Viết với thân xác như Túy Hồng
 
Liễu Trương
 
Trước khi văn học miền Nam hình thành, đã có hai nhà văn nữ được độc giả biết đến: Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo. Nguyễn Thị Vinh là cây bút nữ duy nhất thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn, "Hai chị em" là tác phẩm đầu tiên của bà xuất bản năm 1953. Cũng năm 1953, Linh Bảo có truyện dài "Gió Bấc" và một tập truyện nhi đồng, "Chiếc áo nhung lam" ra mắt độc giả; ngoài ra, tập truyện ngắn "Tầu ngựa cũ" (1961) được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1962. Cả Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo đều tiếp tục sáng tác vào những năm 60-70. Nhưng với cái đà tiến hóa của xã hội miền Nam, họ bắt đầu mờ dần. Một thế hệ trẻ xuất hiện với những cái tên như Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ và cô em út Lệ Hằng. Các cây bút trẻ này không như các bậc đàn chị vẫn còn giữ nếp truyền thống vào cái thời còn lưng chừng giữa nền phong kiến tàn tạ và nền văn minh tiến bộ đầy hứa hẹn. Họ ồ ạt đến với độc giả, mỗi người một phong cách đã khẳng định vị trí của người nữ trong gia đình, ngoài xã hội, nhưng chưa đủ, họ còn đòi quyền sống theo ý muốn của mình ; cũng
có người như Nhã Ca, tuy tha thiết với những hoài bão của nữ giới, nhưng không làm ngơ trước thời cuộc và đã khóc vì những tai họa của chiến tranh.

Túy Hồng là người đến với độc giả sớm nhất, với cuốn truyện đầu tiên, "Thở dài", ra mắt năm 1963, tiếp đến là "Vết thương dậy thì" (1966). Túy Hồng gốc Huế, như Nhã Ca và Nguyễn Thị Hoàng. Bà sinh năm 1938, tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, giáo sư môn Việt văn. Đây là một nhà giáo cầm bút, nhưng không để gửi đến đám học trò những lời nhắn nhủ của một nhà mô phạm. Cây bút Túy Hồng xông xáo đi vào cuộc đời, dám nói lên những điều vẫn còn ngủ yên trong tâm thức hay vô thức của người nữ. Năm 1970, văn nghiệp của Túy Hồng được khởi sắc : bà đoạt Giải Nhất Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc với tác phẩm "Những sợi sắc không". Cũng năm 1970, một tác phẩm khác của bà ra đời, cuốn "Tôi nhìn tôi trên vách".

Cái tựa đề Tôi nhìn tôi trên vách kích thích tính tò mò của độc giả. Lại nữa trong truyện xôn xao tiếng nói của những người con gái Huế ; chẳng mấy khi độc giả được nghe con gái Huế nói chuyện. Ở đây không có hình ảnh người con gái Huế đội chiếc nón bài thơ, yểu điệu đi qua cầu Tràng Tiền. Cũng không có những cô nữ sinh cảm thấy ngột ngạt trong một thành phố Huế cổ xưa, đầy thành kiến, và nuôi mộng thoát ly, như cô nữ sinh Phù Dung của Nhã Ca trong "Cổng trường vôi tím". Không. Những cô gái Huế ở đây là những người con gái sông Hương lạc loài trong thủ đô Sài Gòn, giữa vô số người đến từ bốn phương, ăn mặc xuề xoà, thoải mái, nói năng lẫn lộn ba thứ tiếng: Bắc, Trung, Nam; thủ đô Sài gòn quả là một biểu tượng của sự thống nhất đất nưóc.

"Tôi nhìn tôi trên vách" là truyện kể một mối tình khởi đầu rực rỡ để cuối cùng đi đến sự tàn tạ. Nhưng tác phẩm của Túy Hồng không chỉ đơn giản có thế thôi. Truyện "Tôi nhìn tôi trên vách" là tấm gương phản chiếu xã hội miền Nam sau biến cố Tết Mậu Thân, với sự hiện diện của những lớp người mới ở Sài gòn, và, trong khung cảnh một gia đình, truyện phản ánh sự va chạm văn hóa các miền, sự giằn vặt của người vợ trước thái độ ích kỷ, độc tài của người chồng, gây nổi loạn nơi các cô em, dấu hiệu của một nữ quyền chớm nở. Quan trọng hơn nữa là "Tôi nhìn tôi trên vách" cho thấy một nhà văn nữ độc đáo, có một ngôn ngữ mới lạ.

I. Truyện "Tôi nhìn tôi trên vách"

Khanh, người kể truyện, là một cô gái Huế rời đất Thần Kinh vào Sài gòn sau Tết Mậu thân để chung sống với gia đình. Cô làm nghề chào dược phẩm để giúp cha mẹ nuôi các em. Gia đình Khanh đông chị em gái: Sương, người chị, dạy học ở Đà lạt, đã có chồng, và bốn em gái: Trâm, Thảo, Cúc, Út. Khanh yêu Nghiễm, một thanh niên người Bắc, viết văn, làm báo. Nghiễm nhiều bạn bè, thích uống rượu, lui tới những nơi chơi bời. Sau đám cưới, Khanh về sống với Nghiễm trong một cao ốc, nơi có nhiều vũ nữ sống về đêm. Vì Nghiễm không cho Khanh tiếp tục đi làm nên ngày ngày cô lo công việc nội trợ, chẳng bao lâu cô cảm thấy buồn chán và đòi dọn đi nơi khác. Trong khi chờ kiếm được nhà mới, cặp vợ chồng về sống tạm với gia đình Khanh. Cuộc sống chung này gây va chạm, tranh cãi giữa Nghiễm và các cô em vợ về phong tục, ẩm thực và ngôn ngữ Bắc-Trung. Nghiễm tỏ ra độc tài, khắt khe đối với vợ, chỉ trích vợ về những vấn đề nội trợ, thức ăn trong gia đình. Khanh vốn tính hiền lành, dễ mềm yếu lại yêu chồng tha thiết nên hết lòng chiều chồng. Trong số các bạn Huế Khanh gặp lại có Bích Khuê, một cô bạn thân góa chồng, thích buôn hột xoàn, đánh bạc và lui tới với hạng người giàu. Trong thời gian ở chung với cha mẹ và các em, Khanh sinh đứa con gái đầu lòng rồi đến đứa con gái thứ hai. Khanh đòi chồng phải cho cô đi học Văn khoa trở lại. Phần Nghiễm vẫn uống rượu, đi về thất thường, chẳng bao lâu bị bệnh sưng gan, phải vào nằm bệnh viện hai tháng. Khanh đi dạy học để gia đình đỡ túng thiếu. Một người bạn cho Nghiễm mượn một căn phòng riêng để dưỡng bệnh khi xuất viện, ngày ngày Khanh đem cơm đến cho chồng. Ở đại học, có một thanh niên híp-pi tên Phi không ngớt tán tỉnh, quấy rầy Khanh, bị Khanh tẩy chay, Phi toa rập với Ninh, một bạn trai Khanh quen từ thời ở Huế, yêu Khanh nhưng không được Khanh đáp lại. Khanh rơi vào bẫy của Ninh và bị Phi và Ninh đánh đập tàn nhẫn để trả thù. Ngay lúc đó Sanh, anh của Bích Khuê và là người đã yêu Khanh từ trước, xuất hiện và cứu Khanh. Một hôm đi dạy về sớm, Khanh mục kích, tại căn phòng dưỡng bệnh, chồng cô ngoại tình với một nữ sĩ trẻ: Bích Vân. Khi hay tin, Bích Khuê xúi Khanh trả thù chồng bằng cách ăn diện, đi chơi tự do. Bích Khuê rủ Khanh đi Vũng Tàu chơi, mời Khanh đến nhà để quen biết với hạng người giàu có, cờ bạc; một người đàn bà trong số này vu cáo Khanh ăn cắp chiếc nhẫn hột xoàn của bà ta; Khanh cảm thấy tự ái và phẩm giá của mình bị xúc phạm, thế là một cuộc ấu đả xảy ra. Nghiễm trở về nhà cha mẹ Khanh, thấy vợ mang thương tích liền nghiêm khắc hạch hỏi. Khanh vốn đã căm phẫn về việc ngoại tình của Nghiễm, lần này cô không còn nhịn nữa, cô vạch mặt người chồng phản bội và cho biết ý định ly dị của cô. Vừa lúc đó Khanh phát hiện mình có thai lần thứ ba. Khanh chán ngán nghĩ rằng chính ba đứa con của cô sẽ không cho phép cô ly dị, tâm hồn ê chề, cô theo Nghiễm dọn về căn nhà mới. Khanh nghiệm rằng người đàn bà sống với một người chồng tội lỗi là một người anh hùng.

