hai của má rồi hở. Tôi trả lời thôi để má thương thằng hai của má đi. Mà bà già ở quê lên nói tội nghiệp: Con ơi sao vợ con người ta khóc mà con cứ ngồi cười hoài vậy. Dù sao mày cũng ở với nó ba mặt con. Tôi trả lời: Ba mặt con cũng như không có đứa nào, ổng có coi như có đứa con nào đâu.
Hỏi: Hôm nay nghe chị kể chuyện ông Yên hơi kỹ?
Th. Vũ: Tôi nói thằng này (cậu con trai Khôi Hạo) giống gì thì giống chứ đừng có giống cái trăng hoa. Thời tôi lấy ông ấy, mỗi tuần lễ ông ấy có một mối tình, mà thứ đó là tình dục chứ không phải tình yêu đâu. Bữa nào mà ông ấy lăng xăng cầm tập giấy, hút gió, rồi sau khi tắm xong là thế nào cũng kể tôi nghe mối tình mới, rồi ông ấy tả người yêu của ông ấy làm sao làm sao. Một bữa ông ấy có cô bé đó, còn nhỏ lắm, ông ấy rủ đi ăn hủ tíu cá ở Hàm Nghi. Nhằm lúc tôi ghé tòa soạn, nên ông ấy nói chờ lát ra đó luôn. Hai người vào kêu 3 tô hủ tíu. Cô bé hỏi sao kêu đến 3 tô lận? Ông ấy nói thì kệ nó cứ kêu 3 tô. Chừng tôi bước vô, cô ta hoảng hồn đứng dậy chạy. Tôi nắm tay nó lại và nói: Em ơi, cứ ngồi đây đi. Ổng của chùa của miễu chứ không phải của chị đâu. Cứ yên chí ăn đi không có sao đâu, rồi chị đi chỗ khác cho em ăn với anh ấy. Rồi em chờ đó, mấy bữa nữa là lại gặp người khác nữa kìa...
Cho nên tôi mãi mãi là người độc thân.
Hỏi: Nhưng đầu tiên làm sao mà chị với anh ấy gặp nhau?
Th. Vũ: Hồi đó tôi là độc giả của anh ấy. Tôi là cô giáo tỉnh lẻ, thích thơ của anh ấy, mới viết thơ qua lại. Tới chừng bữa bà Túy Hồng lấy ông Thanh Nam, tôi ngồi với bà Túy Hồng một bàn. Tôi với ông Yên thơ từ qua lại nhưng không biết mặt nhau. Ông Tô Kiều Ngân thì biết tôi là Nguyễn Băng Lĩnh, nên chạy tới hỏi Tô Thùy Yên: Mày biết Nguyễn Băng Lĩnh không. Ông Yên mới nói: Nó là độc giả của tao đó. Tô Kiều Ngân bèn dắt ông ta đến giới thiệu tôi: Ðó, Nguyễn Băng Lĩnh đó. Trời, vậy mà ông ta nói ngay: Trời ơi, anh kiếm em mấy lần trước khi cưới vợ (bà Diệu Bích)! Tôi mới nói: Bây giờ ông có vợ rồi thì ông im đi.
Tôi với ông bạn bè củ nghệ củ gừng thôi. Vậy mà ông ấy theo tôi 3 năm liên tục, sáng, trưa, chiều, tối, ngồi đồng riết rồi mình cũng xiêu lòng.
Hỏi: Cuốn “Hôn Thụy” là do ông ấy đặt tựa?
Th. Vũ: Ông ấy đặt. Bọn nó cứ nói nghĩa là “Hôn Thụy Vũ”. Thực ra là ngủ cho chết luôn, tôi có người bà con một ngày ngủ 23 tiếng đồng hồ...
Hỏi: Mấy năm trước báo xuân Người Việt có đăng bài thơ “Ta Về” của Tô Thùy Yên, hay lắm. Ðọc rất cảm khái. Thế chị nghĩ sao chuyện người ta nói “Văn là người?”
Th. Vũ: Tôi thấy không phải vậy đâu. Cũng như mấy người trong Làng Báo Chí đó, họ nói tôi đọc tiểu thuyết của chị tưởng chị ghê gớm, dữ dằn lắm, ai ngờ chị hiền queo à. Tôi nói những người nào vô văn chương mà ghê gớm đó là vì trong đời sống hằng ngày người ta hiền quá, nên mới nhảy vô văn chương mà phá.
Còn như chị V. đó, trong văn chương hiền queo à, nói toàn tình thương yêu, nhưng trong đời sống thì phá dữ. Tôi sống đời sống hiền lành quá, tình ái cũng hiền lành quá, vô đó quậy chơi...
Cũng như ông Yên đó, nhìn trong văn chương giống như người hùng nghe, té ra ông ấy nhát như cáy. Hồi đó tôi cũng mê thơ ông ấy lắm. Có một lần ông ấy làm thơ xong đưa tôi coi, hỏi được không, tôi nói cũng đỡ đỡ, ông ấy chửi quá. Tôi nói đỡ đỡ là tôi an ủi ông ấy. Chứ tôi hỏi anh ông ấy làm một bài thơ cực khổ lắm, ông ấy làm rồi xé, tôi đổ mấy thùng rác ông ấy mới làm được một bài thơ. Gọi là ông ấy “trạm” thơ mới đúng, chứ đâu phải có hứng mà viết ra. Tôi nói “đỡ đỡ” là tốt lắm rồi đó. Ông ấy bảo cả nước nó ngả mũ chào tôi về thi ca mà bà nói vậy... Nhưng tôi nói ông trạm thơ riết đọc nó chán, hết linh, bởi ngày nào tôi cũng phải đọc tới đọc lui thì còn thấy hay gì nữa.