VARECH
Fucus vesiculosus L.
Fucus serratus L.
Fucaceae


varech

Đại cương :

Tên gọi : Varech

Ngành Tảo nâu ( Algues brunes ) cũng gọi Phaeophyceae,

Fucus do tiếng hy lạp « phucos » muốn nói rong biển. Màu nâu xanh, trong rong có 2 sắc lạp ( pigments ) chức năng hấp thụ ánh sáng và chứa những sắc tố chánh :

- Chlorophylle a và c gọi là diệp lục tố a và c dể tan trong nước.

- Caroténoïdes có sắc tố fucoxanthine ( caroténoïdes cá màu nâu ), tùy theo lượng sắc tố lục và nâu nhiều hay ít mà ta có rong màu xanh hay nâu.

Rong biệt chu, đa dạng, người ta dể dàng nhận biết do những phao được nằm trong tản, khác với tảo nâu sargassum phao rời ngoài .

Fucus sinh hiện diện phát triển rất nhiều ở bờ Đại tây dương hay biển Manche.  Tản ( không rể không thân không cá, có bộ phận giống như rể dùng để bám vào đài vật ).

Thủy triều mù xuân tản đứt tách rời khỏi đài vật (đá … ) trôi nổi tấp vào bờ mắc cạn….dân Bretons gọi « goémon », dân Normands và charentais gọ « varech » để gọi rong biển.

Thực vật và môi trường :

- Nguồn gốc : Algues des côtes normandes et bretonnes

- Mô tả thực vật : - Dạng như lá dừa hình phiến dài 20 cm đến 1 m, màu nâu xanh, thẳng ở gốc kế phân nhánh chia đôi lưởng phân, chạy ra bởi gân giữa, bìa có răng cưa ( fucus serratus ) hay những phao hình cầu ( fucus vésiculosus )

Thu hoạch: Trong năm trên ven bờ biển Đại tây dương hay biển Manche. Rong fucus là một thành phần của Rong biển nói chung.

Bộ phận dùng :

- Tản

- Nhân nhanh mẫu vật : - Phiến màu đen lợt hay nâu lợt của sừng, với những mục mụn màu trắng nhạt, bốc mùi hôi khi phơi theo thủy triều, có vị nhớt và mặn.

Thành phần hóa học và dược chất :

- Nguyên tố vi lượng ( oligòléments ), iode, muối khoáng.

- Chất đa đường ( Polyoside ) : Algine hay acide alginique ( 40% )

Fucus là một tảo nâu có cơ cấu tản thalle hay thallus đặc biệt giàu muối khoáng, những nguyên tố vi lượng (đồng, chrome, kẽm,sélénium, manganèse, sắt, iode ), sinh tố ( C, B1, B2, B6, B12 ) và chất sơ fibres.

Thật vậy trong fucus gồm :

  • 55 à 65% đường glucides (sorbitol, cellulose, mucilage…)
  • 4 à 10% đạm protides (AA, peptides và phân hóa tố enzymes)
  • 1 à 2% chất béo lipides
  • 15% Chất khoáng với lượng lớn về iode, chlore, brome, calcium, fer, magnésium, phosphore, potassium, silicium, sodium, soufre
  • Vitamine C

Đặc tính trị liệu :

  • Rong fucus dùng trong chế độ ăn kiêng ốm nhờ tản fucus có tính khử nước, mõi lần ăn vào dạ dầy sẽ hấp thụ nưóc lại và phòng lên tăng dung tích, đầy bụng cắt đứt cảm giác đói.
  • Ngoài ra, rong fucus dùng những chất cũa rong để thay thế trang trải nhu cầu dinh dưởng cần thiết của chế độ ăn kiêng ốm. Do chứa nhiều iode, fucus được biết giữ vai trò trong biến dưởng những chất béo .
  • Dùng đều và thường những chất xơ thiên nhiên của rong fucus, vời số lượng lớn , giúp dể dàng dẩn chuyển phân trong hệ ruột, đi cầu dể .
  • Rong fucus cũng dùng như là thuốc nhuận trường nhẹ để chữa bệnh bón hành khách ( bón do du lịch ngồi lâu )
  • Giàu chất đạm thực vật đồng hóa được, fucus nghèo năng lượng calorie và chất béo .
  • Thêm nữa, rong fucus chứa chất nhầy không đồng hóa, chỉ có đặc tính phòng trương lên trong dạ dày khi tiếp xúc với nước, nhờ đó cắt đứt cảm giác đói thiên nhiên và những chất xơ thực vật này dể dàng chuyển qua ruột ra ngoài ( transit intestinal ).
  • Varech vesiculeux, được coi như để chữa bệnh psoriasis và mô dưới da viêm (dùng ngoài da).