II. Xã hội miền Nam dưới ngòi bút của Túy Hồng

Trong một bài đăng trên tạp chí Pháp Mercure de France, vào đầu thế kỷ 19, tác giả Louis de Bonald đã viết: La littérature est l’expression de la société (Văn chương là sự biểu lộ của xã hội). Lời tuyên bố đến ngày nay vẫn có giá trị. Tiểu thuyết là một trong những thể loại phản ánh cái xã hội thuộc thời đại của tác giả. Một cách ý thức hay vô thức, tác giả trình bày ít nhiều cái xã hội mình đang sống trong tác phẩm. Như đã nói, "Tôi nhìn tôi trên vách" không chỉ đơn thuần là truyện của một người phụ nữ trước những thất vọng về tình cảm đã xảy đến cho đời mình, "Tôi nhìn tôi trên vách" còn là bức họa của xã hội miền Nam sau Tết Mậu Thân, một xã hội đã biến đổi sâu xa, trong đó con người cũng đã biến đổi sâu xa. Với Túy Hồng không có những mơ mộng lãng mạn, những khắc khoải siêu hình, tác giả dẫn người đọc đi thẳng vào cuộc sống hiện thực, với những lo âu về nhà cửa, những thèm muốn các thức ăn, những cuộc cãi vã trong gia đình, tình thương giữa chị em và tình bạn.

1) Những tầng lớp mới trong xã hội
Từ xưa đến nay, do hình thái địa lý và sự đưa đẩy của lịch sử, nước Việt Nam chia làm ba miền Bắc, Trung, Nam, có ba giọng nói khác nhau với một số từ ngữ và phong tục tập quán đặc biệt của mỗi miền. Thế nhưng, hai cuộc di dân lịch sử, một cuộc di dân lớn đưa gần một triệu người dân miền Bắc vào Nam, sau Hiệp định Genève 1954, và một cuộc di dân nhỏ đưa người dân Huế vào Sài gòn, sau biến cố Tết Mậu thân 1968, đã gây xáo trộn và biến đổi cuộc sống của người dân ở miền Nam. Kể từ năm 1954, người dân Nam Bắc tập sống hòa hợp với nhau; ngôn ngữ đôi bên có phần nhẹ bớt tính địa phương. Tiếp đến biến cố Tết Mậu thân, với cuộc tàn sát không ít người dân xứ Huế, đã xua nhiều gia đình vào Nam. Các nhân vật người Huế trong truyện nhìn nhận họ đã ồ ạt tràn vào đất Sài gòn:
– Người Huế tưởng ít té ra nhiều chi lạ, đi đâu rồi cũng gặp nhau cái rầm.
– Ờ ờ, người Huế mình vô Sài gòn nhiều lắm, cứ đi hai vòng chợ Bến Thành là đủ làm một bản thống kê nhỏ. (tr. 60)

Một lần nữa bộ mặt Sài gòn lại biến đổi. Sự hội nhập của người Huế dù sao cũng có giới hạn:
Dân Huế sống giữa Sài gòn… một lũ người bí mật và bất mãn. Dân Huế sống giữa Sài gòn một lũ người dễ biến dạng, nói tiếng Bắc và nói tiếng Nam đều được. (tr. 60)
Tuy nhiên ở cái thành phố Sài gòn dân cư đông đúc, hỗn tạp này, người Huế cảm thấy tự do, thoải mái, không còn phải ý tứ về cách ăn mặc như khi còn ở Huế, một thành phố cổ, nề nếp:
Sài gòn có một điểm sung sướng là bất cứ người dân nào cũng có thể mặc áo cụt bà ba đi khắp thành phố, còn Huế thì chịu, Huế có mấy hạng người không được mặc áo ngắn ra ngoài đường phố. Ra đường thì phải áo dài quần dài, ra đường thì phải sơ mi quần tây. (tr. 206)

Rời khỏi đất Thần kinh với con sông Hương thơ mộng, với những ngôi chùa cổ kính, trầm lặng, người Huế sống và cảm nghĩ như thế nào trong một thành phố Sài gòn ồn ào với nạn kẹt xe ngoài đường và vấn đề nhà cửa đắt đỏ, khan hiếm? Xem ra họ có vẻ thích nghi dễ dàng với cuộc sống mới, nhưng vẫn không quên nguồn gốc của mình, tình yêu Huế làm nổi bật một niềm kiêu hãnh về cung cách của người con gái Huế:
– Xứ Huế nhiều chùa chiền nên gái Huế đứng đắn lắm. Không có chuyện tình vu vơ. Ai hỏi thì lấy, ai không hỏi thì thôi. (tr. 138)
– Gái Huế quý như trầm, như quế, nên cha mẹ vừa gả chồng vừa tiếc… (tr. 80)

Mặc dù chiến tranh đe dọa hằng ngày, trong xã hội có hạng người chơi bời lui tới vũ trường, phòng trà, lại có hạng người giàu nhờ buôn hột xoàn, đánh bạc. Nhà của Bích Khuê là một ổ chứa bạc, triệu phú, thương gia, tướng tá, nghị sĩ, dân biểu đều có mặt. Đối với Bích Khuê, đồng tiền trở nên một trò chơi:
Khi tau ngồi trên chiếc chiếu đỏ đen, lập tức tau vô nghĩa hóa đồng tiền, tau tận diệt lòng tham, tau bừng sáng (…). Đồng tiền là giấy (…); đồng tiền là lá rụng để bàn tay bừng sáng của tau hốt xong rồi vung. (tr. 386)
Bên cạnh những kẻ sống vô dụng, có những người ngày đêm đi giữ gìn bờ cõi, như chồng của Phượng. Một cách mâu thuẫn, sự vắng mặt của những người lính là một hiện diện đối với những người sống trong sự chờ đợi não nuột:
Những người đàn ông Việt Nam ra đi như những hình sương bóng khói (…) Người đàn ông ra đi, cả nhà lén lau những giọt lệ, cả nhà khắc khoải đợi trông, đêm đêm bốn cây hương thắp lên khấn vái bốn phương trời. Người đàn ông ra đi cho nguồn sống cả nhà, một tháng không về, hai tháng không về, ba tháng không về…, thế là hết, nỗi lo lắng nát bấy lòng ruột… và thế cũng là chết. (tr. 369)

Xã hội miền Nam là một xã hội mở, đón nhận những cái mới của Tây phương, cho nên có một hiện tượng nhanh chóng du nhập vào miền Nam: phong trào híp pi, được tác giả miêu tả qua nhân vật điển hình Phi:
Một gã híp pi tóc râu tiền sử xồm xoàm như ông cố đạo người Pháp trong tự điển Larousse… (tr.149)
Phong trào Híp pi là một phong trào chống đối văn hóa đương đại, xuất hiện trong những năm sáu mươi của thế kỷ trước, ở Hoa kỳ. Những người trẻ theo phong trào này tóc râu bờm xờm, ăn mặc cẩu thả, họ bác bỏ những giá trị truyền thống, lối sống của các thế hệ đi trước và chống đối xã hội tiêu thụ, họ muốn đi đến với những nền văn hóa khác, muốn tự giải phóng và họ sống một cách tự do quá mức trong quan hệ tình ái.
Thiết tưởng trường hợp của nhân vật Phi trong truyện chỉ là một hiện tượng vọng ngoại, thời thượng hơn là một thái độ nổi loạn, chống xã hội, chống văn hóa như các lớp trẻ ở Âu Mỹ.

Chiến tranh đến gần, nhưng người phụ nữ vẫn trau chuốt cái đẹp của mình. Phòng mạch của bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ vẫn đông khách; chiếc áo dài thời trang được tác giả miêu tả tỉ mỉ: vạt áo ngắn, vai raglan, thân áo ôm sát người, không cần bốn đường nhíp ở bụng và ở lưng như thời trước.

2) Va chạm văn hóa
Những vấn đề ngoài xã hội phản ánh trong gia đình, vì gia đình là một xã hội thu nhỏ. Trong gia đình Khanh, sự va chạm xảy ra giữa Huế và miền Bắc, vì đôi bên chung sống với nhau dưới một mái nhà, và cả đôi bên đều có lập trường vững vàng. Những va chạm về văn hóa như địa vị của người rể trong gia đình, ẩm thực Bắc Trung, ngôn ngữ dị biệt, thường xảy ra hằng ngày.
Nghiễm về ở tạm bên gia đình vợ, nhưng anh cho như thế là ở rể, là nhục. Anh nói:
– Anh cũng bị người ta bắt rể !
(…) Ở ngoài Bắc người ta quan niệm thằng đàn ông ở rể là một điều điếm nhục, ở nhà vợ là một thằng rể hèn.
– Người Huế quan niệm đó là một thằng rể hân hạnh.
– Ở Bắc chỉ thằng nào tồi lắm mới ở rể.
– Ở Huế thằng nào sang lắm mới ở rể được.
– Anh ở cái nhà này bao nhiêu thằng nghĩ là anh ở rể, chúng nó chế anh ghê quá.
– Anh ở cái nhà này bao nhiêu người tôn anh lên làm lãnh chúa.
– Đường đường một đấng như thế này mà đi ở rể.  (tr. 79)
Giữa Nghiễm, người anh rể, và hai cô em vợ, Trâm và Thảo, có nhiều cuộc đấu khẩu nảy lửa:
Tiếng Nghiễm cất lên:
– Người Huế thật dốt, cá chép mà không ăn được, món ngon nhất lại đi vứt.
– Người Bắc u mê mới đi ăn cá gáy. Xứ Huế ai cũng thờ Phật… cá gáy là cá sẽ hóa rồng, ai mà dám ăn.
Mẹ nói tiếp:
– Đất Huế là đất vua chúa. Mình vua là mình rồng, cốt vua là cốt rồng, nên người Huế không dám ăn cá gáy sợ phạm tội khi quân.
Thảo ngon lành:
– Huế là chốn kinh kỳ vua chúa nên người Huế nào cũng thông minh.
Nghiễm vỗ vai vợ:
– Người Huế chỉ là một ngón tay của người Bắc. Người Huế chính là người Bắc bị trục xuất ra khỏi Bắc kỳ. Nguyễn Hoàng đánh không lại Trịnh Kiểm mới đào tẩu… (tr. 85)
Trong bữa ăn, có món thịt gà Huế xé phay bóp muối tiêu rau răm. Trâm và Thảo:
– Trời ơi, người Huế ăn thịt gà xé thật sang trọng quí phái… chứng tỏ người Huế không thèm ăn xương.
Nghiễm:
– Người Bắc ăn miếng thịt gà chặt chứng tỏ người Bắc ăn một con gà vừa to vừa béo, miếng thịt chặt vừa vàng vừa dày… còn thịt gà xé nhỏ ra, xé vụn ra… ôi, người ta có thể làm một con gà mới nở rồi xé vụn ra, ai biết. (tr 196)

