Hồi ký

Trần Văn Thuận sinh ngày 19/05/1949 tại Huế.
Tốt nghiệp ĐHSP Saigon, Ban Pháp Văn, niên khóa 1968-1971.
Cử Nhân Giáo Khoa Pháp Văn, ĐHVK Saigon năm 1970.
Dạy học tại: THPT cấp 3 An Mỹ, Bình Dương 1971-1975. Tư Thục Lasan Taberd, Saigon 1973-1975. THPT cấp 3 Tân Uyên, Sông Bé 1976. THPT cấp 3 Lái Thiêu Sông Bé 1977-1979.
Vượt biên năm 1981, hiện định cư tại Houston TX.

Biến cố Mậu Thân tại Huế

49 năm nhìn lại

Trần Văn Thuận


                                                                                 

Trong Tân Ước, các “Thánh” Mark, Matthew, John và Luke đã viết và kể lại các “giai thoại” về thời gian tại thế khá ngắn ngủi của Đức Kitô, 40 năm, 50 năm, hoặc lâu hơn nữa, sau ngày “Đấng Cứu Thế… về Trời”. Tuy nhiên, giá trị và sự chính xác của các bản văn đó được Giáo Hội TCG tuyên xưng là tuyệt đối, có nghĩa là không sai, không sót, theo đó, các Thánh trên đã được ơn “Mặc Khải” của Thánh Linh, xuyên qua nội dung mà họ đã viết!

Phần tôi, “noi gương” các Ngài, tôi cũng ráng viết, viết về một khoảng đời, về một biến cố to lớn, mà tôi là một nhân chứng…bất đắc dĩ. Ngoài ra, Mậu Thân còn là một biến cố đã ảnh hưởng sâu rộng đến vận hành, dự tính và hướng đi của cả cuộc đời tôi. Khổ nổi, điều khác biệt to lớn là Chúa Thánh Thần… đã không ở cùng tôi, Ngài đã không nhận ra tôi, do đó Ơn Mặc Khải cũng đã chẳng đến với tôi. Có chăng là cái khoảng cách dài vời vợi, gần 50 năm, với một trí nhớ dưới trung bình, ngày mỗi nhạt nhòa, ngày mỗi suy sụp, của một “lão già” 67 tuổi. Lợi điểm duy nhất là tôi viết về... tôi, không phải về cái “Tôi” bây giờ, hiện tại, mà là một cái “Tôi” hoàn toàn khác biệt, của 50 năm trước, và đó không hẳn là một công việc dễ dàng. Đại khái, một ông lão từng trải, hiểu biết, kinh nghiệm, quan sát, phân tích, nhận định về một chàng trai trẻ mới lớn. Dù gì đi nữa, tôi tự nhủ, phải ráng làm điều đáng làm. Trong điều kiện “ở nhà ăn lương” hiện tại, tại sao không ngồi ôn lại những kỷ niệm trong đời, sống lại tuổi thanh xuân… dù qua ảo giác, được gặp lại bè bạn xưa, để cùng lén trở về tắm lại một lần nữa trong “dòng sông ngày ấy”, cho dù đó là một đoạn sông đầy máu và xác người. Một ngày nào đó, lúc trí tuệ suy giảm, ký ức tàn tạ, thể xác rã rời, vẫn sẽ còn lại chút dấu tích ghi lại quảng đời đã qua.

Nội dung bài viết do đó, sẽ được trình bày, không như một bản văn chải chuốt, màu mè, thứ tự, nhưng sẽ là một thứ “Tạp ghi”, đại khái theo trường phái… “Lanmanisme”, có nghĩa là viết lan man, nhớ gì viết đó. Bài viết không nặng về khía cạnh tường thuật, xoay quanh biến cố Mậu Thân, nhưng chen lẩn giữa những điêu tàn, đổ nát, chết chóc, là những kỷ niệm rất cá nhân, những tình cảm nhẹ nhàng, siêu thoát, đôi khi lại rất ngô nghê của thời mới lớn. Thật tình, tôi viết chủ yếu là viết… cho tôi đọc! Nghe buồn cười, nhưng đó là sự thật. Kế đến, tôi sẽ chia xẻ bài viết với một số người thân quanh tôi, những người có thể đã cùng sống, trực tiếp hoặc gián tiếp, qua cùng những kỷ niệm đó. Số còn lại, có thể tôi sẽ mở hé cửa, mời vào ”xem lén”. Biết đâu bài viết có thể gợi nhớ cho bạn một cảm giác, một suy nghĩ thân quen nào đó? Ở tuổi tôi, thật quá muộn màng để nuôi tham vọng trở thành…nhà văn, tuy nhiên, tôi sống nhiều với kỷ niệm, tôi trân quý kỷ niệm, bất kể đó là kỷ niệm vui hay buồn, lành hay dữ. Với tôi, viết là một phương cách để “ướp tẩm” kỷ niệm, như dân Ai Cập đã từng ướp tẩm xác chết của các vị Pharaon của họ.
Sau gần nửa thế kỷ, nếu thời gian hoặc chi tiết các sự kiện trong bài viết không được chính xác, chắc hẳn cũng là điều dễ hiểu và dễ tha thứ. Ngoài ra, sẽ có nhiều lỗi chính tả, đặc biệt là hai cái dấu hỏi, ngã ”dzô dzuyên” của tiếng Việt. Mong được sự cảm thông của người đọc.

Tôi còn nhớ rõ, vào thời điểm Tết Mậu Thân năm 1968, tôi chỉ thiếu 4 tháng là “tròn” 19 tuổi, đang học Dự Bị Văn Khoa Huế, Ban Pháp Văn. Với tôi, thời gian này có thể coi là giai đoạn “bĩ cực thái lai”. Vừa “vượt thoát” được bậc Trung Học với mảnh bằng Tú Tài 2, ban C, Pháp Văn, hạng Bình Thứ. Tôi mừng không những vì đậu, nhưng đáng kể nhất, là từ nay, cái thằng luôn mang mặc cảm dốt Toán và các môn Khoa Học như tôi, sẽ không còn bị quấy nhiễu, đe dọa  bởi các môn học vừa “rởm” vừa rắc rối. Những tháng đầu tiên ở Đại Học cũng mang lại cho tôi nhiều tự tin, chững chạc hơn, với nhiều tiếp cận hơn, đặc biệt là với các bạn khác phái, mà trước đây, tôi hầu như hoàn toàn không có cơ hội, vì học toàn trường đực rựa. Tôi cũng vừa tậu được một chiếc xe Honda 68, màu đen, phần thưởng mà các anh chị đã đóng góp tặng tôi, sau khi thi đỗ Tú Tài.


Hình chụp chung với Ba Mạ và các anh chị (1953)

Tôi có hai anh và hai chị. Vào thời điểm 1968, các anh chị tôi đã lớn và đã tung cánh bay xa. Hiện tôi là đứa con cuối cùng còn sót lại, sống với ba mạ tôi, lúc đó cũng đang ở độ tuổi 58, 59. Bà chị đầu tôi, lúc đó ở tại Sài Gòn, Chị lấy chồng lúc tôi mới 6, 7 tuổi, tóc còn để chỏm. Người anh kế tiếp, tốt nghiệp ĐHSP Huế, Ban Pháp Văn, chọn nhiệm sở ở Trung Học Cường Để, Quy Nhơn, cũng đã lập gia đình, nhưng tạm thời chưa đoàn tụ được với vợ, cũng là một GS Pháp Văn khác, đang công tác tại Trường TH. Thạch Hãn, Quảng Trị. Bà chị thứ ba cũng đã theo chồng về Đà Nẵng, lúc tôi mới 13 tuổi. Người anh cuối, kế tôi, và cũng là người gần gũi, cật ruột nhất với tôi, cũng đã gia nhập Khoá 24 VBQG Đà Lạt vào năm trước đó. Tuy kế, nhưng anh hơn tôi đến 4 tuổi. Tôi còn nhớ, mới năm ngoái, ngày anh tôi từ giã lên đường nhập ngũ, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn theo, nước mắt trào ra. Tôi đã khóc chẳng khác gì cậu bé con, 6 năm về trước, đã khóc ngày Chị tôi lên xe hoa vào Đà Nẵng…

Tết Mậu Thân ở Huế, cũng như những Tết khác, trên mọi vùng đất nước, già cũng như trẻ, mọi người, mọi gia đình, bất kể giàu nghèo, đều chuẩn bị cho những ngày lễ hội sắp đến. Năm nào cũng thế, Mạ tôi, làm gì thì làm, thế nào cũng phải làm vài hủ dưa món. Nói thì nghe đơn giản, nhưng thật sự cũng nhiều công sức. Tết ta luôn rơi vào mùa đông, mà mùa đông ở Huế thì vừa lạnh, vừa mưa phùn, tìm đâu ra được một chút nắng để phơi các miếng cải trắng, cà rốt, tỏi, hành tím, đu đủ, củ kiệu, ớt đỏ… những thứ cần thiết để làm thành một hủ dưa món. Vì vậy các thứ trên, ngoài công sức cắt tỉa mỹ thuật, cần phải qua công đoạn sấy ủ… bằng lò than. Ngoài ra, thế nào cũng có một nồi sườn ram, một nồi thịt kho Tàu, vài chục lọn tré… Nói đến tré Huế, dứt khoác không phải là loại tré “tùy tiện”, lai căng, được bày bán sau này, được gói bằng nylon, giấy bạc, cột bằng dây thun… Tré đúng tiêu chuẩn tré Huế, ngày ấy, ngoài “nội dung” đầu heo, tai heo, mũi heo… được cạo gọt, kỳ cọ kỹ lưỡng, thái nhỏ; thịt bò “phi lê” áp chảo, cũng thái nhuyễn, cọng thêm thật nhiều riềng, tỏi, mè… trộn thêm chút thính và nước mắm “kho quẹt”… tất cả các thứ trên được gói chặt bằng lá chuối, bên trong còn cặp thêm lá ổi tươi, cột thật chặt bằng những cọng lạt. Công đoạn cuối cùng là che phủ toàn bộ bằng những cọng tranh vàng óng, được cắt thẳng thớm và buột lại. Riêng về mứt thì năm nào cũng có làm mứt dừa, mứt gừng, mứt hạt sen, mứt khoai… đại khái khoai lang ta, gọt vỏ, cắt thành những miếng dài như ngón tay, ngào với đường đen, trộn lẫn gừng cắt nhuyễn. Món này có tính bình dân, nhưng lại được sự ủng hộ của đám con nít thèm ngọt.

Đặc biệt năm nay, ngoài nhiệm vụ bếp núc, nấu nướng, Mạ tôi đã “đề nghị”, ý tôi muốn nói là ”ra lệnh”, bất chấp sự “chống đối” của cha con chúng tôi, là phải gấp rút thực hiện thêm một dự án ngoài lịch trình, và chẳng có dính dáng gì đến chuyện Tết nhứt hàng năm: Xây một hầm cát kiên cố cho gia đình và… phải làm xong trước Tết! Đúng ra đây là suy nghĩ chung của gia đình, phát xuất từ những tin tức liên quan đến tình hình chiến sự ở Vùng 1 nói chung và của Huế nói riêng, trong thời điểm đó, với sự sôi động mặt trận ở Khe Sanh và các vụ pháo kích lẻ tẻ của Cộng quân vào nhiều địa điểm tại Huế. Song dự tính của Cha con tôi là ăn Tết trước, làm hầm sau. Đúng là “Không lè phè, không phải đàn ông”. Mạ tôi, phận đàn bà, dù học ít, nhưng bản chất thông minh, tính khí gan dạ, lo xa, dứt khoát, thuộc loại “nữ tướng” đã nói là làm. Thôi thì “Lệnh của Bà”, hiển nhiên và luôn là lệnh cuối, cha con chúng tôi đành vui vẽ…thi hành. Vì nhà ở sát cạnh sông Phú Cam, nên cát mua xong là được gánh từ đò lên giao tận nhà, bọn tôi với sự trợ giúp của một vài công thợ, chỉ việc dồn cát vào bao. Địa điểm được chọn xây hầm là khoảng trống ngay sát cạnh cửa phải phòng ăn, một căn phòng tuy không lớn lắm, nhưng bù lại, có mái đúc bằng bê tông cốt sắt, nối liền nhà trên, với khu nhà bếp. Hầm xây khá chắc chắn, không những nhờ chọn đúng vị trí, mà còn nhờ được chống đỡ bằng các khúc gỗ chắc chắn, lấy ra từ ụ gổ còn sót lại, sau lần xây cất lại dãy nhà cho mướn, phía bờ sông. Sở dĩ nói dông, nói dài về cái hầm cát này vì, nếu không có nó, giờ này tôi cũng như gia đình chắc đã không  toàn mạng, để giờ này, ngồi nhắc lại chuyện xưa! Một sự kiện khác chứng tỏ cái linh tính bén nhạy, sự “nhìn xa thấy rộng” của Mạ tôi! Số là mấy chục năm qua, Mạ tôi có tiệm cầm vàng tại nhà, dù không mang bảng hiệu, nhưng nhờ hành nghề lâu năm và có uy tín, nhất là trong họ đạo, nên số khách chủ khá đông. Sau khi yên tâm thấy hầm cát đã  hoàn tất, Mạ tôi, không hiểu suy nghĩ như thế nào, đã tự ý gom gần như toàn bộ số vàng, vừa đồ trang sức, vừa vàng lá… cho vào các hộp bánh biscuit bằng thiếc, cột chặt lại bằng dây kẽm và kêu tôi đi theo bà, ra phía vườn sau tìm chỗ cất dấu. Số vàng khá nhiều, vì đó vừa là tài sản riêng của gia đình, vừa là của khách hàng. Cũng nhờ vậy mà sau Mậu Thân, số vàng đã không bị thất thoát. Sau khi Huế yên ổn trở lại, Mạ tôi phải bay từ Sài Gòn ra lại Huế, thông báo cho khách chủ biết, để đến chuộc lại. Ai nấy đều ngạc nhiên mừng rỡ, vì tưởng đã mất, nay được lại, nên  đã rất biết ơn Mạ tôi.

Tết năm đó, Anh đầu tôi đang dạy học tại Qui Nhơn, cũng lấy phép về Huế ăn Tết với gia đình, sau khi đón chị dâu tôi, đang bụng bầu gần 7 tháng, và bé Hạnh Linh, đứa cháu gái đầu lòng, hai tuổi, từ Quảng Trị vào. Tôi còn nhớ, trong mấy ngày trước Tết ngắn ngủi ở Quảng Trị, trong tình hình quân sự khá bất ổn, Anh tôi cùng gia đình vợ đã bị một toán lính bất lương đột nhập vào nhà, trong đêm vắng, mở chốt lựu đạn, uy hiếp, hành hung và cướp sạch số tiền dự định mang vào Huế xài Tết, cọng thêm mấy cây vàng. May mắn là không có ai bị thương tích ngoại trừ vết trầy trụa trên trán anh tôi, do bị tên lính dộng vào mặt, chỉ vì dám nhìn chằm chặp vào mặt hắn. Thôi thì của mất thay người vậy!

Đêm Giao Thừa, người dân ai ai cũng đều hăm hở chuẩn bị đón ông bà về thăm và ăn Tết cùng con cháu trong mấy ngày Tết. Thành phố giờ phút này, dù lất phất mưa, xen chút gió lạnh, trông thật bình yên, êm ả. Không bình yên sao được, khi “Hai Bên” đã thỏa thuận tạm ngưng bắn 48 tiếng, để người đân có thể yên tâm ăn Tết? Các đơn vị quân đội, do đó, đã cho phần lớn binh sĩ xả trại, về phép. Một số lớn người dân làm ăn, công tác xa suốt năm, cũng lợi dụng dịp này để về vui Xuân, đoàn tụ với gia đình. Nhà nào cũng chưng dọn ngăn nắp, đẹp đẽ, bàn thờ hương khói nghi ngút. Pháo Tết năm nay coi bộ còn nổ lớn, nổ nhiều, hơn hẳn những năm trước, như muốn xua đuổi tà ma, xui xẻo của năm cũ. Mọi người nao nức chờ đón giây phút linh thiêng mà không biết rằng cửa địa ngục đang từ từ hé mở, máu lửa, tai ương và Thần Chết sắp đổ ập xuống đầu những người dân hiền hòa, vô tội! Huế thơ, Huế mộng của tôi sắp được chính thức “khai tử” kể từ đây!

Thật vậy, trái với sự mong đợi của mọi người, đúng qua đêm mồng một, rạng ngày mồng hai Tết năm ấy, Cộng Quân đã tráo trở xé bỏ hiệp ước ngưng bắn, đã ra lệnh tấn công, không chỉ riêng Huế, mà trên hầu hết các đô thị lớn của miền Nam Việt Nam. Huế không những bị tấn công nặng nề, mà còn bị chiếm đóng lâu nhất, suốt 26 ngày đầu năm âm lịch, đứng đầu danh sách thiệt hại trên toàn quốc, về cơ sở vật chất, nhà cửa. Đáng nói nhất là thiệt hại về nhân mạng, với tổng số trên 4 ngàn người dân, bao gồm không những quân nhân, công chức, thân hào, nhân sĩ… mà còn vô số thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, ở độ tuổi 15, 16, cho đến trên dưới 20, đã bị VC tập trung, một số bị xét xử qua loa và bị giết chết trước mắt gia đình, vợ con, xóm giềng, bị vùi dập vội vã xuống các hố chôn do chính những nạn nhân đào lấy; số khác bị tập trung, bắt dẫn theo và bị thảm sát một cách dã man, bằng súng đạn, bằng cán cuốc đập vào đầu hoặc bị chôn sống… Xác của ho đã được tìm thấy, nhiều tháng sau khi Huế được tái chiếm, ở một số địa điểm nằm rải rác các vùng ngoại ô Huế, mà nổi tiếng nhất là khu Khe Đá Mài. Đấy là chưa kể đến những thiệt hại của hàng ngàn sinh mạng khác do bom đạn từ hai phía, qua các trận đánh đẫm máu, trên khắp hang cùng ngõ hẻm của thành phố. Tôi xin được dành phần sau để kể đến diễn tiến của cái vẫn thường được gọi là “Biến cố Mậu Thân” tại Huế, qua cái nhìn rất hạn hẹp của một người chạy loạn.

Trở lại ngày đầu năm “Con Khỉ". Ngày mồng một Tết năm nay sao có vẻ xanh xao, mỏi mệt như một con bệnh. Đường sá lèo tèo người qua lại, không nhộn nhịp, sống động như mọi năm. Có lẽ tại mới sáng sớm mà trời đã ủ dột, xám ngắt một màu. Đúng là “Trời buồn người có vui đâu bao giờ!”. Nói thì nói vậy, Tết vẫn luôn là ngày lễ truyền thống lớn và đáng nhớ nhất trong năm. Sáng nay cũng vậy, cả nhà thức dậy sớm hơn mọi khi. Buổi ăn sáng nay, ngoài cà phê sữa, đặc biệt hôm nay còn có bánh tét chiên, ăn kèm dưa món. Sau bửa ăn, các anh chị em tôi, năm nay, chỉ còn lèo tèo 3 người, cháu Hạnh Linh, cùng hai người làm, tập trung lại để mừng tuổi Ba Mạ tôi. Như mọi năm, anh tôi đại diện các em, nói lời chúc Tết, hay đúng hơn là lời chúc Thọ Cha Mẹ, một lời chúc mà tôi nhớ, luôn được kết thúc bằng bốn chử “sống lâu trăm tuổi”. Tôi nhỏ nhất nên không bao giờ… được vinh dự đó. Tết nào cũng vậy, đứng lẩn trong hàng, cứ nghe đến câu “sống lâu trăm tuổi”, cổ tôi…nghẹn lại, nước mắt như muốn trào ra. Đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu lý do tại sao? Có lẽ trong tiềm thức sâu thẳm, tôi luôn sợ hãi khi nghĩ đến ngày Cha mẹ trăm tuổi? Sau khi nhận lời chúc Tết của các con,  Ba tôi luôn đại diện Mạ tôi, có vài lời “nhắn nhủ” đầu năm, sau đó là phần phát tiền lì xì. Thời đó chưa có bao lì xì, thay vào đó là những tờ giấy bạc mới cáu, mà Ba tôi đổi từ ngân hàng, còn thơm phưng phức. Hạnh Linh dù chưa tỉnh ngủ, hai má đỏ ửng, mừng rỡ ôm tiền lì xì, vừa chạy quanh nhà, vừa ho sù sụ, tội nghiệp cháu tôi mới nhuốm cảm.
Xong xuôi, cả nhà cùng đi bộ lên mừng tuổi “Ông” Bà Ngoại. Đúng ra, Ông Ngoại tôi đã mất, khoảng năm 1962, lúc đã ngoài 80. Những cái Tết về sau, do đó,  hơi khựng lại. Khựng lại một phần vì không còn Ông Ngoại, phần khác, do mình mỗi ngày mỗi lớn, những hăm hở của thời con trẻ không còn nữa.


