Hồi ký

 

Trần Văn Thuận sinh ngày 19/05/1949 tại Huế.
Tốt nghiệp ĐHSP Saigon, Ban Pháp Văn, niên khóa 1968-1971.
Cử Nhân Giáo Khoa Pháp Văn, ĐHVK Saigon năm 1970.
Dạy học tại: THPT cấp 3 An Mỹ, Bình Dương 1971-1975. Tư Thục Lasan Taberd, Saigon 1973-1975. THPT cấp 3 Tân Uyên, Sông Bé 1976. THPT cấp 3 Lái Thiêu Sông Bé 1977-1979.
Vượt biên năm 1981, hiện định cư tại Houston TX.

 

Vượt biên

lan man tự truyện

Nói đến đề tài vượt biên, tôi tin chắc ai cũng đã từng nghe hoặc đọc nhiều câu chuyện, đa số thật rùng rợn, đầy chết chóc, tang thương, như những câu chuyện được kể bởi những nhân chứng đã sống sót và trở về từ đảo Ko Kra kinh hoàng… Câu chuyện của tôi là một câu chuyện... có “happy ending”, nhưng không phải vì vậy mà thiếu đi những hồi hộp, tù đày, những mất mát, lường gạt, cọng thêm nổi ám ảnh không nguôi của một vài cái chết, dù xa lạ, tình cờ… và cũng thật nhiều những may mắn bất ngờ, khó tưởng.

 

CUỘC ĐỔI ĐỜI... NGOÀI Ý MUỐN
Vào thời điểm năm 1975, vợ chồng tôi đã có được một cháu trai vừa được 5 tháng tuổi. Là con út, với các anh chị đang ở xa hoặc ở riêng, chúng tôi vẫn còn chung sống với Ông Bà Nội tại Sài Gòn, mặc dù cả hai đang công tác tại Trường THPT Cấp 3 An Mỹ, thuộc tỉnh Bình Dương, nằm cách Sài Gòn khoảng 30 cây số. Nhờ Trường không quá xa, nên chúng tôi có thể dễ dàng sáng đi, chiều về. Mặt khác, nhờ có ông bà Nội thương lo, chăm sóc, trông chừng cháu, nên vợ chồng tôi tạm yên tâm khi đi công tác xa. Nhờ phụ trách cấp lớp thi, nên số giờ giảng dạy quy định cho chúng tôi,không kể số giờ phụ trội, thường không quá 16 tiếng một tuần, và với sự sắp xếp khéo léo của Giám Học, thời gian công tác xa nhà thường không quá 2 ngày hoặc 2 ngày rưỡi mỗi tuần. Thêm 2 ngày tôi nhận dạy thêm tại Trường Lasan Taberd, thời gian còn lại, bọn tôi có dư để dung dăng dung dẻ. Nói cho ngay, chẳng có ai làm giàu với nghề dạy học, tuy nhiên vì cả vợ lẫn chồng đều đi làm, lại còn sống chung với cha mẹ, nên có thể nói cuộc sống của bọn tôi tương đối cũng thoải mái chứ không đến nỗi thiếu thốn.

Người viết với vợ con (Hình chụp khoảng năm 1979)

Buồn thay, ngày chiến tranh kết thúc, ngày mà cả nước được “thống nhất” dưới màu cờ đỏ “quang vinh” của Đảng CSVN, cũng là ngày cuộc sống của chúng tôi bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn, bế tắc! Ngày 19 tháng 5 năm 1975, lúc dân chúng Sài Gòn “bị” mời gọi xuống đường lần đầu tiên để “hoan hỷ” mừng sinh nhật Cụ Hồ, cũng đúng là ngày sinh nhật thứ 26 của tôi!
Là giáo chức, nhưng lại thuộc diện Sỹ Quan Biệt Phái, với cấp bậc Thiếu Úy, tôi cũng đã phải trình diện chính quyền “cách mạng” như tất cả các sỹ quan khác, trong lúc chờ đợi chỉ thị về vụ đi “học tập cải tạo”.

Thông cáo của Ủy Ban Quân Quản TP Sài Gòn - Gia Định, với nội dung rất rõ ràng là các SQ cấp Úy, lúc trình diện “học tập” cần “đem theo tiền ăn và quần áo, thuốc men... đủ cho 10 ngày”. Hai chữ “học tập” thoáng nghe thật nhẹ nhàng, quen thuộc, cọng thêm con số 10 hấp dẫn, một lần nữa, đã đánh lừa được người dân hiền hòa miền Nam đâm đầu vào rọ. Sở dĩ tôi nói “một lần nữa” vì bản thân tôi cũng đã từng được chính tai nghe lời mời gọi đi “học tập” này một lần rồi, vào dịp Tết Mậu Thân, tại Huế năm 1968, từ một sĩ quan QĐ Nhân Dân, khi họ vào lục xét nhà tôi vào rạng sáng ngày mồng 2 Tết. Sau khi tôi và ông anh tôi từ trần nhà leo xuống, “tự nguyện” trình diện, viên SQ nói: “Chúng tôi về đây chỉ để giải phóng thành phố, hai anh không phải lo sợ, nhà ở, đường đi. Tuy nhiên chiều nay, hai anh lo chuẩn bị ít lương thực, áo quần lên trình diện ở Chùa Từ Đàm để “học tập”. Chắc nhờ phước đức nhà tôi không đến nỗi tệ, nên anh em tôi đã làm lơ không đi “lễ Chùa” như đã được căn dặn, bằng không chắc cả hai cũng đã trắng xương, như hơn 4 ngàn người dân hiền hòa của Huế, không ở Khe Đá Mài thì cũng đâu đó ở Chùa Tường Vân, Lăng Tự Đức hay tại Bãi Dâu, Gia Hội?
Vậy mà chỉ có mới 7 năm sau, tôi đã vội quên. Đã thế, thay vì trình diện Sài Gòn với vỏn vẹn "10 ngày", tôi lại tự ý vác mạng đi trình diện "học tập" tại Bình Dương, nơi đã ra thông cáo, với cùng nội dung, nhưng với một khác biệt “... tiền ăn và quần áo, thuốc men, đủ cho 30 ngày...” nghĩa là dài gấp 3 lần thời gian quy định ở Sài Gòn! Người với trí thông minh trung bình, sẽ nhắm mắt chọn lựa Sài Gòn, riêng tôi thì không. Suy nghĩ của tôi phát xuất từ một nhận định thật ngây ngô: Cuộc đời của một Thầy Giáo như tôi làm gì nên tội, nay đất nước thống nhất, thanh bình trở lại, sẽ chẳng có gị thay đổi, chế độ nào rồi cũng vậy. Mình công tác tại đâu thì nên trình diện tại đó, dù thời gian học tập có dài hơn đôi chút, nhưng làm vậy chắc ăn hơn. Trình diện học tập ở Sài Gòn, dù ngắn hơn, nhưng có gì chắc chắn là sẽ không có đợt 2, đợt 3... nếu có, thì làm sao mà đi dạy ở Bình Dương? Cũng may, Ông Trời vốn hay “đãi kẻ khù khờ”, sau 3 tháng rưỡi “học tập tốt” tại Trường Trịnh Hoài Đức, ngay Lái Thiêu, toàn bộ giáo viên thuộc diện biệt phái, vài người gốc địa phương, số khác là dân từ Sài Gòn như tôi, được thả về, nhằm ngày “Quốc Khánh VC” đầu tiên, 02 tháng 9 năm 1975, để kịp bắt đầu niên khóa mới!

Tay cầm giấy chứng nhận “Tạm tha” với tấm hình đen trắng, tôi giật mình khi nhìn thấy, trên cùng tấm giấy, mình có đến hai chức vụ! Chức vụ công khai: Giáo Sư, Chức vụ bí mật: Thiếu Úy! Thì ra chế độ Cộng Sản khác chế độ Quốc Gia ở chỗ đó: nhìn đâu họ cũng thấy kẻ thù, nhìn đâu họ cũng thấy gián điệp. Nếu chế độ miền Nam có cùng thái độ, chắc chắn là ngày 30 tháng 4 đã không bao giờ có cơ hội xảy ra!
Được trả tự do, thay vì mừng rỡ, tôi càu nhàu chửi đổng: “Biết vậy đi trình diện Sài Gòn chắc đã về từ khuya. Đúng là ngốc!”. Về đến Sài Gòn, vừa bước chân vào khu phố nơi tôi cư ngụ, hàng xóm, nhất là những gia đình có người thân đi “học tập”, bu quanh, mừng rỡ thăm hỏi. Chỉ khi biết được mình là một trong những người cải tạo đầu tiên của miền Nam được trả tự do tôi mới biết được tôi may mắn đến chừng nào? Những sĩ quan trình diện ở Sài Gòn chưa một ai được thả. Các bạn giáo chức biệt phái như tôi, “lỡ dại” trình diện ở Sài Gòn mãi đến hơn 2 năm sau mới lục tục trở về, có người xui xẻo bỏ mạng, như trường hợp Viên, với biệt danh "Bò Viên", ban Pháp Văn trên tôi một lớp.

Chưa kịp hoàn hồn, ngày 22 tháng 9 năm 1975, chỉ 20 ngày sau khi tôi được cho về, và chưa đầy 5 tháng, sau ngày "giải phóng", cả miền Nam nhảy nhổm như bị “phỏng dái”, nhốn nháo, hỗn loạn với thông cáo đổi tiền. Năm trăm đồng tiền cũ, đổi lấy một đồng tiền mới Cụ Hồ! Không những thế, mỗi gia đình, đông người hay ít người, không cần biết, chỉ được đổi tối đa 100 ngàn đồng tiền cũ, có nghĩa mỗi gia đình chỉ đổi được, đồng đều và vỏn vẹn 200 đồng! Thiếu đủ? Chính quyền Nhân Dân không cần biết. Làm gì với số tiền cũ còn dư không đổi được? Chính quyền Cách Mạng cũng chẳng cần thắc mắc! Không thiếu những đại gia, tư sản mà ngay cả những người dân rất bình thường bức xúc, bất mãn vì bị cướp sạch, đã nhảy lầu hoặc uống thuốc chuột tự tử sau ngày "đẹp trời" đáng nhớ đó! Mà không phải chỉ đổi tiền một lần mà đến ba lần! Thử hỏi có Nhà Nước nào mà tận tình, chu đáo và thương dân như Nhà Nước CHXHCN Việt Nam ta không?