Ngôn ngữ dị biệt cũng là một vấn đề khó giải quyết. Nghiễm nói với vợ:
– Tại vì mình không có một căn nhà riêng nên con mình chậm biết nói. Cha thì nói tiếng Bắc, bà ngoại, ông ngoại, mấy dì… thì nói tiếng Huế, mẹ thì nói lơ lớ lung tung, khi Bắc khi Huế, hàng xóm thì nói tiếng Nam… Con bé bỡ ngỡ không biết lựa thứ ngôn ngữ nào. Mỗi lần nó chạy chơi, cha nó kêu: đừng chạy ngã, bà ngoại mấy dì kêu: khéo bổ, đừng chạy bổ, ông hàng xóm thì nói vói sang: té, con ơi, té, té… Con bé phải học đến ba thứ chữ… Rồi thì: bẩn, dơ, nhớp… Anh muốn có nhà riêng ngay để tập cho con nói duy nhất một thứ tiếng. (tr. 379)

3) Ẩm thực: một yếu tố của cội nguồn
Đọc "Tôi nhìn tôi trên vách" người ta không khỏi kinh ngạc về sự thèm muốn món ăn Huế của các nhân vật. Món ăn là đề tài của những vụ tranh cãi trong gia đình, và của những câu chuyện giữa bạn bè. Người đọc biết rõ bữa ăn trong gia đình gồm những món gì, biết nhân vật Nghiễm thích món cá rô chiên và dị ứng với món cá nục của người Huế, biết người mẹ vợ tỏ tình thương đối với con rể bằng cách nấu chè kê cho rể ăn. Tuy nhiên món ăn của mỗi miền đã ăn sâu vào con người khó lòng mà nhân nhượng, trong một mâm cơm có hai món Huế, một món Bắc, Người xứ nào ăn món xứ đó… . Người mẹ, khi thấy Khanh nấu những món Bắc cho chồng thì phản đối:
– Bắc kỳ, Bắc kỳ, Bắc kỳ… tao dạy cho mi từ nhỏ bao nhiêu công phu thượng thừa về cách nấu ăn món Huế, bây giờ mi xóa bỏ tất cả những công phu cũ, để học những công phu của người ta… (tr. 72)

Túy Hồng khéo tả cách làm món mứt khế và sự thích thú của vị giác khi thưởng thức món mứt này. Có lẽ vì người nữ có tài nấu nướng nên chỉ có ngòi bút nữ mới cho người đọc cảm thấy được sự thích thú đó. Và phải nghe tác giả tôn vinh hạt sen Huế như thế nào mới biết cái tính quý phái, đài các của hạt sen. Cái gì của Huế cũng ngon:
Tết ra là me bắt đầu chín rồi đó, đất Huế mình đủ mưa, đủ gió, đủ nắng cho trái me chín ngon, me Sài gòn chua lè như quít, khô khô ăn không ra mùi me. (tr. 339)
Cái món mít trộn người ta luộc chín cả trái mít sống, thái mỏng ra rồi trộn với tôm thịt, vừng rang giã nát hoặc đậu phọng rang. Món ăn đó chỉ ăn ở Huế mới ngon vì mít Huế ngọt hơn mít Sài gòn (…), tôm Huế tươi hơn tôm Sài gòn, (…), thịt heo Huế cũng đậm đà hơn thịt heo Sài gòn. (tr. 151)

Cho nên khẩu vị của người Huế không dễ được thỏa mãn ngoài xứ Huế. Điều gây ấn tượng cho người đọc là các nhân vật nữ đều thèm ăn, và chỉ thèm ăn món Huế mà thôi, thèm ăn không phải vì đói mà vì một lý do tâm lý sâu xa, sự thèm ăn quá mãnh liệt, trở nên một ám ảnh, đòi hỏi phải được thỏa mãn. Cô bạn Bích Khuê của Khanh sắp trở về Huế, việc đầu tiên cô dự định là… ăn:
… về tới Huế trước tiên là tau qua Gia hội ăn một bụng bánh khoái, xuống Tây thương ních bốn đĩa bánh bèo cho đã đời, buồi sáng phải ăn ba đọi cơm hến, ăn một mớ bánh nậm, ăn xong xả mới đi công chuyện. (tr. 339-340)
Bích Khuê không ăn thong thả để thưởng thức từng món ăn, cô « ăn một bụng… », « ních bốn đĩa… », « ăn ba đọi… », « ăn một mớ… », rõ là Bích Khuê háu ăn, ăn vồ vập, ăn nhanh, ăn nhiều món, ăn cho đã đời đề bù lại cái thời gian thèm khát ở Sài gòn.

Có điều đáng chú ý là những món ăn được nhắc đến trong truyện thuộc hai loại: những món ăn mà các nhân vật đang ăn và những món ăn trong trí tưởng tượng, trong ký ức của nhân vật: tôi hình dung một đĩa bánh bèo đổ bằng bột La Khê… . Một nỗi thèm thuồng có tính ám ảnh như thế ắt phải có một lý do tâm lý, và lý do tâm lý đó là tình yêu quê hương, nỗi tha thiết với cội nguồn. Món ăn Huế gắn liền với xứ Huế, Huế không chỉ là sông Hương, núi Ngự, cung điện, lăng tẩm vua chúa, Huế còn là bánh khoái, bánh nậm, cơm hến, món mít trộn, chè kê…

Người con gái Huế mang trong lòng một tình yêu Huế không bờ bến:
Bỏ Huế mà đi lòng tôi nhớ trời, nhớ khoảng thiên nhiên… Huế đẹp từ một vũng nước đọng bên đường đến lượng cả con Hương giang, từ cọng rau muống bờ hồ đến cây phượng già xanh lục. (tr. 10-11)
Và… Giọng nói đàn ông Huế nghe giữa Sài gòn cho tôi mường tượng như là ngôn ngữ của một kỷ niệm. (tr. 249)
Khi Khanh và chồng tạm dọn về ở chung với cha mẹ, Khanh mừng rỡ như tìm lại được xứ Huế:
Tôi nói lại tiếng Huế ríu ra ríu rít, mấy chị em hát hò gây gổ om sòm… Tôi ăn lại những món tôi đã từng ăn suốt hai mươi tám năm: bún bò, bánh lá chả tôm, bánh nậm, bánh khoái… Buổi sáng mẹ lại bắt lót lòng chén cháo đậu xanh… (tr.62)

Nói tóm lại, thèm những món ăn Huế là tiếc nhớ cội nguồn. Nỗi gắn bó với xứ Huế không trừu tượng, không chỉ ở trong tâm hồn, nó còn ở trong thân xác và đòi hỏi được thỏa mãn.

4) Những dấu hiệu đầu tiên của nữ quyền
Truyện "Tôi nhìn tôi trên vách" tiết lộ một sự biến đổi lớn lao của người phụ nữ miền Nam. Trong xã hội Việt Nam truyền thống, người đàn ông với tư cách gia trưởng có những quyền hành rộng rãi. Quan niệm trọng nam khinh nữ của nền luân lý cổ truyền càng làm cho địa vị của người phụ nữ thêm yếu kém, người phụ nữ bị giam hãm trong tình trạng của một người vị thành niên, phải tùy thuộc người chồng về mọi mặt. Nhưng ở thế kỷ 20, với ảnh hưởng của văn hóa Tây phương, những thiệt thòi, những sự bất bình đẳng mà người phụ nữ là nạn nhân đã dần dà giảm bớt.
Ở Tây phương, phong trào nữ quyền đòi hỏi việc mở rộng quyền hành và vai trò của người nữ trong xã hội, đòi hỏi sự bình đẳng với nam giới, phong trào đó rất thịnh hành trong những năm 60 của thế kỷ trước. Vì xã hội miền Nam là một xã hội mở trước những trào lưu của Tây phương, cho nên việc du nhập những tư tưởng về nữ quyền vào nước ta không mấy khó khăn. Dần dần người phụ nữ Việt Nam được giải phóng, một cuộc giải phóng lặng lẽ, sâu xa.