Đồng thời chữa những bệnh như : Bướu giáp ( Goitre ), bón, phong thấp.

Chỉ định dùng :

Rong fucus được khuyến cáo rất hiệu quả trong khuông khổ chế độ ăn kiêng ốm để cắt cơn đói « couper la faim » và để giãm cân bằng cách mang đến cơ thể những nguyên tố dinh dưởng thường và cần thiết « bổ và cân đối ».

Nấu sắc : 1 muổng súp / tô lớn nước trước bữa ăn.

Thuốc cao : Nấu sôi một nắm varech véculeux trong nước, đắp nóng vào nếu có thể.

Hiệu quả xấu và rủi ro :

Đối với những người bị chứng “ hyperthyroïde ” không nên dùng. Lượng iode chứa trong rong fucus vesiculosus có thể làm bệnh trở nên trầm trọng thêm. Người ta cũng nghi ngờ đối với những người dị ứng mẩn cảm với iode.

 

Gs Nguyễn thanh Vân

Blog "dược thảo thực dụng" (http://duocthaothucdung.blogspot.com)


Normal 0 21 false false false FR X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

Đại cương :

Tên gọi : Varech

Ngành Tảo nâu ( Algues brunes ) cũng gọi Phaeophyceae,

Fucus do tiếng hy lạp « phucos » muốn nói rong biển. Màu nâu xanh, trong rong có 2 sắc lạp ( pigments ) chức năng hấp thụ ánh sáng và chứa những sắc tố chánh :

-          Chlorophylle a và c gọi là diệp lục tố a và c dể tan trong nước.

-          Caroténoïdes có sắc tố fucoxanthine ( caroténoïdes cá màu nâu ), tùy theo lượng sắc tố lục và nâu nhiều hay ít mà ta có rong màu xanh hay nâu.

 

Rong biệt chu, đa dạng, người ta dể dàng nhận biết do những phao được nằm trong tản, khác với tảo nâu sargassum phao rời ngoài .

Fucus sinh hiện diện phát triển rất nhiều ở bờ Đại tây dương hay biển Manche.  Tản ( không rể không thân không cá, có bộ phận giống như rể dùng để bám vào đài vật ).

Thủy triều mù xuân tản đứt tách rời khỏi đài vật (đá … ) trôi nổi tấp vào bờ mắc cạn….dân Bretons gọi « goémon », dân Normands và charentais gọ « varech » để gọi rong biển.

 

Thực vật và môi trường :

- Nguồn gốc : Algues des côtes normandes et bretonnes

- Mô tả thực vật : - Dạng như lá dừa hình phiến dài 20 cm đến 1 m, màu nâu xanh, thẳng ở gốc kế phân nhánh chia đôi lưởng phân, chạy ra bởi gân giữa, bìa có răng cưa ( fucus serratus ) hay những phao hình cầu ( fucus vésiculosus )

 

Thu hoạch: Trong năm trên ven bờ biển Đại tây dương hay biển Manche. Rong fucus là một thành phần của Rong biển nói chung.

 

Bộ phận dùng :

- Tản

- Nhân nhanh mẫu vật : - Phiến màu đen lợt hay nâu lợt của sừng, với những mục mụn màu trắng nhạt, bốc mùi hôi khi phơi theo thủy triều, có vị nhớt và mặn.

 

Thành phần hóa học và dược chất :

- Nguyên tố vi lượng ( oligòléments ), iode, muối khoáng.