Năm 75 sau khi "học tập " về, bọn tôi vẫn tiếp tục đi dạy lại tại trường cũ, nhưng không còn quy chế hai ngày hoặc hai ngày rưỡi như xưa nữa, mà ít lắm cũng 5 ngày. Sang đến niên khóa 1976, cuộc sống chúng tôi bỗng dưng bị xáo trộn cùng cực do trường cũ bị “giải thể” (đóng cửa). Thay vì được đối ra trường cấp 3 Thị Xã (trước 75 là trường Giu Se, một tư thục Công Giáo, sau 75 bị Nhà Nước xung công) như một số các giáo viên khác, hoặc về một nhiệm sở gần nhà hơn, vợ chồng tôi có giấy thuyên chuyển về tận Trường PT cấp 3 Tân Uyên, trước đây thuộc Biên Hòa, nay trực thuộc Sông Bé, tên mới của tỉnh. Trường nằm sát cạnh Chiến khu D, một vùng hỏa tuyến sôi động trước đây, luôn đứng hàng đầu trong các bản tin chiến sự mỗi ngày. Trường hắc ám đến độ có câu truyền khẩu: “Tân Uyên đi dzễ khó dzề!”, có nghĩa nếu nhận nhiệm sở ở Tân Uyên thì sẽ mắc cạn luôn ở đó, vì chẳng ma nào chịu lên đó để thay cho mình về nhiệm sở mới. Đường đi thì xa hơn và trắc trở hơn, không dễ dàng sáng đi chiều về, mà phải ở lại đêm. Với đứa con vừa hơn 1 tuổi, cha mẹ tôi cũng đã gần tuổi thất thập, dĩ nhiên là chúng tôi cương quyết ra Phòng Giáo Dục phản đối, đòi cứu xét lại. Vợ chồng tôi lì lợm, ngày nào cũng đèo nhau ra “cắm dùi“ trước Phòng Giáo Dục khiếu nại. Cuối cùng hai bên phải tương nhượng: Bà Xã tôi được về Lái Thiêu, chỉ còn cách Sài Gòn 19 km. Phần tôi, chấp nhận thương đau, một mình đi trình diện nhiệm sở mới ở Tân Uyên.
Sau một niên khóa đầy nhọc nhằn ở một trường thuộc vùng… “hỏa tuyến”, không điện, không nước, không giuờng, không chiếu (Phải xếp bàn học lại với nhau để làm giuờng), tôi được chuyển về Trường TH cấp 3 Lái Thiêu, phần do may mắn kiếm đúng “tuyau”, phần do thành tích… “quậy” trong suốt năm trước đó.

Trong 6 năm liền, tôi đã sống qua nhà tù nhỏ, rồi lại bước vào nhà tù lớn, bản năng sinh tồn đã giúp tôi vượt qua bao gian nan, thử thách. Kinh nghiệm của những năm “bao cấp” quả thật quý giá và cần thiết để tôi, cũng như đại đa số người dân miền Nam “sáng mắt” và cũng đã khiến tôi dứt khoát chọn cho gia đình nhỏ bé của mình một hướng đi thật liều lĩnh, một chọn lựa “nhất chín nhì bù”: Vượt biên.
Nói thì đơn giản, nhưng thực tế chẳng dễ dàng chút nào, nhất là vào cái thời điểm mà ngay cả cái “cột đèn, nếu có chân, cũng muốn ra đi”, huống hồ là con người. Nhưng trở ngại “đầu tiên” và khó khăn nhất vẫn là trở ngại “tiền đâu”? Giá biểu của tự do đâu phải rẻ và có thể trả bằng tiền dỏm Cụ Hồ. Giá Tự Do thật ra quá đắt và phải trả bằng vàng, vàng ròng 24 KT! Đã vậy, đâu có gì bảo đảm là chỉ trả một lần là có được? Nhiều người, trong đó có tôi, đã phải trả nhiều bận, có người xui xẻo, bị tù đày, khánh tận, mà vẫn không đi được. Một số không phải ít, theo thống kê, có thể lên đến 20%, 30% số người trốn chạy khỏi nước, đã phải trả bằng chính mạng sống của bản thân và đôi khi còn của cả những người thân yêu đi cùng.

Thời đó, lương giáo viên cấp 3(*) chỉ vỏn vẹn 60 đồng một tháng. Các bạn có muốn biết trị giá của 60 “đồng bạc Cụ Hồ” vào thời điểm đó như thế nào không? Mong rằng các bạn sẽ không quá thất vọng. Với cái lương tháng của một giáo viên cấp 3 đó, bạn có thể mua được 600gr cà phê xay, không phải loại cà phê “cứt chồn”, “cứt voi” đâu. mà là một loại cà phê “hợp chất” đủ thứ: cà phê, cơm cháy, cau khô. hoặc nếu chê cà phê, với số tiền đó, bạn có thể mua được... 6 lít xăng theo giá chợ đen, loại xăng đã pha trộn dầu hôi. Với đồng lương thê thảm như vậy, niềm trăn trở là lấy tiền đâu cho bữa ăn tới chứ hổng phải tiền đâu để mua vàng vượt biên?
Trong hoàn cảnh sống dở, chết dở ấy, tôi may mắn được sự chở che, bao bọc của gia đình. Thấy vợ chồng tôi vất vả quá, vì thương con, Má tôi luôn giục giã bọn tôi tìm đường vượt biên, một đề tài tuy cấm kỵ, nhưng lại khá nóng bỏng vào dạo đó. Nhà nào may mắn còn cất dấu được ít vàng, sau các cuộc đổi tiền, kiểm kê tài sản, đều ráng tìm đường dây vượt biển, ít tiền hơn một chút, thì tìm cách móc nối vượt biên bằng đường bộ! Không có tiền thì cũng có cách, đặc biệt cựu Sĩ Quan Hải Quân nắm được kỷ thuật đi biển rất “cao giá”, hoặc cựu HQ làm ở văn phòng. nhưng có khả năng “ba xạo”, có thể được cho đi miễn phí. Có nhiều tàu xui xẻo gặp phải tay ba xạo, có gốc gác Hải Quân nhưng chẳng biết tí ti ông cụ nào về kỷ thuật hải hành, đến lúc phát hiện thì quá trễ. hên thì cả tàu lên ruột, điêu đứng, nhưng sống sót, xui thì cả đám đành ôm hận nghìn thu. Số khác thì dùng chiêu lừa đảo, gạt gẫm. Người khác, số may mắn, đi mò ốc, mò cua... vô tình phát hiện cảnh vượt biên, dù không bao giờ nghĩ tới hoặc chuẩn bị "xuất ngoại" cũng “nhảy tàu” đi luôn, chẳng ai dám làm khó dễ, do sợ bị phát hiện.

Với những ai từng có chút "kinh nghiệm" vượt biên, đều phải công nhận chưa có bài toán nào hóc búa, nát óc hơn bài toán vượt biên! Tin ai đây để có thể nhắm mắt trao họ một số vàng cho một “mặt hàng” mà mình không có quyền được thấy, được sờ cho đến giờ chót, mà cũng có thể là sẽ không bao giờ được thấy! Ngày xưa, Chúa từng nói với thánh Thomas: "Phúc cho ai không thấy mà tin!" Thời buổi loạn lạc này mà nhắm mắt theo lời Chúa dạy, thì chắc là không có quần mà mặc!
Ông Bà mình đã chẳng từng nói: “Bần cùng sinh đạo tặc”, trong cơn túng quẫn, đạo lý như một chồi non mọc trái mùa, không còn đất sống, con người dẫm lên nhau mà sống, con người giành giựt nhau, lừa đảo nhau mà sống! Mất tiền, mất vàng nhưng chẳng ai dám há miệng đi tố cáo, có là điên! Cũng ít ai dám liều lĩnh nghĩ chuyện trả thù, dù bị gạt đau như thiến. Vì vậy mà bọn lường gạt thừa thắng xông lên.

 

BÀI HỌC NHẬP MÔN ĐẮT GIÁ
Tôi biết khá nhiều về cái vụ này, vì tôi cũng đã từng bị thiến đến mấy bận! Năm 1978, ông anh tôi gặp lại người “bạn” của gia đình tên Thân Trọng B, người này ngày xưa, lúc còn là sinh viên, đã từng dạy kèm Toán cho mấy chị em tôi. Dù còn bé, tôi còn biết anh này “trồng cây si” bà chị của tôi, nắn nót chép lại những bài thơ tình với mực tím để lén gửi tặng... nhưng phần biết ba má tôi nghiêm khắc, phần khác, chắc tự lượng sức. không đủ tiêu chuẩn, nên ngay cả khi ra trường cũng không dám tiến tới. Về sau, anh này là một giáo sư Toán khá nổi tiếng ở Đà Lạt và là giảng viên tại Trường Võ Bị Đà Lạt, nơi người anh kế tôi đang theo học khóa 24, trong những năm 67-71.
Gặp lại sau thời gian dài, nghe anh nói đang chuẩn bị cho mấy đứa con đi vượt biên bán chính thức, do mấy người bạn thân của anh đứng ra tổ chức. Nghe người quen, lại là chỗ có thể tin cậy, nói có “tuyau” về tổ chức vượt biên bán chính thức, với giá “thân hữu”, thì tuyệt quá rồi còn gì? Anh tôi đem chuyện kể cho tôi và Má tôi nghe, ai cũng đồng ý muốn tìm hiểu thêm. Nghe Ông GS Toán trình bày sao mà mạch lạc, hay ho quá, làm người nghe ai cũng thấy thật hấp dẫn: Tàu dài bao nhiêu thước, ván dày bao nhiêu phân, gỗ gì, máy móc hiệu gì, mấy bloc... Anh ta hứa sẽ dàn xếp để gia đình nói chuyện trực tiếp với nhóm tổ chức.