Tuy nhiên, giữa lúc cái mới đang lấp ló, thì cái cũ vẫn còn khựng lại. Tâm trạng của nhiều người vẫn còn ở lưng chừng giữa cái cũ và cái mới. Theo quan niệm xưa, cô gái lỡ thì là một điều xấu hổ cho gia đình và cho riêng mình. Trong truyện, nhân vật Khanh không dám phản đối ý định của người chồng tương lai buộc cô phải bỏ việc làm sau ngày cưới, mặc dù cô bất bình. Cô nhượng bộ ngay từ đầu,  cô nói với mẹ:
– Nếu con không bỏ nghề lỡ anh ấy không chịu cưới con thì sao ? (tr. 36)
Người con gái Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 20 vẫn còn bị ràng buộc bởi những thành kiến xưa: có chồng là một danh dự lớn trong xã hội dẫu có phải hy sinh những quyền lợi thiết yếu của đời mình. Về phía nam giới, họ vẫn bám vào uy quyền của họ đã có trong xã hội cũ. Nghiễm xem vợ như một con người thua kém mà mình có thể điều khiển, chi phối theo ý mình. Anh ta vẫn giữ đầu óc chồng chúa vợ tôi và có nhiều tự tôn mặc cảm:
Người Bắc là người khả ái nhất… bởi đó mới có câu: « Gái miền Trung thương trai xứ Bắc, trai Cửu Long mê gái sông Hồng ». (tr. 85-86)
Sau này em gặp một hoàn cảnh không may nào đó, em mới thấy tiếc nuối những năm sống bên anh. (tr. 189)
Nếu cô biết rằng cô lấy được một người chồng như tôi là nhất cho cô rồi thì cô không bao giờ nói vậy. (tr. 354)
Nghiễm tự cho mình cái vai trò giáo dục vợ:
– Anh phải tìm tòi một phương pháp để trị dạy em mới được. (tr. 162)
Và Nghiễm quan niệm người đàn bà đã có chồng không cần đẹp và phải cắt đứt mọi giao tiếp:
Luôn luôn Nghiễm bảo: Có chồng rồi không cần mang soutien ở nhà, có chồng rồi ra đường khỏi cần đánh phấn, có chồng rồi không cần duyên, không cần diện, không cần làm dáng, phải từ biệt tất cả bạn bè, đừng để ai đến thăm, đừng nói chuyện dông dài với ai hết… (tr. 360)
– Lấy anh rồi em phải bỏ nghề. Nếu em làm nghề dạy học thì phải bỏ nghề dạy học, nghề thư ký thì phải bỏ nghề thư ký, nghề kế toán… anh thủ tiêu hết. (tr. 31)
Trong khi Nghiễm tự do đi về thất thường thì anh xem nhẹ sự tự do của vợ:
– Mấy lâu nay chắc là nhiều lúc anh đi làm em bỏ nhà đi chơi nhiều lần lắm.
(…)
– Nói rồi đó, ở nhà trông con. (tr. 123)
Khanh ấm ức nhưng vì yêu chồng cô đành cam chịu. Hai cô em Trâm và Thảo thì không chấp nhận tình trạng đó. Tiếng nói của hai cô em là tiếng nói ngổ ngáo, xấc xược của công phẫn, tiếng nói của nữ quyền:
Trâm buông lời ẩu tả:
– Nếu hắn không cưới chị thì chị dọa như thế này: Anh không cưới tôi hả ? Tôi sẽ đồn đãi cùng thiên hạ là anh bất lực liệt dương.
Người mẹ nói:
– Khanh này, khi hắn nói bắt mi thôi đi làm mi có cãi lại không ?
– Con mần thinh chưa cãi cọ lại gì cả.
Trâm:
– Cái bà nhỏ này ngu không ngửi được, phải cãi lại chứ, đừng có nhịn, nhịn một lần rồi thành thói quen. (tr. 36)
Thảo rướn giọng:
– Tui mà lấy phải thằng chồng Bắc kỳ chắc là tui ly dị ngay đêm tân hôn. (tr. 86)
Thảo vì thương chị quá hiền nên lên tiếng chỉ trích:
… Tự nhiên đang làm nghề chào thuốc lại phải thôi ngay. Trước kia chị là một loại đàn bà sống động ngoài xã hội, nhanh nhẹn, liến thoắng, giờ đây bỗng biến thành một con cù lần (…) Chồng của chị là một lãnh chúa ở nhà này… (tr. 130)
Còn Trâm thì nhận xét:
Lấy chồng là một sự học tập dài suốt đời, họ chiếm cứ, họ nô lệ hóa mình bằng cách đánh du kích, du kích mỗi ngày một miếng. (tr. 215)
Những đòi hỏi nữ quyền của Trâm và Thảo còn ở trong giới hạn của ngôn từ, của lý thuyết, trong khi đối với Sương, người chị cả, nữ quyền đã được áp dụng thẳng thừng:
… Ngày nào cũng phải quát tháo cho thần kinh thằng cha yếu đi, phải hò hét luôn mồm cho chân cẳng thằng cha cuống cuồng không biết chạy ngả nào. Tau đẻ con ra, rồi nằm ngủ, vứt đó cho thằng cha với con vú lo sao thì lo… mặc kệ ! (tr. 254-255)

Nói tóm lại, trong "Tôi nhìn tôi trên vách", hình ảnh của nam giới, do các nhân vật Ninh, Phi và nhất là Nghiễm đại diện, là một hình ảnh tiêu cực, gây những phản ứng của người nữ và làm nảy sinh tiếng nói của nữ quyền.

III. Thân xác, nền tảng của ngôn ngữ sáng tạo

Chiến tranh ngày càng đến gần, cuộc sống trong một thành phố lớn như Sài gòn, dân cư đông đúc, xe cộ ngập đường phố, trở nên khó khăn đối với mọi người; cái không gian còn lại là những căn nhà chật hẹp. Phải chăng trong bối cảnh đó con người sống thu mình trong thân xác như một tháp ngà cuối cùng ? Điều mới lạ là Túy Hồng có một ngôn ngữ bắt nguồn từ thân xác. Nhà triết học Pháp Maurice Merleau-Ponty, tác giả cuốn Phénoménologie de la perception (Hiện tượng luận về tri giác), cho rằng thân xác không phải là một vật thể, thân xác kết hợp với ý thức  để tri giác ngoại giới. Theo ông, thân xác chuyển tải ý thức hay ngược lại ý thức chuyển tải thân xác. Ở Túy Hồng ngôn ngữ chuyển tải thân xác, điều này không đối nghịch với tư tưởng của Merleau-Ponty, vì ngôn ngữ thuộc về ý thức. Có điều trong ngôn ngữ của Túy Hồng, thân xác có một trọng lượng hiển nhiên. Khanh, người phụ nữ trong truyện, hiện hữu qua thân xác của mình. Cuộc sống hằng ngày buộc chúng ta nghĩ đến thân xác, qua thân xác và trong thân xác chúng ta có những cảm giác, những ham muốn, chúng ta hành động, biểu lộ và sáng tạo. Vả chăng bất cứ hiện thực nào đến với chúng ta cũng đều dưới hình thức cụ thể của một thân xác. Do đó chúng ta sống với một thân xác có những cấu trúc, những chức năng và năng lực cho phép chúng ta đến với thế giới bên ngoài, đến với thân xác của kẻ khác. Tuy nhiên sống với thân xác của mình không phải chỉ có thể dùng chức năng, năng lực của mình để chế ngự thế giới bên ngoài, sống với thân xác còn có nghĩa bị hạn chế, phải nhìn nhận sự yếu đuối của mình. Nếu thân xác chúng ta biết thích thú món ăn ngon, sự mơn trớn, những khoái lạc, thì thân xác chúng ta cũng có thể chịu nhiều khổ hình như đói, lạnh, bệnh tật, những thương tích do những tai nạn hoặc hành động tàn bạo gây nên v.v… Vậy nếu thân xác cho chúng ta thấy sự sung sướng của cuộc đời, nó cũng tuyên bố tính hữu hạn của chúng ta và cái chết trong tương lai.