- Chất đa đường ( Polyoside ) : Algine hay acide alginique ( 40% )

Fucus là một tảo nâu có cơ cấu tản thalle hay thallus đặc biệt giàu muối khoáng, những nguyên tố vi lượng (đồng, chrome, kẽm,sélénium, manganèse, sắt, iode ), sinh tố ( C, B1, B2, B6, B12 ) và chất sơ fibres.

 

Thật vậy trong fucus gồm :

  • 55 à 65% đường glucides (sorbitol, cellulose, mucilage…)
  • 4 à 10% đạm protides (AA, peptides và phân hóa tố enzymes)
  • 1 à 2% chất béo lipides
  • 15% Chất khoáng với lượng lớn về iode, chlore, brome, calcium, fer, magnésium, phosphore, potassium, silicium, sodium, soufre
  • Vitamine C

 

Đặc tính trị liệu :

o        Rong fucus dùng trong chế độ ăn kiêng ốm nhờ tản fucus có tính khử nước, mõi lần ăn vào dạ dầy sẽ hấp thụ nưóc lại và phòng lên tăng dung tích, đầy bụng cắt đứt cảm giác đói.

o        Ngoài ra, rong fucus dùng những chất cũa rong để thay thế trang trải nhu cầu dinh dưởng cần thiết của chế độ ăn kiêng ốm. Do chứa nhiều iode, fucus được biết giữ vai trò trong biến dưởng những chất béo .

o        Dùng đều và thường những chất xơ thiên nhiên của rong fucus, vời số lượng lớn , giúp dể dàng dẩn chuyển phân trong hệ ruột, đi cầu dể .

o        Rong fucus cũng dùng như là thuốc nhuận trường nhẹ để chữa bệnh bón hành khách ( bón do du lịch ngồi lâu )

o        Giàu chất đạm thực vật đồng hóa được, fucus nghèo năng lượng calorie và chất béo .

o        Thêm nữa, rong fucus chứa chất nhầy không đồng hóa, chỉ có đặc tính phòng trương lên trong dạ dày khi tiếp xúc với nước, nhờ đó cắt đứt cảm giác đói thiên nhiên và những chất xơ thực vật này dể dàng chuyển qua ruột ra ngoài ( transit intestinal ).

o        Varech vesiculeux, được coi như để chữa bệnh psoriasis và mô dưới da viêm (dùng ngoài da).

Đồng thời chữa những bệnh như : Bướu giáp ( Goitre ), bón, phong thấp.

 

Chỉ định dùng :

Rong fucus được khuyến cáo rất hiệu quả trong khuông khổ chế độ ăn kiêng ốm để cắt cơn đói « couper la faim » và để giãm cân bằng cách mang đến cơ thể những nguyên tố dinh dưởng thường và cần th

Đại cương :

Tên gọi : Varech

Ngành Tảo nâu ( Algues brunes ) cũng gọi Phaeophyceae,

Fucus do tiếng hy lạp « phucos » muốn nói rong biển. Màu nâu xanh, trong rong có 2 sắc lạp ( pigments ) chức năng hấp thụ ánh sáng và chứa những sắc tố chánh :

- Chlorophylle a và c gọi là diệp lục tố a và c dể tan trong nước.

- Caroténoïdes có sắc tố fucoxanthine ( caroténoïdes cá màu nâu ), tùy theo lượng sắc tố lục và nâu nhiều hay ít mà ta có rong màu xanh hay nâu.

 

Rong biệt chu, đa dạng, người ta dể dàng nhận biết do những phao được nằm trong tản, khác với tảo nâu sargassum phao rời ngoài .

Fucus sinh hiện diện phát triển rất nhiều ở bờ Đại tây dương hay biển Manche. Tản ( không rể không thân không cá, có bộ phận giống như rể dùng để bám vào đài vật ).

Thủy triều mù xuân tản đứt tách rời khỏi đài vật (đá … ) trôi nổi tấp vào bờ mắc cạn….dân Bretons gọi « goémon », dân Normands và charentais gọ « varech » để gọi rong biển.