Vài ngày sau, khoảng 10 giờ sáng, một chiếc xe La Dalat đến đậu ngay trước nhà tôi. Sau khi vào nhà, hai người đàn ông tự nhận là người trong ban Tổ Chức, riêng người đàn bà vui vẻ tự giới thiệu là vợ của anh TTB. Qua câu chuyện, đại khái họ cũng chỉ xác nhận lại những gì mà TTB đã nói trước đây, riêng về giá cả họ cho biết, vì còn trong thời gian đóng và trang bị tàu, nên ban tổ chức cần vốn, vì lý do đó, ai đóng tiền sớm, sẽ được ưu đãi về giá cả: vợ chồng tôi với thằng nhóc 4 tuổi, sẽ chỉ phải đóng 13 cây, thay vì 20 cây nếu đóng sau khi tàu hoàn tất. Sau phần trình bày, họ mời tôi và người anh theo họ đi xem tàu. Vào lúc mà vượt biên là đề tài cấm kỵ, bị bắt là “Ủ tờ”, bàn tính vượt biên cũng phải nhìn trước ngó sau, nay có người mời lên xe hơi, công khai đi xem tàu, thì rõ ràng họ là... thứ thiệt rồi.

Xe chạy chừng 1 tiếng đến một địa điễm, nếu tôi nhớ không lầm là ở Phú Lâm. Đến nơi, chúng tôi chẳng thấy tàu đâu, mà chỉ thấy một cái lườn tàu dài khoảng ba chục thước được chống đỡ tạm bằng các khúc gỗ, nằm chơ vơ trên đất liền, cọng thêm vài sườn tàu chênh vênh chưa tượng hình, tượng dáng. Ở một đầu có cắm một vài nén hương đã cháy còn trơ cọng. Đấy, chiếc tàu mà qua mô tả, cứ tưởng như là chiếc Titanic vô địch, thực ra, cho đến giờ phút này, vẫn còn là một “phôi thai“ không hơn không kém! Trong một hoàn cảnh khác, đối diện một thực tế phủ phàng như vậy, phản ứng của một con người bình thường phải là thắc mắc và đâm ra ngờ vực. Nhưng khổ nổi, giấc mơ đào thoát đã chiếm ngự, đã lấn lướt mọi khá năng phân tích, nhận định, đã biến chúng tôi thành những con người không bình thường, không dám nhìn thẳng vào sự thật, với suy nghĩ: người ta đã chẳng cho mình biết là họ đang thiếu vốn đấy sao? Vì vậy người ta mới cho mình giá đặc biệt! Về đến nhà, sau khi nghe bọn tôi báo cáo thuận lợi, má tôi cũng làm bộ như muốn kỳ kèo bớt giá nhưng thấy không có kết quả, đành bước vào phòng và mang ra 13 lượng vàng lá! Tên đại diện nét mặt hoan hỷ, mở từng gói một, kiếm điểm số vàng bên trong, y còn xin bà xã tôi cây kim cúc, bảo là để thử vàng!? Theo y, chắc cũng phải hơn tháng nữa tàu mới hoàn tất. Ngoài ra, còn phải mua lương thực, trang bị tàu, thủ tục Công An... chắc cũng phải thêm vài tuần nữa. Trong lúc chờ đợi, y nhắc chúng tôi lo tiến hành chụp hình và giao cho y để làm giấy tờ giả, với tên người Hoa. Và đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối, tôi nhìn thấy tận mắt số vàng mà ba má tôi đã chia đều, làm “quà tặng vào đời” cho mỗi đứa con. Đúng ra mỗi đứa con, dù trai hay gái, đều được 10 lượng vàng. Vì còn sống với ba má nên tôi vẫn chưa đụng tới số vàng trên. Như vậy là má tôi đã lỗ mất cho thằng Út thêm 3 lượng nữa!

Ngày tháng cứ qua dần, nhưng chưa thấy động tĩnh nào liên quan đến chuyến đi. Khi được hỏi, “ban tổ chức“ trả lời một cách miễn cưỡng, là phải chờ thêm vài tuần nữa. Lần khác: “Nhà Nước tạm thời đình chỉ chương trình đi bán chính thức, phải chịu khó chờ Trung Ương bật đèn xanh trở lại”. Càng kéo dài, cảm giác bị lừa đảo càng hiển hiện, trong lòng như lửa đốt! Tức giận, tôi đến nắm áo “ông Thầy Toán“, giờ này ông mới thú nhận chẳng biết gì nhiều! Đôi lúc quẫn trí, tôi thật tình nghĩ chuyện “tính sổ” cha nội này! Tuy nhiên, tức giận thì nghĩ thế, nhưng đâu phải dễ dàng để thực hiện những hành động trả thù. Nghĩ đến hậu quả khó lường do hành động điên cuồng của mình có thể gây nên, cũng như nhìn bộ mặt nhăn nhó, năn nỉ của chả, tôi lại thôi. Tôi nghĩ anh ta chắc cũng không đến nỗi tệ để chủ tâm lừa dối gia đình tôi, nhưng có thể, trong hoàn cảnh túng quẫn, y muốn giới thiệu khách, để kiếm chác một vài cây, hoặc tạo điều kiện, để gửi gắm con cái đi cùng, một lối mánh mung khá phổ biến trong một giai đoạn khó khăn, mà ai ai cũng muốn trốn chạy. Nhưng dù biện bạch thế nào đi chăng nữa, theo tôi, anh ta phải chịu trách nhiệm về vụ này, không có lời giới thiệu nồng nhiệt của y, đời nào gia đình tôi lại chịu tin và “chung tiền” dễ dàng như vậy! Lần đầu xuất quân mà đã thiệt hại nặng nề như vậy, đúng là xui xẻo và nản lòng.

"TIN VUI GIỮA GIỜ. TUYỆT VỌNG"
Năm 1979, năm thứ hai kể từ khi tôi được thuyên chuyển từ Tân Uyên về Trường PT Cấp 3 Lái Thiêu. Đang công tác bình thường, bỗng một hôm, người em cột chèo của tôi, Trung Úy Dược Sĩ Diệp Tử K, cho tôi hay, anh ta có đường dây đi chui, do người "quen" tổ chức. Vợ chồng tôi với vợ chồng K. ở gần nhau và rất thân nhau. N.L, vợ của K. là Nha Sỹ và là em gái bà xã tôi. Vào thời gian đó, N.L đang có bầu đứa con đầu lòng. Sau khi “tìm hiểu”, bọn tôi đồng ý giá cả, 8 cây cho hai vợ chồng tôi và thằng con 5 tuổi. Đóng trước 1 cây, phần còn lại sẽ đóng lúc lên tàu. Đã bị gạt trước đây, giờ như chim bị đạn, không còn dám tin ai nữa! Các người tham dự chuyến đi sẽ được chia thành nhiều toán nhỏ, người hướng dẫn nhóm cũng sẽ được chỉ định trước. Trong lúc chờ đợi ngày đi, bà xã tôi, theo đề nghị của má tôi, đã may cho tôi một cái nịt bằng vải, để tôi có thể đeo theo 7 lượng vàng còn thiếu chủ tàu. Riêng phần nàng thì cũng tháo nịt ngực và may dấu bên trong chừng 5 khâu vàng loại 1 chỉ. Chưa hết, má tôi còn nhờ đổi một tờ trăm đô la cho riêng cháu nội và cũng được may dấu vào lưng quần thằng bé. Tất cả sự chuẩn bị đó coi như để chúng tôi có chút tiền tiêu vặt nếu may mắn đến được trại tỵ nạn. Khoảng 10 ngày sau, ban tổ chức cho biết phần chuẩn bị đã hoàn tất, ngày giờ chuyến đi được thông báo, nhưng vì lý do bảo mật, không nghe nhắc đến chính xác địa điểm xuất phát, chỉ biết là miền Tây. Hai vợ chồng tôi và thằng con sẽ được chính ông bạn của K. hướng dẫn. Điểm hẹn với ông ta sẽ là bến Ninh Kiều, Cần Thơ vào 12 giờ trưa ngày D. Riêng vợ chồng K., bà mẹ K. và Tuấn, thằng em trai bà xã tôi, đang trốn “nghĩa vụ quân sự “ đi theo nhóm khác.

Sáng sớm ngày đi, lúc trời còn tối thui, chúng tôi đã khăn gói sẵn sàng, hầu như suốt đêm không tài nào chợp mắt, với bao nỗi lo lắng. Phút giây từ biệt mẹ cha làm tôi sợ hãi, còn hơn cả khi nghĩ đến những con sóng dữ đang chờ đợi chúng tôi trong những ngày sắp tới. Trong yên lặng của màn đêm, chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cố kềm hãm cơn xúc động, dù nước mắt cứ trào ra. Ông bà nội ôm ghì thằng cháu còn ngái ngủ, vừa hôn, vừa sụt sùi, xin ơn trên che chở cho con cháu.
Cái lạnh buổi sáng sớm làm chúng tôi tỉnh hẳn khi vừa bước ra khỏi cửa. Tôi cầm tay vợ con bước nhanh như trốn chạy ra khỏi ngõ khu cư xá Trần Quang Diệu, lòng nhủ thầm “Chào ba má con đi!“ dầu không dám quay đầu nhìn lại!

Dù đã có vợ con, dù đã là thầy giáo, nhưng vì vẫn còn chung sống với cha mẹ, tôi luôn có cảm tưởng mình chưa bao giờ thực sự được đảm nhận trọn vẹn cái trách nhiệm của một người chủ gia đình, dù nhỏ bé như của tôi. Xin đừng vội nghĩ đây là một lời than thở. Cuộc sống chung của chúng tôi có thể nói là rất hài hòa, thuận thảo. Ba má tôi thương yêu cô dâu út còn hơn cả con gái và ngược lại, bà xã tôi cũng luôn vui vẻ, hòa hoãn, mềm mỏng với mọi người bên nhà chồng. Nói chung, tôi lớn lên trong sự yêu thương, che chở và đùm bọc của cha mẹ. Lấy vợ, rồi có con, nhưng vẫn luôn nhận được sự chở che đó, nếu không nói là còn hơn cả trước vì nay lại còn có thêm cả ba má vợ. Tôi biết ơn, nhưng không vì thế mà tôi để sự thương yêu che chở đó biến tôi thành một thứ “mama's boy”. Tôi vẫn chững chạc, khéo léo và tự chủ trong mọi quan hệ và quyết định, nhưng vẫn luôn cảm thấy mình may mắn. Kể từ giờ phút này, tôi phải cởi bỏ và để lại cái vỏ bọc đã che chắn tôi bao lâu nay, trong chuyến đi đầy bất trắc và thử thách đang chờ đợi chúng tôi ở đàng trước.