1.Ông Ngoại 2.Bà Ngoại 3.(?) 4.Cậu Bàng 5.Dượng Tôn 6.Dì Sung 7.Má 8.Ba 9.Cậu Phát 10.Dì Hương (?) 11. Cậu Bình 12.Anh Sanh 13.Chị Ba 14. Dì Khiêm 15.Anh Diệu 15.Chị Thiềm. Hình chụp khoảng năm 1936.

Thêm vào đó, hình như mỗi năm số người tham dự mỗi giảm: gái thì một số theo chồng; trai nếu đỗ đạt, thường đổi đi làm xa, nếu xui xẻo thi rớt, thì đành ca bài “đi quân dịch là thương nòi giống”. Thời Ông Ngoại còn sống, nói tới ngày Tết là nói đến buổi gặp mặt bà con đông đủ nhất, thường tập trung ở nhà Ông Ngoại. Ông tôi họ Ưng, Hoàng Phái thuộc dòng… Minh Mạng, vì “cao số” nên đến… 3 đời vợ, may mắn là không phải cùng lúc, với khoảng 12 người con, trong đó, Má tôi thuộc dòng thứ 2. Đúng là “Ba dòng gom lại, cháu con đầy đàn”! Thật đáng tiếc, thuở đó còn bé quá, nếu không tôi đã hỏi Ông tôi về “Thang thuốc gia truyền” nổi tiếng của dòng họ. Tôi nhớ mãi nhà Ông tôi nằm biệt lập trên một ngọn đồi đất đá đỏ sẫm, qua khỏi nhà thờ Phú Cam, không xa Toà Khâm Mạng Huế bao nhiêu. Khu vườn nhà ông rậm rạp như một khu rừng, rộng nhiều mẩu Tây, cây cối đủ loại, phần lớn gồm mít, mận, ổi, thơm, dâu… Trong khu đất, mọc lỗ chỗ vài khu mộ cổ người Chàm, bằng đá ong, màu vàng nâu sẩm. Bà Ngoại và Cậu Út ở riêng một khu, riêng Ông Ngoại tôi thì ở riêng biệt một mình trong một căn nhà nhỏ, có gác, nằm cũng sát đó. Cho đến giờ, tôi vẫn còn thắc mắc không hiểu tại sao Ông tôi lại tự tách riêng ra một cõi, sống cô đơn và không chung đụng như vậy? Chỉ biết ngày mồng một Tết, Ông Ngoại tôi diện áo gấm dài, đầu đội khăn đóng, ngực mang thẻ bài, oai nghi “ngự” trên ghế nhìn ra, ít khi thấy Bà Ngoại ngồi cùng. Vào thời điểm đó, hình như cũng là chuyện bình thường, chẳng mấy ai thắc mắc. Bên ngoài, giữa bao chộn rộn, ồn ào, các Cậu, các Dì, con cháu, chắt… theo thứ tự trên dưới, quỳ trên chiếu trải sẵn, để lạy mừng tuổi thọ Ông Ngoại, dưới sự chỉ huy của Cậu Cả. Như thông lệ, Ông tôi hiền từ đưa tay ra vẩy vẩy và nói: ”Thôi khỏi, ân xá! ân xá!” Con cháu rộ lên mừng rỡ, tủa ra rượt theo các Cậu, các Dì, các Chú, các Bác... để mừng tuổi tiếp, kiếm lì xì. Sau đó đến phần ẩm thực. Mức món, bánh tét, bánh chưng, nem, tré… phần Bà Ngoại làm, phần con cháu mang lại, được dọn ra ê hề… Tiếp theo là màn hên xui đen đỏ đầu năm, qua các trò chơi: đổ xâm hường, bài tới, bầu cua cá cọp, xì lát… Đây là dịp bà con gặp gỡ lớn nhất trong năm nên không khí nhộn nhịp, ồn ào như trẩy hội. Ăn uống no say xong, lại kéo nhau ra thăm khu mộ gia đình gần đó. Trong khu mộ đó, có phần mộ của Ông Ngoại tôi, của Cậu Tiếp, Dì Tham và nhất là mộ của anh chị tôi, mất từ hồi còn bé, vào cùng một ngày của năm 1948, do dịch bệnh đậu trời. Rồi cứ vậy người này đi viếng người kia tùy theo vai vế, thứ tự. Sở dĩ tôi lan man khá nhiều về ngày Tết ở Huế thời đó, vì với tôi, đó là những kỷ niệm của đại gia đình, sống động, êm đềm, và thật dễ thương, trong một giai đoạn thanh bình của đất nước. Nó khác nhiều so với cái Tết của nơi khác và hiển nhiên càng khác xa với cái Tết của thời đại bây giờ, ở Việt Nam và nhất là ở hải ngoại.

Riêng với bản thân tôi, cái Tết Mậu Thân năm đó, còn là một cái Tết mang dấu ấn khá đặc biệt, rất cá nhân và “thầm kín”: Tôi vừa “chính thức” có “Bạn Gái”, một cô bạn VK cùng lớp, nhỏ nhắn, dịu dàng, dễ thương, và đặc biệt rất Huế. Tôi gọi là chính thức vì đó là lần đầu tiên tôi chính thức tỏ tình, và đó cũng là lần đầu tiên, lời tỏ tình được… chính thức chấp thuận. Sở dĩ tôi nói “lần đầu tiên chính thức tỏ tình” vì thật ra, tôi đã biết yêu rất sớm. Sáu, bảy tuổi, tôi  đã biết yêu… Ma Soeur dạy tôi lớp Sáu, tức lớp 1, tiểu học bây giờ. Yêu đến độ, sang niên khóa mới, nhất định không chịu “lên lớp”, một hai chỉ muốn ở lại với Ma Soeur. Lớn lên chút nữa, tôi nhớ khoảng năm lớp 6è, tôi lại si tình một cô bé người Pháp hay lai Pháp, thú thật tôi cũng chẳng rõ, học chung lớp hè, môn Toán, do Mr. Carme phụ trách, tại Trường Thiên Hữu. Tên cô ta, giờ này tôi vẫn còn nhớ rõ: Marie Angèle, ôi cái tên sao mà đẹp giống người thế? Dù bé như “hạt tiêu”, khả năng ngôn ngữ chắc cũng cỡ bằng hạt bắp, thế mà cũng ráng nặn óc, viết 4 câu thơ thật “mùi” bằng tiếng Pháp hẳn hoi, xếp nhỏ lại, nhét vào guidon chiếc xe đạp của cô nàng. Nàng có tìm thấy mảnh giấy đó không? Có đọc được lời tỏ tình ngây thơ, vụng dại, mà theo tôi nhớ không để tên người gửi đó không? Hay mảnh giấy nhỏ đã bị ngọn gió hè vô tình cuốn trôi mất? Thú thật tôi không biết, mà hình như cũng chẳng quan tâm! Tôi đã “yêu”, đã cảm nhận được sự rạo rực tuyệt vời đó với tôi thế là đủ! Rồi lên đến lớp Đệ Nhị, tôi lại “yêu” trở lại. Lần này, đối tượng là một cô hàng xóm, ở cách nhà tôi một cây cầu (cầu Phú Cam). Nhà Cô nằm trong dãy nhà phố thuê của Giáo Phận Huế, mà thuở đó chúng tôi hay gọi là dãy “Nhà Đức Cha”. Trịnh Công Sơn và gia đình, cũng ở dãy nhà đó, nhưng ở từng trên và sát cạnh cầu.
Cô nàng họ Nguyễn Khoa, học sinh Đồng Khánh, chắc học sau tôi một hay hai lớp. Nàng không đẹp rực rỡ, nhưng khuôn mặt hiền lành, thánh thiện. Mỗi lần nhìn thấy nàng, tôi liên tưởng ngay đến hình ảnh Phật Bà. Tại sao lại là Phật Bà mà không phải là Đức Mẹ, tôi đạo Công Giáo mà? Tôi chẳng biết. Mùa Đông, sau buổi ăn tối, tôi thích lững thững bước đi, đầu trần, dưới làn mưa nhẹ, qua cầu, mua vài điếu thuốc lá lẻ, ở một tiệm tạp hóa, chỉ cách nhà nàng đúng hai căn. Trời lành lạnh, điểm chút mưa phùn, điếu thuốc thơm trong tay, tôi nhìn thấy nàng, qua khung cửa kiếng, mờ ảo sau tấm màn mỏng, trước chồng sách vở. Chỉ có vậy mà sao tôi lại hạnh phúc đến thế? Và cũng trên 50 năm rồi, nàng vẫn sẽ không bao giờ biết, ngày ấy, có anh chàng hàng xóm si tình mình đến vậy?

Trở lại thời điểm tối mồng một Tết Mậu Thân. Trời mưa rả rích và khá lạnh. Sau một ngày liên hoan vui vẻ với đại gia đình, tôi lên giường khá trễ, giữa những tiếng pháo vẫn còn đì đẹt đâu đó. Đi ngủ mà lòng háo hức chỉ vì nhớ tới cái hẹn với cô bạn gái, vào trưa mai, mồng 2 Tết. Chợp mắt chưa bao lâu, khoảng một, hai giờ sáng, tiếng con Minot gầm gừ mãi ngoài sân trước, đánh thức tôi dậy. Qua tấm vải mùng, mình còn cuộn trong mền vì trời khá lạnh, tôi thấy Ba tôi cũng đã thức dậy, trong bóng tối, đang hé nhìn qua khe cửa sổ. Một hồi sau, thấy tôi đã thức giấc, với vẻ mặt khẩn trương, Ba tôi ra dấu bảo tôi yên lặng và chỉ ra phía ngoài sân. Tôi xuống giường, rón rén bước lại gần và lén nhìn ra. Dưới ánh đèn đường mờ nhạt xuyên qua tàng lá cây nhãn trước nhà, cách tôi không quá mười thước, tôi nhìn thấy những bóng đen tựa những bóng ma, đang lố nhố tìm vị trí dọc theo bức vách xi măng đục lổ, chia cách nhà tôi và dãy rạp cho thuê. Tôi không nhìn thấy rõ mặt mày họ, nhưng thấy nhóm người này có võ trang súng đạn. Họ ngồi đó im lìm, qua động tác, tôi đoán họ đang lặng lẽ móc thức ăn từ bị rết đút vào miệng. Giờ này thì cả nhà tôi đã thức giấc. Ba tôi thầm thì bảo tôi và anh tôi phải leo lên trốn trên trần nhà. Không sẵn thang, chúng tôi phải leo theo cánh cửa ngăn, giữa nhà trên với phòng ăn cơm và khu nhà bếp, nhấc tấm ván ngăn của trần nhà, đu người lên, sau đó đóng tấm nắp lại. Tạm yên! Không bao lâu sau, tiếng súng bắt đầu vang vọng khắp thành phố. Riêng khu tôi, nhất là phía bên kia sông, súng nổ rền, vì ngay bên kia cầu là Đồn Công Binh, còn được gọi là Đồn Bá Công, rất lớn, nằm ôm trọn 3 con đường: đường Phan Đình Phùng, dọc bờ sông Phú Cam, đường Nguyễn Huệ và đường Cây Muối. Đúng ra là bốn đường, nhưng mặt đường Nguyễn Trường Tộ, đồn bị che khuất bởi dãy “Nhà Đức Cha”. Đến bốn giờ sáng, lúc này thì điện đóm đã tắt ngủm, giữa tiếng súng lớn nhỏ, có tiếng đập cửa dồn dập từ khu nhà bếp. Không chậm trễ, Ba tôi mở cửa. Một nhóm bộ đội chừng ba, bốn người, súng chĩa thẳng  phía trước, thái độ khá căng. Không bước hẳn vào bên trong, câu hỏi đầu tiên của họ: “Trong nhà có Mỹ Ngụy không?” Ba tôi thật thà trả lời là không có. Sau đó, họ yêu cầu ba tôi “cho phép” họ tháo gỡ các cánh cửa sổ gỗ để họ làm công sự chiến đấu. Mùa Đông lạnh buốt mà tháo cửa thì chỉ có nước chết lạnh. Nhanh trí, Ba tôi hướng dẫn họ đến đống gỗ cũ, thu góp được sau đợt xây nhà vừa qua, nằm cách đó không xa. Họ đồng ý. Sau đó, Ba tôi may mắn được họ cho phép trở vô nhà, thay vì bị trưng dụng làm dân công như vẫn thường thấy. Trong suốt mấy giờ qua, trong nhà tôi mọi người đều đã thức giấc, hồi hộp, chờ đợi diễn tiến, trong khi tiếng bom đạn ngày một dồn dập.

Khoảng hơn sáu giờ sáng, tiếng nói là sáng, nhưng trời còn tối thui vì mùa Đông, mà lại không có điện, lại có tiếng đập cửa trở lại. Cửa lại được mở, và lần này, nhóm người thận trọng bước vào, súng vẫn chỉa phía trước, và cũng vẫn câu hỏi trước, bằng một giọng Bắc khá nặng: “Trong nhà có Mỹ Ngụy không?”. Khác lần trước, lần này họ yêu cầu được khám xét nhà. Mạ tôi, thay Ba tôi, đốt cây đèn cầy, dẫn toán bộ đội vào nhà, đi từng phòng một, mở tung các tủ theo yêu cầu của họ. Họ chỉ nhìn vào nhưng tuyệt đối không lục lạo. Từ bên trên, chúng tôi nín thở, lắng nghe những diễn tiến ở bên dưới. Thời gian trôi qua, nặng nề, căng thẳng, cho tới khi khám xét xong, họ tuyên bố: “Chúng con về chỉ để giải phóng thành phố, nhà ở, đường đi, không sao cả, ba mẹ yên tâm” Ba mạ tôi biết nói gì hơn là hết lời khen ngợi tư cách của “Bộ Đội Cụ Hồ”! Sau đó họ rút xuống khu nhà dưới, lúc đó đã được mở toang cửa. Nói chung lần tiếp xúc đầu tiên với “Việt Cộng” có thể nói là khá ấn tượng! Cũng dễ hiểu, hình ảnh, cung cách của nhóm người này thật khác xa với cái hình ảnh, “răng đen mã tấu” mình vẫn cưu mang lâu nay. Cái đáng nói nhất là trước đây, khi nghe nói đến Việt Cộng, ai cũng sợ hãi, vì đó là một bóng ma, một đe dọa, một kẽ thù không hình tướng, luôn gắn liền với giết chóc, ám sát, khủng bố… để rồi hôm nay, cái bóng ma ấy bỗng xuất hiện, nhưng lần này, với một hình hài chẳng khác gì mình, cũng da vàng, mũi tẹt, cũng cùng một ngôn ngữ, cách xưng gọi… Không có gì là ma quỷ, không có gì là ghê gớm, đe dọa, sắt máu như mình đã nghĩ.

Trời tờ mờ sáng, tiếng súng lớn nhõ vẫn còn vang vọng, nhưng không gần kề như trước, có lẽ Đồn Quân Cụ bên kia sông chắc đã thất thủ. Thật ra, theo tôi, sự cầm cự, nếu có, chắc cũng chẳng có gì ác liệt: Quân nhân phần lớn đang vui hưởng Tết cùng gia đình, đồn bót gần như bỏ ngõ trong mấy ngày Tết. Sau nhiều giờ lẩn tránh trên trần nhà, trong tư thế không được thoải mái, tôi và anh tôi, mặt mày khá bơ phờ vì mất ngủ và lo lắng, tìm cách nhìn lén qua khe hở lổ thông hơi, xem động tĩnh bên dưới sân, quanh nhà. Dõi mắt nhìn phía bên kia bức tường ngăn, khoảng sân sau dãy nhà cho thuê, hướng cửa sổ phòng Ba tôi nhìn ra. Tôi thấy một nhóm ba, bốn tên bộ đội, đầu đội mũ “tai bèo”, chân mang dép râu, vai mang AK47, B40, mặt mày non nớt, xanh xao, đang đứng cười nói với nhau, trong khi một tên trong bọn, đang vạch quần ra tè vào bụi cây gần đó…. ̉a, thì ra Việt Cọng cũng biết cười, biết nói, biết tè nữa sao? Nổi sợ hãi trong tôi bỗng biến mất!
Cầu Phú Cam bị giật sập dịp Mậu Thân. Hình chụp từ Đồn Quân Cụ. Góc trái hình “Tiệm Rượu” S.I.C.A loang lổ vết đạn, nằm đối diện nhà người viết.

Cầu Phú Cam bị giật sập dịp Mậu Thân. Hình chụp từ Đồn Quân Cụ. Góc trái hình “Tiệm Rượu” S.I.C.A loang lổ vết đạn, nằm đối diện nhà người viết.


Tiếng máy bay “Bà Già” L19 quần lượn trên trời, đang phát thanh nhiều lần lệnh thiết quân luật trong toàn thành phố. Tim tôi chợt nhói: Thế là đi đong cái hẹn trưa nay với cô bạn gái của tôi! Nơi nàng ở có sao không? Nàng có biết lệnh thiết quân luật đã được ban hành không? Hay sẽ đến chỗ hẹn và sẽ khắc khoải chờ đợi tôi? Thế mà tôi cứ nghĩ, đây chắc chỉ là một cuộc tấn công chớp nhoáng, chừng vài ba tiếng, rồi họ sẽ rút đi? Điệu này, không chừng sẽ kéo dài vài ba ngày, hoặc cả tuần cũng nên? Tôi than thầm: “Tết nhất gi xui xẻo!” Điều đáng nói, khi than “xui xẻo”, thật tình, trong đầu, tôi chỉ nghĩ đến “cái hẹn” bị trục trặc giờ chót! Gần như tôi không quan tâm nhiều đến tình hình nghiêm trọng, nguy hiểm gần kề, quên hẳn số phận bèo bọt của mình và gia đình, đang đứng giữa lằn tên mũi đạn, sống chết…chưa biết ra sao! Nghĩ lại, thấy mình ngu ngốc chẳng giống con giáp nào.

