HYPERTENSION OR HIGH BLOOD PRESSURE

Huyết áp (blood pressure): Áp suất trong động mạch của cơ thể con người. Là một yếu tố rất cần thiết của sự sống gọi là “dấu hiệu sống” (Vital sign). Nhờ huyết áp mà máu có thể đưa Oxygen, các chất nuôi dưỡng đến nuôi sống các tế bào trong cơ thể.
Áp suất động mạch được ấn định bởi: lượng máu bơm của tim X sức cản ngoại biên. ( áp suất=lượng chảy X sức cản )
Như vậy Cao huyết áp sẽ xảy ra nếu: lượng máu bơm từ tim tăng hoặc sức cản ngoại biên tăng. Ngược lại huyết áp sẽ thấp nếu lượng máu bơm từ tim giảm ( thí dụ rõ ràng nhất trong trường hợp này là một người bị chảy máu cấp tính như trong trường hợp bị tai nạn hoặc chảy máu trong nội tạng thì huyết áp 1 có thể xuống thấp) Tuy nhiên yếu tố thứ hai là sức cản ngoại biên thì rất phức tạp và khó hiểu hơn. Nói chung đây là sự co bóp của các cơ trơn của thành mạch máu và sự đàn hồi của thành mạch máu, cơ chế co mạch, đàn hồi này được điều khiển bởi một hệ thống phức tạp các chất hóa học, các kích thich tố trong cơ thể. Tổng quát, huyết áp được ảnh hưởng và điều hòa bởi ba cơ chế chính:

1. Phản xạ do cảm ứng áp suất (baroreceptor): điều khiển bởi cơ quan cảm ứng nằm ở động mạch     cổ(carotid sinus), sự thay đổi huyết áp sẽ được cảm nhận tại đây và truyền lên não bộ, các chất     adrenaline sẽ được tiết ra ở cuống não và điều hòa nhịp đập của tim cũng như sứ bóp của tim và     sự co dãn các mạch máu ngoại biên.
2. Cơ chế thứ hai là hệ thống renin-angiotensin của thận, hệ htống này sẽ biến đổi thành chất     angiotensin II là chất chính làm co mạch máu, chất này cũng kích thích tuyến thượng thận tiết ra     chất aldosterone để điều chỉnh lượng muối trong cơ thể và gián tiếp lượng nước trong cơ thể.     ( Một thí dụ chính xác trong trường hợp này là thuốc lợi tiểu (diuretic) thải bớt muối trong người     đồng thời lấy bớt nước trong cơ thể để chữa Cao huyết áp. Những người bị cao huyết áp thường     được khuyên là ăn lạt (không có nghĩa là ăn chay mà không dùng đồ ăn mặn)
3. Thứ ba là thận, cơ quan điều chỉnh lượng nước ngoại biên trong cơ thể.

CÁCH ĐO HUYẾT ÁP:

Huyết áp cần được đo bằng dụng cụ đo huyết áp đã được chỉnh (calibrated), chiều rộng của túi cao su trong túi vải phải bao đủ 80% chu viên cuả cánh tay hay nơi đo huyết áp. Đo huyết áp tại những nơi có 2 xương như cẳng tay trước thường không được chính xác vì áp suất trong túi cao su khi bơm lên không đủ để ép động mạch nằm giữa hai xương tay. Khi đo huyết áp nên nghỉ ngơi khoảng 5 phút truớc khi đo và ngồi dựa thoải mái hoặc được nằm nghỉ.
Huyết áp đo tại phòng mạch Bác sĩ thường có khuynh hướng cao hơn ở nhà. Huyết áp sẽ thay đổi, lên xuống thất thường, vì thế một bịnh nhân bị cao huyết áp tốt nhất là nên mua cho mình một dụng cụ đo huyết áp riêng và thường xuyên tự đo cho mình nhiều lần để có một số trung bình chứ không thể căn cứ vào một hay hai con số mà quyết định được. Bịnh nhân mới tới phòng mạch, được đo huyết áp lần đầu thấy cao không thể căn cứ vào đó mà được chữa trị ngay được mà ít ra phải vài lần mới quyết định được trừ trường hợp đặc biệt quá cao cần phải can thiệp ngay. Thông thường ở con người, huyết áp vào buổi sáng cao hơn các lúc khác do ảnh hưởng của các kích thích tố trong cơ thể. Điều cần nhớ là con người là một sinh vật sống, có hỷ, nộ, ái, ố do đó huyết áp không phải là một số cố định mà trồi sụt khá nhiều tùy theo tình trạng tâm lý va các hoạt động thường ngày.