Đúng 40 năm sau, giờ đây nghĩ lại, thật tình tôi hoàn toàn không nhớ tôi đã đi đâu, làm gì. để có thể có mặt đúng ngay giờ hẹn, tại bến Ninh Kiều, Cần Thơ này, một nơi mà trước đây tôi chưa có dịp đặt chân đến. Tôi vẫn hay nghe nói đến “người đẹp bến Ninh Kiều“, nên luôn mong có dịp đi Cần Thơ một chuyến, để ngắm người đẹp cho thỏa lòng. Giờ đây, dù đang hiện diện tại chỗ, nhưng còn lòng dạ nào! Thay vì dõi mắt kiếm người đẹp. tôi mở to mắt “khẩn trương“ kiếm người dẫn đường. Lạc mất anh ta là... mất tất cả, anh ta là đầu dây duy nhất mà tôi nắm được, có nhiệm vụ hướng dẫn chúng tôi đến nơi tập trung để lên tàu. Sau gần 10 phút quét mắt ngang dọc, tôi mừng rỡ nhìn thấy anh ta đang từ phía trái tiến lại, mắt cũng đang dáo dác, chắc để tìm tôi. Tôi định bụng sẽ lại chào hỏi anh ta và hỏi xem anh ta những “chỉ thị” cần thiết. Tôi hoàn toàn bất ngờ khi thấy anh ta tỏ ra mất bình tĩnh khi nhận ra tôi. Không chào hỏi mà cũng chẳng cần chờ đợi, anh ta vội vã gọi một chiếc xe lôi và nhảy phóc lên. Ở thế bị động vì bất chợt, không chuẩn bị, đến phiên tôi cũng phản ứng hốt hoảng, lôi tay vợ con, và gọi giật một chiếc xe lôi khác đang chạy trờ tới. Tôi gấp rút đẩy vợ con lên xe, mắt vẫn luôn dán chặt vào chiếc xe của người dẫn đường, miệng kêu người đạp xe chạy theo xe trước, mà tuyệt không nói đi đâu! Tôi vừa lo lắng vừa rủa thầm cái tên dẫn đường ngu ngốc và chết tiệt kia! Chạy chừng mười phút, vừa vượt qua một cây cầu, tôi thấy xe trước đổ lại trước một quán nước và tên hướng dẫn bước vào. Đến sau chừng 3 phút, sau khi trả tiền xe, tôi cũng lật đật kéo vợ con vào quán, kêu vội một ly cà phê sữa đá, mắt vẫn chằm chặp nhìn tên dẫn đường cà giật kia. Y tránh mắt tôi, cầm vội ly nước ngọt, tu một hơi dài và lửng thửng đứng dậy bước ra khỏi quán. tôi lại giật mình đánh thót, bụng chửi thề gần thành tiếng, dù cà phê chưa kịp đem ra, tôi lại vội lôi vợ con chạy theo thằng chả, lưng cảm thấy thật nhột nhạt, vì biết có nhiều ánh mắt ngờ vực đang nhìn theo. Tôi thấy thằng chả đi thẳng xuống bến đò máy, nằm xéo xéo bên kìa đường và leo lên một chiếc ghe đang nổ máy. Vợ chồng tôi cũng hấp tấp leo lên theo. Khỏi cần nói, chắc các bạn cũng biết tôi giận cái “ông” dẫn đường mắc dịch này chừng nào. Tôi chỉ mong đến được nơi nào vắng vẻ, để bóp cổ tên này một lát cho hả giận! Thật đúng Ông Trời thương, che mắt bọn Công An, ngoài những trường hợp hớ hênh vừa kể, do bị đặt vào thế bị động, chỉ cần nhìn sắc diện vợ con tôi, chắc cũng đủ đoán biết đây là dân Sài Gòn đang trên đường vượt biên. Trời sinh tôi nước da sậm, nếu không nói là hơi đen, nên đi đâu, làm gì, chắc cũng chẳng ai thèm để ý. Riêng vợ con tôi, dù đã cố tình ngụy trang với những bộ áo quần khá bình dân, lại còn đội cái nón lá cũ rích nhưng nước da trắng hồng thì thật khó che dấu. Mỗi lần vợ tôi lấy nón xuống để quạt, là mỗi lần tôi phải giành lại nón và... chụp lại lên đầu nàng. Cũng có thể tôi “có tật gìật mình” cũng nên? Ghe rời bến với chừng khoảng hơn 10 khách, ông dẫn đường cho đến giờ vẫn còn tịnh khẩu. Sau chừng 45 phút, ghe cập bến, tôi quan sát thấy ai cũng trả tiền, thì đoán chắc ghe này không phải của tổ chức. Thấy ông dẫn đường bước lên một ghe khác, bọn tôi cũng nối gót bước theo lên. Sau hơn 2 tiếng bập bềnh sóng nước, cuối cùng rồi ghe cũng đến trạm cuối, một cù lao thuộc địa phận tỉnh Sóc Trăng. Cũng đã hơn 6 giờ chiều khi chúng tôi bước chân vào điểm tập trung. Nhiều tàng cây, giúp cho khu vực bớt trống trải. Tại đây, tôi mừng rỡ gặp lại những người quen trong gia đình, ngoài ra còn có Tỵ, người bạn nối khố của K. với rất nhiều điểm trùng hợp: Cả hai đều là Trung Úy Dược Sỹ, đều là dân Nam Kỳ, hiền lành, vui tánh, thuộc loại “ăn to nói lớn“, cả hai đều là con một, to mập, lớn con, đều làm việc chung ở Phòng Y Tế Phú Nhuận, đều dẫn mẹ theo. chỉ có một khác biệt là Tỵ còn độc thân tại chỗ. Hai ông bạn này thân nhau còn hơn cả ruột thịt.

Trời bắt đầu sẫm tối, mọi người được thông báo giữ tuyệt đối im lặng, và nên kiếm gì ăn đỡ đói và chuẩn bị chỗ nằm nghỉ tạm, chờ khuya tàu lớn sẽ đến đón. Tôi lấy khúc bánh mì chả mang theo từ sáng sớm, nay đã có chút mùi thiu, bẻ ra chia cho mẹ con ăn tạm. Sau đó trải miếng vải dầu ra cho gia đình nằm. Thức suốt đêm qua, lại thêm một ngày dài di chuyển đầy lo sợ, hồi hộp, giờ đây, tôi cảm thấy thấm mệt, người mỏi nhừ. Phần lớn người trong nhóm chắc cũng đã kiệt sức, nên đều kiếm chỗ nằm. Trời mỗi lúc mỗi tối thêm, càng về khuya càng gió và hơi lạnh. Nằm thao thức, nửa mê, nửa tỉnh, trong đêm tối dày đặc, thỉnh thoảng tiếng ghe máy nổ dòn dã từ xa vọng lại, tôi thấp thỏm tự hỏi, không biết phải tàu mì̀nh không? Cứ thế tôi chìm vào gìấc ngủ lúc nào không hay. Bỗng nhiên, tôi đột ngột bị đánh thức bởi tiếng giục giã, không biết của ai: ”Bà con thức dậy! Thức dậy! Tàu không đến được! Phải dậy ngay, về lại Sài Gòn!“. Tôi lạnh cả người, sự sợ hãi như ôm chụp lấy tôi. Tôi vùng dậy, quờ tay nắm được tay bà xã, lúc đó cũng đã thức dậy, mặt mày nhăn nhó, hốt hoảng. Chưa kịp lấy lại thần hồn, bỗng nhiên từng loạt súng nổ, đạn bay cheo chéo qua đầu chúng tôi, kèm theo tiếng chân chạy rượt đuổi, ánh đèn rọi và tiếng chửi thề: ”ĐM tất cả nằm yên tại chỗ, đứa nào chạy là bắn bỏ! ĐM bọn nó dzô đây ăn ị đã mấy ngày rồi mà mình không biết!“ Thật kỳ lạ, vừa nghe tiếng súng, thì cơn sợ hãi của tôi cũng vội tan biến ngay, tôi gập người nằm che chắn ngay trên thân thể vợ con. Súng vẫn tiếp tục nổ dòn như muốn cướp đoạt tinh thần, cảnh hỗn loạn toàn khắp, tiếng khóc la vang lên nghe thật rợn người! Một tên đến gần, rọi đèn vào mặt tôi, đồng thời ra lệnh cho tôi đứng dậy. Y mau mắn lấy giây trói thúc ké hai khuỷu tay tôi ra đàng sau. Do phản xạ tự nhiên, tôi cố tình khuỳnh tay rộng ra, chủ ý không để y trói quá chặt. Trói tôi xong, y chuyển sang trói người khác. Đàn bà con nít may mắn không bị trói. Lúc đó tôi nghĩ chắc cũng khoảng 3, 4 giờ sáng, vì trời vẫn còn tối. Khoảng một giờ sau vụ đột kích, toàn bộ số người bi bắt giữ được tập họp lại và được lệnh tuần tự di chuyển xuống ghe, để được đưa về trụ sở Xã. Mặt mày ai nấy đều não nề, ủ dột trông thật thảm hại! Với hai tay bị trói quặp đàng sau, tôi khập khiễng bước theo vợ tôi, bất lực nhìn nàng, mặt mày méo xệch, một tay xách túi áo quần, tay kia chật vật ẵm thằng con. Đã thế, bọn tôi còn phải bì bõm lội nước gần ngang thắt lưng, trước khi được kéo lên ghe. Trong bóng tối, với hai tay tương đối không bị trói quá chặt, tôi im lặng tháo cái nịt vải đựng 7 cây vàng, mà tôi đã đeo ở thắt lưng suốt trên 24 giờ qua. Đầu tôi suy nghĩ thật nhanh, nhưng vẫn chưa tìm được cách nào khả dĩ giải quyết được mấy lượng vàng quái ác này. Để chúng tịch thu thì không những đau mà không chừng còn bị kết thêm tội tư sản thêm rắc rối, mà liệng bỏ thì cũng không đành. Tôi lại tạm bỏ chúng trở lại vào túi quần chờ cơ hội. Tôi thì thầm bàn tính với bà xã về cách thức khai báo, làm sao cho “thuận lợi” và ăn khớp với nhau. Trong cơn nguy biến, đầu tôi sao thật “lạnh“ và bình tĩnh. Tôi cho nàng biết, tôi sẽ khai tôi là giáo viên Tiểu Học, bị nám phổi, nên đã nghỉ việc khá lâu; sống bám vào vợ là thợ may. Vì tự ái, nên hay nóng nảy, gây gổ nhau. Có bà khách thấy hoàn cảnh tội nghiệp, hứa cho đi cùng chuyến, chỉ cần đóng góp tượng trưng 5 chỉ vàng để mua dầu máy. Bây giờ mới biết là mình bị lừa. Đại khái phải khai làm sao cho cái “tôi” của mình trở nên thật “nhỏ”, với hoàn cảnh thật éo le, đáng thương. thay vì hình ảnh một tên tư sản tìm đường, trốn đi ngoại quốc. Trong hoàn cảnh đen hơn mõm chó, tay bị trói gô, như heo sắp vào lò thịt, mà còn đủ bình tĩnh ngồi bịa chuyện, thì trong đời chắc chỉ có thằng tôi đây! Biết vậy, hồi mới qua, tôi theo chân Nguyễn Ngọc Ngạn học nghề, biết đâu, giờ này cũng đã được ấm thân và có nhiều cô ái mộ...?