 

Thực vật và môi trường :

- Nguồn gốc : Algues des côtes normandes et bretonnes

- Mô tả thực vật : - Dạng như lá dừa hình phiến dài 20 cm đến 1 m, màu nâu xanh, thẳng ở gốc kế phân nhánh chia đôi lưởng phân, chạy ra bởi gân giữa, bìa có răng cưa ( fucus serratus ) hay những phao hình cầu ( fucus vésiculosus )

 

Thu hoạch: Trong năm trên ven bờ biển Đại tây dương hay biển Manche. Rong fucus là một thành phần của Rong biển nói chung.

 

Bộ phận dùng :

- Tản

- Nhân nhanh mẫu vật : - Phiến màu đen lợt hay nâu lợt của sừng, với những mục mụn màu trắng nhạt, bốc mùi hôi khi phơi theo thủy triều, có vị nhớt và mặn.

 

Thành phần hóa học và dược chất :

- Nguyên tố vi lượng ( oligòléments ), iode, muối khoáng.

- Chất đa đường ( Polyoside ) : Algine hay acide alginique ( 40% )

Fucus là một tảo nâu có cơ cấu tản thalle hay thallus đặc biệt giàu muối khoáng, những nguyên tố vi lượng (đồng, chrome, kẽm,sélénium, manganèse, sắt, iode ), sinh tố ( C, B1, B2, B6, B12 ) và chất sơ fibres.

 

Thật vậy trong fucus gồm :

• 55 à 65% đường glucides (sorbitol, cellulose, mucilage…)

• 4 à 10% đạm protides (AA, peptides và phân hóa tố enzymes)

• 1 à 2% chất béo lipides

• 15% Chất khoáng với lượng lớn về iode, chlore, brome, calcium, fer, magnésium, phosphore, potassium, silicium, sodium, soufre

• Vitamine C

 

Đặc tính trị liệu :

o Rong fucus dùng trong chế độ ăn kiêng ốm nhờ tản fucus có tính khử nước, mõi lần ăn vào dạ dầy sẽ hấp thụ nưóc lại và phòng lên tăng dung tích, đầy bụng cắt đứt cảm giác đói.

o Ngoài ra, rong fucus dùng những chất cũa rong để thay thế trang trải nhu cầu dinh dưởng cần thiết của chế độ ăn kiêng ốm. Do chứa nhiều iode, fucus được biết giữ vai trò trong biến dưởng những chất béo .

o Dùng đều và thường những chất xơ thiên nhiên của rong fucus, vời số lượng lớn , giúp dể dàng dẩn chuyển phân trong hệ ruột, đi cầu dể .

o Rong fucus cũng dùng như là thuốc nhuận trường nhẹ để chữa bệnh bón hành khách ( bón do du lịch ngồi lâu )

o Giàu chất đạm thực vật đồng hóa được, fucus nghèo năng lượng calorie và chất béo .

o Thêm nữa, rong fucus chứa chất nhầy không đồng hóa, chỉ có đặc tính phòng trương lên trong dạ dày khi tiếp xúc với nước, nhờ đó cắt đứt cảm giác đói thiên nhiên và những chất xơ thực vật này dể dàng chuyển qua ruột ra ngoài ( transit intestinal ).

o Varech vesiculeux, được coi như để chữa bệnh psoriasis và mô dưới da viêm (dùng ngoài da).

Đồng thời chữa những bệnh như : Bướu giáp ( Goitre ), bón, phong thấp.

 

Chỉ định dùng :

Rong fucus được khuyến cáo rất hiệu quả trong khuông khổ chế độ ăn kiêng ốm để cắt cơn đói « couper la faim » và để giãm cân bằng cách mang đến cơ thể những nguyên tố dinh dưởng thường và cần thiết « bổ và cân đối ».

 

Nấu sắc : 1 muổng súp / tô lớn nước trước bữa ăn.

Thuốc cao : Nấu sôi một nắm varech véculeux trong nước, đắp nóng vào nếu có thể.