Huyết áp được coi là cao nếu lớn hơn 140/90.
Số trên 140 là con số khi tim bóp bơm máu ra và số dưới 90 là lúc tim nghỉ.

DỊCH TỂ HỌC

Theo thống kê, tại Mỹ có:
50 triệu người bị C.H.A ( Cao huyết áp )
70% biết mình bị bịnh.
Chỉ 50% được chữa trị, trong đó chỉ 25% được chữa trị đúng mức là huyết áp ở dưới 140/90

Sau đây là bảng xếp hạng của C.H.A.
Table 1. Classification of Blood Pressure for Adults Aged >/= 18 Years: JNC 7 vs JNC 6

cao áp hyết

NGUYÊN DO C.H.A.

A. C.H.A TỰ PHÁT: ESSENTIAL HYPERTENTION:

95% C.H.A. thuộc loại này tức là không rõ nguyên do (mà chỉ biết là thế nào) Trong lứa tuổi từ 25-55, tuy nhiên có thể thấy những yếu tố ảnh hưởng đến cao huyết áp, trong đó chúng ta có thể tóm tắt như sau:

1. Yếu tố di truyền.
2. Môi trường: cách ăn uống ( ăn mặn), mập phì,
3. Chủng tộc.
4. Hệ thống thần kinh giao cảm (sympathetic nervous system) hoạt động quá mạnh –hay thấy ở     những người trẻ. Qua cơ chế baroreceptor nói ở phần trên.
5. Hệ thống Renin-angiotensin (cơ chế thứ hai nói ở phần trên)
6. Lượng muối trong tế bào quá cao.

B. C.H.A CÓ NGUYÊN DO, (SECONDARY HYPERTENTION)

Khoảng 5% bịnh nhân cao huyết áp là có nguyên do rõ ràng:

1. Chứng ngưng thở trong khi ngủ.
2. Do dùng thuốc (sử dụng không đúng, phản ứng do các loại thuốc dùng, các chất steroid,     cocaine, amphethamine, các chất kích thích, cyclosporin, v..v.
3. Yếu tố thái quá: ăn mặn, béo phì, nghiện rượu hoặc uống quá nhiều, tuy nhiên ở đây tôi phải     mở một dấu ngoặc là nếu uống rượu một cách vừa phải (moderate- mỗi ngày một ly rượu hay     một chai bia thì không có hại gì mà ngược lại lại tốt cho sức khỏe).
4. Bịnh thận kinh niên.
5. Cơ thể tiết quá nhiều chất aldosterone (hyperaldosteronism).
6. Hẹp động mạch thận.
7. Bướu nang thượng thận (pheochromocytoma).
8. Ngạnh động mạch chủ (coarctation of aorta).
9. Bịnh về tuyến giáp trạng (thyroid).

TRIỆU CHỨNG BỊNH C.H.A.

C.H.A. vừa phải hay nhẹ lúc ban đầu thường không có triệu chứng gì trong nhiều năm sau đó có thể thấy nhức đầu nhẹ ở phía sau đầu, hay xảy ra vào buổi sáng, sau đó khi trở nên nặng các triệu chứng là triệu chứng của biến chứng của nó gây ra:

- Đầu tiên là huyết áp sẽ cao hơn bình thường (xin xem bảng sắp loại ở trên.
- Tại phòng khám bịnh, các Bác sỹ có thể tìm thấy được những dấu hiệu của C.H.A. ở mắt, giác   dấu hiệu cứng mạch máu ở tứ chi, tim lớn, sau đó kết hợp với các thử nghiệm về máu, nước tiểu,   điện tâm đồ, chụp quang tuyến để xác nhận và thẩm định tình trạng của bịnh ở giai đoạn nào.
- Tai biến mạch máu não có thể gây: nhức đầu, liệt, miệng méo, nói không được, yếu một phần cơ    thể hay toàn thân nặng hơn có thể là hôn mê và mất mạng.
- Đặc biệt là trong bịnh C.H.A. do bướu của nang thượng thận (pheochromocytoma) bịnh nhân có    thể chỉ cao máu xảy ra từng cơn vài tiếng đồng hồ kèm với hồi hộp, xuất mồ hôi, sợ hãi, lo lắng.
- Nguy hiểm nhất là các triệu chứng của các cơn đau tim từ nhẹ đến nặng để được can thiệp và    chữa trị đúng mức. Triệu chứng quan trọng nhất của cơn đau tim do nhồi máu cơ tim    (myocardial infarction) do tắc nghẽn cấp thời của một hay nhiều mạch máu của tim là: đau lói    dữ dội ở phần trước ngực mà bịnh nhân có cảm giác chạy lan ra tay, hay lên cằm. Kèm theo đó    bịnh nhân có thể thấy khó thở, hồi hộp, vã mồ hôi. Trường hợp này việc quan trọng là phải    được săn sóc ngay (cần gọi ngay xe cứu thương để được chữa trị đúng mức và kịp thời tại phòng    cấp cứu tại bịnh viện) vì bịnh nhân có thể chết hoặc trở nên tàn phế nếu đúng là nhồi máu cơ    tim.

TẠI SAO PHẢI CHỮA BỊNH C.H.A.

C.H.A. cần được chữa trị để giảm những hậu quả tai hại của nó gây cho người bịnh nhân:

1. Bịnh tim mạch gây ra do C.H.A (hypertensive cardiovascular disease) có thể gây tàn phế và tử    vong cho người bịnh: quả tim phải làm việc quá sức một cách liên tục để chống lại áp suất của    động mạch để bơm máu đến nuôi toàn cơ thể lâu dần sẽ đưa đến: tim lớn, trụy tim.
2. Bịnh não mạch do C.H.A (hypertensive cerebrovascular disease) có thể gây ra tai biến mạch    máu não: thiếu máu nuôi, tắc nghẽn mạch máu não, chảy máu. Hoặc có thể gây bịnh lãng quên    do C.H.A.
3. Ảnh hưởng lên thị giác: có thể làm chảy máu, phù võng mạc gây giảm thị lực hoặc mù.
4. Gây ra suy thận, hư thận (hypertensive renal disease)
5. Gây rách động mạch chủ (aortic dissection)
6. Chai cứng động mạch.

CÁCH CHỮA TRỊ C.H.A.

Trước hết phải nói là C.H.A là một bịnh gần như không thể chữa dứt được trừ 5% C.H.A có nguyên do nếu loại bỏ được nguyên do chính gây bệnh, còn gần như hầu hết C.H.A tự phát không thể chữa dứt được, tuy nhiên người ta có thể kiểm soát nó bằng cách thay đổi cách sống để giảm bớt bịnh và dùng thuốc để kiểm soát nó, không cho nó nặng hơn, và hơn nữa để phòng ngừa tối đa tất cả các biến chứng do nó gây ra, một bịnh nhân bị C.H.A. nếu được chữa trị, kiểm soát Huyết áp hữu hiệu, tai biến mạch máu não, ảnh hưởng làm suy tim giảm từ hai đến ba lần.