Đoàn ghe khoảng hai, ba chiếc, vừa chạy chừng năm, mười phút, tôi chợt thấy mẹ của K., đang ngồi cách tôi một vài người, quay người lại, nói gì đó với vợ tôi, nói xong, bà ta thả vật gì đó xuống nước. Về sau hỏi ra, mới biết bà và một số khác, đã liệng vàng xuống sông! “Thà cho Hà Bá ăn còn hơn cho Việt Cộng!“ Không biết bà có hội ý trước với K, hay đã tự ý liệng bỏ, không thương tiếc, bao dành dụm chắt chiu cả một đời người? Phần tôi, vẫn chưa biết phải làm gì với 7 cây vàng trong túi? Liệng xuống sông với tôi, là chuyện không thể và không đành lòng. Tôi nghĩ vội, dấu 1, 2 cây chắc dễ hơn dấu 7 cây. Thay vì để chung, nếu mất là mất sạch, còn nếu mình tách ra, mình sẽ có hai cơ may, ráng “cứu” được, dù chỉ 1 cây, cũng đỡ hơn là mất hết ! Nghĩ vậy, tôi lại lần tay vào túi, móc nịt vải đựng vàng ra, lấy tách riêng ra một cây, xong tôi lại nhét trở lại vào túi quần.

Sau gần 1 tiếng chạy loanh quanh, trời vừa tờ mờ sáng, thì ghe cũng về đến bến. Bọn tôi lại phải lê lết xách bao bị đi bộ về trụ sở Xã, cũng cách đó không bao xa. Họ cởi trói cho nhóm đàn ông bọn tôi và lùa toàn bộ chúng tôi lẫn hành trang vào một căn phòng khá rộng có cửa gỗ. Tôi đảo mắt thật nhanh cố quan sát. Cái đầu tiên đập vào mắt tôi là một đống lúa, không lớn lắm và cao cỡ tới đầu gối, nằm ngay gần cửa ra vào. Trong tích tắc, tôi nghĩ đã tìm ra giải pháp tạm cho mấy cây vàng của tôi. Trong lúc mọi người đang lăng xăng, gọi nhau ơi ới, lo tập trung hành lý vào bên trong, tôi làm bộ như quá mệt mỏi, mặt nhăn nhó, ngồi bệt xuống sát cạnh đống lúa, mắt lim dim ra vẻ như muốn ngủ. Thật ra, lúc đó tay tôi đã nắm gọn cái nịt vải đựng vàng trong túi. Khi biết chắc không ai để ý, tôi nghiêng nhanh mình, nhét vội cái nịt vải vào đống lúa. Tôi đứng ngay dậy và bước xa khỏi đống lúa, lòng cảm thấy nhẹ nhõm mặc dù số phận của tôi, cũng như của mấy cây vàng, trong những giờ phút sắp tới, vẫn còn là một dấu chấm hỏi thật lớn! Tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể làm được, nhưng cũng chỉ là “phản ứng giai đoạn”, đến đâu hay đó, que sera, sera!
Từ lúc bước chân vào phòng, vì phải tập trung lo giải quyết mấy cây vàng, phải thú nhận tôi không để ý theo dõi xem vợ con tôi đang ở đâu và làm gì? Cũng tương tự, bà xã tôi hoàn toàn không hay biết những gì tôi đã làm, vì nàng cũng có những chuyện riêng cần đối phó về phía mình.

Sau chừng 20 phút, tất cả đàn ông được yêu cầu mau chóng rời khỏi phòng, duy chỉ đàn bà và trẻ em ở lại. Tôi giật mình tự nhủ: Xui thật! Thế là đi đong cả 6 cây vàng rồi! Tuy nhiên, tôi cũng tự an ủi: Cũng may mình đã lấy riêng ra 1 cây, bằng không giờ này “mậu lúi” rồi. Vừa bước ra, chúng tôi được yêu cầu chuẩn bị xếp hàng để cho An Ninh Xã khám xét người. Vì trong túi quần tôi có cây vàng lá, nên tôi cố tình đứng phía sau cùng để quan sát, xem bọn này khám xét ra sao?
Tôi thấy bọn nó bắt mọi người móc trình bóp, lục xem kỹ càng rồi trả lại, dĩ nhiên, nếu ai có dấu tiền Đô la, hay tư trang vàng bạc thì bị tịch thu. Sau đó là phải tụt quần xuống tận gối, không phải để khoe của quý, mà để mấy ổng xem có dấu đồ quốc cấm bên trong không? Sau khi quan sát kỹ liền mấy người, tôi rón rén lấy cây vàng ra khỏi túi và nhét giữa bàn chân và đôi dép da mà tôi vẫn còn mang. Đến phiên tôi, cũng qua những thủ tục trên. Điều đáng ngạc nhiên hơn cả là tôi quên bẵng cái nhẫn cưới bằng vàng 18k mà tôi đang mang ở ngón tay áp út thế mà mấy ổng không thấy, nên không tịch thu.
Trong lúc đàn ông bị lục xét ở ngoài này thì bên trong, các bà cũng đang cùng số phận, chỉ khác là do các nữ cán bộ đảm trách. Theo lời vợ tôi kể lại, trước khi lục soát, nàng đã nhanh trí giấu chiếc nhẫn cưới hột xoàn trong cái quai nón và thắt chặt lại thành cái nơ, đồng thời đặt thằng con ngồi trên vành nón. Riêng các khâu vàng may dấu trong áo ngực, cũng như tờ 100 đô dấu trong lưng quần thằng con may mắn đã không bị phát hiện.

Sau gần 1 giờ, cuộc lục soát tạm ngưng, cánh cửa gỗ lại được mở rộng, đám đàn bà con nít được lệnh bước ra khỏi phòng, để lại đàng sau toàn bộ đồ đoàn, túi xách. Dưới sự điều động của một công an mang súng, chúng tôi được lệnh di chuyển. Tôi rầu thúi ruột, tự nhủ, coi như thực sự vĩnh biệt mấy cây vàng. Đúng là “Từ nay mãi mãì không thấy nhau!” (Lời bản nhạc “Mùa Thu chết” của Phạm Duy).
Đoàn người thiểu não, mặt mày hốc hác, thất thểu bước đi như đám Cái Bang. Dường như đã biết trước sự có mặt của đám vượt biên bị bắt giữ, một số người dân địa phương tập trung dọc hai bên đường lộ, họ tò mò nhìn chúng tôi, những người khách không mời, bước ngang qua, tay chỉ trỏ, cười nói, điều đáng ngạc nhiên là tuyệt đối không một ai trong họ, có lời nói hay cử chỉ nào có tính cách thù nghịch hay chửi bới.

Không bao xa sau đó, chúng tôi được lệnh dừng chân và tấp vào một hai căn nhà dân gần đó. Chúng tôi rất đổi ngạc nhiên khi thấy mọi người ăn nói ngọt ngào, thân thiện. Một người đàn bà trung niên vừa cười, vừa vui vẻ nói: “Thôi đừng buồn nữa bà con ơi! Thua keo này, bày keo khác!“ Người khác thì dục bọn tôi ngồi tạm xuống sàn nhà có trải sẵn chiếu: “Bà con ráng ăn uống bậy bạ chút gì kẻo đói bụng!”
Họ đem ra nồi cơm còn nóng hổi, mùi gạo mới bốc lên thơm phức. Trong lúc dân Sài Gòn phải ăn cơm độn bo bo, độn mì sợi, dân quê đãi tù bằng gạo trắng thơm, thì quả là đại hào phóng. Họ dọn ra nào tôm nhỏ rim mặn, mấy đĩa dưa hấu, thơm cắt thành lát, muối mè... Đang buồn nản muốn khóc “rống“ lên, bỗng dưng nghe những lời an ủi mộc mạc, dễ thương của đám dân Nam Bộ, ai trong chúng tôi cũng cảm thấy vừa ngạc nhiên, vừa cảm động! Không ngạc nhiên sao được khi người dân dám lên tiếng, vừa an ủi, vỗ về, vừa giúp đỡ, bênh vực những “phạm nhân” như chúng tôi, một cách công khai, bất chấp sự có mặt của những kẻ đang có nhiệm vụ giải giao chúng tôi?