Sáu giờ rưỡi sáng, tiếng súng lại dồn dập trở lại, xen lẩn giữa tiếng đạn giòn giã của súng nhỏ, tiếng đại bác từ xa câu về, nghe mỗi lúc mỗi gần kề hơn. Lo lắng cho hai thằng con vẫn còn vất vưởng trên trần nhà, Ba Mạ tôi, chị dâu tôi, quay quắt như gà mắc đẻ, và vì không còn lựa chọn nào khác, cuối cùng Mạ tôi đành kiếm tên chỉ huy của nhóm bộ đội để thú tội: “ Tôi xin thú với mấy anh là tôi có hai thằng con, một thằng thầy giáo, một thằng sinh viên. Bọn nó lâu nay nghe tuyên truyền mấy anh dữ tợn lắm, nên hoảng sợ trốn trên trần nhà. Nay chính mắt chúng tôi nhìn thấy các anh xử sự nhân đạo, đàng hoàng, tử tế nên xin mấy anh thương tình bỏ qua và cho mấy thằng con tôi được ra trình diện!” Thấy hai người đàn bà, một già, một trẻ với cái bụng đi trước, đang mếu máo, thiếu điều quỳ mọp, van xin, tên chỉ huy, chắc mát dạ vì câu nói của Mạ tôi, mau mắn lập lại câu nói trước đây: “ Ba Mẹ và chị cứ yên tâm kêu mấy cậu xuống. Chúng con về đây là để giải phóng thành phố, nhà ở, đường đi. Không sao đâu!” Lần này Ba tôi mang cái thang gỗ để sát vách, vì đã theo dõi và nghe rõ câu chuyện, chúng tôi lẹ làng leo xuống. Lòng tôi lúc ấy thật  bình tĩnh, không chút sợ hãi. Tên chỉ huy nhìn chằm chặp vào chúng tôi, yêu cầu chúng tôi cho xem giấy tờ tùy thân. Anh tôi trình giấy Giáo Sư, riêng tôi, ngoài giấy chứng nhận Sinh Viên, còn kèm thêm giấy hoãn dịch vì lý do học vấn. Đọc xong giấy tờ, tên chỉ huy có vẻ thoải mái hơn và lại lập lại câu nói: “ Các cậu yên tâm, chúng tôi về chỉ để giải phóng thành phố, truy lùng bọn ác ôn có nợ máu với nhân dân, riêng người dân vô tội, quyết không hại một ai. Tuy nhiên, hiện tại, hai cậu nên ở trong nhà, không được đi đâu, đến chiều này, hai cậu chuẩn bị ít gạo và quần áo, lên Chùa Từ Đàm “học tập”. Có lẽ tôi là một trong những “công dân miền Nam” đầu tiên được hân hạnh nghe hai tiếng “học tập”, một từ hiền lành, quen thuộc, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, nghe ra thấy ngờ ngợ khó hiểu. Thật vậy, không những bây giờ, mà nhất là bảy năm sau, khi miền Nam hoàn toàn rơi vào tay CS, người dân miền Nam, hiền hòa dễ tin đã phải trả một giá thật đắt, có khi bằng cả sinh mạng, cho sự hiểu lầm quái ác từ ngữ này! Mặc dù trong bụng không hiểu rõ ý nghĩa, chúng tôi đều vui vẻ gật đầu đồng ý.

Trời bắt đầu sáng tỏ, quang cảnh bên ngoài khá nhộn nhịp với các toán quân qua lại, vũ khí trang bị nặng nhẹ đủ loại, từ sân trước ra tới vườn sau. Khu vườn sau nhà tôi khá rộng, tiếp giáp với khu đất của “Cậu Cẩn” (Ngô Đình Cẩn), chỉ cách một bờ rào dây kẽm gai thấp ngang bụng. Khu nhà tôi ở, mặt hướng ra đường Nguyễn Trường Tộ, riêng dãy nhà cho thuê, cùng phần hông vườn sau nhà tôi lại hướng ra phía đường Phan Châu Trinh, sát dọc bờ sông; hai khu tiếp giáp vuông vức ngay đầu cầu Phú Cam. Riêng khu nhà Cậu Cẩn lại không được nguyên vẹn, mà là hình chữ L ngược, một đầu hướng ra đường Phan Châu Trinh, đầu kia, nơi có cổng chính ra vào, lại hướng ra đường Nguyễn Trường Tộ, chỉ cách khuôn viên Nhà Thờ Phú Cam không quá vài trăm mét.
Bức hình hiếm hoi còn lại, ghi dấu một góc mặt tiền căn nhà thân yêu, khoảng năm 1961, thời gian yên bình.
Vườn nhà tôi cũng khá um tùm, với đủ loại cây: dừa, mít, cau, ổi, chuối, cam, chanh… Phía bên vườn ông Cậu, dọc hàng rào kẽm gai, là những bụi tre, ngoài ra cũng chẳng thấy trồng trọt gì. Mỗi lần thấy măng vừa kịp nhú lên là bọn tôi đã mau mắn “vượt biên”, thu hoạch. Không những bây giờ, khi ông Cậu không còn, mà ngay cả trong thời kỳ vàng son của dòng họ Ngô cũng thế. Măng tươi mà kho với tôm và thịt heo ba chỉ, tuy món bình dân nhưng ngon đáo để.

Phải nói những toán quân chính quy BV rất kỷ luật, không cướp bóc, hỗn độn, kiêu binh. Họ ăn mặc giản dị, áo quần màu vàng cháy hoặc xanh lính, rộng thùng thình, cắt sửa qua loa, không gọn ghẽ, gồ ghề, thẳng nếp… theo cung cách lính tráng phe ta. Đầu đội nón “tai bèo” hoặc để trần, cổ quấn khăn rằn, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe. Phần lớn nét mặt còn rất trẻ, điểm chút quê mùa, mộc mạc, tóc hớt “một mái”. Điều đặc biệt là không thấy họ mang dấu hiệu binh chủng, cấp bậc, tên tuổi… Trong sân trước, bên cạnh những nhánh cây gãy đổ do súng đạn, tôi thấy một vài hố cá nhân được đào dọc theo bức vách, ngụy trang. Nhìn phía bên kia cầu, phía dãy Nhà Đức Cha, một vài bộ đội, trong đó có vài nữ du kích, với mái tóc kẹp dài, đang hì hục chất lên xe một số đồ, mà tôi đoán có lẽ là súng đạn, chuyển ra từ đồn Quân Cụ, qua ngã một khoảng trống hàng rào phòng thủ bị san bằng.

Khoảng gần trưa, để tránh hư hại do bom đạn đang mỗi lúc mỗi nổ dồn, tôi phụ ông anh tháo gỡ cái TV mà anh tôi đã mua tặng gia đình không  bao lâu trước Tết. TV được cẩn thận bỏ lại vào thùng giấy và chất lên đầu tủ áo quần, trong phòng anh tôi. Thời điểm 68, TV có thể nói là một mặt hàng “quý hiếm”, một xa xí phẩm. Tôi còn nhớ, cái TV 19" hiệu Denon, loại thùng gỗ với bốn chân, hai cửa, gồm bốn miếng có thể xếp đóng lại. Toàn bộ được đánh bóng một lớp vernis màu nâu sậm tuyệt đẹp, bóng lộn. Chương trình phát hình hằng ngày thời đó không phải do đài truyền hình VN mà là của chính phủ Hoa Kỳ dành cho quân đội của họ, phe ta chỉ “nhảy lén” vào xem cọp, mỗi ngày từ 5 giờ chiều đến 9, 10 giờ tối. Các bộ phim nổi tiếng được ưa thích thời đó như: Bonanza, Mission impossible, Wild Wild West… với hình ảnh đen trắng và hiển nhiên không sắc sảo, rõ nét, như Smart TV thời bây giờ, tuy nhiên điều đó không nhất thiết làm sự theo dõi kém đi thú vị. Ngoài cái TV, một mặt hàng xa xí phẩm khác thời đó là cái tủ lạnh. Cũng không bao lâu trước đó, Ba tôi, lúc đó đang làm Tổng Thư Ký của Đại Học Y Khoa Huế, cũng đã mua lại được một cái tủ lạnh còn rất mới, của Ô. Bà Krainick, một Giáo Sư người Đức, đang giảng dạy tại ĐH. Y Khoa Huế và cũng là một người bạn khá thân của Ba tôi và gia đình. Ông Bà, cũng như một số đồng nghiệp khác của họ như: Dr Altekoster, Dr Discher, Dr. Gunther cùng giảng dạy tại ĐH. Y Khoa Huế đều bị Cộng quân bắt giữ và thảm sát trong biến cố Tết Mậu Thân năm đó. Tôi còn nhớ, có lần Ba tôi kể lại: SV. Y Khoa Hoàng Phủ Ngọc Phan, bị đuổi khỏi phòng thi vì đã xử dụng tài liệu sao đó nhưng vụ việc về sau được BS. Lê Khắc Quyến, Khoa Trưởng ĐHYK Huế, bỏ qua, với lập luận: “Thôi tha cho nó, xử dụng tài liệu như rứa thì cũng như… đã học rồi”. Tôi tự hỏi hiển nhiên là với tất cả sự dè dặt, không biết “ông tướng” này, khi từ bưng trở về, dịp Mậu Thân, có dính dáng gì đến vụ tàn sát dã man các giáo sư ân nhân người Đức kể trên, do thù oán cá nhân không?

Đường sá ngoài kia vẫn tiêu điều, hai cây nhãn và mấy cây dừa xiêm, dừa lửa, nằm dọc bờ rào, tơi tả, bầm dập, sau một đêm tiếng đạn thay tiếng pháo, mở đầu năm mới con Khỉ. Dưới bầu trời xám lạnh, điểm chút mưa phùn, thỉnh thoảng, một vài nhóm người, già có, trẻ có, chừng vài chục người, quần áo xốc xếch, mặt mày phờ phạc, tay ôm, vai vác… thường dẫn đầu bởi một người cầm cờ trắng, hối hả nối đuôi nhau, như bị ma rượt, hướng về phía nhà thờ Phủ Cam. Trong một nhóm, tôi nhận ra Duyên, một người đẹp khu Nhà Thờ Nhà Nước, đang thất thểu bước cạnh bà chị. Cho đến giờ này, tôi vẫn mãi thắc mắc: Tại sao nhà tôi, một gia đình Công Giáo mộ đạo, nhà thì chỉ ở cách nhà thờ Phú Cam vỏn vẹn một con dốc, không quá vài trăm thước, trong một biến động tầm cỡ này, mà không một ai trong nhà nghĩ đến, hoặc đề nghị, chạy lên Nhà Thờ ẩn trú, như mọi giáo dân, mọi nơi, mọi lúc, vẫn thường làm, mỗi khi có biến động, với suy nghĩ “Nhà Chúa” là nơi bất khả xâm phạm? Quả thật hy hữu, nếu không nói là một phép lạ nhiệm mầu, đã cứu sống gia đình chúng tôi. Sau ngày thành phố Huế được giải phóng, thành phần nạn nhân bị Cộng Quân bắt theo, giết chết, trên đường rút quân, và xác được tìm thấy trong các nấm mộ tập thể chôn lấp vội vàng… số lớn là giáo dân, gồm thanh niên ở lứa tuổi sinh viên, học sinh, các quân nhân, công chức… đã bị VC bắt giữ khi chúng đột nhập vào khuôn viên các nhà thờ Phú Cam, Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế... hoặc những người đem mạng trình diện “học tập” ở chùa Từ Đàm! Cộng Sản, đội quân “bách chiến, bách thắng” là ở chỗ đó. Các nơi thờ tự như nhà thờ, chùa chiền, không đủ linh thiêng và trang nghiêm để chở che sinh mạng người dân vô tội, những lúc cùng đường kẹt lối.

Mấy tuần trước Tết, họ đạo Phú Cam, trước tình hình chiến sự sôi động, cũng đã vội vã tổ chức các nhóm tự vệ võ trang, trong đó, ngoài những giáo dân ngoan đạo, hăng say chống Cộng, có lẫn lộn một số thuộc thành phần du đãng, khá nổi tiếng trong họ đạo, như nhóm Phú Rỗ, Trọng Hê… Các ụ cát được dựng lên ở cổng xe lửa, ngay sát cổng trước tư dinh Cậu Cẩn ngày trước, dốc đường dẫn đến nhà thờ, cũng như các ngõ ra vào họ đạo. Đêm đêm các nhóm tự vệ, trang bị súng Carbin, lựu đạn… tụ tập lại, canh gác cũng có, nhóm bạn đùa giỡn, chọc phá cũng có. Cái đáng nói là thành phần nạn nhân trong họ đạo bị thảm sát dịp Tết Mậu Thân, lại toàn là những thanh niên con nhà hiền lành, trong đó có một số bạn bè, quen biết của tôi, một số ngày trước học cùng trường như: Kha, hiền lành như con gái, bị bắt và sát hại cùng Bố là cựu DB Bùi Tuân; Quang, con Ô. Tống Viết Văn, có thời làm Giám Đốc Nha Du Lịch Huế; Duyệt, Ánh, và còn nhiều nhiều nữa… Riêng đám “phá làng phá xóm” thì chẳng thấy thiệt mất mạng nào!

Trời vẫn u ám, không chút mặt trời, mưa vẫn rả rích. Thỉnh thoảng một vài chiếc xe Jeep của phe “Ta” chạy vút qua, nhưng lại do bộ đội của “chúng” lái, với lá cờ nửa đỏ, nửa xanh da trời, với ngôi sao máu mà mãi về sau, tôi mới biết đó là cờ “MTGP”. Nản thật, điệu này, chắc thành phố Huế mình đi đong rồi, tôi thầm nghĩ, biết đến bao giờ mới bình thường trở lại? Lợi dụng những lúc rảnh rỗi, tôi xử dụng một tập giấy nhỏ, cỡ bằng một phần tư trang giấy, làm thành một tập “nhật ký dã chiến”, không những viết cho tôi mà chủ yếu là viết cho cô bạn gái, với ý nghĩ, đó sẽ là món quà thật đặc biệt mà tôi sẽ trao lại cho cô ta, khi tình hình yên ổn trở lại. Với nét chữ cố hữu, vừa nhỏ như con kiến, vừa xiên xẹo, tôi ghi chép lại những suy nghĩ linh tinh, những sự kiện trong ngày, và hiển nhiên cả những nỗi nhớ nhung, thiếu vắng. Thời gian còn lại, tôi thường lên xuống khu nhà bếp, tò mò theo dõi sinh hoạt của số binh lính đang dừng chân nghỉ ngơi ở đó. Vào khoảnh khắc đó, phải nói, tôi chưa biết gì về các vụ giết chóc, tắm máu đang xảy ra trong một số khu vực thành phố, vì vậy tôi không cảm thấy sợ hãi, trái lại, tôi muốn lợi dụng cơ hội để quan sát, “gần gũi” những người mà trước đây vẫn được gọi là Việt Cọng, là kẻ thù không đội trời chung, những người, mà chỉ cần nghe tên, là ai cũng muốn co giò trốn chạy.
Tôi bắt chuyện với viên chỉ huy, người mà tôi đã có dịp “trình diện” trước đó. Y khoảng 24, 25 tuổi, đang đứng riêng một chỗ. Y ít nói, trầm ngâm, mặt mày tương đối sáng sủa, có học. Vẻ trầm ngâm đó, giờ đây, tôi đoán, có thể do sự xúc động, bàng hoàng trong lần tiếp cận đầu tiên với xã hội miền Nam, một sự tiếp cận dù còn quá mới mẻ, hạn chế, nhưng rõ ràng đã cho y thấy một miền Nam hoàn toàn khác xa với cái miền Nam mà y và dân chúng miền Bắc đã được biết, qua tuyên truyền, láo khoét, bưng bít, ròng rã suốt bao năm qua, về một miền Nam đói khổ, bị Mỹ Ngụy kềm kẹp, bóc lột thê thảm, một miền Nam đói cơm, rách áo… Trong giờ phút đó, dù ngu ngốc đến đâu, tôi nghĩ, những người “chiến binh miền Bắc” cũng đã hiểu được họ đã bị lừa. Một suy nghĩ chợt làm tôi lạnh người. Dù không có chứng cứ, dù không thuộc thành phần chống Cộng cực đoan, giờ này, tôi tin chắc một điều: Chính quyền miền Bắc, sau khi “xô đẩy” con em nhân dân vào mặt trận phía Nam, dứt khoát không bao giờ mong muốn đón nhận những người đó trở lại miền Bắc, đặc biệt là những bộ đội đã trực tiếp chiến đấu trong các thành thị lớn miền Nam, chẳng hạn vào dịp tổng công kích Tết Mậu Thân. Lý do dễ hiểu là họ không muốn bị lật mặt nạ là đã lừa đảo nhân dân miền Bắc quá lâu, về hiện trạng "miền Nam đói khổ, bị kềm kẹp, bóc lột...". Phải chăng vì vậy mà “bộ đội Cụ Hồ”, trước khi xâm nhập, đều được chỉ thị xâm vào tay hàng chữ “Sinh Bắc, Tử Nam”? Thoạt nghe, như một lời nguyện hào hùng, nhưng nghĩ kỹ lại, đó là một lời… nguyền rủa, một bản án vô nhân dành cho đoàn quân Nam Tiến: ”Hãy đi vào Nam chiến đấu, xong rồi… CHẾT ĐI, đừng  bao giờ trở lại!”. Bằng chứng khả tín cho những điều tôi vừa nói: Ngay sau ngày miền Nam thất thủ, không thiếu những gia đình có thân nhân ngoài Bắc vào thăm, đều kể cùng một nội dung: “Họ trịnh trọng mang vào vài ba ký gạo, nửa ký đường vàng, vài cái tô đất…” nói là để tiếp tế cho gia đình bà con trong Nam”. Điều này chứng tỏ, đến giờ phút chót của cuộc chiến Nam Bắc tương tàn, người dân miền Bắc chưa bao giờ biết được sự thật về miền Nam, vì đã không tiếp xúc được với bất cứ một cán binh nào đã có thời gian chiến đấu trong Nam, hoặc những tù binh CS được trao trả trước đây. Số phận những người nắm giữ “sự thật về miền Nam” này ra sao? Bị thủ tiêu hàng loạt? Bị cô lập vĩnh viễn trong một trại tập trung nào đó? Tôi thật tình không biết, điều tôi biết chắc, nếu những người này đã cơ may sống sót và được trở lại với gia đình ở miền Bắc, chắc chắn những gì họ đã biết về xã hội miền Nam, dù ít ỏi, cũng đã bị rò rỉ ra ngoài. Điều này đã không xảy ra. Tôi e rằng, chẳng có một ai đã may mắn sống sót để trở về và kể lại.

Viên chỉ huy lơ đãng nghe đài Hà Nội qua cái radio nhỏ y để trên bàn. Bỗng xuất hiện một tên du kích, tên du kích đầu tiên tôi nhìn thấy tự sáng sớm. Y mặc bộ đồ màu xanh lục tươi, không giống đồng phục của bộ đội. Nhìn tên này quả tình tôi thấy ơn ớn. Người khá to con, tóc hớt một mái, cặp mắt đỏ lừ, trông dữ tợn, tay lăm le một khẩu súng Colt 45. Đang bước, bỗng nhận ra tiếng radio, y dừng phắt lại, quay cổ nhìn hướng chúng tôi, từ từ bước lại, mở miệng hỏi cộc lốc: ”Đài ta?”. Viên chỉ huy chẳng thèm trả lời, chỉ gật đầu nhẹ. Sau khi ném cái nhìn về phía tôi, tên du kích quay người, vội vã tiến về phía trước. Qua diễn tiến vừa qua, tôi nhận ra hình như có chút gì mâu thuẫn, kỳ thị, phân biệt giữa Bộ đội BV với đám du kích miền Nam. Chẳng bao lâu sau, Mạ tôi kêu tôi lên nhà trên và la tôi “Răng mà không dấu mặt đi mà còn lẩn quẩn, chuyện trò với bọn nó nữa, ngu dữ rứa?” Đúng là bản năng bảo vệ tuyệt vời của Gà mẹ.

Chiều hôm đó, thật may mắn, toán quân buổi sáng được thay thế bằng một toán quân chính quy khác. Chắc nhờ vậy mà chẳng ai nhớ ra sự hiện diện của hai anh em tôi để nhắc nhở vụ lên Chùa Từ Đàm “học tập”. Hiển nhiên bọn tôi cũng đủ thông minh để phớt lờ luôn.
Một bất ngờ, Bà Cô Tuyết, cô ruột của Ba tôi, tuổi cũng đã trên 80, sống đơn độc trong căn nhà dọc bờ sông, cách nhà tôi không bao xa, không biết bằng cách nào, đã lúc thúc đến được nhà tôi “xin” tỵ nạn, nâng tổng số người trong nhà lên chín mạng, đúng ra phải nói là chín người rưỡi mới chính xác, lý do là chị dâu tôi lúc đó đang mang bầu đứa con thứ hai, cháu Thanh Phong.