Cho nên cuối cùng, ám ảnh thật sự trong "Tôi nhìn tôi trên vách" không phải là thức ăn mà là thân xác. Các thức ăn lan tràn trong truyện, ngoài việc gợi lên niềm luyến tiếc quê hương Huế, là sự thích thú của thân xác, sự nuôi dưỡng thân xác. Ngay trong những chi tiết kể truyện đơn giản nhất, tác giả cũng nghĩ đến thân xác. Chẳng hạn thay vì viết «Thảo nói» hay «Thảo than phiền», tác giả viết: «Thảo chu mõm» vừa linh động vừa tô đậm cá tính của nhân vật Thảo. Trong truyện, Túy Hồng không khai thác thân xác như một phương tiện của ham muốn nhục dục; qua thân xác, Túy Hồng khẳng định sự tồn tại của người nữ.
Thân xác dễ bị tổn thương. Sau khi bị tên híp pi xúc phạm bằng những cử chỉ hỗn láo, Khanh cảm thấy thân xác mình dơ bẩn, tanh tưởi.
Thân xác cũng có thể bị bản năng thúc đẩy để gây nên bạo tàn. Khi Khanh bị vu khống, cô không ngần ngại ra tay đánh đập kẻ đã vu khống cô, ngược lại cô cũng từng bị hai gã đàn ông mà cô khước từ hành hung, trong hai trường hợp thân xác đều mang thương tích.
Thân xác có những đòi hỏi ăn ngon, đúng khẩu vị:
Tôi rên:
Thèm ăn món Huế quá ! (tr. 109)
Tôi rên là tiếng nói của thân xác.
Có khi thân xác cho Khanh một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu, như sau khi sanh đứa con:
Sau bốn lăm ngày ăn kiêng ở cữ, băng trên nịt dưới, tôi cảm thấy tôi sạch, tôi nhẹ, tôi mát, tôi tươi, tôi dễ chịu. (tr. 376)
Cảm giác có thể mạnh mẽ, dữ dằn:
Tôi lủi thủi đi về, mặt trời chiều nóng rát quá nhìn lên tưởng đui mắt.  (tr. 346)

Trăn trở, vui mừng, yêu thương, giận hờn, phẫn nộ trong truyện đều được biểu lộ bằng thân xác. Vào đầu truyện, Khanh sắp mừng sinh nhật thứ ba mươi của mình; việc đầu tiên là cô lên gác nhìn mình trong gương. Cô thấy gì trên gương mặt? Một chùm tóc cong, một nốt ruồi làm thành cái chấm. Phải chăng là một dấu hỏi, một câu hỏi về tương lai của cô?
Thân xác cũng có ngôn ngữ riêng của nó:
Tôi đưa bàn tay che miệng cười khúc khích, chiếc miệng và bàn tay cười với nhau… (tr.343)
Khi nghe người chị kể chuyện bắt nạt chồng, Khanh, vốn tính hiền lành bị chồng bắt nạt, cảm thấy thích thú:
Tôi cười, cả chiếc bụng của tôi cũng rất sung sướng. (tr.255)
Nỗi sung sướng không ở trong lòng, trong tâm hồn mà ở trong «chiếc bụng».

Thân xác của người nữ còn có một chức năng vô cùng quý giá, đó là tạo nên sự sống. Khi Khanh có thai, cô sung sướng mơn trớn bụng mình như một báu vật:
Tôi đưa tay thoa khắp miền bụng dày thật thân yêu, thật trìu mến dịu dàng mơn trớn như thể bàn tay tôi là bàn tay Nghiễm. Miền da bụng quê hương, quê hương có một tử cung với hai buồng trứng từ đó lọt lòng những đứa con. Đôi mắt ướt sũng tôi nhìn Nghiễm, bàn tay cồn cào tôi xoa bụng, tôi thương quý con cực độ dù con đang còn là máu. (tr.205-206)
Nhưng trong nỗi sung sướng có một sự chờ đợi, bàn tay nói lên sự chờ đợi những mớn trớn của người chồng, một sự chờ đợi không được thỏa mãn. Và cuối cùng nỗi sung sướng đã tạo nên một mầm sống là một nỗi sung sướng không được chia sẻ.

Sau niềm vui, có nỗi đau khổ. Khi bị chồng phản bội, cơn phẫn nộ của Khanh làm biến đổi gương mặt của cô:
Tôi nhìn tôi trong gương (…): hai con mắt long sòng sọc to một cách kỳ lạ, hai hàm răng nghiến trèo trẹo, xương mặt bạnh ra như người tiền sử, hai má trắng bệch bạc, chót mũi đỏ ngầu (…). Tôi nhìn tôi trong gương. Sao tôi xấu thế này, xấu đoản, xấu xa xấu xí. (tr.322)

Khanh khổ đau nhưng vẫn giữ được niềm kiêu hãnh của thân xác:
Xác thịt có danh dự của xác thịt, xác thịt của tôi phản đối công phẫn, xác thịt của tôi kêu rên, chống trả. Những khúc xương của tôi bất khuất, những bắp thịt gan lì, từng tảng da căm giận, tôi quặn đau tới chín chiều gan ruột (…). Nghiễm ngoại tình có tôi chứng kiến và tôi có chứng cớ. Nghiễm làm cho tôi mất niềm tin rồi và Nghiễm cũng làm cho xác thịt của tôi mất niềm tin rồi. (tr. 335)

Do ám ảnh của thân xác, bút pháp của Túy Hồng mang dấu ấn của thân xác:
– Nói tầm bậy tầm bạ hồi nào đâu, nói trúng lỗ rốn cái phóc. Chị đẹp thì phải khen chị đẹp chứ. (tr. 170)
Bích Khuê cười hì hì bày hai cái răng chó dễ thương chi lạ. (tr. 340)
Điều lạ lùng là ý thức về thời gian hay về một nụ cười được gắn liền với thức ăn là yếu tố thuộc về thân xác:
Buổi sáng dễ dàng qua đi như người ta ăn hết nửa trái mít. (tr. 241)
Nghiễm cười nhạt như tô canh quên nêm muối. (tr. 228)
Tôi cười giòn như mẩu bánh mì nóng tôi ăn hồi sáng. (tr. 271)

Bút pháp cũng biểu lộ cảm tính của thân xác, những gì có tính cứng, nhọn, sắt, dễ gây thương tích, tức đe dọa thân xác, đều biểu tượng cho những cái không hay:
Sài gòn đanh thép như kim khí, Sài gòn cứng như đá mà gái Huế là trứng gà trứng vịt mỏng manh. (tr. 264)
– Đàn ông độc địa lắm, mi ạ… lòng họ có nhiều đá ngầm, có nhiều mõm nhọn. (tr. 341)
…đàn ông chỉ là một cái túi chứa đầy dao găm, thuốc súng, đá ngầm, mõm nhọn. (tr. 342)

Với "Tôi nhìn tôi trên vách" độc giả phát hiện một nhà văn hiện thực, đã vẽ lên cái xã hội của thời đại mình, đồng thời độc giả phát hiện tiếng nói của một nhà văn nữ hiện đại, phát ngôn cho một nữ giới bắt đầu ý thức về quyền lợi và địa vị của mình. Chính những thiệt thòi của nhân vật Khanh trước một người chồng độc tài, ích kỷ, chính những thất bại về tình cảm của cô có sức gây phẫn nộ và biến thành mầm mống cho sự đấu tranh của nữ quyền. Là một nhà văn hiện thực, Túy Hồng đã tìm được một ngôn ngữ cho sự sáng tạo của mình, qua thân xác của người nữ. Cuối cùng, "Tôi nhìn tôi trên vách" không làm liên tưởng đến người thiếu phụ Nam Xương khi xưa nhìn bóng mình trên vách để thương nhớ chồng, mà "Tôi nhìn tôi trên vách" gợi cái ý tôi nhìn thân xác tôi trên vách, hay như tác giả nói trong truyện: Tôi nhìn tôi trong gương, tức tôi nhìn thân xác tôi trong gương.

31/05/2017

Liễu Trương

https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com/


 

Thương tiếc nhà văn Túy Hồng

Nguyễn Phú Yên

Theo tin từ gia đình chị Túy Nga (chị ruột của Túy Hồng) hiện ở Phan Thiết cho biết, nhà văn Túy Hồng đã qua đời tại Mỹ vào sáng ngày 19-7-2020 (giờ Mỹ), hưởng thọ 82 tuổi. Xin thành kính chia buồn cùng gia đình chị Túy Nga và anh Nguyễn Thành Hổ.

Nhà văn Túy Hồng tên thật Nguyễn Thị Túy Hồng, sinh năm 1938 tại Chí Long, Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, giáo sư Trường trung học Hàm Nghi, Huế. Đoạt giải Văn học Nghệ thuật của VNCH năm 1970. Chị là vợ của nhà văn Thanh Nam, di cư vào Nam từ năm 1953, khi 22 tuổi đã là tổng thư ký báo Thẩm Mỹ. Năm 1975 gia đình sang Mỹ định cư ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Năm 1985, Thanh Nam qua đời vì bệnh ung thư thanh quản, lúc còn 54 tuổi.