Chẳng bao lâu sau, tôi dần dà hiểu phần nào về thái độ “hiếu khách” của người dân địa phương, đối với những tù nhân vượt biên khốn khổ như chúng tôi: Tất cả chỉ là dàn dựng cho vở kịch... “Chồng đánh vợ thoa”! Những người đang ân cần tiếp đãi chúng tôi, chắc chẳng ai khác hơn là thân nhân, vợ con, của chính mấy ông Công An xã, đã bỏ công suốt đêm lặn lội, săn bắt chúng tôi! Dưới mắt họ, chúng tôi thuộc giống... “gà đẻ trứng vàng”, nên đã đổi xử như những vị thượng khách, những người khách dù không quen, không mời, nhưng vào một ngày đẹp trời, bỗng dưng tự đâu xuất hiện, tận tay mang lại, “chia xẻ” với họ chút của cải, nào là vàng bạc, nữ trang, nào là áo quần đẹp đẽ, thời trang... mà họ thu hoạch được sau mỗi cuộc “săn người"! Tuy biết vậy, nhưng sau bao nhiêu năm, nghĩ lại, tôi vẫn không trách cứ, thù hận, ngược lại, ở một mức độ nào đó, tôi vẫn có thể dành cho họ một thứ cảm tình khá dễ dãi. Đâu ai có thể cấm đoán họ, vừa bắt bớ, cướp bóc, vừa hành hạ, sỉ vả, đánh đập tù nhân? Chẳng qua là cái bản chất hiền hòa, dung dị của con người nam bộ, đã thể hiện, ngay cả trong những lúc xấu xa nhất của họ. Trước sự vồn vã của họ, bọn tôi cũng ráng ăn qua loa chút gì vì dù sao đã hơn một ngày chưa có gì bỏ bụng.

Chúng tôi vẫn không hiểu tại sao họ lại đưa chúng tôi lại đây và bắt chờ đợi lâu đến vậy? Mãi đến hơn 4 giờ chiều mới có lệnh trở lại Trụ sở Xã lấy đồ đoàn, để đi lên trại giam Huyện Long Phú. Vừa nghe xong, tôi như mở cờ trong bụng vì đây đúng là cơ hội bằng vàng 24K!
Sau khi cho vợ tôi biết ý định, tôi vội vã bước nhanh về hướng trụ sở. Đến nơi, ai ai cũng hăm hở tìm kiếm các túi xách của mình, để rồi thất vọng, vì những gì quý giá cất giấu bên trong đã không cánh mà bay trong thời gian vắng mặt vừa qua. Phần tôi, ưu tiên một khi được trở lại căn phòng này là phải kịp thời thu hồi “kho tàng” mà tôi đã vùi lấp trong đống lúa sáng sớm nay. Tôi kín đáo dùng tay mò mẫm nơi tôi đã giả bộ ngã lưng, cố tìm lẹ cái nịt vải với 6 cây vàng. Chỉ có mấy giây mà sao thấy dài đến vậy, tôi mừng rỡ khi tay tôi chạm nịt vải. Thấy không ai để ý, tôi rút vội tay ra, nhét cái “ruột tượng” còn dính đầy lúa vào túi quần. Thật khó tưởng tượng là cho đến giờ phút này, những cây vàng vẫn chưa nở rời bỏ “khổ chủ”!

Một lần nữa, chúng tôi lại bị đẩy xuống ghe để lên Huyện. Vợ tôi mừng rỡ khi nghe tôi báo cáo số vàng đã nguyên vẹn trở lại. Lúc ngồi trên ghe, trong đầu cũng vẫn còn loay hoay tìm cách xử trí mấy cây vàng hiện vẫn còn nặng trĩu trong túi quần. Tiện tay, tôi lấy cây vàng lẽ tôi tách ra sáng nay, cho vào lại cái nịt vải. Như vậy là lại đầy đủ 7 cây. Tôi cũng kêu vợ tôi tháo cái nhẫn cưới vàng 18K giao cho tôi, sau đó tôi lấy cái nhẫn của tôi, lồng ngoài nhẫn của nàng và dấu vào ngăn trong của cái bóp da của tôi.
Suốt từ sáng sớm đến giờ, vì phải giải quyết một vài vấn đề “tế nhị” nên phải thú nhận là tôi đã bỏ bê thằng con, giao hẳn cho mẹ nó “quản lý”. Mà phải nói thằng nhỏ, dù mới 5 tuổi, nhưng rất ngoan và thuộc loại lì, vì không thấy nó khóc la, sợ hãi trong suốt thời gian qua.

Chúng tôi đến trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Huyện Long Phú khá trễ, tôi đoán cũng khoảng gần 6 giờ chiều. Một lần nữa, nhóm đàn bà con nít bị bắt tập trung riêng rẽ giữa sân cờ, ngay phía trước cửa chính của VP Huyện, và bị Công An tiến hành việc lục soát ngay. Nhóm đàn ông chúng tôi được lệnh ngồi thành 3 hàng ngang, ngay bên trái cửa chánh. Dĩ nhiên, với những toan tính bất thường, tôi chọn ngồi hàng chót, chú tâm quan sát tìm xem có chỗ nào tôi có thể tạm thời “gửi gắm” mấy cây vàng trước khi bị lục soát. Tôi để ý thấy sau lưng tôi, cách khoảng 1 mét, có một cây dương liễu, gốc nhỏ cỡ bằng cổ tay, với đống cỏ khô, vun chung quanh gốc. Đúng là một khám phá tuyệt vời, tuy nhiên phải thật thận trọng vì khoảng cách giữa tôi và gốc cây và hơn thế nữa, một vài viên công an đang đứng ngay cửa chính nhìn ra hướng sân cờ, nơi mấy cô, mấy bà đang bị xét. Tôi chậm rãi rút dây nịt vải đựng vàng cầm sẵn ở tay. Mắt kín đáo quan sát, không những mấy tay công an đang đứng ở cửa, mà luôn cả những người bị bắt ngồi cùng hàng. Tôi nhích từng chút một, cho tới khi tay tôi có thể với tới gốc cây. Bằng một động tác nhanh và chính xác, tôi nhét vội cái nịt vải dưới lớp cỏ khô và rút nhanh tay về. Tôi lại nhích về vị trí cũ, lòng nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng ngàn cân. Qua đó để thấy rõ một điều: người có của bao giờ cũng phải lo lắng, mệt mỏi hơn kẻ trắng tay! Hiện tại, coi như tạm yên vì chẳng còn gì trên người để bị chúng phát hiện. Tới đâu hay đó! Que Sera,Sera!

Tới phiên, tôi “thoải mái” bước ra cho chúng lục soát. Vừa đến gần, tên Công An trợn mắt nhìn tôi, miệng chữi lớn: “ĐM. giờ này mà còn mang dép! Đá cho mày một cái hộc máu bây giờ? “ Tự nhiên bị chữi, tôi đanh mặt lại, không trả lời, hất đôi dép sang một bên. Tên khốn đó chắc nghĩ tôi cất dấu vàng trong đôi dép, như một số người đã làm khi vượt biên, nên tìm cách trấn lột ngay. Cũng hên, lần này tôi không “dẫm” vàng dưới chân như sáng nay. Kế đến, nó đòi bóp tôi, nhưng không như sáng nay, nó chẳng thèm mở ra lục lọi, chỉ cầm lấy và liệng vào một cái bị. Sau đó y dùng tay rà soát khắp người tôi. Không thấy gì, y ra dấu cho tên tà lọt dẫn tôi đi nhốt. Tôi quay đầu nhìn vợ con, trước khi bước theo, lòng bỗng trống rỗng đến kỳ lạ! Tên kia đưa tôi đến một dãy nhà, mái lợp tôn, gồm khoảng 4, 5 phòng. Thay vì cửa, phòng giam xử dụng những song gỗ lớn hơn cổ tay, với hệ thống khóa từ bên ngoài. Y loay hoay mở khóa, tháo hẳn một song gỗ và bảo tôi lách vào. Từ ngoài sáng bước vào, bên trong vừa tối, vừa ngộp, vì ngoài lối ra vào, phòng hoàn toàn không có cửa sổ. Một mùi hôi thum thủm như mùi hố xí làm tôi hơi khựng lại. Ngay cửa, có ngọn đèn dầu hôi leo lét, mắt chưa kịp điều chỉnh, tôi chỉ thấy một đám người hỗn độn, đa số trần như nhộng, mồ hôi nhễ nhại, hầu như ai nấy chỉ mặc độc có cái quần xà lỏn, đang tiến lại bu quanh tôi. Bỗng nhiên, tôi chợt nhớ đến nhà văn Duyên Anh, với những tiểu thuyết hấp dẫn mô tả cảnh nhà tù thê thảm, với các chúa ngục hung bạo... mà tôi đã có dịp đọc qua trước đây.