Càng về tối, tiếng súng càng dồn dập, phần lớn là đạn đại bác mà tôi đoán chừng là của pháo binh Mỹ, từ xa rót về, có lẽ sau khi máy bay quan sát, phát hiện sự tập trung của Cộng Quân. Tiếng đạn, gầm thét nghe kinh hoàng như tiếng một đầu tàu xe lửa, hùng hục nhắm ngay đầu mình phóng tới, theo sau là tiếng nổ xé tai, bung ngực. Bóng đêm trở lại mang theo nỗi sợ hãi không tên. Dưới ánh đèn leo lét của ngọn đèn cầy, cả nhà sinh hoạt tựa những bóng ma. Trong bữa ăn tối, mọi người im lặng, cố nuốt những thức ăn mà bình thường ai cũng ham thích. Với vẻ lo lắng, Ba tôi dặn dò: trường hợp nguy hiểm, cần phải tháo chạy, điểm tập hợp được chọn sẽ là khu nhà bỏ hoang của Cậu Cẩn, nằm ngay phía bên kia khu vườn nhà tôi. Tối hôm đó, tùy theo mức độ của đạn pháo, chúng tôi phải di chuyển, khi thì phòng ngủ, khi thì phòng ăn, khi thì bò vô hầm, vì dù hầm an toàn thật, nhưng không thể cùng lúc chứa hết số người trong nhà, nhất là trong tư thế nằm, dù co quắp. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi rùng mình nghe tiếng nửa la nửa khóc, từ bên phía nhà hàng xóm: “Mạ ơi, Mạ ơi! Mở cửa cho con!”. Tôi nhận ra giọng của thằng Bé, nhỏ hơn tôi vài tuổi, con người hàng xóm, mới dọn vô ở không bao lâu. Về sau nghe nó kể lại, nó cũng được bộ đội “mời” lên Chùa Từ Đàm học tập. Nó “nghiêm chỉnh chấp hành”, nhưng khi lên đến Chùa, không tìm thấy ai, hình như tất cả đã di chuyển đi nơi khác, nên nó lại lò mò trở về lại nhà. Phước đức nhà nó vậy mà còn lớn! Trong đêm, ngoài tiếng súng nổ, xen lẫn tiếng kêu như tiếng cú rúc của các hỏa châu, do máy bay thả, hoặc qua đạn pháo binh, mang đến chút ánh sáng vàng vọt giữa bóng đêm đen sánh, lạnh ướt và đầy chết chóc.
Dù chậm chạp, mệt mỏi, màn đêm rồi cũng qua đi, thay vào đó chút ánh sáng xám xịt của một ngày mưa lạnh, không phải của bất cứ một ngày mưa lạnh nào, mà đúng ra là ngày mồng ba của một mùa Xuân tráo trở. Còn đâu hình ảnh của một “Huế thơ, Huế mộng”, thay vào đó là một vết thương chưa thành thẹo, mà mãi gần nửa thế kỷ sau, vẫn còn rướm máu, trong ký ức của mỗi người con xứ Huế.

Sáng mồng Ba Tết, mưa vẫn còn đó, nhỏ hột, nhưng rả rích, liên tục. Khoảng 9 giờ, đạn pháo mỗi lúc mỗi dồn dập, mỗi lúc mỗi tiến lại gần hơn. Không ai bảo ai, cả nhà tự giác chun vội vào hầm cát, khẩn trương, ngột ngạt. Tiếng Mạ tôi lắp bắp “lần chuỗi” càng làm không khí thêm nặng nề. Phần tôi, tôi ngồi thúc thủ cạnh cửa hầm cát, tay ôm siết một cái gối, đầu lạnh lùng, trống rỗng một cách kỳ lạ. Càng về sau, tôi càng quen thuộc hơn với cái phản ứng mà tôi xem là khá kỳ lạ của tôi: cứ mỗi khi phải đối diện với hiểm nguy, tôi cảm thấy mình như bị tách làm hai: một nửa, đang sống, đang hiện diện tại đây, lúc này; nửa kia, đứng bên ngoài, dửng dưng, vô can nhìn vào như đang chứng kiến một ai đó, không phải mình. Ba tôi, một lần nữa, như đã cảm nhận được tai ương đã kề cạnh, luôn miệng nhắc nhở điểm tập trung bên khu nhà Cậu Cẩn.

Và điều mà mọi người lo sợ đã đến, nhanh chóng, nhẹ nhàng. Một lằn chớp như sét xé toạc bóng tối ngột ngạt, ánh sáng chói chang chụp xuống, sau đó là một tiếng nổ xé ngực, xé gan. Bầu trời xám ngắt bỗng nhiên xuất hiện trước mắt mọi người như một phép lạ. Nửa căn nhà trên hoàn toàn biến mất, như dưới chiếc đũa thần của tên phù thủy gian ác. Trong cơn hỗn loạn, con người tự động biến thành những... con vật, trang bị với những phản ứng tự vệ để sống còn. Tất cả năng lực tích tụ cả đời người, chỉ thật sự được mang ra xử dụng trong phút giây sinh tử như lúc này. Bà Cô tôi, bình thường, lưng còng, đi lúc thúc như chỉ chờ vấp ngã, giờ chạy như một lực sĩ việt dã. Một tên trai trẻ, đang sức lớn, khoẻ mạnh như tôi, nếu có mọc cánh, chắc cũng là chuyện bình thường! Điều đáng nói và có lẽ đáng xấu hổ, là trong giờ phút “thập tử nhất sinh” đó, tôi không nhớ mình đã nghĩ đến cha, đến mẹ, đến anh chị, cháu chắt... có thể đã cần sự giúp đỡ của tôi? Sự thật là trong khoảnh khắc đó, bản năng đã lấn lướt ý thức, và tôi cũng chỉ là một con thú trong…những con thú khác, bị săn đuổi và đang vô vọng tìm đường sống. Ưu tiên nào cho chọn lựa phải trái, đúng sai? Đây là một nhận xét và còn là một lời thú tội muộn màng, đến sau gần nửa thế kỷ. Trước đây, tôi hoàn toàn không bao giờ nghĩ đến.

Hình như tôi là người đầu tiên có mặt tại “điểm hẹn”, tay vẫn ôm ghì chiếc gối. Đàng sau tôi là anh chị tôi và đứa con gái 2 tuổi. Đạn pháo vẫn tiếp tục đào xới và có vẻ như đang hả hê truy đuổi theo bầy người khốn khổ. Trong cơn hốt hoảng, giữa những tiếng nổ long trời lở đất, sỏi cát bắn tung toé hòa lẫn với miểng đạn. Tôi phóng đại vào một bể chứa nước vuông vức, làm bằng xi măng, cúi mọp người, đầu gần chạm đáy. Cũng may, bể chắc đã cạn nước từ lâu, chỉ tích tụ chút nước mưa những ngày đầu Tết. Tôi nằm đó một hồi, cố lấy lại thần hồn; sau đó, tôi la to, cố cho mọi người biết địa điểm tôi đang núp. Tôi nghe tiếng đáp trả của anh tôi, hình như cũng đang nằm trong một bể nước khác, cách xa chỗ tôi chừng mươi thước. Tiếng đạn vừa tạm êm, tôi nhanh chóng chọn một nơi ẩn khác, nằm giữa hai bức vách, một bằng xi măng, một bằng gỗ, với khoảng cách vừa đủ để tôi chui vào. Con bé Hạnh, người giúp việc mới chừng 12 tuổi, cũng đã chui tọt vào chỗ tôi đang núp. Một tay ôm gối, một tay móc tập “nhật ký”, tôi nguệch ngoạc viết vội vài hàng, một lời… trăn trối thì chính xác hơn: “Nếu có điều gì xảy ra cho tôi, xin ai đó giao lại tập nhật ký này cho người bạn gái xui xẻo của tôi”. Dĩ nhiên tôi ghi thêm tên và địa chỉ nhà nàng bên dưới. Thấy bé Hạnh đứng hơi lố ra bên ngoài, hình như đang cố nhìn xem chiếc xe Jeep của Ông Quận Trưởng hàng xóm đang bốc cháy dữ dội, tôi tính kêu nó bước lui sâu vào bên trong, nhưng không còn kịp. Một tiếng nổ chụp xuống, qua đất cát mịt mù, tôi nhìn thấy con bé ngã quỵ xuống. Tai lùng bùng, mắt đổ sao, tôi hốt hoảng nhoi người kéo nó sát vào trong. Qua chút ánh sáng lờ mờ giữa hai bức vách, tôi nhìn thấy vết máu đỏ đang chảy thấm qua lớp quần, từ bắp chân trên của con bé. Tuy nhỏ nhưng khá can trường, dù bị trúng mảnh đạn, nó chỉ khóc khẽ chứ không thành tiếng. Tôi ôm nó trong tay, mắt dáo dác nhìn quanh như đang muốn tìm hướng giải quyết. Nhìn xuống hai bàn chân mình, tôi thấy máu như đã tươm ra, sống bàn chân lốm đốm đỏ ửng, kèm theo cảm giác rát bỏng, như bị ai xát muối, có thể kết quả do cát sỏi bắn ra từ tiếng nổ. Trong hỗn độn, tôi cũng đã nghe được tiếng của ba mạ tôi, cùng với bà cô cũng đang ở đâu đó không xa. Tôi cho mọi người biết về thương tích của bé Hạnh và gợi ý tất cả tập trung về hướng một căn phòng, nằm gần cổng trước nhà ông Cậu, với mái bê tông coi bộ khá kiên cố. Nếu tôi không lầm, thời trước đảo chính 63, căn phòng đó là nơi trú ngụ của toán lính gác tư thất Cậu Cẩn. Không bao lâu sau, cả gia đình tôi đã hiện diện đầy đủ trong căn phòng. Cảm tạ Trời đất, tất cả đều vô sự, ngoại trừ con bé Hạnh, với vết thương, mà qua nhận định tại chỗ, có vẽ “lành”, chắc không ảnh hưởng gì tới động mạch hoặc xương. Trong hoàn cảnh hiện tại, thuốc men không có, cách giải quyết tạm bợ là đắp thuốc lá để cầm máu, và dùng mảnh vải để tạm băng bó. Nhìn xéo xuống chiếc gối mà tôi đã vô tình ôm theo, lúc nhà bị bắn sập, tôi ngạc nhiên nhìn thấy một lổ thủng bằng cỡ đầu ngón tay út, ở góc trên chiếc gối. Nhìn kỷ, tôi nhận ra lổ thủng xuyên suốt từ trước ra sau, hơi cháy sém, hình như do mảnh đạn, tôi ôm vội gối vào lòng, trong cùng tư thế sáng nay, lúc bé Hạnh bị trúng miểng đạn pháo. Theo hướng lổ thủng trên gối kéo dài, tôi lạnh mình nhìn thấy một lổ thủng khác, trên ống tay trái, chiếc áo veste màu xanh tôi đang mặc. Thì ra tôi suýt lãnh đạn mà không biết, có thể cùng một mảnh đạn đã xuyên qua chân con bé Hạnh và chui thẳng vào chiếc gối thần diệu của tôi? Một vài phân thấp hơn, cánh tay tôi đã không còn nguyên vẹn, một gang tay nhích về hướng phải, tôi đã vĩnh viễn mất khả năng yêu thương, hờn giận!

Khi tiếng pháo đã ngưng hẳn, tôi và anh tôi lò mò trở lại nhà để kiểm điểm thiệt hại, xem cái gì còn? Cái gì mất? Ngoài ra, cũng để tìm kiếm thêm một vài thứ cần thiết như chăn mền, quần áo ấm, thuốc men…và nhất là để “thu vén” một ít thức ăn Tết còn sót lại, cũng như, vài thứ căn bản khác như gạo, nước uống, đèn cầy… để di chuyển sang nơi trú ẩn mới. Thật xót xa khi nhìn thấy căn nhà thân yêu giờ chỉ còn lại một nửa, mà lại một nửa chẳng nguyên vẹn chút nào, mái ngói và vách lỗ chỗ vết đạn. Phòng ăn và khu nhà bếp, ngược lại, vẫn còn hiên ngang đứng vững. Phòng ngủ của Ba tôi đã biến mất, trong đó có cái Radio Philip thật bự, với ánh đèn xanh như mắt mèo. Tuy là một đồ vật, vô tri vô giác, nhưng với tôi, nó mang vô vàn kỷ niệm. Hằng đêm, ba tôi luôn chăm chú theo dõi tin tức của đài BBC vào lúc bảy giờ rưỡi mỗi tối, tuyệt đối không quên sót. Những tối mùa Hè, trời nóng nực, tôi và anh tôi hay bày vẽ, khiêng bàn ăn ra khoảng sân gạch ngoài trời, dưới tàng cây trứng cá, cạnh cửa sổ phòng ba tôi để ông có thể theo dõi đài; có thế thì bọn tôi sẽ không bị rầy. Hiển nhiên trong bữa ăn, con cái phải giữ im lặng, để ông cụ nghe tin tức thời sự, bình luận… Mọi sinh hoạt gia đình trong bàn ăn chỉ trở lại, sau khi bản tin chấm dứt. Nghĩ lại, rõ ràng, về già, tôi cũng học cái tính “độc tài” đó của Ba tôi. Ngày nào cũng phải nghe trọn liên tiếp ba, bốn chương trình tin tức Thế giới, không thể nghe cùng lúc, tôi thâu trước xem sau. Ai nói năng ồn ào, hoặc điện thoại mà reo, thì cái mặt tôi nhăn nhó, chắc còn hơn khỉ ăn ớt!  Cũng với cái Radio ấy, tôi và ông anh kế, vẫn thường thổn thức, theo dõi chương trinh kịch nói của ban Dân Nam, với các diễn viên Túy Hồng, Túy Phượng, Anh Lân, Kim Cương… hoặc hào hứng hò hét, khi ngồi nghe những phóng sự trực tiếp truyền thanh các buổi giao đấu túc cầu, do ký giả Huyền Vũ phụ trách. Ngoài ra còn có chương trình nhạc ngoại quốc mỗi thứ năm hàng tuần, luôn được khởi đầu bằng một đoạn nhạc hòa tấu của ban nhạc nổi tiếng The Shadows. Tôi còn tiếc một món đồ khác, cũng bị chôn vùi trong phòng Ba tôi: Một chiếc đồng hồ báo thức, chạy bằng giây thiều, hình chữ nhật, kích thước bằng cỡ cái hộp bánh biscuit nhỏ, thuộc loại đồ khá cổ của Pháp, làm bằng đồng, với các hình khắc chạm khá công phu. Sau này nghe Ba kể lại, cái đồng hồ đó do Ông Cố Nội tôi đặt mua từ bên Pháp. Cái tôi mê nhất ở cái đồng hồ này là điệu nhạc đánh thức, tuy hơi buồn, nhưng giòn giã tựa tiếng đàn tranh. Ba tôi quý cái đồng hồ đó lắm, bọn tôi chỉ lén “mượn” chơi. Những lần duy nhất tôi được phép chính thức mượn nó, là những lúc tôi ngã bệnh, trở trời, nóng da… Trước khi đi làm, Ba tôi âu yếm lấy tay để lên trán, xem tôi nóng lạnh ra sao, sau đó mang đồng hồ đến, để cạnh thằng Út. Tôi liên tục vặn giây thiều, nghe đi, nghe lại mãi cái âm điệu thánh thót đó, đến đổi giờ này, tuổi gần thất thập, âm điệu đó vẫn còn im đậm trong ký ức tôi.

Hình ảnh duy nhất của ngôi nhà xưa, dù không trọn vẹn, còn giữ được (1961)

Ngoài phòng ba tôi, những thiệt hại kế tiếp là “phòng trang điểm” của mạ tôi, trong đó, có bộ bàn ghế trang điểm, với cái kiếng hình Ovale đứng, dáng vẻ rất tây phương, làm bằng gỗ màu vàng mật láng lẩy. Bên cạnh là tủ lớn đựng chén, đĩa, ly, tách… xưa quý và thường chỉ được xử dụng khi có khách “quý”. Trong danh sách thiệt hại còn phải kể đến phòng khách, với bộ bàn ghế bằng gỗ mun đen bóng, khá cổ điển, nơi mỗi ngày mạ tôi tiếp khách chủ, hoặc các bà bạn. Cũng trong phòng đó, còn có  cái bàn thờ, nói là “bàn thờ” nhưng thật ra đó là một “kiến trúc” bằng gỗ khá đồ sộ, trên đó có luôn cả “Nhà Tạm” như ở nhà thờ, tượng ba Đấng với đường nét khá sắc sảo, toàn bộ được cách ly bởi tấm màn voile mỏng. Không xa đó là cái tủ lạnh, niềm “mơ ước” một thời. Vào những ngày nắng nóng, tôi vẫn hay quậy sữa cà phê, đổ khuôn đá, “sản xuất” cà rem kiểu du kích… Tất cả giờ chỉ là phế thải chôn vùi giữa đống gạch vụn. Phía trái căn nhà là một phòng khách thứ hai, với  bộ bàn ăn lớn, một bộ salon màu xanh lục với nệm lò xo kiểu tân thời cọng thêm 2 phòng khác: một của tôi, một của anh tôi. Tất cả tạm thời còn đứng vững mặc dầu mái ngói và vách đã bị mảnh đạn bắn vỡ nhiều mảng lớn. Cái TV mà tôi và anh tôi đã kỹ lưỡng đóng thùng và cất dấu lên đầu tủ cũng đã là “nạn nhân” xui xẻo của trận pháo vừa qua. May mắn cho tôi, chiếc xe Honda của tôi vẫn còn nguyên vẹn. Không dám khinh địch như trước đây, tôi đem xe vào dấu trong hầm cát, lại cẩn thận khóa cổ xe và luôn cả càng chống bằng ổ khóa đồng thật bự. Tôi còn lấy thêm cái mền cũ đắp lên che dấu.

Những ngày sống tạm trong khuôn viên nhà “ông Cậu” khá yên ổn, hiển nhiên cuộc chiến vẫn còn đó, súng vẫn nổ, khi thưa thớt, khi dồn dập, chụp xuống đầu chúng tôi. Căn phòng tuy hẹp nhưng mái lại đúc bằng bê tông, nên vẫn cho chúng tôi được sự bảo vệ cần thiết. Điều đáng ngạc nhiên là sau gần một tuần lễ, ký ức tôi hầu như đã không có bất cứ một ghi nhận nào về cái địa điểm, có thể nói là khá “lịch sử” này, nơi đã cho gia đình chúng tôi một nơi nương náu tạm thời trên đường chạy loạn: “Dinh thự” (*) của dòng họ Ngô Đình, gia đình quyền lực một thời của Miền Nam Việt Nam, nơi mà chỉ chừng năm, sáu năm trước, đã từng chứng kiến cảnh ngựa xe tấp nập, người vô kẻ ra, công thần cũng có, mà nịnh thần, phản trắc chắc còn nhiều hơn. Những nhân vật một thời tên tuổi, địa vị, quyền lực… nay đã đi dần vào quên lãng. Suốt hơn mười tám năm, dù sống kề cận, tôi chưa một lần “được” hân hạnh đặt chân vào “đặc khu” này, trước ngày TT Diệm bị lật đổ, cũng như sau đó. Đúng ra điều đó đã có thể dễ dàng xảy ra. Lý do là gia đình bên Ngoại tôi có quan hệ khá gần với gia đình họ Ngô: Bà Ngoại “sau” của tôi và Bà cụ Khả, mẹ Ông Diệm, là chị em ruột. Một số các Cậu, các Dì của tôi, nhờ có qua lại, gần gũi, đã hưởng được ít nhiều ân sủng của chế độ. Riêng gia đình tôi thì tuyệt đối không, cũng chỉ tại ba tôi tánh tình bướng bỉnh, không ưa điếu đóm, lại có vẻ hơi coi thường trình độ văn hóa của Ông Cố Vấn. “Bụt nhà không thiêng” là thế! Vì vậy suốt thời gian làm “hàng xóm”, tôi chỉ biết giang sơn Ông Cậu qua những lần leo rào bẻ măng. Tôi không hề tò mò về cái “Dinh thự một thời” ấy. Ngay cả bây giờ, do bom đạn đẩy đưa, dù đã ở gần hết tuần lễ trên phần đất một thời là vùng đất cấm này, tôi vẫn dửng dưng, vẫn đã không nhìn thấy gì, ngoài bốn bức vách khá kiên cố đang che chắn cho gia đình tôi.