 

Hiệu quả xấu và rủi ro :

Đối với những người bị chứng “ hyperthyroïde ” không nên dùng. Lượng iode chứa trong rong fucus vesiculosus có thể làm bệnh trở nên trầm trọng thêm. Người ta cũng nghi ngờ đối với những người dị ứng mẩn cảm với iode.

 

Nguyễn thanh Vân

Đại cương :

Tên gọi : Varech

Ngành Tảo nâu ( Algues brunes ) cũng gọi Phaeophyceae,

Fucus do tiếng hy lạp « phucos » muốn nói rong biển. Màu nâu xanh, trong rong có 2 sắc lạp ( pigments ) chức năng hấp thụ ánh sáng và chứa những sắc tố chánh :

- Chlorophylle a và c gọi là diệp lục tố a và c dể tan trong nước.

- Caroténoïdes có sắc tố fucoxanthine ( caroténoïdes cá màu nâu ), tùy theo lượng sắc tố lục và nâu nhiều hay ít mà ta có rong màu xanh hay nâu.

 

Rong biệt chu, đa dạng, người ta dể dàng nhận biết do những phao được nằm trong tản, khác với tảo nâu sargassum phao rời ngoài .

Fucus sinh hiện diện phát triển rất nhiều ở bờ Đại tây dương hay biển Manche. Tản ( không rể không thân không cá, có bộ phận giống như rể dùng để bám vào đài vật ).

Thủy triều mù xuân tản đứt tách rời khỏi đài vật (đá … ) trôi nổi tấp vào bờ mắc cạn….dân Bretons gọi « goémon », dân Normands và charentais gọ « varech » để gọi rong biển.

 

Thực vật và môi trường :

- Nguồn gốc : Algues des côtes normandes et bretonnes

- Mô tả thực vật : - Dạng như lá dừa hình phiến dài 20 cm đến 1 m, màu nâu xanh, thẳng ở gốc kế phân nhánh chia đôi lưởng phân, chạy ra bởi gân giữa, bìa có răng cưa ( fucus serratus ) hay những phao hình cầu ( fucus vésiculosus )

 

Thu hoạch: Trong năm trên ven bờ biển Đại tây dương hay biển Manche. Rong fucus là một thành phần của Rong biển nói chung.

 

Bộ phận dùng :

- Tản

- Nhân nhanh mẫu vật : - Phiến màu đen lợt hay nâu lợt của sừng, với những mục mụn màu trắng nhạt, bốc mùi hôi khi phơi theo thủy triều, có vị nhớt và mặn.

 

Thành phần hóa học và dược chất :

- Nguyên tố vi lượng ( oligòléments ), iode, muối khoáng.

- Chất đa đường ( Polyoside ) : Algine hay acide alginique ( 40% )

Fucus là một tảo nâu có cơ cấu tản thalle hay thallus đặc biệt giàu muối khoáng, những nguyên tố vi lượng (đồng, chrome, kẽm,sélénium, manganèse, sắt, iode ), sinh tố ( C, B1, B2, B6, B12 ) và chất sơ fibres.

 

Thật vậy trong fucus gồm :

• 55 à 65% đường glucides (sorbitol, cellulose, mucilage…)

• 4 à 10% đạm protides (AA, peptides và phân hóa tố enzymes)

• 1 à 2% chất béo lipides

• 15% Chất khoáng với lượng lớn về iode, chlore, brome, calcium, fer, magnésium, phosphore, potassium, silicium, sodium, soufre

• Vitamine C

 

Đặc tính trị liệu :

o Rong fucus dùng trong chế độ ăn kiêng ốm nhờ tản fucus có tính khử nước, mõi lần ăn vào dạ dầy sẽ hấp thụ nưóc lại và phòng lên tăng dung tích, đầy bụng cắt đứt cảm giác đói.

o Ngoài ra, rong fucus dùng những chất cũa rong để thay thế trang trải nhu cầu dinh dưởng cần thiết của chế độ ăn kiêng ốm. Do chứa nhiều iode, fucus được biết giữ vai trò trong biến dưởng những chất béo .