Một người tự giới thiệu là trưởng phòng, hỏi họ tên tôi, nghề nghiệp, và tội gì mà vào đây? Tôi mỉm cười, xưng tên, nghề dạy học và tội vượt biên. Tôi cũng hỏi lại anh ta tội gì? Anh cho biết phần lớn tội vượt biên. Tôi lại hỏi tiếp xem họ vào đây bao lâu rồi? Câu trả lời làm tôi giật mình! Người thì nói 8 tháng, kẻ khác gần 2 năm. Tên trưởng phòng quay sang đề tài sinh hoạt phòng giam, trong đó có việc khám vệ sinh. Y nói, vì lý do vệ sinh chung, yêu cầu tôi... cởi quần, cho phép y “khám” như vẫn thường làm với người mới đến. Từ chối sợ bị cho là yếu bóng vía, tôi miễn cưỡng đồng ý. Sau khi nhìn ngắm kỷ lưỡng trong lúc cử tọa cười rúc rích, y lạnh lùng tuyên bố một câu làm tôi giật thót mình: “Theo quy định của phòng, có hai cách xử lý: cu lỏ thì xỏ, cu múm thì cắt! “ Miệng y nói, tay y thì cầm một cây kim bự như kim thợ đóng giày, quẹt qua lại dưới sàn ciment, trong khi một tên đàn em khác ngồi cạnh, một tay cầm cục bông gòn, tay kia chai cồn. Cũng may tôi cũng thuộc loại lớn con, thể hình khá nở nang, lại có chút nghề Nhu Đạo nên không phải dễ bị bắt nạt. Tôi nghiêm mặt trả lời:“ Tôi đồng ý là nhập gia tùy tục, tuy nhiên do điều kiện vệ sinh ở đây không cho phép, tôi không thể làm theo lời mấy anh được!“ Tên trưởng phòng nói: “Nếu vậy, anh có thể tránh vụ kia bằng 100 cái hít đất!“. Tôi đồng ý và bắt đầu ngay. Vừa đếm được 25 cái tên kia đã la lớn: “Ông Thầy giáo chịu chơi! Thôi tha cho ổng!“ Rồi cả phòng vỗ tay cười rủ rượi. Về sau, tôi mới biết, mỗi khi có người mới đến, đều có màn dàn chào, chọc ghẹo, phá phách như vậy. Tôi vậy còn đỡ, có người vô sau bị đè ra... xát dầu cù là vào chim. Cũng nên thông cảm, ở tù rầu thúi ruột, kiếm dịp chọc phá một chút, có chết ai đâu? Riêng mấy ông vượt biên cũng kịp thời đính chánh, chỉ mới “vô hộp” chừng hơn tháng nay thôi! Hú hồn!

Phòng giam cỡ 5m x 8m với khoảng 24, 25 mạng thì phải nằm theo kiểu cá hộp. Phòng đã chật, vậy mà còn phải dành một ô trống, khoảng 1 mét vuông, để làm khu “vệ sinh dã chiến”, với vỏn vẹn một cái xô nhựa, nơi các tù nhân giải quyết việc vệ sinh cá nhân, trong suốt 24 tiếng. Vì là "ma mới", tôi được ưu tiên... “tiếp cận” với cái ô vuông chết người đó!
Tôi cũng được biết đàn bà, con nít không bị nhốt như chúng tôi, họ được tập trung vào một phòng khác không có song gỗ, cách phòng chúng tôi không bao xa, mỗi ngày mấy bà sẽ được điều động đi nhổ cỏ trong sân trại. Việc trước mắt tôi cần làm, là liên lạc với vợ tôi, để nàng biết tôi bình yên và số phận mấy cây vàng. Tiện thể có ông bạn vừa cho tôi trái chuối, tôi xin mảnh giấy và mượn cây bút chì, tôi viết vắn tắt, theo kiểu điện tín, báo cho vợ tôi biết, tôi dấu vàng ở gốc cây dương liễu thứ mấy, trong nịt vải có tất cả 7 cây vàng. nếu thu hồi được, khi gặp tôi, nhớ gật đầu, để tôi biết. Tôi còn dặn, sau khi nhận được “thư”, nhờ mấy ông “lao công tạp dịch” sang phòng tôi, xin thuốc đau răng cho con để tôi biết đã nhận được thư! Lá thư được tôi viết không những bằng tiếng Pháp mà còn... dưới dạng phiên âm quốc tế (Transcription phonétique), một môn học mà cả hai vợ chồng tôi đã may mắn được học trước đây. Lý do là tôi sợ lá thư bị phát hiện và. Sau đó tôi mượn cây dao nhọn, cắt một ô vuông nhỏ, trên thân trái chuối, xếp nhỏ thư lại, nhét vào lỗ trống, đậy vỏ chuối lại, gói trong bọc nylon và nhờ người chuyển qua cho con tôi. Chừng nửa giờ sau, có người đến đứng ngoài song nói vọng vào: “Anh nào là anh Thuận? Bà Xã anh hỏi anh có thuốc gì trị đau nhức không? Thằng nhỏ đau răng”. Tôi mừng rở trả lời là tôi đánh mất túi đựng thuốc rồi. Thế là tôi yên chí bà xã tôi đã nhận được “tín hiệu mật mã“ của tôi.

Mỗi sáng, bọn tôi được phép “xuất khám“ đi tắm trong vòng 10 phút, chẳng phải tắm sông hay tắm giếng mà là tắm vũng! Đúng vậy, đây là một vũng nước chừng 10 thước vuông, nước lên tới khoảng quá đầu gối. Mỗi ngày, trên 100 tên tù, được thay phiên xuống... nhúng nước, kỳ cọ qua loa, hoặc giặt áo quần. Thỉnh thoảng khi trời không mưa, thiếu nước uống, thì cũng múc tạm ít nước vào thùng nhựa, đem về phòng, thêm cục phèn chua, để qua đêm, nước lắng bùn. khi khát quá, cũng nhắp tạm, có chết con ma nào đâu? Tuy nhiên mỗi khi trời mưa, đám tù mừng rỡ, hoan hỉ xách “đồ nghề“ ra sát các song gỗ để sẵn sàng biểu diễn màn “Sau song gỗ người tù hứng nước”. Nhóm “đặc nhiệm” này thường gồm có ba người chính: một người cầm một cây gỗ lớn cỡ ngón chân cái, dài chừng 8 tấc, đầu cây có gắn một cái lon bằng nhựa có đục lỗ bự ở góc đáy lon, đưa cây ra xa để hứng nước mưa từ mái tôn chảy vào lon. Người thứ hai cầm một máng xối tự chế bằng kẽm uốn cong để hứng lượng nước mưa chảy ra từ đáy lon. Người thứ ba cầm một thau nhựa hứng lượng nước chảy từ máng xối qua song gỗ. Hiển nhiên là những người còn lại cũng phụ đổ lượng nước thu được vào thùng. Vào những lúc khó khăn nhất, mới thấy được và cảm phục bản năng ứng phó, óc sáng tạo của con người, dù chân quê mộc mạc.

Hai hôm sau ngày chuyển đến trại giam Huyện, đến giờ đi “tắm”, vừa lách ra khỏi song gỗ, miệng hô lớn số thứ tự của mình, tôi chợt nhìn thấy vợ tôi đang ngồi nhổ cỏ, cách tôi không xa lắm! Bốn mắt dán chặt vào nhau, như thăm hỏi, vấn an. Sau đó, như nhớ điều gì, vợ tôi lật đật lấy nón lá xuống, dùng tay quạt qua lại, vừa gật đầu nhẹ! Quy luật trại giam VC không cho phép tù nhân nói chuyện, thăm hỏi mỗi khi gặp nhau, dù là vợ chồng, thân thích! Nhìn thấy cái gật đầu, tôi mừng như trúng số, vì qua tín hiệu đã giao hẹn đó, vợ tôi cho biết đã thu hồi số vàng tôi đã giấu dưới gốc cây!!
Tối hôm đó, để chắc ăn, tôi gửi “mật thư” thứ 2 cho vợ tôi, với nội dung: số vàng tôi giấu ở gốc cây là 7 cây. Nếu thu hồi đủ, lần tới gặp tôi, nhớ gật đầu để tôi biết!
Hôm sau, cũng vào giờ đi tắm, thấy tôi, từ đàng xa,vợ tôi. lắc đầu! Tôi quả tình không hiểu. Hôm qua tôi thấy rõ ràng nàng đã gật đầu, hôm nay lại lắc đầu. Thế này là thế nào? Tối đó, tôi nhận một mảnh giấy của vợ tôi, cũng dấu trong trái chuối, cũng bằng lối phiên âm tiếng Pháp, với vỏn vẹn mấy chữ: "Chỉ có 6, sẽ tìm tiếp, nếu được sẽ gật đầu cho biết". Đúng hai ngày sau, cũng trên đường đi tắm, tôi bắt gặp một nụ cười thật tươi từ vợ tôi, đầu nàng gật nhẹ, tay thì ra dấu với bảy ngón tay. Về sau nghe vợ tôi kể lại, lần đầu lượm lại được cái nịt vải mừng quá, vội lôi ra để dấu. Đến lúc về đếm lại, thấy chỉ có sáu miếng. Đến lúc nhận giấy của tôi, nàng mới biết thiếu mất một miếng. Hai ngày sau, cùng với cô em gái đang mang bầu, nàng ra lại gốc cây cũ, không phải để nhổ cỏ, mà để lục lọi cỏ. Sau một hồi tìm kiếm, hai chị em mừng rỡ khi thấy lượng vàng lá, với giấy gói màu vàng, nằm lẫn lộn ngay phía trên đám cỏ khô. Nghĩ lại, tôi đoán chắc đó là cây vàng tôi lấy riêng ra, lúc bị lục soát ở Xã, sau đó nhét lại vào nịt vải, trên đường về Huyện. Vì nằm hớ hênh phía ngoài, nên bị rớt ra lúc vợ tôi tìm thấy và lôi ra khỏi đống cỏ.

Người vô tư, thoải mái duy nhất trong chốn lao tù, chắc chỉ có... thằng nhóc 5 tuổi con tôi. Qua song gỗ, thỉnh thoảng tôi nhìn thấy nó, mình trần, nay đã rám nắng, tóc tai vàng hoe, nhếch nhác mồ hôi, chân không giày dép, chạy chơi lông nhông ngoài sân, khác gì một thằng bé chăn trâu. Có lần, nó ghé tạt thăm bố, đứng ngoài song gỗ, tay ôm mấy miếng cơm cháy khá bự của mấy “chú Công An” cho, mắt mở lớn nhìn bố, miệng hỏi: “Bố ăn không?“. Lòng tôi chợt nhói nổi xót xa và tự hỏi: Quyết định ra đi của mình có đúng không? Đem tương lai của con ra để đặt cược có đáng hay không?