Sau một đêm bị đạn pháo liên tục và khá gần kề, gia đình tôi một lần nữa, lại phải tính chuyện di chuyển đến một nơi nào khác an toàn hơn. Tất cả đồng ý kéo nhau lên họ đạo Phú Cam, vì rất gần nơi chúng tôi đang ở. Đoàn người di tản gồm 9 mạng do tôi dẫn đầu. Nhiệm vụ của tôi là ẵm con bé Hạnh, đang bị mảnh đạn ở chân. Bước ra khỏi cổng trước, vừa quẹo trái, hướng về phía nhà thờ cách đó chừng hơn trăm thước, ngay tại cổng xe lửa, đoạn đường sắt nằm giữa Dinh Ông Cậu và Lầu Ông Bửu, tôi giật bắn người khi nhìn thấy một nhóm Bộ Đội chừng ba, bốn tên, đang ngồi sau bức vách hông. Họ dí súng về phía tôi đồng thời hỏi dồn: ”Đi đâu?” Tôi sợ hãi, miệng méo xệch, trả lời: “Con bé bị trúng đạn, máu ra nhiều, cần di chuyển gấp, xin mấy anh thương cho qua”. Họ hỏi tiếp: “Bên kia có Mỹ Ngụy không?” “Dạ không có!”.
Một chút ngập ngừng quan sát, họ gật đầu đồng ý. Một phen lên ruột! Tôi đoán chừng chắc cũng tại số Bộ đội tập trung phía ngoài bức tường này, mà đêm qua, chúng tôi đã bị đạn pháo phủ đầu.

Đoàn chúng tôi tiến về phía họ Đạo, thay vì đi thẳng, trực diện vào khuôn viên nhà Thờ, chúng tôi quẹo phải, vòng theo đường hông, đi ngang trước nhà Cụ Hường Trạo. Không bao xa, chúng tôi lại một phen hoảng sợ, phía trước mặt, nằm chênh vênh bên lề đường, là xác một người đàn ông, đã ngã màu xám đen, nằm sấp mặt, tay co quắp như cố bám lấy mặt đường trơn lạnh. Vài ba con chó ốm đói đang vần lượn chung quanh. Hình ảnh chết chóc đầu tiên mà chúng tôi ghi nhận được. Chúng tôi rón rén bước quanh xác chết, tiến về phía trước.
Cả họ đạo ngày nào đông đảo, ồn ào, chộn rộn…giờ yên lặng đến phát sợ, vườn không, nhà trống, không một bóng người. Còn chăng là những con vật bị chủ bỏ lại: chó, mèo, heo, gà… đang chạy quanh quẩn, tìm kiếm miếng ăn. Chúng tôi tiến sâu vào một khu xóm, và vì chưa biết phải làm gì, chúng tôi quyết định tìm một nơi để tạm dừng chân, và cũng để ước tính lại tình hình. Chúng tôi chọn một căn nhà không đến nổi lụp xụp, nhưng ưu điểm là đã có sẵn một hầm cát khá chắc chắn. Sau khi nghỉ tạm chốc lát, tôi và anh tôi quyết định đi một vòng thám sát các hộ chung quanh, một mặt tìm thêm bao cát để củng cố thêm căn hầm, mặt khác, ráng tìm kiếm thêm chút lương thực, vì số lượng lương thực mang theo rất hạn chế và thời gian dừng chân lại đây sẽ bao lâu? Sau một hồi “lùng sục” ngôi nhà đang tạm trú, tôi mừng rỡ phát hiện được một hộp bột trái Cherry, loại của quân đội Mỹ, trong còn chứa chừng 10, 15 gói nhỏ. Chắc nhà này có người làm sỡ Mỹ? Riêng Anh tôi mang về từ nhà kế cạnh, một hủ tai heo ngâm nước mắm đường. Trong suốt thời gian chạy giặc, tôi không nhớ có lúc nào mình thực sự cảm thấy đói, hoặc thiếu thốn miếng ăn? Phải chăng trong cơn sợ hãi, ăn uống không còn là ưu tiên hàng đầu hay tại… khâu tiếp vận của gia đình tôi tốt?

Sau một ngày tạm ổn định, chúng tôi phát hiện có một gia đình còn sót lại, ở ngay đầu ngõ, không cách căn nhà chúng tôi đang trú ngụ bao xa. Họ cho biết vì gia đình khá đông và nhiều con trẻ, nên đành nằm chịu trận, thay vì theo các gia đình khác di tản xuống Phú Bài, nơi mà theo lời đồn đoán, quân đội Mỹ đang tập trung, chuẩn bị tái chiếm Huế. Sau hai ngày đầu khá yên ổn, dù phải chui rúc trong một không gian khá chật chội, tiếng súng đại bác lại bắt đầu rượt đuổi trở lại… Đất đai, nhà cửa rung chuyển như qua cơn địa chấn. Sau khi bàn thảo với gia đình còn sót lại, dù biết nguy hiểm cùng cực, chúng tôi lại quyết định rời bỏ vị trí này, với ý định tìm cách thoát về Phú Bài. Sáng hôm sau, sau một đêm chuẩn bị, hai gia đình hẹn gặp nhau đầu ngõ để khởi hành. Trời vẫn lạnh và xám ngắt. Khung cảnh xóm làng tang tóc xơ xác, sau gần hai tuần lửa đạn, cây cối ngã đổ, nhà vách lỗ chỗ vết đạn. Lần này vì dự trù đường xa, tôi và anh tôi đã tự chế một cái cáng, để di chuyển con bé Hạnh, vết thương ở chân nó có vẻ sưng lên và vẫn còn nhức nhối, dấu hiệu nhiễm trùng. Gia đình kia cũng khoảng trên dưới mười người, trong đó hết phân nửa là trẻ con, mặt mày dáo dát, chạy theo mấy người lớn. Chúng tôi luồng lách theo những ngõ hẹp khá lâu, trước khi đụng tới đường cái. Tôi không còn nhớ tên, nhưng con đường đó nối dài, từ cầu Kho Rèn kéo lên ngã An Lăng. Chúng tôi lầm lủi bước đi như đoàn ma trơi, không ai nói với ai một tiếng. Đường sá, nhà cửa tiêu điều như bãi tha ma, không một bóng người, không một dấu tích của sự sống. Súng vẫn còn nổ, khi xa khi gần, tiếng lóc chóc của các loại súng nhỏ, thỉnh thoảng vang vọng tiếng trọng pháo làm rung chuyển mặt đất. Rải rác một vài xác chết vẫn còn… nằm vạ dọc đường, xác đã trương sình, đen đủi, lở loét, với một lũ heo đói đang vần vũ chụp giựt. Cũng vì những hình ảnh đó mà dân Huế, mấy tháng sau biến cố, không ai bán, vì cũng chẳng ai dám mua thịt heo, dù thực phẩm vẫn còn khan hiếm trầm trọng. Khi còn cách cầu Kho Rèn chừng vài trăm thước, chúng tôi giật mình thấy một đám bộ đội đang lúc nhúc đứng trong khu nhà vườn, nằm đọc theo đường đi. Cho đến giờ tôi vẫn luôn tự hỏi: tại sao bọn họ đã không chận đoàn người chúng tôi, để làm khó dễ, để truy tìm “ngụy quân”, “ngụy quyền” đang tìm đường tẩu thoát, như họ vẫn thường làm, trong hoàn cảnh tương tự? Hay là bọn họ cũng đã mỏi mệt, chán ngán với trò chơi giết chóc? Thôi thì cứ xem như là một phép lạ, Ơn Trên che chở, phước đức ông bà.
Ra đến được bờ sông, không hiểu vì sao nhóm chúng tôi đã không vượt cầu Kho Rèn để theo đường Lý Thường Kiệt, đến khu Trường Thiên Hữu mà lại quẹo phải, đi dọc theo bờ sông, hướng về phía cầu An Cựu, cách đó cũng không bao xa? Có thể cầu đã bị giật sập mà tôi không nhớ chăng? Hay chúng tôi vẫn giữ ý định ban đầu là đi tuốt xuống Phú Bài?


Một nhóm dân chạy giặc được TQLC Mỹ hướng dẫn, khi may mắn đặt chân đến vùng đất “giải phóng”. (Hình minh họa)

Nhìn xuống dòng sông, vẫn là dòng sông quen thuộc mọi ngày, vẫn mãi là hình ảnh của một dòng sông êm ả của những tháng ngày an lành, hạnh phúc, dù đang trải qua một cơn máu lửa ngập trời. Dòng sông đáng là biểu tượng của sự chịu đựng, tha thứ. Khi đến gần cầu An Cựu, từ đàng xa, tôi đã có thể nhìn thấy có khá nhiều sự tấp nập, người có, xe cộ có. Càng đến gần, chúng tôi mừng rỡ nhận ra trong đám người, có một số lính TQLC Mỹ lẫn lính Việt, súng ống, đạn dược, nón sắt, áo giáp cùng mình, đang làm nút chặn ngay đầu cầu. Sau gần 20 ngày trôi giạt, giữa cái sống và cái chết, đây là lần đầu tiên, ý niệm sống có vẻ chiếm ưu thế! Trong suốt cuộc đời, chưa bao giờ hình ảnh người lính “quốc gia” trở nên thân quen, gần gũi, trấn an như hiện giờ. Chưa bao giờ ý niệm “Phe ta”, “Phe địch” lại rõ nét như giờ phút hiện tại. Hình ảnh người lính tầm thường, quen thuộc đến nhàm chán mọi khi, nay bỗng nhiên, biến thành hình ảnh của một Thiên thần Micae hộ mạng.  
Câu hỏi đầu tiên của họ: “Đằng kia có thấy Việt Cọng không?” Bà chị dâu tôi vô tư, vung tay chỉ chỏ: “Đầu tê tề, nhiều lắm, nơi khúc quẹo…!” Mạ tôi, có vẻ chưa thoát cơn sợ hãi, dặn chừng chị tôi: "Chưa yên mô con, coi chừng, đừng nói bậy bạ!”. Mà cũng đúng vậy, tiếng súng lớn nhỏ, khi xa, khi gần, cũng vẫn còn ầm ĩ quanh đây. Khi được hỏi thăm, mấy người lính, tay chỉ số người đang gồng gánh đi ngược lại, vừa giải thích: “Khỏi cần về Phú Bài nữa, không thấy dân ở dưới đó đang gồng gánh trở về sao? Phía Hữu ngạn, phần bên kia sông An Cựu coi như đã yên ổn, khu vực Dòng Chúa Cứu Thế, Thiên Hữu, Đồng Khánh, Quốc Học đã khá bình thường trở lại, tụi nó rút đi hết rồi.” Theo họ, phía Tả ngạn vẫn còn đánh đấm, đặc biệt ở khu vực Đại Nội thì vẫn còn đánh lớn, máy bay lên xuống bỏ bom liên tục.
Thật may mắn, vì nếu phải chạy xuống tận Phú Bài, cách đây hơn mười cây số, với một nhóm người tuy không đông, nhưng gồm một bà Cô trên 80, một cô bé đang mang thương tích, một bà bầu cũng gần đến ngày sinh nở, hành trình chắc chắn sẽ vất vả lắm, nếu không nói là khó thực hiện. Thế là chúng tôi quyết định thay đổi lộ trình, nhắm hướng Dòng Chúa Cứu Thế và Trường Thiên Hữu. Tinh thần mọi người trở nên phấn chấn hơn, nói cười vui vẻ, chứ không lo lắng, sợ sệt, như ở đoạn khởi hành. Tội nghiệp Mạ tôi, mười mấy ngày qua, không nghe một lời than thở, nay vừa bước đi, vừa chép miệng: ”Làm răng có được một miếng trầu nhai cho đỡ thèm!”. Thật ước sao được vậy, vì không bao lâu sau, khi đi ngang qua Cung An Định, nơi trú ngụ của Bà Từ Cung, mẹ Vua Bảo Đại ngày xưa, chị dâu tôi nhanh mắt, thấy có bà cụ ngồi bên đường, rao bán cau trầu. Mắt Mạ tôi sáng lên khi nhìn thấy mấy lá trầu xanh dù hơi bầm dập, mấy miếng cau khô mà giờ đây, coi còn quý hơn cả sơn hào, hải vị. Khỏi cần nói, ai cũng có thể đoán là bà già bán trầu kia, có thể hí hửng ra về ngay, vì đã có đủ tiền nấu một bữa cơm khá thịnh soạn cho gia đình đêm nay. Riêng bà già tôi, miệng nhai miếng trầu đầu tiên sau hơn hai tuần chạy loạn, cũng hạnh phúc không kém!

Khi gần đến khu vực nhà thờ DCCT, chúng tôi được tin Trường Thiên Hữu nay đã được tổ chức tạm thời, thành một trung tâm tỵ nạn, đón nhận những người chạy loạn suốt gần cả một tuần qua. Thế thì còn gì bằng, cả ba anh em trai chúng tôi, và ngay cả chị dâu tôi, đều là những học trò kỳ cựu của Trường Thiên Hữu này.


Khuôn viên Trường Tư Thục Thiên Hữu (Institut de la Providence) vào những ngày thanh bình.

Khi đến nơi, chúng tôi mừng rỡ khi thấy không khí tấp nập trong khuôn viên nhà trường, người qua kẻ lại, dù trên những khuôn mặt, dường như vẫn còn in đậm nỗi kinh hoàng của những ngày máu lửa. Để gia đình ngồi nghỉ tạm ở một góc sân trường, tôi và anh tôi đi một vòng thị sát, tìm hiểu tình hình. Gần như toàn bộ các lớp học, ngay cả những hàng lang, Phòng Khánh Tiết… nay đã đầy đặc người, nằm ngồi hỗn độn, giữa những hành trang, bao bị lỉnh kỉnh, choáng hết cả lối đi. Đang bối rối vì chưa biết phải làm sao, bổng thấy xuất hiện một khuôn mặt thật thân quen: Cha Oxarango, Linh Mục đặc trách Phòng Thí nghiệm, và cũng là vị Thầy của chúng tôi trong suốt thời gian học ỡ trường Thiên Hữu, và về sau tại Đai Học Văn Khoa và Sư Phạm. Phải nói là cả “hai bên” đều thật sự mừng rỡ khi nhận ra nhau. Sau khi ôm choàng chúng tôi và thăm hỏi tình hình, Cha đã có ngay giải pháp cho gia đình chúng tôi. Cha lật đật dẫn hai chúng tôi đến trước Phòng Thí nghiệm, móc túi lấy chìa khóa, mở cửa, trịnh trọng trao chìa khóa cho chúng tôi, với một nụ cười thật tươi và nói: "Dès aujourd’hui, c’est ici, votre refuge, mes enfants! Je vous fais confiance!”( “Kể từ hôm nay, đây là nơi tạm trú của các con! Cha đặt tin tưởng vào các con!”) Phải nói là chúng tôi rất ngạc nhiên và cảm động trước nghĩa cử của vị linh mục, vị Thầy của chúng tôi. Phải nói, Phòng Thí nghiệm này là “lãnh địa” bất khả xâm phạm của Cha Ox., Ngài đã đổ bao công sức xây dựng, phát triển và bảo trì cơ sở này. Vì vậy, phòng này bao giờ cũng cửa đóng, then cài, ngoại trừ những lúc phòng được xử dụng trong quá trình giảng dậy. Suốt thời gian dài theo học, chưa bao giờ tôi thấy Phòng thí nghiệm mở cửa mà không có bóng dáng cha Ox. Vậy mà giờ đây, cha đã chấp thuận cho gia đình chúng tôi vào trú thân không chút ngập ngừng.

Với tôi, phòng này còn mang nhiều kỷ niệm khác, chứ không chỉ đơn thuần là một phòng thí nghiệm. Thuở đó, những học sinh vi phạm kỷ luật, phá trường phá lớp…như tôi, thường bị phạt “consigne” vào ngày chủ nhật. Ngày cuối tuần, thay vì nằm nhà, hoặc chạy chơi đây đó, học sinh bị phạt phải khăn gói vào trường, tập trung tại “phòng thí nghiệm” nay tạm trở thành “Trung Tâm cải huấn”, để chờ lệnh. Nói chung cũng chẳng có gì nặng nề, Cha Giám Thị, thường thường là Cha Ox., phát cho chúng tôi mỗi đứa một cuốn báo, thông thường là báo “Selection”, tức là “Reader’s Digest” hiện tại, ấn bản tiếng Pháp. Sau đó Cha sẽ phát cho chúng tôi một xấp giấy trắng và buộc chúng tôi chép lại một số trang, thông thường cỡ 10, 15 trang báo, bất chấp nội dung nói gì! Nghe thì nhẹ nhàng, nhưng chép lại 10 trang giấy in, chữ nét nhỏ như con kiến, coi vậy mà vất vả lắm đấy quý vị, tin tôi đi! Chép xong, mờ cả mắt, mỏi cả tay. Thằng nào may mắn gặp ba, bốn trang quảng cáo, nhiều hình, ít chữ thì mừng húm như trúng số. Trong lúc học trò hí hoáy viết, cha đi tới, đi lui, vừa canh chừng, vừa đọc sách Thánh. Phòng thí nghiệm này thỉnh thoảng còn được xử dụng để chiếu phim liên quan đến bài học hoặc phim giải trí, cho học trò xem, thông thường từng lớp một, vì phòng không rộng lắm. Năm học lớp 5è, trong một lần theo lớp vào coi phim, trong phòng tối, thay vì chăm chú coi phim như bao nhiêu trò khác, tôi quay qua, quay lại, rù rì nói chuyện với mấy tên bạn ngồi kế, tôi đã nhận nguyên một cái tát nổ đom đóm của cha Ox., mà đến hơn 50 năm sau, tôi vẫn…chưa quên! Không phải tính tôi thù dai, nhưng cái tát đó, giờ đây vô tình đã trở thành một kỷ niệm, mà đã là kỷ niệm, thì tôi luôn dễ dãi, trân quý, cho dù đó là kỷ niệm một cái tát của Thầy mình, hay…một cuộc tình buồn không đoạn kết!

Trở lại những ngày tạm trú tại Trường Thiên Hữu, sau những ngày chạy loạn biến cố Tết Mậu Thân. Phòng Thí nghiệm dù không rộng lắm, cũng đã cho chúng tôi một nơi chốn tá túc tạm bợ khá ưu tiên, riêng rẻ, so với đa số những người cùng hoàn cảnh. Sinh hoạt trong khuôn viên trường khá tấp nập chẳng khác một chợ phiên. Trong sân trường, người ta tụ tập từng nhóm nhỏ, ngồi kể lại cho nhau nghe những kinh hoàng vừa qua, người nào mặt mày cũng khẩn trương, có người vẫn còn khóc thút thít vì tang tóc trong gia đình. Một số khác đem ra bày bán bất cứ cái gì có thể bán được: vài bó rau, trái bầu, trái bí, ít lá trầu, vài miếng cau khô, thuốc lá… thỉnh thoảng có cả thịt gà, heo, trâu… với giá cả không “hữu nghị” chút nào. Sau mấy tuần ăn chay, nằm đất, miệng mồm đã bắt đầu nhớ tới thịt, cá, nhưng nói tới thịt heo thì… xin chịu thua, hình ảnh mấy con heo đói, gỡ gạc bên cạnh những xác chết sình thối, vẫn còn ám ảnh đa số người dân chạy giặc. Gạo được phân phát miễn phí cho các gia đình tỵ nạn, căn cứ trên số đầu người kê khai. Cũng có bàn y tá phát thuốc men cho những người bệnh, cũng như chăm sóc cho những người bị thương tích nhẹ. Nhờ vậy mà vết thương của con bé Hạnh cũng đã khả quan hơn.