Túy Hồng là nhà văn nữ tên tuổi cùng với các nhà văn nữ khác cùng thời: Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhã Ca, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo.
Tác phẩm đã xuất bản: Thở dài (NXB Đời Mới 1965, Kim Anh tái bản 1966), Vết thương dậy thì (NXB Kim Anh, 1966), Trong móc mưa hạt huyền (NXB Đồng Nai, 1969), Tôi nhìn tôi trên vách (NXB Đồng Nai, 1970), Những sợi sắc không (Giải Văn chương toàn quốc, NXB Khai Trí, 1971), Biển điên (NXB Văn Khoa, 1971), Bướm khuya (NXB Đồng Nai, 1971), Mùa hạ huyền (truyện dài, 1971), Nhánh tóc sợi dòn (truyện dài, 1972), Mối thù rực rỡ (truyện dài, 1972), Eo biển đa tình (truyện dài,1973), Kinh thiên thu (truyện dài, 1973), Trong cuối cùng (truyện dài), Sạn đạo (ruyện dài), Tay che thời tiết (truyện dài, 1988), Mưa thầm trên bông phấn (truyện dài), Thông đưa tiếng kệ (truyện dài, 1991).
Năm 2007, Túy Hồng có viết bài dài về Thanh Nam đăng trên Gio-O. Còn Tạ Tỵ trong “Mười khuôn mặt văn nghệ” cũng có bài về Túy Hồng, tờ Văn Việt có đăng lại bài này.

Sau đây xin giới thiệu một đoạn trên blog của Nguyen Chinh về mối quan hệ văn chương giữa hai nhà văn Túy Hồng và Võ Phiến:
...“Giữa Nhã Ca và Túy Hồng có nhiều điểm chung. Thứ nhất, cả hai đều sinh trưởng tại Huế và thành công trong văn nghiệp tại Sài Gòn. Thứ nhì, cả hai đều có chồng trong giới văn nghệ: Nhã Ca kết hôn với Trần Dạ Từ, có 5 người con, trong khi Túy Hồng lập gia đình với Thanh Nam (mất tại Seattle năm 1985) với 4 người con.
Chất Huế có phần đậm nét trong văn của Nhã Ca, từ ngôn từ cho đến cảnh trí, nhưng lại chỉ bàng bạc trong những trang viết của Túy Hồng, thay vào đó là những trang viết “bạo” về sex, cụ thể hơn là những đoạn có liên quan đến nhục dục. Theo nhà văn Trần Phong Giao nhận xét: “… gái Huế chỉ nên là người tình chứ đừng nên bê về làm vợ” (sic). Kết cuộc là nhà văn Túy Hồng và Nhã Ca đã phản đối tác giả Trần Phong Giao kịch liệt.

Túy Hồng dạy học tại Trường Trung học Hàm Nghi, phía sau cửa Thượng Tứ. Đây là một ngôi trường khiêm tốn, không nổi tiếng như Quốc Học và Đồng Khánh. Từ trường Hàm Nghi, Túy Hồng xin thuyên chuyển về trường Gia Hội, nằm sau đầm sen trước tư dinh ông Hoàng Mười. Ký ức về Huế được dàn trải trên những trang viết:
“Những đêm rằm, tôi chèo thuyền về xóm Đập Đá đất khô cứng, ngó xuống thôn Vĩ Dạ xanh um hàng cau lả mình trong gió đa tình, trong ánh trăng Hàn Mạc Tử, lòng thấy nhớ những cuốn sách dày, những tập thơ mỏng, những tên tuổi người viết lách…
Những ngày thứ bảy, tôi phóng xe đạp lên đồi Vọng Cảnh, hướng về điện Hòn Chén, thả tầm mắt ngắm núi Ngự Bình trọc đầu, nhìn xa xa về cửa Thuận An, rồi đăm chiêu ngắm Thành Nội êm đềm tĩnh lặng…"
Giữa khung cảnh trầm lắng của khung trời Huế đa tình đó, Túy Hồng nảy sinh tham vọng viết văn qua nhiều đêm thức trắng, vật lộn với truyện ngắn đầu tay và gửi đăng báo “Văn Hữu” ở Sài Gòn. Một tuần lễ trôi qua, tòa soạn “Văn Hữu” phúc đáp, trong thư trả lời có 1.000 đồng tiền nhuận bút và những dòng chữ hồi âm của nhà văn Võ Phiến:
“Sao tôi khờ dại và ngu như bò! Sao tôi thật thà chất phác như trâu. Suốt thời gian làm việc ở sở thông tin Huế, tôi dốt nát và u mê như heo! Tôi không dám tìm gặp cô một lần, và không đủ can đảm làm quen với cô hồi đó! Xứ Huế đang yêu ai và có bao giờ sông Hương ngủ đò. Chào cô!”.

Đó là bước khởi đầu trong văn nghiệp của Túy Hồng với 1.000 đồng nhuận bút và cũng là “mối duyên văn nghệ” của một cô giáo xứ Huế với nhà văn nổi tiếng ở Sài Gòn. Túy Hồng và Võ Phiến thư từ qua lại đều đặn mỗi ngày. Nhưng vào một buổi sáng khi “nắng Huế hung hăng bốc nóng” Túy Hồng nhận được bức thư từ ông cai trường. Trong thư Võ Phiến… thú tội: “Anh xin thú thật với em một tội lỗi, vì một ngày kia em sẽ hỏi. Xin em tha thứ cho anh: anh đã lập gia đình từ lâu, và vợ chồng anh có bốn đứa con”.
Trong bài viết mang tựa đề “Võ Phiến”, Túy Hồng viết: “Đó là cái nghiệp của ít nhiều nhà văn và nhà thơ nữ miền Hương Ngự, những kẻ tháo gỡ vòng dây trói Khổng Mạnh Huế để vào Nam hòa nhập với tự do Sài Gòn. Những người viết nữ thường sa vào tay những kẻ đã có vợ và nhiều con. Nếu tôi là một ông thầy tướng số mù, (thầy bói thì phải mù, chứ thầy bói mà hai mắt mở thao láo thì nói ai nghe), tôi sẽ tiên đoán vận mệnh của các nhà văn nữ: văn chương thì rạng rỡ, nhưng tình duyên thì trắc trở. Những nhà văn nữ thường thích sinh sống ở Sài Gòn hơn ở Huế, Vĩnh Long, Phan Rang. Sài Gòn thông cảm tâm sự của họ hơn Huế, và những nơi khác. Sài Gòn có đủ đàn ông để họ lãng mạn và làm bạn”.

Túy Hồng thú nhận một cách thành thật: “Tôi tham vọng viết truyện dài, nhưng không có thực tài, khả năng chỉ đủ để sáng tác truyện ngắn. Trong một truyện vừa, không ngắn không dài, tôi miêu tả hình ảnh một tên đàn ông đểu giả gian dối, một kẻ ngọai tình với tôi và phụ tình với vợ. Nhiều đêm dài mất ngủ, cùng với hoa quỳnh ngày tàn đêm nở, tôi trút giận hờn vào những câu văn ác ôn. Tình yêu là một giọt máu mang số 35”.
Võ Phiến khuyên: “Em hãy liên lạc với tòa báo, nói với ông chủ bút gửi trả lại cái truyện ngắn đó… không đăng báo. Em mà để cái truyện ngắn đó đăng lên báo… thì em lỗ, anh thì chẳng mất mát gì…
Em hãy thay đổi bút pháp, thay đổi giọng văn, đừng trút giận hờn vào bài viết. Đừng đùa với dư luận, đừng khai sự thật với độc giả… Phải dấu kín, phải niêm phong bí mật lại. Dư luận độc địa lắm. Chúng ta không lấy được nhau thì chúng ta sẽ làm sui gia với nhau. Con anh sẽ lấy con em”.

Túy Hồng từ Huế vào Đà Lạt chấm thi, tạm trú tại cư xá Bùi Thị Xuân và Võ Phiến từ Sài Gòn lên thành phố sương mù vài giờ trước đó. Đà Lạt ẩn hiện dưới ngòi bút của nhà văn nữ mới chập chững vào đời:
“Chúng tôi đi đêm dưới trăng mờ Dalat. Vườn nhà ai, những búp hoa quỳnh màu bạch ngọc đã uốn cong cánh từ chiều muộn để sẽ nở bung cánh ra khi màn đêm dần xuống. Mỗi bước đi của chúng tôi là mỗi nhịp đời nhẹ êm, mỗi hé nở âm thầm của quỳnh hoa, mỗi hơi thở dài sâu của câm lặng tình cảm. Bóng tối chụp lên cảnh vật, nhưng ánh trăng cũng sáng soi chiếu xuống vòm cây cành lá. Đêm nhẹ êm, thế giới về khuya tĩnh lặng, hương quỳnh-tương thơm dịu trời mây. Trong thời gian và không gian này, quỳnh hoa sẽ bung nở với trăng, với khoảng không bao la và với bóng tối lan tràn để khi đêm hết, quỳnh hoa sẽ tàn vì mặt trời chói sáng, quỳnh hoa sẽ chết đúng vào ngày mai với ánh thái dương nóng cay. Cuộc đời của hoa quỳnh chỉ trường thọ được một đêm thôi”.
Phải chăng hoa quỳnh ẩn dụ một mối tình sớm nở tối tàn? Cũng tại Đà Lạt, Võ Phiến tâm sự với Túy Hồng:
“Anh không ham muốn em từ phút ban đầu, cũng không ham muốn em sau cái phút anh nhìn em qua cửa kính cư xá Bùi Thị Xuân, mà anh chỉ yêu em bởi vì những câu văn đầu tay em viết trong truyện ngắn gửi đăng báo… Yêu đời sống, chúng ta hãy đầu cơ khả năng, thì giờ và lòng thành vào văn chương. Anh cho nghệ thuật tất cả tài sản tinh thần của anh. Con đường anh đi là con đường văn nghệ, chấp nhận sống và chết, trừu tượng và cụ thể. Anh không phải là họa sĩ, nhưng anh có màu sắc nét vẽ; anh không phải là nhạc sĩ nhưng anh có âm thanh tiếng động.”
Tình yêu của họ cũng tựa như hoa quỳnh. Theo lời của Túy Hồng, nó kết thúc ngay tại Đà Lạt trong một tình huống khiến người đọc ngỡ ngàng:
“Khi chúng tôi ngang qua quân trường võ bị, bỗng có một người đàn bà đi ngược chiều, tay dắt một đứa con gái mặc áo đầm. Võ Phiến mặt mày tái xanh, sợ hãi, vụng về hoảng hốt quýnh lên: “Vợ anh, em tìm xe về đi”.