o Dùng đều và thường những chất xơ thiên nhiên của rong fucus, vời số lượng lớn , giúp dể dàng dẩn chuyển phân trong hệ ruột, đi cầu dể .

o Rong fucus cũng dùng như là thuốc nhuận trường nhẹ để chữa bệnh bón hành khách ( bón do du lịch ngồi lâu )

o Giàu chất đạm thực vật đồng hóa được, fucus nghèo năng lượng calorie và chất béo .

o Thêm nữa, rong fucus chứa chất nhầy không đồng hóa, chỉ có đặc tính phòng trương lên trong dạ dày khi tiếp xúc với nước, nhờ đó cắt đứt cảm giác đói thiên nhiên và những chất xơ thực vật này dể dàng chuyển qua ruột ra ngoài ( transit intestinal ).

o Varech vesiculeux, được coi như để chữa bệnh psoriasis và mô dưới da viêm (dùng ngoài da).

Đồng thời chữa những bệnh như : Bướu giáp ( Goitre ), bón, phong thấp.

 

Chỉ định dùng :

Rong fucus được khuyến cáo rất hiệu quả trong khuông khổ chế độ ăn kiêng ốm để cắt cơn đói « couper la faim » và để giãm cân bằng cách mang đến cơ thể những nguyên tố dinh dưởng thường và cần thiết « bổ và cân đối ».

 

Nấu sắc : 1 muổng súp / tô lớn nước trước bữa ăn.

Thuốc cao : Nấu sôi một nắm varech véculeux trong nước, đắp nóng vào nếu có thể.

 

Hiệu quả xấu và rủi ro :

Đối với những người bị chứng “ hyperthyroïde ” không nên dùng. Lượng iode chứa trong rong fucus vesiculosus có thể làm bệnh trở nên trầm trọng thêm. Người ta cũng nghi ngờ đối với những người dị ứng mẩn cảm với iode.

 

Nguyễn thanh Vân

 

iết « bổ và cân đối ».

 

N

Đại cương :

Tên gọi : Varech

Ngành Tảo nâu ( Algues brunes ) cũng gọi Phaeophyceae,

Fucus do tiếng hy lạp « phucos » muốn nói rong biển. Màu nâu xanh, trong rong có 2 sắc lạp ( pigments ) chức năng hấp thụ ánh sáng và chứa những sắc tố chánh :

-          Chlorophylle a và c gọi là diệp lục tố a và c dể tan trong nước.

-          Caroténoïdes có sắc tố fucoxanthine ( caroténoïdes cá màu nâu ), tùy theo lượng sắc tố lục và nâu nhiều hay ít mà ta có rong màu xanh hay nâu.

 

Rong biệt chu, đa dạng, người ta dể dàng nhận biết do những phao được nằm trong tản, khác với tảo nâu sargassum phao rời ngoài .

Fucus sinh hiện diện phát triển rất nhiều ở bờ Đại tây dương hay biển Manche.  Tản ( không rể không thân không cá, có bộ phận giống như rể dùng để bám vào đài vật ).

Thủy triều mù xuân tản đứt tách rời khỏi đài vật (đá … ) trôi nổi tấp vào bờ mắc cạn….dân Bretons gọi « goémon », dân Normands và charentais gọ « varech » để gọi rong biển.

 

Thực vật và môi trường :

- Nguồn gốc : Algues des côtes normandes et bretonnes

- Mô tả thực vật : - Dạng như lá dừa hình phiến dài 20 cm đến 1 m, màu nâu xanh, thẳng ở gốc kế phân nhánh chia đôi lưởng phân, chạy ra bởi gân giữa, bìa có răng cưa ( fucus serratus ) hay những phao hình cầu ( fucus vésiculosus )

 

Thu hoạch: Trong năm trên ven bờ biển Đại tây dương hay biển Manche. Rong fucus là một thành phần của Rong biển nói chung.

 

Bộ phận dùng :

- Tản

- Nhân nhanh mẫu vật : - Phiến màu đen lợt hay nâu lợt của sừng, với những mục mụn màu trắng nhạt, bốc mùi hôi khi phơi theo thủy triều, có vị nhớt và mặn.