Trong những ngày đầu tại Trung tâm Tỵ nạn này, tôi ngạc nhiên nghe tin Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng TP. Huế, trong thời gian biến động vừa qua, chẳng ai khác hơn là một vị Thầy của tôi, tại ĐH Văn Khoa Huế: GS. Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, một trí thức người Huế, tốt nghiệp từ Pháp về, nghe đâu vào khoảng năm 64, 65.
Ông cỡ “băm mấy”, vừa người, mảnh khảnh đẹp trai, có nét trí thức, theo kiểu tài tử Gregory Peck. So với các giáo sư khác, có thể nói Thầy Hảo khá nổi bật, với cách ăn mặc khá “chic”, thầy thích mặc mấy bộ “complet” loại vải “Tussor”, mềm, mát, màu sáng. Tôi sẽ không ngạc nhiên, nếu thầy là “thần tượng lòng em” của nhiều nữ sinh viên VK Huế thời đó dù Thầy đã có gia đình. Nói thật, tôi không còn nhớ chính xác tên gọi môn dạy của thầy, chỉ nhớ nó mang nội dung về Triết và được giảng dạy bằng tiếng Việt. Nghĩ lại, rõ ràng Thầy đã cố tình hé lộ chân tướng của mình, trong một bài giảng, mà không một ai trong chúng tôi đã nắm bắt được. Một hôm, không bao lâu trước cuộc binh biến Mậu Thân, cỡ một tháng, tháng rưỡi, nội dung bài học hôm đó nói về “cái Đẹp”. Tôi nhớ Thầy thao thao bất tuyệt khi nói về cái đẹp, có một đoạn, tôi còn nhớ khá rõ: “Khi nói về cái đẹp, chúng ta hay có khuynh hướng liên tưởng về một cái gì đó yểu điệu, mong manh, lả lướt, một cái gì đó thuộc phái yếu, vẻ đẹp của một cành lan, một thiếu nữ… nhưng thưa các bạn, cái đẹp cũng có thể là một cái gì đó mạnh bạo, kiêu hùng, nam tính… như cái đẹp của một đoàn quân chiến thắng tiến vào thành phố…” Thầy đã nói rõ đến vậy, chỉ tại tôi và các bạn không chịu nghe và hiểu đấy thôi. Thật là một ngạc nhiên không ai ngờ, đẹp trai, học giỏi, mà lại học ở Pháp về, cùng lắm có thể là một trí thức thiên Tả, chứ trực tiếp gia nhập và hoạt động cho VC thì đúng là… hết biết. Ngoài thầy Lê Văn Hảo, còn có một số khuôn mặt nổi bật khác của Huế, trước đây là thành viên tranh đấu chống Chính phủ, đặc biệt qua Phong trào Phật Giáo quyết tử, giờ đây đã để lộ bộ mặt VC của mình, một số đã vô bưng trước đó không bao lâu, nay trở về với lực lượng chiếm đóng, như GS Việt văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, SV. Y Khoa Hoàng Phủ Ngọc Phan, SV. Sư Phạm Nguyễn Đắc Xuân, GS. Nguyễn Đóa, hoặc những khuôn mặt mới xuất hiện như Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, SV. Nguyễn Thị Đoan Trinh… Trong những người này, ai là kẻ chủ động tự nguyện? Ai là kẻ bị dụ dỗ? Ai bất đắc dĩ, cùng đường kẹt lối nên phải vào bưng? Chỉ có họ mới có câu trả lời chính xác.

Sau mấy ngày nghỉ ngơi, bồi dưỡng, và khi nghe tin tình hình dọc theo sông An Cựu, Phú Cam đã khá yên ổn, Ba tôi theo chân một số người về thị sát khu nhà ở, mà không cho phép mấy thằng con trai đi theo, lý do dễ hiểu là không an toàn cho những người độ tuổi thanh niên. Không ngờ chuyến đi thăm dò đầu tiên đó, lại mang đến một kết quả hết sức bất ngờ. Ba tôi đã trở lại được nhà cũ và đã mang về lại được chiếc xe Honda của tôi. Đúng ra đó là một việc làm muôn vàn khó khăn, vì chiếc xe của tôi đã bị khoá, vừa cổ xe, vừa chân chống mà ba tôi lại không mang theo khóa; mà dù có khóa, ông cũng không  biết xử dụng. Cũng may ông lanh trí, bỏ tiền thuê vài cậu thanh niên, khiêng hẳn chiếc xe từ hầm cát nhà tôi về đến tận  sân trường! Nhìn lại chiếc xe “thân yêu” còn nguyên vẹn, sau nhiều tuần xa cách, tôi vô cùng mừng rỡ vì đúng là…của mất đi, nay tìm lại được! Các cây xăng vẫn còn đóng cửa, nhưng xăng quân đội chợ đen thì cũng dễ kiếm. Thế là chim lại mọc cánh, mặc sức tung bay. Tôi bắt đầu vác xe chạy lòng dòng, rồi khi tình hình cho phép, ngày một xa hơn, chủ yếu là các trung tâm tỵ nạn, mong tìm tin tức cô bạn gái. Thành phố, phía Tả Ngạn, đặc biệt khu Thành Nội bom đạn vẫn còn dồn dập. Đứng bên này sông Hương, nhìn máy bay Phantom của Không lực Mỹ tung lượn, ném bom, cố vùi dập những ổ kháng cự cuối cùng của VC trong khu hoàng thành, chẳng khác nào như đang xem phim Đệ Nhị Thế chiến. Một số người vẫn còn chạy giặc, số khác lại quyết định hồi cư, như một đám cái bang, quần áo xốc xếch, gồng gánh, bồng bế, chen lấn… không phải để đi qua cầu, mà phải nói là… leo qua cầu, vì đoạn giữa cầu Tràng Tiền đã bị giật sập. Nhìn cảnh hỗn độn, trượt ngã, la hét mà cười ra nước mắt.


Nút chặn của TQLC tại đầu cầu Trường Tiền, phía Hữu ngạn. Góc trái là ĐH. Khoa Học Huế.

Thành phố điêu tàn, đổ nát, không nhà nào còn nguyên vẹn, đặc biệt nhà Bưu Điện và Ty Ngân Khố bị thiệt hại nặng nề, vách lỗ chỗ vết đạn, mái ngói vỡ vụn. Mùi tử khí nặng nề bao trùm thành phố, do nhiều ngôi mộ được đắp vội dọc hai bên đường. Còn đâu thành phố Huế với Sông Hương, Núi Ngự, biểu tượng của thanh bình và lãng mạng trong bao tác phẩm văn học, thi ca?

Sau bao tìm kiếm, cuối cùng tôi đã gặp lại cô bạn gái cùng gia đình, đang tá túc tại trung tâm tỵ nạn, đặt tại Trường Quốc Học. Gặp nhau sau cơn lửa đạn, hai đứa mừng mừng, tủi tủi. Nếu đây là phân cảnh trong một đoạn phim tình, hay một đoạn văn mô tả cùng cảnh ngộ, trong một tiểu thuyết loại Quỳnh Dao, hoặc ít ra, nếu đã xảy ra trong một xã hội “cởi mở” khác, chắc là đã có một cảnh thật lâm ly, hấp dẫn, cảm động... nhưng thật đáng tiếc, chúng tôi đang sống tại Huế, thành trì của khắt khe, bảo thủ…và ở thời điểm 68. Thôi thì đành phải chấp nhận một phiên bản khác vậy: Tôi cầm nhẹ tay nàng. Mắt nàng chớp nhanh cảm động, khi nhận tập giấy nhỏ khá dày, chi chít những dòng chữ “kiến bò”, cong queo, lấm láp mà tôi đã ấp ủ, đã viết cho nàng mỗi ngày, từ những giờ phút đầu tiên của cuộc biến động. Tôi cũng nhận được từ nàng, một cái bao gối, với một đóa hồng thêu thật lớn, thật khéo, tỉ mỉ, với chử LOVE nằm trên cùng. Tôi cảm động vô cùng! Qua trao đổi, tôi được biết, gia đình nàng bình yên. Ngôi nhà nàng nằm ở phía Tả ngạn, may mắn còn khá nguyên vẹn, và nàng đến khu định cư này cũng khoảng gần một tuần nay.

Sau 26 ngày bị chiếm đóng, TP. Huế được tái chiếm, được THỰC SỰ giải phóng bởi lực lượng Mỹ và quân đội Cộng Hòa, trong đó chủ lực là các Sư Đoàn Nhảy Dù và TQLC.  
Cộng Quân bị thiệt hại nặng nề, đã mở đường máu, rút lui vào rừng rậm và vẫn còn bị truy kích bởi các cuộc oanh tạc của máy bay Mỹ. Quang cảnh đường phố từ từ nhộn nhịp trở lại, chợ búa dù thiếu hụt hàng hóa, cũng bắt đầu nhóm họp trở lại, chủ yếu là rau quả, mắm muối. Các ngôi mộ tạm bợ bên lề đường cũng được di dời, nhìn cảnh đào xới, gia đình khóc lóc, xì xụp vái lạy, bên cạnh quan tài, giữa hương khói nghi ngút… là những hình ảnh ảm đạm, u uất, trong những ngày sau khi thành phố được tái chiếm. Một điều đáng ngạc nhiên là sau những ngày chạy giặc, tôi lại mập ra, cân trên sáu mươi ký, thay vì năm lăm, năm sáu như mọi khi. Chị dâu tôi cũng mập hẳn ra, cái bụng thì lắc lư một cách đáng báo động. Trong suốt hai tuần sau đó, chúng tôi, dù vẫn còn tạm trú tại Thiên Hữu, đã trở lại nhà cũ để kiểm kê và cũng để  thu nhặt lại những gì còn có thể cứu vãn, thuê người phụ thu dọn dẹp đổ nát. Nghĩ lại, thấy thật buồn, bao nhiêu công sức cha mẹ suốt một đời hy sinh, gầy dựng, chắt chiu, mong ngày sau có chút gì để lại cho con cháu, nay bỗng chốc biến thành mây khói. Nhà ở đổ nát, mà ngay cả dãy nhà bốn căn cho thuê, xinh xắn, nằm sát cạnh cầu, dọc theo bờ sông Phú Cam, mà ba mạ tôi vừa bỏ bao nhiêu công sức, tiền của, xây mới lại, chưa được bao nhiêu lâu, nay cũng thành đống gạch vụn.
Ba tôi đứng bên căn nhà đổ nát số 13 Nguyễn Trường Tộ, Huế.

Ba tôi đứng bên căn nhà đổ nát số 13 Nguyễn Trường Tộ, Huế.


Sở dĩ tôi nói: “Bây giờ nghĩ lại...” vì thú thật, vào thời điểm đó, cái ý nghĩ tuy đơn giản ấy đã không đến “kịp” trong suy nghĩ còn khá non nớt của tôi. Tôi cũng không nhớ đã nghe một lời than vãn nào thốt ra từ miệng của ba mạ tôi. Phải chăng nổi đau đớn của mất mát to lớn quá, mới mẻ quá, để cảm nhận? Cũng có thể, với niềm tin tôn giáo vững chắc, khi nhìn thấy cảnh tang tóc cùng khắp, riêng gia đình mình, dù cửa mất nhà tan, nhưng gia đình còn nguyên vẹn, cám đội ơn trên che chở không hết, giờ đâu nghĩ đến tiếc nuối của cải vật chất?
Hai người thuê nhà thời điểm đó là vợ chồng Thầy Nguyễn Châu, vợ là Cô Lan, cả hai đều là GS Triết tại Quốc Học và Thầy Trần Như Cảnh, GS Pháp Văn tại Đồng Khánh, độc thân, sống chung với mấy cô em gái. Cũng may, tất cả đều yên lành, vô sự.

Một điều tôi quên chưa nói, là trong thời gian Huế bị tấn công và chiếm đóng, Sài Gòn, nơi vợ chồng chị Hai đang ở, chỉ đánh nhau trong thời gian ngắn và tập trung chủ yếu ở vòng đai thành phố và khu Chợ Lớn. Không biết ai đó cho tin là Ba tôi bị VC bắn chết, xác nằm trước cổng nhà. Thế là tin được truyền nhanh đi các thành viên khác trong gia đình: Anh tôi đang ở Trường Võ Bị Đà Lạt, Chồng chị Tư tôi đang tu nghiệp ở Hòa Lan. Thôi thì khóc lóc thảm thiết, thậm chí chị Hai xúc động đến độ hư thai. Rồi các anh chị thi nhau xin Lể cầu hồn cho Ba tôi. Sau khi Huế được tái chiếm, được tin ba tôi và gia đình vẫn bình yên, ai cũng mừng rỡ “như Cha sống lại”!

Chừng hai tuần sau, khi đã dọn dẹp bớt những đổ nát, sửa chửa tạm diện tích sót lại còn ở được, Ba mạ tôi, anh chị tôi và cháu Hạnh Linh lên máy bay vào Sài Gòn, vì ngày sinh của chị dâu tôi cũng gần kề. Riêng tôi phải đóng vai kẻ ở lại, vì niên học chưa chấm dứt, không thể bỏ ngang mà đi được.

Một mình, tôi trở về căn nhà nay còn chưa tới nửa, tiêu điều, ma quái. Cũng may, Mạ tôi đã sắp xếp trước để cho hai vợ chồng Ông Toán, một người tin cậy, đã từng giúp việc cho Ông Ngoại tôi, gần suốt cả thời trai trẻ, nay đã già về ở chung với tôi, phần để coi sóc nhà cửa, vườn tược, phần khác, không kém quan trọng, là chăm lo cơm nước cho “cậu Út”. Đây là lần đầu tiên tôi sống xa cha mẹ. Là con út, tôi luôn có mặc cảm cha mẹ “che chắn” cho tôi hơi quá, đôi lúc đến bực mình. Mà nói cho đúng, ba mẹ tôi rất thương con, nhưng tuyệt đối không cưng chiều, nếu không nói là rất nghiêm khắc, ngay cả đối với các anh chị. Giờ cơm, dù không qua thủ tục điểm danh, nhưng luôn phải có đủ mặt. Ban đêm, “thiết quân luật” lúc 10, 11 giờ tối. Với tôi, lại còn nghiêm nhặt hơn: Dù nhà ở ngay bờ sông, nhưng cấm không được tắm sông…chỉ vì tử vi nói số tôi kỵ thủy. Nhìn những đứa bạn hàng xóm, mỗi chiều, rủ nhau xuống sông lội bì bõm thấy mà… thèm. Nói vậy chứ cũng có lúc bị cám dỗ, tôi trốn đi tắm lén với lũ bạn. Thấy chúng leo lên cây sung nhảy xuống tôi cũng làm theo, dù không biết lội, có chăng là biết cách “lội chó”, may mà tôi số tốt, nên “ma da” chưa kéo cẳng. Còn nữa, từ nhỏ đến lớn, chưa bao giờ được ngủ qua đêm ở bất cứ nhà ai, dù là nhà bà con ruột thịt, chứ đừng nói là nhà bạn bè…


Điêu tàn, đổ nát không chỉ bên ngoài mà còn... ngậm nhấm bên trong.

Giờ đây, đứng trước sự…”độc lập, tự do” quá đột ngột, không phải do tranh đấu, mà là… do thời cuộc đẩy đưa, tôi cảm thấy vừa sung sướng, vừa choáng ngợp, chới với, ngại ngùng, nhất là trước viễn ảnh phải trở về sống một mình, trong căn nhà, một thời thân yêu, nhưng nay đã hoang tàn, hiu quạnh.



Độc lập, tự do và… hiu quạnh trong ngôi nhà đổ nát.

Rồi mọi việc cũng tạm quen dần…với sự cổ võ của vài người bạn thân, vẫn còn bám trụ ở Huế: Trí, con út Dì ruột tôi và cũng là người bạn chí thân của tôi, một người yêu chuộng hòa bình, chống đối chiến tranh, nên cu cậu nhất định tiếp tục sự nghiệp “Make Love Not War”. Trí hơn tôi 2 tuổi, nhưng lại nhỏ hơn anh kế tôi 2 tuổi, do đó y chơi thân với cả hai anh em. Chúng tôi thân nhau từ nhỏ, không có chuyện gì, tâm sự nào của y mà tôi không biết và ngược lại, dù là chuyện vui, buồn, tốt, xấu, hay, dở. Tôi thường nói đùa với Trí: “Ngày nào nếu tao trở thành… ổng Thống, tao sẽ cho mi hai lựa chọn: Một là làm Cố vấn An ninh cho tao, hai là… đi “mò tôm”, vì mày lỡ biết quá nhiều!” Kế đến là Sữ, cựu đệ tử DCCT Huế, đang học Dự Bị VK. ban Anh Văn. Sữ người gốc Quảng Trị, tánh khí hồn nhiên, hiền lành, tiếu lâm và Tuấn, một bạn tương đối mới, đang học DB Y Khoa, Huế. Ngoài những giờ sinh hoạt riêng ở trường, bọn tôi hay tập họp ở “phòng” của Trí, nằm ở lầu hai, một biệt thự đang để trống của ông anh rể, trong một khu vực sầm uất, gần Cư Xá Xavier của mấy Cha Dòng Tên. Căn biệt thự hai tầng bề thế trước đây, nay bị thiệt hại nặng nề, vách tường đổ nát, cầu thang rả rệu,  tầng trên gần như không còn, duy chỉ có căn phòng của Trí là còn tạm thời đứng vững, nằm vất vưởng, cheo leo như một chuồng cu. Diện tích phòng cũng vừa đủ cho một cái giường và vài thứ lặt vặt. Tuy còn độc thân, vui tính, nhưng sinh hoạt của bọn tôi lúc đó, có thể xem là lành mạnh. Đúng ra, cũng chẳng phải bọn tôi thánh thiện gì, chẳng qua là chẳng thằng nào có đủ tiền để hư thân, mất nết. Rảnh rổi bọn tôi đàn hát, đùa giỡn, nhậu nhẹt cũng chút chút, vì không có khả năng nhậu xỉn hơn. Thỉnh thoảng bọn tôi cũng xây sòng, nhưng thay vì ăn tiền, bọn tôi ăn… cà rem cây. Bọn tôi mua nguyên thùng, lúc đầu, ai thắng, được cây kem; ăn ớn tới họng rồi, luật chơi đổi: Ai thua, ăn  cây kem. Riêng việc cơm nước thì thả nỗi, khi tự túc, khi hùn hạp ăn chung, khi cơm “nhà”, khi ghé ăn cơm ở CX Xavier. Bàn cơm không lấy gì làm thịnh soạn, mà có đến bốn đứa muốn ăn ngon! Cách giải quyết tốt nhất được bọn tôi chọn lựa là rút bài: Đứa nào hên được bài lớn, chọn món ngon nhất, và cứ tuần tự cho đến thằng xui xẻo nhất đành vừa chửi thề vừa húp canh. Thời đó, khi cần, tôi có thể “báo cơm” với bà Toán, người giữ nhà. Tôi khoái nhất là món cá nục con kho tiêu, cọng thêm món tương ớt thật đặc biệt, bà tự làm lấy, ăn mãi không thấy no. Đúng là “Cơm với cá như Mạ với con”, một câu ca dao Ba tôi hay nói.

Trong khi chờ đợi Thông Báo của Viện ĐH Huế về việc đi học trở lại, quyết định đầu tiên của tôi, sau khi tạm thời được trao trả độc lập, tự do, một quyết định mà không bao lâu sau, bị Mạ tôi “lên án” là điên rồ, là nộp đơn gia nhập Không Quân, hiện đang tuyển lựa thêm Phi Công, nhằm đáp ứng nhu cầu chiến trường. Nói thì đơn giản nhưng thực tế gay go, vì phải vào tận Đà Nẵng để làm thủ tục giấy tờ. Thay vì dùng phương tiện công cộng, Tôi rủ Trí và Sữ xử dụng xe Honda. Đường sá, nhất là đoạn đường đèo Hải Vân, lúc đó đang được Công binh Mỹ xây cất, sửa sang…nên bụi bặm, lỗ chỗ, gập ghềnh, đó là chưa nói có những đoạn đường, an ninh chưa được tốt lắm. Đã vậy, lúc điền đơn, lại gặp trục trặc “kỹ thuật” về tên mẹ tôi: trong khai sinh thì để “Công Tằng Tôn Nữ Thị…”mà trên căn cước của tôi, thì để “Công Tằng Tôn Nữ” … Chỉ có chừng đó, nhưng với đầu óc ngốc nghếch, máy móc, của mấy “Quan” lo khâu giấy tờ… Tôi phải chạy trở lại Huế để điều chỉnh chi tiết đó, rồi trở ngược lại ĐN. Thủ tục kế tiếp là sẽ bay vào Tân Sơn Nhứt, để hoàn tất thủ tục khám sức khoẻ.
Tuyển quân đúng ra phải được thực hiện theo cùng phương cách lấy vợ: “Lấy vợ phải lấy liền tay”. Tuyển quân cũng phải “liền tay”, lợi dụng lúc người tình nguyện đang hăng hái “tòng quân diệt giặc”, chứ thủ tục đã rắc rối, chậm chạp, lại gây thêm những khó khăn không cần thiết thì đúng là tự “bó tay”. Do đó, khi nhận được thư khiếu nại của Mạ tôi, cọng thêm sự phản kháng thầm lặng của cô bạn gái, tôi đâm chán nản, và bỏ cuộc. Kiểm điểm lại đời mình, hình như đây không phải là lần duy nhất tôi chán nản, bỏ cuộc! Mất đi một Phi công thiếu kiên định cỡ tôi, chắc Không Quân VN đã…thở phào nhẹ nhõm.  