Võ Phiến có một nhận xét rất “trắng trợn” về Túy Hồng: “Em không bằng Nguyễn Thị Hoàng, em thua kém Nguyễn Thị Thụy Vũ. Họ kính nể người yêu, họ không oán trách người tình, không căm giận những người đàn ông mà họ đã thương. Còn em, em không tốt, em nói xấu anh dữ dội trong truyện ngắn em viết…”.
Túy Hồng cũng nhận xét về chính mình một cách thẳng thắn: “Em là gái trời cho không đẹp, và trời không cho một đàn ông. Một cô gái đã già, một nữ giáo chức cô đơn dạy học ở một tỉnh lỵ chậm tiến… nhưng tôi không Huế một chút nào cả, tôi nhanh chóng hội nhập đời sống Sàigòn. Hồi đó, tôi nói tiếng Bắc, phát âm rõ từng chữ và đúng giọng, nhưng không bắt chước được giọng Nam”.

Chuyện Túy Hồng - Võ Phiến vẫn chưa chấm dứt ở Sài Gòn. Túy Hồng gửi bản thảo “Những sợi sắc không” để dự thi Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1970 cùng với Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ… và hội đồng giám khảo gồm Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo và có cả… Võ Phiến!
Trong vai trò giám khảo, Võ Phiến loại bỏ “Những sợi sắc không” với lý do “tác giả chỉ đánh máy bản thảo chứ không gửi sách”. Trong phiên họp cuối cùng, hội đồng giám khảo cho biết sẽ không có tác phẩm trúng giải nhất, mà chỉ có hai tác phẩm đoạt giải nhì đồng hạng vì không hội đủ sự đồng tình của cả ba giám khảo.
Nhà văn Thanh Nam, khi đó đã gắn bó với Túy Hồng, nhận xét: “Có những kẻ nhớ lâu và giận lâu… Anh, một người con gái anh đã quen và đã yêu thì không bao giờ anh ghét. Anh công bằng nói rằng Võ Phiến thù em.”
Túy Hồng chỉ nghĩ một cách thật đơn giản: “Văn không phải là người. Những gì tôi viết ra đều là đùa nghịch giỡn chơi thôi. Tôi chỉ biết một điều về Võ Phiến là ông ta rất thương yêu vợ…”
Ở một bài khác, Túy Hồng viết: “Tôi chưa thấy một người đàn ông nào thương vợ nhiều như thế, yêu vợ kỹ như thế. Vợ anh, vợ anh… cái miệng cứ tía lia vợ anh vợ anh, làm như người ta sắp giựt mất. Bà Võ Phiến tên cúng cơm là Viễn Phố”.

Mối tình Thanh Nam-Túy Hồng cũng có nhiều điều đáng chú ý. Gặp nhau năm 1966, và chỉ một tháng sau họ lấy nhau, khi đó, theo lời Túy Hồng, “Thanh Nam đã là một lực sĩ đuối sức trên hai vòng đua tình và tiền”.
“Khi một phụ nữ gặp gã đàn ông chưa quá vài lần mà đã ngủ với hắn ngay và lấy hắn làm chồng liền, đó là hoả hoạn của tình dục, của hoang dâm bấy lâu đè nén đã thừa cơ bật dậy. Những cuộc hôn nhân vội vã như thế này thường xuyên có thể đưa đến đổ vỡ, nhưng Thanh Nam và tôi lì lợm chung sống với nhau hoài bên bầy con bốn đứa. Hôn nhân của chúng tôi đứt đôi chỉ vì có một cái chết”.

Túy Hồng tiết lộ qua bài tản mạn mang tựa đề “Thanh Nam”: “Chín năm chung sống với nhau ở Saigon, Thanh Nam không phải là người chồng tốt. Chúng tôi lấy nhau có đám cưới nhưng không có hôn thú. Khi con gái đầu lòng học hết lớp mẫu giáo, chàng mới chịu đóng tiền đút lót một ông lý trưởng ở Quảng Nam để ông ta cấp cho một tờ hôn thú lậu và làm giấy thế vì khai sinh cho con”.
Dưới con mắt Túy Hồng, Thanh Nam, chỉ là “một văn sĩ nhỏ nhưng chơi toàn với những tay lớn”, nên đã nhờ một ông thiếu tá giới thiệu với một bác sĩ quân y để xin một giấy chứng nhận bị bệnh thần kinh để nghỉ phép ăn lương. Túy Hồng làm ở đài phát thanh bốn năm mà vẫn lãnh thêm lương giáo chức.
Sau đó Thanh Nam nhờ nhà báo Lê Phương Chi giới thiệu Túy Hồng với ông giám đốc Khai Trí để bán tất cả những tác phẩm đã viết, đang viết, và sẽ viết với một số tiền trả trước. Thanh Nam nói: “Em cứ làm theo lời anh. Trời phạt anh chịu.”
Không biết nói chơi như vậy có đúng hay không nhưng những ngày tháng cuối cùng của Thanh Nam bên Túy Hồng tại Seattle là cả một chuỗi bi kịch kể từ khi bác sĩ tuyên bố Thanh Nam bị chứng ung thư cổ họng. Để chữa trị, ống nhựa, ống hút đặt trong mũi, trong miệng khiến Thanh Nam không nói được. Hai người chỉ dùng giấy bút để nói chuyện…


Thủ bút của Túy Hồng


Như đã nói, hai nhà văn Nhã Ca và Túy Hồng có nhiều điểm chung nhưng giữa họ cũng có một điểm khác biệt lớn: truyện của Nhã Ca dựa vào bối cảnh chiến tranh, trong khi Túy Hồng lại dựa vào tính dục của con người.
Các nhà phê bình thường cho rằng nhiều nhà văn nữ có lối viết mới hơn, kêu hơn, vào sâu hơn trong vấn đề tình dục, nhưng vấp phải cái hỏng ở phần xây dựng nhân vật. Họ không vẽ được cái mặt và cái chân tướng của người đàn ông, nghĩa là không thể hiểu một cách cặn kẽ tâm lý đàn ông. Nhân vật của Túy Hồng thường là cô giáo trong khi Nguyễn Thị Thụy Vũ lại khai thác đối tượng là các cô gái bán bar. Lê Châu nhận xét: “Đọc văn đàn bà ngày nay, ta nhận thấy đàn ông trong các tác phẩm hình như phải nhận một hình phạt nho nhỏ nào đó. Phải chăng trên cõi đời này đàn bà đã yêu đàn ông nhiều hơn họ được yêu lại? Phải chăng khi đọc họ, ta nghe được tiếng kêu buồn của tình yêu không được thoả mãn?”.

Nhà phê bình Nguyễn Văn Lục trong bài “Phụ nữ và vấn đề tình dục” trên Hợp Lưu năm 2005, viết: “Trước đây, thập niên 60-70, đã có Túy Hồng viết rất bạo dạn, dữ dội. Gái Huế đa tình… nay đã có nhà văn như Túy Hồng buông thả, phóng khoáng, mở toang…”.

Nhà văn nữ người Pháp, Francoise Sagan, là một hiện tượng trong văn học VNCH với các tác phẩm như Bonjour Tristesse (Buồn ơi chào mi, Nguyễn Vỹ dịch năm 1959), Un certain sourire (Có một nụ cười, Nguyễn Minh Hoàng dịch) và Dans un mois, dans un an (Một tháng nữa, một năm nữa, Bửu Ý dịch năm 1973). Sagan đưa ra một lối viết thật ngắn, lối sống, lối nghĩ thẳng băng đến thản nhiên, đến vô tình. Và đặc biệt hơn cả, quan hệ tình dục ngang trái, khác đời của một nữ sinh còn trên ghế nhà trường trực tiếp tác động trên đời sống thanh thiếu niên thành thị miền Nam.
Các nhà văn nữ vào thập niên 60 như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thụy Vũ có những nét gì trùng hợp với Sagan? Chúng ta không dám khẳng định họ “bắt chước” Sagan nhưng khi đọc các tác phẩm của họ, người đọc cảm thấy hình như phảng phất đâu đó không khí của Sagan.