1. Thay đổi lối sống một cách lành mạnh: ăn uống điều độ, giảm ăn mặn- lúc đầu có thể chưa quen    nhưng lâu dần sẽ quen và nếu ăn mặn trở lại lại thấy khó chịu hơn- Bỏ hút thuốc lá –một thói    xấu của dân Á Châu nói chung-. Tập thể dục thường xuyên, uống rượu một cách vừa phải: một     ly rượu hay một chai bia mỗi ngày thì tốt
2. Dùng thuốc: Thuốc chữa trị C.H.A. hiện nay rất nhiều thứ và được sắp xếp theo từng loại tùy    theo đặc tính của mỗi loại.Tuy thuốc trị C.H.A. càng ngày càng tốt hơn nhưng mỗi thứ thuốc    đều có tác dụng phụ (side sffect) của nó xảy ra từ vài % đến trên dưới 10%.Tùy theo giai đoạn    của bệnh, tình trạng nói chung của cơ thể có bị thêm các bịnh khác hay không,các Bác sĩ sẽ    phối hợp, điều chỉnh loại thuốc, lượng thuốc cho từng trường hợp. Bịnh nhân nên theo dõi và    bàn thảo với BS của mình những ảnh hưởng của thuốc trên cơ thể và kết quả của dùng thuốc,    huyết áp của minh đã được kiểm soát ở mức an toàn chưa. Một vị BS không thể nào khám và    điều trị cho một bịnh nhân bị cao huyết áp một hay hai lần mà kiểm soát được huyết áp bịnh    nhân đó ở mức thích hợp ngay được. Và với thời gian bịnh tình thay đổi-nhất là những người    lớn tuổi-các bịnh mới xuất hiện, thuốc C.H.A. cần được điều chỉnh cho thích hợp. Do đó cần    phải gặp BS thường xuyên hơn, hai ba tháng một lần, tối thiểu hai lần một năm. Bịnh càng nặng,    tuổi cao cần đi khám thường xuyên hơn.

CÁC LOẠI THUỐC CHỮA C.H.A.:

Nói chung các thứ thuốc C.H.A. được sắp theo loại như sau, trong mỗi loại có nhiều thứ thuốc:

1. Loại lợi tiểu : lấy bớt muối đồng thời giảm bớt lượng nước trong cơ thể. Có thể gây thiếu muối    trong cơ thể, thuốc cổ điển nhất và rẻ.
2. Loại Beta blockers: giảm nhip tim và lượng máu tống xuất ở tim.
3. Loại ACE inhibitor: ngăn cản hệ thống Renin-angiotensin-aldosterone. Tác dung phụ chinh là    làm ho dữ dội. Đối với bịnh nhân bị đái đường, loại thuốc này có ảnh hưởng rất tốt trên thận.
4. Loại Angiotensin II Receptor blocker (ARB) Tương tự như loại 3 lại không gây ho.
5. Loại Calcium chanel blockers: làm giãn nở các mach mau ngoại biên.
6. Loại Alpha blockers: làm cá cơ trơn được giãn nở.
7. Ngoài ra còn vài loại nữa nhưng không thông dụng như các loại kể trên.

Một thí dụ hay gặp: một bịnh nhân đang được điều đái đường, sau vài năm theo dõi, binh nhân lại bi C.H.A. (Hai bịnh này rất hay đi đôi, thì thuốc trị C.H.A. tốt nhất cho bịnh này là dùng ACE inhibitor, nhưng nếu sau khi dùng mà binh nhân lại bị ho khan, ho rũ rượi, nếu không tìm ra nguyên do ho và giải quyết được hết ho thì có lẽ phải đổi qua thứ thuốc khác

Trên đây là một số kiến thức khá phức tạp về binh C.H.A., tôi đã cố đơn giản hóa để những người thường có thể hiểu được vấn đề, nếu hiểu rõ bịnh của mình và thay đổi nếp sống cho lành mạnh, chữa trị bằng thuốc với một tinh thần lạc quan yêu đời, thoải mải bịnh sẽ dễ dược kiểm soát hơn, sức khỏe sẽ tốt hơn.

Y khoa và Bác sĩ không phải là những gì nhiệm màu, một bịnh nhân khi khai một chứng hay một bịnh với BS là có ngay một định bịnh, có ngay một thứ thuốc để chữa nó. Một bịnh nhân cần phải thấu hiểu về bịnh tình của chính mình, có tinh thần cộng tác với Bác Sĩ kết hợp với thuốc men để cùng chữa bịnh thì hy vọng có kết quả như ý.

Bùi Đăc Lộc

BS Bùi đắc Lộc
8900 Bolsa Ave.suite B.
Westmister Ca 92683
Tel. 714-897-2623>