Quan không ra quan, lính không ra lính: Quân Sự Học Đường!

Những ngày sau, qua các cuộc sinh hoạt tại trường, chúng tôi được thông báo các nam SV sẽ phải tham dự chương trình huấn luyện quân sự trong vòng một tháng, đó là lần đầu tiên “Quân Sự Học Đường” được áp dụng trên Đại Học toàn quốc và sẽ vẫn được duy trì trong những năm sau đó. Chúng tôi được phát những bộ đồng phục bằng kaki vàng, quần dài, áo tay cụt, nón “xếp”. Lần đầu tiên có dịp “tập lính” với tôi cũng là điều thích thú. Chúng tôi có điều kiện sinh hoạt chung, gần nhau, biết nhau nhiều hơn, thay vì đóng vai kẻ lạ trong suốt thời gian qua, dù chung trường, chung lớp. Chương trình bao gồm thao diễn quân sự, tháo ráp và xử dụng súng dài Carbin. Chương trình Huấn luyện được đảm trách bởi các HLV quân đội, thường bắt đầu lúc 8 giờ sáng và chấm dứt khoảng 4 giờ chiều. Cùng thời gian này, các trung tâm tỵ nạn đã đóng cửa và các trường học đã sinh hoạt và học sinh đã đi học trở lại. Sau buổi tập, nếu không hẹn đi thăm bạn gái, tôi thường theo đám bạn, chạy lòng dòng, đi “nghễ” mấy cô Đồng Khánh tan học về. Đi “nghễ”, một từ rất Huế, có nghĩa đi ngắm các cô, là một sinh hoạt phổ biến của con trai mọi nơi, mọi lúc, không riêng gì ở Huế. Cũng như đi xem một đám rước, một hội chợ, tôi xem đó là một sinh hoạt vui, bình thường, vô thưởng vô phạt... Vì vậy, dù đã có bạn gái, và dù không có bất cứ dự tính “đen tối” nào, mỗi khi rảnh rỗi, tôi vẫn theo Trí và Sữ, lượn ngang lượn dọc theo đường Lê Lợi, để ngắm mấy cô nữ sinh áo trắng tan học, tung tăng như bầy bướm. Tôi không mang mặc cảm mình đang làm một điều gì sai trái. Đúng ra, bản tánh tôi kín đáo, gặp người đẹp đến đâu, cũng không bao giờ để lộ cho người ta biết mình đang “chịu đèn”. Thích ai cũng để bụng, chờ ngày, chứ không vội vàng đào đất trồng vội cây Si trước nhà người ta. Nhưng ở vào thời điểm đó, lần đầu tiên sống xa gia đình, vừa trải qua cơn máu lửa, loạn lạc, đổ nát, chết chóc… cái bản năng “sống vội” có thể đã có cơ hội nẩy mầm trong tôi; thêm vào đó, bộ đồng phục bùi bụi của lính sữa “Babylac”, như lớp vỏ bọc che dấu bớt cái bản chất nhút nhát mọi khi. Đấy là chưa kể có mấy tên bạn “ba gai” đi kèm, tôi thấy như mình trở nên dễ dãi và ít cố chấp hơn.

Giờ nhìn lại, quả tình thấy mình đã đùa với lửa mà không hay! Không phải lửa thường, mà là lửa từ Trời, là “tích lịch hỏa”. Các bạn có nghiên cứu về tướng số, hẳn biết những người tuổi Kỹ Sửu như tôi, mạng Tích lịch Hỏa, có nghĩa  là lửa do sấm sét, chứ không phải lửa bếp, lửa than. Dòng điện sấm sét có thể lên đến một trăm triệu, hoặc có thể tới một tỷ volt. Những chuyển biến tình cảm đột ngột không báo trước đó thật nguy hiểm, nên người Pháp mới gọi là “coup de foudre”, tiếng Việt mình thì gọi là “tiếng sét ái tình”. Tôi nghĩ, sở dĩ Đông Tây đều gọi đó là “tiếng sét”, vì “hiện tượng” đó thường xảy ra chớp nhoáng, vào lúc bất ngờ nhất. Đó là một “tai nạn”, không hẳn là một sự chọn lựa tự do. Đại khái “Tình… kêu ai nấy dạ”. Đối tượng bị sét đánh, do đó cũng chỉ  là một “nạn nhân”. Cũng như trong các tai nạn có liên quan đến điện, người tiếp giáp trực tiếp với nạn nhân, sẽ bị ảnh hưởng dây chuyền, thương thế nặng nhẹ, tùy thuộc mỗi người. Nghe tôi nói dông dài, chắc ai cũng biết là tôi đã gặp rắc rối. Chưa kể ra, mà đã tìm cách chạy tội.

Nhờ khoảng cách thời gian, cọng chút kinh nghiệm sống, tôi chỉ cố nhìn lại, phân tích, soi sáng, nhận định… nhưng tuyệt đối sẽ không chạy tội. Bằng chứng mỗi lần nghĩ lại chuyện xưa, tôi vẫn còn đấm ngực và tự nhủ: Mea culpa! (Lỗi tại tôi!) Những “dấu bầm” trên phần ngực trái, có thể chứng nhận điều tôi vừa nói.


Giờ tan học, các nữ sinh ĐK lên đò vượt sông.

Một buổi chiều, cũng như những  buổi chiều khác, sau giờ tập quân sự, tôi theo mấy thằng bạn ra bến đò Thừa Phủ, nơi một số các nữ sinh Đồng Khánh ở phía Tả ngạn, sau giờ tan trường, thường đón phà, hoặc đò qua sông, vì cầu Trường Tiền đã bị giật sập mất “vài” giữa, vì vậy cây cầu phao và phà, đò, là phương tiện duy nhất để mấy cô vượt sông đến trường hoặc về nhà. Mấy cô, khi đi riêng rẽ, sẽ nghiêm trang, e lệ, làm dáng… nhưng khi đã nhập đám, thì cũng cười nói vui vẻ, giỡn cợt, chẳng thua gì đám con trai, trong lúc chờ phà, mắt các cô cũng láo liên, chỉ chỏ mấy anh chàng đang đứng tán gẫu gần đó. Trong đám đông lố nhố, tôi bất chợt bắt gặp một đôi mắt, một đôi mắt câm lặng, thật lớn, thật ướt và thật buồn! Mà “chủ nhân” của đôi mắt ấy lại là một cô bé, mà trông cô ta bé thật. Thoạt nhìn, tôi đoán cô bé không quá  tuổi 16 và chắc học cỡ đệ Ngũ, đệ Tứ. Ở lứa “tuổi ô mai”, tuổi của vô tư, của mộng mơ, nhí nhảnh… vậy mà sao đôi mắt ấy có thể buồn đến vậy? Dáng người nhỏ nhắn, xinh xắn, khá gầy, tóc thề chấm vai. Giữa đám đông nhi nhô, sôi nổi, tôi thấy cô bé lặng lẽ, cô đơn, mắt buồn xa vắng. Bắt gặp bị nhìn trộm, đôi mắt tránh vội sau vành chiếc nón lá. Và cứ thế, hai ánh mắt, một bám chặt như đinh đóng, một tránh né, rụt rè tránh né nhưng không nghiêm khắc, khó chịu; rụt rè nhưng không hoảng sợ, cuống quýt. Tôi thẫn thờ đứng đó cho đến khi ”cô bé mắt buồn”(CBMB) lên được chuyến phà kế tiếp. Tôi dõi mắt nhìn theo cho đến khi  chiếc phà rời xa bến. Châm một điếu thuốc, hít một hơi thật sâu, tôi thắc mắc tự hỏi: Tại sao giữa đám người đông đúc, tôi chỉ nhìn thấy độc có đôi mắt buồn? Điều gì đã xảy ra, mà lòng tôi giờ đây như dậy sóng? Tôi nhớ câu thơ của Quang Dũng trong bài “Đôi mắt người Sơn Tây”
“Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây…”
Đôi mắt buồn mãi theo tôi từ hôm đó!


Sau giờ tập QS Học Đường. Hình chụp cùng người bạn trước khuôn viên Trường Đồng Khánh.

Những ngày kế tiếp, mấy đứa bạn, nhìn thấy những thay đổi trên khuôn mặt của thằng bạn, mọi khi thích bỡn cợt, nay trầm ngâm, xa vắng… đoán chắc tôi đã phải lòng CBMB. Trước sự trêu chọc, khi thì tôi ỡm ờ qua chuyện, khi thì quắc mắt, nắm tay đòi đấm, nếu sự đùa giỡn vượt quá lằn ranh tôi cho phép. Và cứ thế, mỗi ngày, đôi mắt buồn là nổi ám ảnh ở chật lòng tôi. Tìm gặp đôi mắt buồn trở thành một nhu cầu không thể thiếu, trong lịch trình hằng ngày của tôi.  Nạn nhân… vô tội của tiếng sét quái ác kia là cô bạn gái của tôi. Cô vẫn hồn nhiên, vui vẻ, mỗi khi gần tôi, không hay biết và cũng chưa cảm nhận được rằng, một điều gì đó đã xảy ra. Nói đúng ra, vào lúc đó, chưa có điều gì đã “thật sự” xảy ra. Sấm sét, giông bão có chăng, là chỉ mới dấy khởi trong lòng tôi. Sau gần hai, ba tuần lễ theo dính như cái đuôi, tôi còn chưa biết đến tên CBMB nữa là?

Thế rồi, tháng huấn luyện Quân Sự Học Đường cũng đã chấm dứt. Chúng tôi trở lại trường, tiếp tục nốt chương trình văn hóa bị dang dở vì chiến cuộc. Tôi gặp lại cô bạn gái đều đặn mỗi ngày. Càng gặp, tôi càng mặc cảm mình đã làm điều sai trái, dù điều “sai trái” chỉ mới manh nha, nhưng dường như đã vượt thoát khả năng chống trả của tôi. Tôi không quen lừa dối, cũng không thích lừa dối. Tôi không có tính tham lam, cũng không thích tham lam nhưng giờ đây, trong hoàn cảnh này, làm sao chối bỏ được tôi là người đang tham lam và tôi cũng đang lừa dối! Suy nghĩ đó, thú thật, đã dày vò tôi và làm tôi chẳng thoải mái chút nào.
Sau bao ngập ngừng, dằn vặt, tôi quyết định, không thể và không nên kéo dài tình trạng mập mờ này nữa. Phải có sự lương thiện tối thiểu, phải lấy hết can đảm để “thú tội” rằng tôi không còn xứng đáng sự tin cậy của nàng nữa. Không phải dễ dàng để nói lên điều đó, và hiển nhiên, cũng chẳng phải dễ dàng để tiếp nhận điều đó, nhất là khi người nhận có vẻ hoàn toàn…không chuẩn bị. Có lẽ, đây là một trong vài trường hợp hiếm hoi trong đời, tôi tự trách mình thậm tệ. Nàng bỏ học 2 ngày, lúc trở lại, mắt vẫn còn đỏ hoe và tôi bỗng ghét tôi vô cùng tận, không những lúc đó, mà ngay cả bây giờ, mỗi khi nhớ lại.

Bây giờ thì tôi có thể yên tâm dành toàn thời gian đóng vai cái đuôi ngoan ngoãn…của CBMB. Tôi cũng đã biết được thêm một vài thông tin, không trực tiếp từ “đương sự”, mà qua tình báo thu thập được của mấy tên bạn, qua mấy cô bạn mới, mà bọn nó đang ráo riết theo đuổi. Cô bé họ Hoàng, Hoàng Thị T., học lớp Đệ Nhị C. Vậy là tôi đã đoán sai. Việc đưa đón, cũng đã có vài thay đổi: thay vì chờ đợi ở bến phà, nay tôi còn tìm cách nới rộng “địa bàn hoạt động”, theo nàng qua tận bên kia sông, nơi nàng gửi xe đạp, rồi từ đó, lẽo đẽo theo sau, đến tận nhà nàng, ở mãi tận Bãi Dâu. Đây là một nơi, mà mới cách đây vài tháng, trong thời gian biến động, đã nổi tiếng với các vụ lùng sục, bắt bớ, các Tòa Án Nhân Dân mà chánh thẩm không ai khác hơn là “Thầy” Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nhà mô phạm bỗng biến thành tên đao phủ; các bản án tử hình được đọc và thi hành một cách vội vã và các mồ chôn tập thể. Bãi Dâu đã trở thành địa danh bất hủ trong bản nhạc “Hát trên những xác người” của Trịnh Công Sơn: “Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người…” Trước đây, tôi biết đến đường Chi Lăng, khu Gia Hội, nhờ thỉnh thoảng đi xem phim ở hai rạp hát Châu Tinh và Gia Hội, nhưng chưa bao giờ có dịp đặt chân đến khu Bãi Dâu này. Những lần đầu, theo đuôi Hoàng Thị đến khu này, tôi vẫn thấy rờn rợn, như đi vào bãi tha ma vậy, cũng may có Trí, luôn theo hộ tống, nên tôi cũng bớt rét. Nghĩ lại, tôi thấy mình thật ngu ngơ: đi tán mà lại chở theo thằng bạn ngồi lù lù phía sau, hỏi sao người ta không hãi? Chưa kêu cảnh sát bắt đã là may. Chắc vì vậy mà dọc đường, Hoàng Thị vẫn luôn giữ im lặng, mắt luôn nhìn đàng trước, nhứt định không nghe, không thấy, trước những câu hỏi vớ vẩn làm quen của tôi. Một hôm trên đường về, trời đổ mưa bất chợt, không biết sao hôm đó tôi lại có đến hai cái áo mưa. Đúng là dịp may hiếm có để tôi tiếp cận người đẹp. Nhưng mặc cho tôi năn nỉ, nàng vẫn một mực lắc đầu từ chối, mặc cho mưa thổi tạt ướt như chuột lột. Cũng may, tôi là kẻ yêu mưa, nên dù đội mưa, tôi vẫn vui vẻ, nếu không nói là hoan hỉ, theo nàng… lội nước. Và cứ thế, ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần khác không mỏi mệt. Trời nắng, trời mưa, ngay cả lúc giông bão, cây gãy, ngói bay… lúc nào cũng có tôi, mong ngóng, chờ đợi, không buồn, không nản, không chán. Mới biết lúc yêu, con người có thể trở nên kiên nhẫn, lì lợm đến phát ghét! Dù vậy, đôi khi tôi cũng phải tự hỏi: phải chăng mình đang theo đuổi một bóng ma?

Nhà nàng nằm trong một hẻm cụt, thêm một trở ngại không cần thiết. Chuyện nhỏ, tôi tìm cách ”tán” luôn anh chàng SV Khoa Học tên Thắng, nhà ở ngay cuối hẻm. Thế là từ nay “danh chánh ngôn thuận” ra vào con hẻm. Tôi còn nhớ anh chàng chắc hơn tôi một, hai tuổi. Thoạt mới gặp, thú thật tôi hơi hoảng, vì chàng ta, với mái tóc hớt một mái, dáng vẻ công nhân hơn là sinh viên, nhắc nhở tôi hình ảnh của tên du kích tôi đã gặp vào những ngày đầu biến cố. Tôi đâu còn lựa chọn nào khác? Thật ra anh ta cũng dễ thương và thông cảm. Nhờ có anh, tôi có dịp vô ra ngõ thường hơn, thoải mái hơn, nhất là vào những ngày nàng nghỉ học. Dù không diện kiến, ít ra, tôi cũng vẫn hít thở được “không gian” của nàng. Nếu may mắn, tôi có thể nhìn thấy nàng ”hiện ra” ở khung cửa sổ phòng nàng, một căn gác lửng, dưới tàng cây vú sữa, tóc xõa dài, mắt buồn, lặng lẽ nhìn xuống. Với tôi, hình ảnh nàng vào giây phút đó, là hình ảnh của một Thánh Nữ, tinh khiết, tuyệt vời, dù hơi u uẩn. Từ một mẩu người rất “đàn ông”, mạnh dạn, chủ động, cứng rắn… tôi bỗng hạnh phúc trong vai Đoàn Dự, một anh đồ gàn, nhân vật tôi rất yêu thích trong kiếm hiệp Kim Dung, người đã thành khẩn dập đầu đến tươm máu, trước vẻ đẹp xuất phàm của pho thạch tượng mỹ nữ. Trong giây phút ngắn ngủi, đôi mắt chạm nhau không tránh né tôi cảm nhận được niềm hạnh phúc nàng vừa ban phát.

Rồi niên học chấm dứt, Hoàng Thị thi đỗ kỳ thi Tú Tài Bán Phần. Tôi hoan hỷ, mừng thầm cho nàng. Tôi nhớ ngày có kết quả, không phải thí sinh mà cũng chẳng phải thân nhân, tôi hăng hái chen lấn trước khung niêm yết, được bảo vệ bằng một lớp lưới thép mỏng. Tên nàng xuất hiện với ngày sinh nhật ở gần cuối bảng. Tôi lại đoán sai lần nữa: CBMB chỉ nhỏ hơn tôi chưa tới một tuổi.
Phần tôi, kết quả kỳ thi cuối năm đã làm tôi giật mình đánh thót. Trong nhóm 3 đứa bạn chơi thân, cùng học Dự Bị, chỉ có mình tôi “may mắn” đỗ kỳ thi cuối năm. Sữ rớt DBVK Anh Văn, Tuấn rớt DB Y Khoa; riêng Trí thì vẫn “tàng tàng” tiếp tục chống chiến tranh! “Liên Minh” tan rã. Sữ gia nhập Trường Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, Tuấn tình nguyện vào Hải Quân.

Được tin tôi thi đỗ, gia đình tôi thúc hối tôi vào Sài Gòn, ghi danh thi vào ĐHSP. Chuyện cũng hợp lý thôi, gia đình tôi “Bye, Bye” Huế đã mấy tháng nay. Tôi miễn cưỡng chấp thuận, tự trấn an với suy nghĩ: Thôi thì cứ đồng ý đại, vào đó, cố tình thi “quấy quá”, rớt xong, tôi sẽ có lý do chánh đáng để xin trở về học tiếp ở ĐHSP Huế. Làm sao có thể rời xa “pho thạch tượng” của tôi được, dù cho đến giờ này, nàng vẫn chưa bày tỏ một dấu hiệu cụ thể nào để làm tin?