Túy Hồng trong bài phỏng vấn của Hoài Nam, “Phụ nữ và Văn chương”, trình bày quan điểm của mình về lớp nhà văn nữ sau này ở hải ngoại như Lê Thị Thấm Vân, Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Ngọc Nhung… và ở trong nước như Vi Thùy Linh, Đỗ Hoàng Diệu…:
“Viết là tưởng tượng - fiction - căn cứ trên thực tại - fact. Tôi yêu fiction dựa trên fact. Nghệ thuật có giá trị khi nó là sự thật, không phải của giả. Tình dục không cho ta một nắm to của cái cảm xúc gọi là “sướng”, và không gây cho ta một chỗ đau nào đó trên thân thể. Sự thật, giây phút tuỵệt đỉnh lúc ân ái chỉ diễn ra chừng năm bảy tích tắc kim đồng hồ, và cái lượng đam mê cũng nhỏ thôi chứ đâu có bự như những nhà văn nữ lớp mới đã tả. Sự thật thì ít nhưng chúng ta đã xít ra cho nhiều. Sự thật thì bé nhưng chúng ta đã xé ra cho to”.
N.C.

Nhà văn Thanh Nam

 

Vợ chồng Võ Phiến

 

Nguyễn Phú Yên

http://www.art2all.net/

https://tunhan.wordpress.com/

 


 

Xin lỗi Huế

Túy Hồng

Anh Đỗ,
Tôi đã ở Huế từ trong bụng mẹ đến cuối năm thứ hai mươi tám của cuộc đời. Huế đã mang thai tôi, đẻ ra tôi cho đến khi tôi đi lạc vào Sài-gòn. Từ hơn hai năm nay tôi ở nhà thuê, nói tiếng Bắc, ăn chả giò, ăn bún riêu, canh chua cá dấm, thịt bò vò viên, mía ghim… Hôm nào anh vào Sài-gòn tôi sẽ đãi anh ăn một bữa thịt bò bảy món (mọi lần gọi là “bò bụng” vì ăn vào đầy một bụng thì thôi). Đàn ông ở Sài-gòn ăn chua dữ lắm anh Đỗ ạ! có nhiều ông vác cả trái cốc dầm cam thảo vừa đi vừa ăn lêu nghêu dọc đường.

Tôi vào Sài-gòn đã hơn hai năm mà vẫn còn hụt chân chưa đứng vững được, nghĩa là: tôi chưa hề viết được một chữ về cái Sài-gòn này. Khiếp quá! một lỗ hổng lớn… Còn nhớ thời gian ở Huế, khi tôi mang ý định bỏ Huế vào Sài-gòn ra nói với anh thì anh đã làm ra như cản như không: Chị chuồn hả? mình ở Huế có ai làm gì mình được?

Mình ở Huế có ai làm gì mình được … nghe thấm thía, thấm như nước mắm thấm vào cá nục kho khô trong trách đất. Tôi vào Sài-gòn đâu phải là một cuộc tháo thân, vì đâu có biết trước rằng trong tương lai Huế sẽ trải qua vụ đổ huyết rợn gáy lịch sử là cái biến cố Mậu-thân vừa rồi. Hồi đó chúng ta đã chẳng bàn với nhau: Cộng-sản chắc không chịu đánh Huế đâu? chẳng thêm cho họ được chút gì cả. Cái gọi là quân sự đâu phải là đất thần kinh nhà mình. Rồi chúng ta nhìn Sài-gòn, nhìn Nha-trang, nhìn Đà-nẵng bằng cặp mắt lo ngại… Bây giờ mới biết Huế đã đứng thật gần lịch sử!

Tôi cam đoan không có người Huế nào yêu Huế bằng tôi mặc dầu tôi đã bỏ Huế mà đi gần ba năm nay. Tôi là một trong những người yêu Huế nhất với cái bằng chứng: tôi chỉ viết được lai rai vài ba tác phẩm thôi mà cuốn nào cũng nói về Huế. Huế! Huế! hễ cứ cầm cây bút lên là Huế! (Tôi yêu Huế chứ không phải yêu người Huế). Phải là một thứ tình đậm đặc, kéo xiết khốc ác và cưỡng bức thế nào tôi mới viết về Huế hết mình như vậy! Mặc dầu có những người Huế không bằng lòng tôi viết ra một cái-Huế-như-vậy! Nhưng văn chương là viết những điều mình nghĩ và không làm dáng. Tôi chỉ đặt vấn đề là tôi thương Huế mà thôi! Bỏ Huế mà đi lòng nhớ trời, nhớ khoảng thiên nhiên. Tôi không yêu một thứ vẻ đẹp cấm cung, một thứ vẻ đẹp hạn hẹp, mà yêu bao la cả một khoảng thiên nhiên. Huế đẹp từ một vũng nước đọng bên đường đến lượng cả con Hương-giang, từ cọng rau muống bờ hồ đến cây phượng già xanh lục. Có nhiều hôm đi xe đạp lên cầu ga nhìn dãy núi lam phía sau cầu Bạch-hổ mịt mịt mùng mùng mà tưởng cái phần hồn của từng kiếp người cũng có thể dăng dài kéo dãy như vậy! Những đêm mùa đông, những con “ệng oạng” kê mõm khoắc khoải kêu khan từ những ao rau muống… Kêu chi mà khổ, mà trầm thống! Thêm vào đó, tiếng rao hàng dài lê lết: mua trứng lộn! mua trứng lộn… Trời ơi! tiếng kêu của miếng ăn sao mà buồn đến thế! nhức xương buốt tủy mất! Tưởng tượng mở cửa kêu vào chắc mình phải ôm cô hàng trứng mà khóc ngất! Rồi cái quán cơm, quán cơm cũng mang tên Âm-phủ ăn dưới ngọn đèn tù mù… và con đường Âm-hồn, tiếng chuông chùa Diệu-đế… Cực lòng quá Huế ơi! Tôi đi! Tôi đi… ở với Huế buồn lắm… Vào Sài-gòn họa may có một nụ cười…

Buổi sáng tôi đi, tôi ôm gói áo quần xuống phi trường Phú-bài. Huế của tôi, tôi biết, không bao giờ khóc người đi và cũng chẳng bao giờ mừng người trở lại. Huế của tôi không yêu ai mà cũng chẳng phản bội ai.

Anh Đỗ, khi chân vừa chấm đất Sài-gòn, tôi nhìn lại chiếc tàu bay mà lòng co quắp đau đớn: thôi! mất Huế hẳn rồi. Tôi thương con đường Phan Chu Trinh với ngôi nhà thềm trắng, bồn hoa violette, hai cây dừa xiêm giắt những gói muối, và bến sông thân yêu trước mặt. Tôi biết rằng rồi đây người Huế sẽ lần lần từng người từng người rủ nhau bỏ đi. Vì đó là mảnh đất tán chứ không phải tụ. Trời ơi! ra đi như vậy thì còn để ai ở lại mà ngắm, còn để ai ở lại mà làm người mộng áo trắng qua cầu, tóc thề vương vương con đò Thừa-phủ. Ngày chưa chia ly, ngày Huế chưa chia ly với tôi và với những người khác, dân cư cũng đã quá thưa thớt, nhà cửa cũng ít ỏi… Năm 1963, hai chiếc taxi Sài-gòn ra Huế chạy rước khách kiếm sống nhưng không kiếm được chút đỉnh gì đành phải quay lui lại Sài-gòn. Anh Đỗ, Huế thừa lẽ sống nhưng lại thiếu kế sống. Thành phố rất tinh thần, chỗ đất rất thần kinh. Những ai không chịu được nỗi buồn cưỡng bức, những ai giá áo túi cơm đều tìm không ra lẽ để sống với Huế. Tôi đã ra đi vì sợ nỗi buồn cưỡng bức, vì không ngửi thấy nguồn hương tinh thần dành an ủi những tâm hồn không bao giờ chịu xa Huế. Chỉ có những người chung thủy với Huế nhất mới ngửi thấy nguồn hương tinh thần đó. Vì rằng ngày xưa khi vua đầu triều nhà Nguyễn đang tâm niệm tìm một chỗ đất đóng đô thì thần linh hiện lên bảo: “hãy đứng bên trên đầu tổ quốc, hãy thắp một cây hương rồi lần theo phương Nam mà đi xuống, đến chỗ nào cây hương tắt thì hãy đóng đô.” Vì lẽ đó Huế là đất thần kinh. Kinh đô thần linh đối với những kẻ đeo chiếc mũi phàm tục chai sạn không ngửi thấy nguồn hương tinh thần đầy an ủi là một giải đất buồn phải không anh Đỗ. Buồn quá mà tôi đi phải không anh Đỗ? phải không Huế?
Anh Đỗ! chào anh.

TÚY-HỒNG
(Văn số Xuân Kỷ Dậu 1969)

 

 

Đăng ngày 12 tháng 08.2020