 

Thành phần hóa học và dược chất :

- Nguyên tố vi lượng ( oligòléments ), iode, muối khoáng.

- Chất đa đường ( Polyoside ) : Algine hay acide alginique ( 40% )

Fucus là một tảo nâu có cơ cấu tản thalle hay thallus đặc biệt giàu muối khoáng, những nguyên tố vi lượng (đồng, chrome, kẽm,sélénium, manganèse, sắt, iode ), sinh tố ( C, B1, B2, B6, B12 ) và chất sơ fibres.

 

Thật vậy trong fucus gồm :

  • 55 à 65% đường glucides (sorbitol, cellulose, mucilage…)
  • 4 à 10% đạm protides (AA, peptides và phân hóa tố enzymes)
  • 1 à 2% chất béo lipides
  • 15% Chất khoáng với lượng lớn về iode, chlore, brome, calcium, fer, magnésium, phosphore, potassium, silicium, sodium, soufre
  • Vitamine C

 

Đặc tính trị liệu :

  • Rong fucus dùng trong chế độ ăn kiêng ốm nhờ tản fucus có tính khử nước, mõi lần ăn vào dạ dầy sẽ hấp thụ nưóc lại và phòng lên tăng dung tích, đầy bụng cắt đứt cảm giác đói.
  • Ngoài ra, rong fucus dùng những chất cũa rong để thay thế trang trải nhu cầu dinh dưởng cần thiết của chế độ ăn kiêng ốm. Do chứa nhiều iode, fucus được biết giữ vai trò trong biến dưởng những chất béo .
  • Dùng đều và thường những chất xơ thiên nhiên của rong fucus, vời số lượng lớn , giúp dể dàng dẩn chuyển phân trong hệ ruột, đi cầu dể .
  • Rong fucus cũng dùng như là thuốc nhuận trường nhẹ để chữa bệnh bón hành khách ( bón do du lịch ngồi lâu )
  • Giàu chất đạm thực vật đồng hóa được, fucus nghèo năng lượng calorie và chất béo .
  • Thêm nữa, rong fucus chứa chất nhầy không đồng hóa, chỉ có đặc tính phòng trương lên trong dạ dày khi tiếp xúc với nước, nhờ đó cắt đứt cảm giác đói thiên nhiên và những chất xơ thực vật này dể dàng chuyển qua ruột ra ngoài ( transit intestinal ).
  • Varech vesiculeux, được coi như để chữa bệnh psoriasis và mô dưới da viêm (dùng ngoài da).

Đồng thời chữa những bệnh như : Bướu giáp ( Goitre ), bón, phong thấp.

 

Chỉ định dùng :

Rong fucus được khuyến cáo rất hiệu quả trong khuông khổ chế độ ăn kiêng ốm để cắt cơn đói « couper la faim » và để giãm cân bằng cách mang đến cơ thể những nguyên tố dinh dưởng thường và cần thiết « bổ và cân đối ».

 

Nấu sắc : 1 muổng súp / tô lớn nước trước bữa ăn.

Thuốc cao : Nấu sôi một nắm varech véculeux trong nước, đắp nóng vào nếu có thể.

Hiệu quả xấu và rủi ro :

Đối với những người bị chứng “ hyperthyroïde ” không nên dùng. Lượng iode chứa trong rong fucus vesiculosus có thể làm bệnh trở nên trầm trọng thêm. Người ta cũng nghi ngờ đối với những người dị ứng mẩn cảm với iode.

 

Nguyễn thanh Vân

ấu sắc : 1 muổng súp / tô lớn nước trước bữa ăn.

Thuốc cao : Nấu sôi một nắm varech véculeux trong nước, đắp nóng vào nếu có thể.

Hiệu quả xấu và rủi ro :

Đối với những người bị chứng “ hyperthyroïde ” không nên dùng. Lượng iode chứa trong rong fucus vesiculosus có thể làm bệnh trở nên trầm trọng thêm. Người ta cũng nghi ngờ đối với những người dị ứng mẩn cảm với iode.

 

Nguyễn thanh Vân