Hai ngày trước khi lên máy bay rời Huế, không còn chọn lựa nào khác, tôi quyết định đến gặp nàng. Tôi thu nhặt mấy cuốn sách Triết lớp Đệ Nhất của tôi trước đây, viết vội trên một miếng giấy nhỏ vài hàng, đại khái báo cho nàng biết tôi sắp rời Huế, và ngỏ ý muốn được gặp nàng, ngày mai, lúc một giờ trưa, ở ngay đầu hẻm. Tôi cẩn thận kẹp miếng giấy vào cuốn Tâm Lý Học. Lần này, thay vì chạy lướt qua, tôi lấy hết can đảm quẹo xe vào nhà nàng. Hình như nàng đang giúp Mẹ làm gì ở sân trước, thấy tôi xuất hiện khá đột ngột, đôi mắt buồn bỗng mở ra thật lớn, một thoáng ngạc nhiên, thắc mắc, một biến đổi nhẹ nhàng trên khuôn mặt mà tôi đoán là một nụ cười. Không hốt hoảng như tôi đã dự đoán, nàng nhìn thẳng vào mắt tôi, nhẹ nhàng hỏi: “Ông đi mô đây?”. Tôi giật mình bởi tiếng “Ông” vừa lạnh lùng vừa xa lạ, nhưng cố gượng cười, nhỏ nhẹ cho nàng biết, tôi mang mấy cuốn sách Triết đến cho nàng mượn. Nàng quay lại cười cười nói dối mẹ…: “Anh con nhỏ bạn cùng lớp mang cho mượn mấy cuốn sách.”…Sau đó nàng mời tôi vào nhà, mời ngồi và đi vào trong lấy nước. Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Trước đây, tôi đã từng đoán sai tuổi, sai lớp và giờ đây, tôi lại đoán sai cả phản ứng của nàng, trước sự “đột nhập” khá đường đột của tôi. Người chủ động đến thăm thì luống cuống, mà người “bị” thăm bất chợt, thì lại bình tĩnh, chững chạc! Tôn Tử đã chẳng từng nói: “Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng”. Phần tôi, nhận định sai bét, chẳng hiểu địch, mà cũng chẳng hiểu ta làm sao đánh thắng được đây? Câu tả̃ lời chắc cũng đơn giản thôi: Nàng không lúng túng, không bị động như tôi đã nghĩ, chắc tại nàng cũng đã có ít nhiều cảm tình với tôi, chỉ tại tôi khờ nên không đoán ra. Tôi không ở lại lâu, chỉ chia vui với nàng vừa thi đỗ và việc tôi mang lại mấy cuốn sách mà tôi nghĩ, năm tới nàng sẽ cần đến. Tôi không nhớ đã nói cho nàng biết, tôi sẽ rời Huế, trong lần gặp gỡ ngắn ngủi đó. Có lẽ ,tôi nghĩ tờ giấy nhỏ kẹp trong sách, sẽ thay tôi làm điều đó. Phần nàng, mặc dù cũng có nói chuyện chút chút, lịch sự, nhưng, một tiếng “Ông”, hai tiếng “Ông” như cố tình vạch một lằn ranh, không muốn tôi vượt quá. Tôi ra về, lòng nhiều thắc mắc hơn giải đáp.

Ngày hôm sau, tôi hồi hộp đến điểm hẹn đầu ngõ, lòng bán tín, bán nghi: Nàng sẽ đến hay không? Với tôi, câu trả lời rất quan trọng, phần nào đó sẽ giúp tôi biết được lòng nàng trước khi rời Huế. Dù sao, tôi cũng đã chuẩn bị một “món quà” thật nhỏ bé, nhưng theo tôi, mang nặng giá trị biểu tượng: Một trái tim tôi tự cắt đẽo, từ một miếng “quế” (tên riêng của nàng ở nhà). Miếng quế dày khoảng gần 2cm và có một “lịch sử” khá đặc biệt. Vào những ngày đảo chánh 1963 lật đổ TT. Diệm, mấy anh lính Thiết Giáp, với nhiệm vụ trấn giữ Tư Dinh Cậu Cẩn, đã lén lấy và đem tặng lại cho gia đình tôi. Tôi ngồi trên xe, dưới cái nắng trưa khá gay gắt, mắt bồn chồn hướng về con hẻm, nay đã trở thành quá quen thuộc. Đúng một giờ, vẫn trong tà áo dài trắng, CBMB lững thững đạp xe ra khỏi ngõ. Tôi hoan hỷ như vừa trúng số độc đắc. Chưa kịp biểu lộ mừng rỡ, thấy tôi, nàng trợn mắt ra vẻ ngạc nhiên hỏi: “Ông đi mô mà giờ ni ở đây?”. Đúng là con gái Huế, đã đến chỗ hẹn với người ta rồi, mà còn làm bộ mắc cỡ, hỏi này, hỏi nọ. Tôi cười chọc lại: “Thấy buồn buồn, không biết đi mô, nên đến đứng đây chơi. Còn T. đi mô mà nắng nôi rứa?” Nàng mau mắn nói: “T. qua Bưu Điện gửi thư”. Rồi cũng như mọi khi, người rồ xe, người cọc cạch đạp, chạy bên nhau, giữa đường phố vắng người, lòng ngổn ngang tâm sự, nhưng sao lời lẽ lại gượng gạo, thưa vắng? Nếu phải tự đánh giá, tôi thấy tôi thật dở: thiếu mạnh dạn, thiếu tự tin, thiếu sáng kiến. Trên thang điểm từ một đến mười, không chút do dự, tôi tự cho mình… “Number One”! Bình thường tôi lí lắc, thông minh, hoạt bác, tiếu lâm, bên cạnh CBMB, tôi như người cụt lưỡi, tôi biến thành Đoàn Dự, vụng về, bị động, cù lần nhất nước! Tôi tự hỏi, phải chăng đó là dấu chứng, để nhận diện những thằng bị ”sét” đánh như tôi? Chắc là vậy! Nhãn quang, tâm lý của “nạn nhân” tiếng sét ái tình, khác hẳn những kẻ yêu đương bình thường. Có thể “dòng điện siêu cao thế” trong phút chốc, đã biến đổi não trạng của họ. Đối tượng bỗng trở thành Tiên, thành Thánh. Bản thân, ngược lại, thuần thành như một “tín hữu”, cọng thêm chút vụng về ngốc nghếch. Người ta tán tỉnh, chinh phục người tình, có thấy ai tán tỉnh, chinh phục Tiên Thánh đâu? Trên đường về, tôi gợi ý cùng ghé uống ly chanh đá ở một quán ven đường, nàng cười mỉm nhưng lắc đầu. Đi loanh quanh, rồi cuối cùng cũng về gần tới ngõ, tôi lặng lẽ móc túi, lấy trái tim quế, mà trước đó tôi đã đục một lỗ nhỏ và xâu giây, vói tay qua và móc vào guidon xe nàng. Phải nói, tôi hơi thất vọng về buổi hẹn đầu tiên. Tôi có cảm tưởng như luôn có một làn sương mỏng bao phủ quanh nàng, một lớp vỏ bọc luôn ngăn cản không cho phép tôi được thật sự đến “gần” nàng. Mà tôi đâu còn thời gian nữa, ngày mai tôi đã phải rời xa nơi này rồi! Theo thuyết nhà Phật, biết đâu, đây chẳng là một trường hợp ”quả báo nhãn tiền”, tôi đang phải trả nợ cho “sai trái” của tôi vừa qua?

Tôi đặt chân đến Sài Gòn, giữa nỗi vui mừng được gặp lại Ba Mạ cùng gia đình Anh Chị, nhưng chút tình dang dở để lại Huế, vẫn là niềm ám ảnh không nguôi. Tôi viết vội vài hàng thăm Hoàng Thị, báo cho hay tôi đã đến nơi bình yên và luôn nghĩ đến nàng. Khoảng 10 ngày sau, tôi nhận được thư hồi âm. Cầm thư trên tay, nhìn thấy tên nàng, tim tôi đập loạn xạ. Ôm thư chạy vội lên gác, phóng lên giường, với tay lấy chăn đắp chẳng khác gì khi còn bé, vào những đêm đông mưa lạnh, tôi hăm hở nhảy lên giường, trùm chăn kín, với một gói đậu phụng rang còn nóng hổi, dấu vội trong túi áo ngủ. Lá thư này, với tôi, là “chứng tích” đầu tiên, thấy được, sờ được sau bao ngày mong đợi. Trên nền giấy trắng, nét chữ bằng mực tím, mạnh dạn, lả lướt, khác hẳn con người nhỏ nhắn, rụt rè… kích thích tôi đến ngộp thở. Tôi vẫn còn nhớ mãi cái cảm xúc tuyệt vời của giây phút đó. “ Trước hết, xin được phép thay thế tiếng “Ông” xa lạ bằng tiếng “Anh”… Lá thư mở đầu. Trong thư, nàng kể lại một sự kiện thật lạ lùng: Sau lần chót gặp tôi ở đầu ngõ, liên tiếp mấy ngày sau không thấy tăm dạng, mãi thắc mắc vì sự vắng bóng của chiếc xe đen, mỗi ngày vẫn lượn qua lại trước nhà, ngồi buồn, lơ đãng lật mấy cuốn sách Triết tôi mang “cho mượn”, bỗng nhiên một tờ giấy nhỏ rớt xuống, vội vã nhặt lên nàng mới hay đó là lời nhắn gửi tôi đã kẹp vào trang sách, báo nàng biết tôi sắp phải rời xa Huế. Nàng đã bật khóc! “Đọc được những dòng chữ đó khi anh đã xa ngút ngàn”. Hôm trước ngày tôi đi, nàng nhớ lại, đang trưa, tự nhiên cảm thấy một cái gì đó như dục dã, thôi thúc nàng vội lấy xe đi, tiện thể ghé Bưu Điện bỏ thư. Vì vậy khi gặp tôi đứng đợi ở đầu hẻm, dưới nắng trưa, nàng hết sức ngạc nhiên chứ không phải giả vờ do mắc cỡ như tôi đã nghĩ oan cho nàng.

Thì ra thần giao cách cảm là chuyện có thật! Và đây không phải là lần duy nhất, tôi sẽ kể thêm ở đoạn sau.                                                                                           

“Có gì đâu một lá thư
giấy như giấy trắng, mực như mực thường.
Cũng chưa một chữ rằng thương
mà tôi đọc cả đêm trường sang mai.
Không nhớ nữa, ngắn hay dài?
Hình như tôi đọc cả ngoài trang thư…”
Sáu câu thơ lục bát tuyệt vời của một nhà thơ nào đó, tôi rất tiếc, đã không nhớ tên, như đã nói lên trọn vẹn nỗi cảm xúc của tôi, khi nhận được lá thư đầu của CBMB.
Không lâu sau đó, tôi thất vọng vô cùng khi biết mình vừa trúng tuyển vào ĐHSP Sài Gòn. Cái bản năng háo thắng, muốn thi đỗ của tên thí sinh, dường như đã lấn lướt, chiến thắng cái “âm mưu thi quấy quá” của tên si tình, thi rớt để được trở vể với người tình sầu mộng. Như vậy, tôi đã vô tình tự phá vỡ âm mưu của chính mình. Tương lai cuộc tình bỗng trở nên mù mịt hơn bao giờ hết.

Nhịp độ trao đổi thư khá đều đặn trong sáu, bảy tháng sau đó. Trong mỗi lá thư, ngoài những nỗi niềm mong nhớ, tôi hay kể nàng nghe những sinh hoạt hằng ngày của mình về ngôi trường SP, Thầy Cô, bạn bè, mới có, cũ có… Hiển nhiên là tôi không hề đả động gì đến việc trong số bạn cũ, có luôn cô bạn gái của tôi trước đây. Nàng quyết định rời Huế trước tôi khá lâu, nhưng rồi chỉ học được vài tháng, sau đó, nhận được học bổng đi du học ở Pháp. Nhưng dù có kể, chắc nàng cũng không biết, vì có bao giờ tôi dám nhắc nhở gi đến nhân vật thứ ba này đâu. Tôi kể về câu lạc bộ của Trường, nơi thỉnh thoảng tôi vẫn hay lại ăn bánh cuốn, uống sữa đậu nành; về Nhà Thờ Tân Định, nơi tôi vẫn đi lễ hàng tuần; về quán cà phê Lan Anh, nằm ngay sát cạnh nhà thờ, đối diện với Bưu Điện Tân Định, với khoảng sân có tàng cây che mát, nơi mà tôi với Trí vẫn thích ngồi cuối tuần, vừa nhâm nhi cà phê, vừa nhìn ông đi qua, bà đi lại…
Phần nàng, mỗi lá thư đều mang một nội dung buồn man mác, mà tôi lờ mờ, không đoán nổi nguyên nhân? Thuở đó, tôi đã ngốc, mà nàng cũng chẳng khá gì hơn. Lẽ ra, mọi chuyện dễ đoán như bài toán cọng, nhưng tại sao hồi đó, tôi ngốc nghếch không nghĩ ra, để rồi đâm ra nản lòng? Nàng buồn nản chắc tại nỗi hụt hẩng, nhớ thương. Nhưng sao nhớ thương mà hổng nói đại ra cho người ta ấm lòng? Tôi vẫn mong nghe được hai tiếng yêu thương từ CBMB của tôi. Tôi mong đợi một cái gì rõ ràng, cụ thể, phần nàng thì lại thích gửi đi ẩn số, tín hiệu, mà toàn là loại tín hiệu phức tạp, mà một thằng loại “sét đánh” như tôi không thể nào giải mật được. Tôi nào khác gì dân tộc Do Thái, vẫn ngày đêm mong đợi Đấng Cứu Thế trong lúc Ngài đã đến, đã chết đi, đã sống lại về Trời. Cái ngu ngốc là ở chỗ đó: Cc̀ nắm trong tay mà cứ loay hoay tìm kiếm.

Cứ vậy cho đến một ngày, bỗng nhiên thư nàng không đến nữa. Tôi quay quắt, thắc mắc không biết điều gì đã xảy ra? Thư đi thì có, nhưng hồi âm thì không. Thời đó, trở ngại không gian là cả một vấn đề. Bưu Điện nhãn hiệu “Con Rùa” là phương tiện duy nhất để liên lạc. Điện thoại dây còn quá hiếm hoi, là món hàng xa xỉ chỉ dùng cho cơ quan và một thiểu số tư gia ông lớn. Nếu mọi chuyện êm ả, thông suốt thì chẳng thành vấn đề, nhưng lỡ có trục trặc, khủng hoảng... thì thật nan giải, khó khăn. Những tình cảm nóng hổi “vừa thổi vừa viết”, những trăn trở, thổn thức lúc đến tay nhau, đã trở thành nguội lạnh, quá “date”. Tiếc thay, thuở đó, Bill Gates và Steve Jobs, cha đẻ của Microsoft và Apple cũng chỉ mới 14 tuổi, riêng Mark Zuckerberg, sáng lập viên của Facebook, vẫn còn là “hạt bụi” bay lơ lửng, vô định giữa bầu trời, chưa tìm ra bến đỗ. Bằng không…?
Hai ba lá thư gửi đi không kết quả, tôi mệt mỏi đầu hàng! Tưởng Tích lịch hỏa là lửa Trời, là thiên thu, là bất tận, nào ngờ cháy lẹ còn hơn cả lửa rơm?

Sau một thời gian dao động, ấm ức, mọi chuyện rồi cũng đi dần vào quên lãng. Tôi trở lại với những sinh hoạt bình thường không mộng mị, không mơ ước. Một ngày khoảng tháng 10 năm 70, giữa trưa rực nắng, tôi rủ Trí lấy xe chạy lên Sài Gòn. Để làm gì? Thật tình tôi không nhớ rõ. Mà ở tuổi đó, hô đi là đi, cần gì lý do? Trí làm tài xế, tôi ngồi phía sau. Đang chạy ngang đoạn đường Nguyễn Huệ, ngay ngã Tư Lê Lợi, thả mắt nhìn lơ đãng đám người đang vội vã băng qua đường, tôi bàng hoàng nhìn thấy một bóng dáng thật quen thuộc! Không thể sai được, đúng nàng rồi, đúng CBMB…của tôi rồi! Tim tôi nhảy thình thịch, mau chóng bắt lại “nhịp cũ”. Tôi vừa la, vừa thụi mạnh vào lưng Trí: “Ê Trí, dừng, dừng lại!” Trí thắng nhanh, trợn mắt quay lại, nhìn tôi thắc mắc. Trong hơi thở dồn dập, tôi nói: “Hoàng Thị ngày xưa” đằng kia kìa, mi thấy không?” Không đợi câu trả lời, tôi nhảy vội xuống xe, chạy ngược dòng xe như bị ma rượt, hay đúng ra phải nói rượt ma, chắc đúng hơn. Khi còn cách một khoảng ngắn, tôi gọi lớn tên nàng. Giật mình, nàng quay đầu lại, đôi mắt nàng mở lớn, xúc động, ngạc nhiên không che dấu. Tôi vội hỏi: “Sao vô Sài Gòn hồi nào mà không cho anh biết?” Sau giây phút ngỡ ngàng, lấy lại bình tĩnh, nàng nhỏ nhẹ cho biết: T. lên Đà Lạt nghỉ dưỡng bệnh gần tuần lễ, trước khi về lại Huế, ghé SG thăm người chị bà con, luôn tiện dự lể mãn khóa Thủ Đức của anh P. Tôi khựng lại như bị điện giật! Tôi biết P. đã lâu, ngày xưa cùng học chung Nhu Đạo ở sàn tập Lửa Hồng, của nhóm Hướng Đạo Huế. P. hơn tôi chừng vài tuổi, là thầy dạy kèm mấy chị em Hoàng Thị đã khá lâu. Qua thư từ trao đổi trước đây, nàng có cho biết là anh chàng đã ráo riết  theo đuổi từ lâu, nhưng vẫn theo nàng không kết quả. Nhưng đó là chuyện ngày trước, mọi chuyện hình như bây giờ đã thay đổi. Dù khá bất ngờ khi nghe tin, tôi vẫn xin địa chỉ người chị bà con và hứa ngày mai sẽ ghé thăm, và nếu được, sẽ chở cô bé đi thăm Sài Gòn một chuyến. Nàng đồng ý. Thú thật, nỗi hăm hở trong tôi chưa kịp bùng dậy, đã bị đẩy ngược, nhận chìm. Hiện tại, nàng đã nói rõ, chẳng còn gì để tôi phải thắc mắc hay khiếu nại. Duy nhất một điều cho đến giờ này, tôi vẫn chưa lý giải được: Thúc dục nào, tiếng gọi nào, động lực nào đã thôi thúc, đã xô đẩy, để giữa trưa nắng cháy, không hẹn hò, không nhắn gửi, tôi tự vác mạng chạy lên ngay Sài Gòn, đúng ngay thời khắc đó, đến ngay địa điểm đó, để gặp lại người xưa, giữa một thành phố đầy người, nhốn nháo… một nơi, cho dù có hẹn hò trước, đã chắc gì là sẽ dễ dàng tìm được nhau? Tôi chợt nhớ đến lần gặp chót ở đầu ngõ nhà nàng, trước ngày tôi rời Huế! Thật kỳ lạ! Xác suất như tìm kim đáy biển, mà lại xảy ra đến hai lần?

Có bao giờ tôi có thể mơ nghĩ sẽ có dịp gặp lại “Hoàng Thị Ngày Xưa” ở thành phố xa xôi này? Tuy nhiên, giờ đây, sau nỗi vui mừng, xúc động, dường như có điều gì đang tàn lụi trong tôi. Cảm giác gần gũi, thân quen vẫn còn đó nhưng nhịp tim hỗn loạn ngày trước đã ngưng. Dù vậy, tôi cảm thấy thanh thản, không buồn giận, chẳng trách móc. Qua nàng, giờ đây, chỉ còn lại hình ảnh tinh khôi của một người em gái. Trong suốt buổi chở nàng viếng thăm thành phố, với những chặng dừng theo yêu cầu của nàng: ĐHSP, Câu lạc bộ, nhà thờ Tân Định… Chúng tôi đã  nhắc lại, kể lại, giải thích cho nhau nghe, những chuyện đã qua. Thật sự, chúng tôi còn quá trẻ, dù được nối kết với nhau bởi “tiếng sét”, nhưng lại chưa gần nhau đủ, chưa hiểu gì về nhau, cọng thêm khoảng cách không gian vời vợi, làm sao hy vọng đưa cuộc tình vào quỹ đạo của vĩnh cửu? Sự ngô nghê của tôi, niềm tự ái, kiêu hãnh ngốc nghếch của nàng… tất cả đã góp phần biến "câu  chuyện tình Mậu Thân” thành một chuyện tình buồn không đoạn kết. Nhưng tự thân tâm, tôi vẫn luôn mãi tự hỏi: Phải chăng đã có nhiều uẩn khúc về phía CBMB mà tôi đã, và mãi mãi, sẽ không bao giờ biết được. Thôi thì đành… ”để gió cuốn đi”...

Trên bao điêu tàn đổ nát của mùa xuân ngày đó cũng đã nở được một nụ hoa. Hoa nay không còn, nhưng mùi hương nhẹ nhàng tinh khiết dường như vẫn còn quyện lại mãi sau gần nửa thế kỷ.

Viết xong ngày 19/02/2017
TRẦN VĂN THUẬN

(*) Cơ ngơi gia đình họ Ngô tại địa điểm trên, có tính cách chắp vá, bình dị, nếu không nói là bình dân, chẳng có gì đặc sắc, hoành tráng, diễm lệ… thường là đặc trưng của một dinh thự đúng nghĩa.

Đăng ngày 14 tháng 09.2019