Không bao lâu sau, trại giam cho phép gửi thư liên lạc gia đình. Tôi liền viết vài hàng cho gia đình biết tin bọn tôi đang "mắc cạn" tại Long Phú, Sóc Trăng. Tội nghiệp Bố vợ tôi cùng cô con út, lại rủ rê thêm Ông Xui, ông bố của K., kéo nhau đi thăm nuôi. Dù không được cho gặp mặt, nhưng bọn tôi cũng đã nhận được ít tiền mặt và đồ ăn vặt như bánh tét chuối, bánh mì. Nhờ vậy mà bọn tôi có thể nhờ toán nhà bếp mua dặm thêm đồ ăn ở chợ để bồi dưỡng thêm. Nghĩ lại thấy thương bậc cha mẹ, đã quá khổ sở, lo lắng, bồn chồn mỗi lần con cháu nói lời từ giã! Đấy là chưa nói đến những trường hợp nặng nề như nghe tin con cháu bị nạn, chết chóc hoặc mất tích ngoài khơi! Còn nỗi đau nào lớn hơn!

Cũng trong cùng khoảng thời gian này, đến phiên tôi bị kêu lên văn phòng “làm việc”. Viên Công An phụ trách thẩm vấn, lăm lăm quan sát tôi, ngay khi tôi vừa bước chân vào phòng. Qua câu mời ngồi, tôi hình dung anh ta là người Nam. Như đã bàn với vợ tôi trước đây, tôi khai làm giáo viên Tiểu Học, nghỉ việc vì bệnh phổi, phải sống bám vợ là thợ may. Vì đàn ông nên tự ái, đâm ra nóng nảy, hay cải vả, có bà khách thương tình, cho biết đang tổ chức vượt biên, hứa cho đi, chỉ cần đóng góp chút tiền mua xăng dầu, nào ngờ bị lừa. Vừa nghe tới đó, tôi thấy rõ sự thay đổi trên nét mặt lạnh lùng của người ngồi đối diện tôi. Từ thái độ và nét mặt khó khăn của kẻ buộc tội, bỗng chuyển sang thái độ đồng cảm, thương hại của một thằng đàn ông, hiểu được tâm trạng của một thằng đàn ông khác, vì hoàn cảnh, phải sống... bám vợ! Y hỏi tôi có đi lính ”Ngụy” không? Tôi đáp vội: ”không”. nhưng rồi sau chút ngập ngừng, chỉnh lại “dạ có!” Y ngạc nhiên nhìn tôi hỏi: “Tại sao nói không rồi lại có?” Tôi “thật thà” trả lời: ”Tại ngày còn học Đại Học, tôi có học Quân Sự Học Đường vào mỗi kỳ Hè”. Sau khi nhìn vào tờ khai của tôi, y ngẩng mặt hỏi tôi: “Anh ở 83 Cư Xá Trần Quang Diệu?” Tôi trả lời phải. Câu hỏi tiếp làm tôi giật mình: “Cư Xá TQD nằm phía sau bót Cảnh Sát Nguyễn Văn Tập phải không?”. Tôi giật mình vì điều y nói quả chính xác mà chỉ những ai sống ở khu vực đó mới biết được. Sau khi nghe tôi xác nhận, y hỏi tiếp: “Như vậy, nếu đi vào cái hẻm đó, nhà anh quẹo phải hay trái?” Tôi trả lời không giấu diếm: quẹo trái. Y nhanh nhẩu cãi lại: Quẹo phải chứ! Tôi trả lời dứt khoát là quẹo trái. Y không cãi tiếp nhưng nhìn tôi và vui vẻ hỏi: “Anh biết tôi không? Ngày trước có thời gian tôi cũng ở nhà người quen trong Cư Xá TQD, và làm nghề đạp xích lô”. Tôi cũng vui vẻ trả lời là chưa từng gặp. Câu hỏi chót: Anh đạo gì? Một lần nữa, tôi thành thật khai báo: Dạ đạo Công Giáo. Trước khi ra về tôi còn nhỏ nhẹ nói: “Mọi chuyện tôi đã thành thật khai báo và nhận lỗi lầm, xin anh thông cảm cho hoàn cảnh và tìm cách châm chước cho”. Y im lặng gật đầu. Chỉ nhìn nét mặt y, tôi biết chắc tôi đã xuất sắc vượt qua kỳ thi vấn đáp vừa qua.
Tuy nhiên, tôi vẫn không tin mình sẽ được cho về sớm, có chăng là đám đàn bà, con nít. Vì vậy, lá thư thứ ba tôi chuyển cho vợ tôi là để gợi ý cách dấu vàng và nhắc nhở nàng, nếu may mắn được thả về trước, thì nhớ phải nhanh chân đem con ra khỏi trại ngay, đừng quyến luyến, bịn rịn, lỡ xui xẻo thì sẽ mất cả chì lẫn chài!
Có tin đồn sẽ có đợt phóng thích trong những ngày tới nhân dịp bầu cử Quốc Hội, phòng nào cũng chộn rộn với phỏng đoán ai về, ai ở lại?

Vào một sáng đẹp trời, chúng tôi nghe chộn rộn ngoài sân trước, nhìn ra thấy có hai tên công an, tay cầm tờ giấy, đến trước phòng tôi là phòng đầu tiên trong dãy phòng và nói lớn: “Các anh nghe đọc tên ai, thì người đó lấy đồ đoàn và bước ra lẹ! Lê Văn T., Nguyễn Văn D, Đoàn Văn N.” Số người được thả không nhiều, chỉ chừng 3, 4 người mỗi phòng. Người nghe đọc tên, mừng rỡ chụp vội những vật dụng cá nhân, nói vội câu từ giã bạn bè và chuồn lẹ ra khỏi phòng. Sở dĩ mấy người này vội vàng, cũng chỉ vì nghe kể trước đây, cũng có người được thả, nhưng vì lề mề, lễ mễ, chào hỏi bạn bè sao đó làm mấy tên CA bực mình đổi ý, đóng song gỗ lại! Phần tôi, dù đã chuẩn bị tinh thần trước, nhưng cũng chạnh lòng khi không nghe tên mình trong danh sách được thả. Hai tên CA lần lượt đi sang những phòng kế tiếp... Đến cuối dãy xong, họ lại đi vòng ngược lại phòng thứ nhất, lại tháo song gỗ và tủm tỉm cười đọc nốt tên trên danh sách! Ai bảo Công An không có máu khôi hài “đen” làm người khác lên ruột? “Nguyễn Quốc Đ., Trần Văn Thuận“. Tôi giật mình đánh thót khi nghe tên mình, không chậm trễ, tôi luồn lách giữa đám người và vọt lẹ qua khoảng trống của song gỗ. Hiện tại, tôi đã trở thành một tên vô sản thứ thiệt, chẳng có vật dụng cá nhân nào để thu dọn, ngoại trừ bộ quần áo nhầu nát đang mặc trên người. Vừa ra tới sân, tôi đã thấy nhóm đàn bà, con nít đã có mặt khá đông đủ, trong đó có bà xã tôi với thằng con, cô em vợ, hai bà mẹ của K. và của T., tôi hơi ngạc nhiên không thấy hai "ông tướng " đó trong đám người được thả! Một số vật dụng cá nhân bị tịch thu lúc nhập trại, được trả lại cho khổ chủ, trong đó có cái bóp của tôi. Việc đầu tiên sau khi tôi nhận lại bóp, là nhìn vào ngăn khuất, tìm hai cái nhẫn cưới vàng 18K mà tôi đã dấu vào đó. Tôi không chút ngạc nhiên khi thấy ngăn trống vốc. Buồn năm phút, không phải vì trị giá vật chất của món đồ, nhưng vì giá trị tình cảm kỷ niệm ngày cưới. Tôi tự an ủi: cái mất chỉ tối thiểu, cái cứu được mới đáng giá! Với lại, cứ xem như mình vừa được chính quyền cách mạng “giải phóng” khỏi dấu tích “ván đã đóng thuyền!“

Sau khi tập trung đầy đủ, lại có lệnh khám xét giỏ xách một lần chót, nhưng lần này chỉ làm qua loa, chiếu lệ thôi vì nói cho ngay, còn “chó” gì nữa mà xét? Sau khi nghe Ban Quản Giáo ban “lời giáo huấn”, chúng tôi được phép rời trại. Đoàn người tuy tơi tả, áo quần xốc xếch, không giày không dép, nhưng vui mừng như lễ hội, vì bắt đầu hít thở được không khí tự do. Chỉ tội cho vợ, mẹ của K. và của T., mắt cứ nhìn lui phía trại, như cố tìm hình ảnh của chồng con. Về sau, nghe K. kể lại, hai “ông tướng” đã “thành thật khai báo” là Trung Úy Dược Sỹ. nhưng kẹt một nỗi là Cách mạng đã quên lời hứa... “khoan hồng”, nên mới ra nông nỗi bị bỏ lại đàng sau. Làm khổ tôi, về sớm, phải chở Ông Diệp Minh Ch., “ông bố cán bộ tập kết cao cấp” của K. chạy lòng dòng đi gặp các đồng chí của Ổng, trong đó tôi nhớ có Ông Phạm Ngọc Thuần, cựu Đại Sứ VC tại Đông Đức, để lo giấy tờ xin cho K về! Ông bố dù theo Cộng Sản bao nhiêu năm, nhưng cái bản chất vừa nghệ sĩ, vừa Nam Bộ thật thà đã lấn lướt cái bản chất sắt máu của con người Cộng Sản. Ông đã từng tâm sự với tôi: “Con nghe thằng K. nó nói với chú Tư như dzậy, con nghe có được không? Ba là cá nước mặn, còn con là cá nước ngọt, hai bên không thể chung sống với nhau được”.

Về tới Cần Thơ cũng đã chiều, vợ chồng tôi quyết định ở lại đêm, sáng mai mới về lại Sài Gòn. Bọn tôi thuê xe ghé lại Bệnh Viện Cần Thơ kiếm Dượng Năm của vợ tôi, là BS tập kết đang công tác tại đó. Gặp bọn tôi, Dượng mừng rỡ ôm lấy bọn tôi hỏi thăm sức khỏe, vì dượng đã được tin bọn tôi vượt biên bị bắt ở Sóc Trăng. Khi nghe tin K. còn bị giữ lại vì đã thật thà khai báo, Dượng luôn miệng khen bọn tôi: "Bọn con vậy là giỏi, thằng K. dại dột quá, khai thật làm chi để hại thân!“ Phảii nói Dượng Năm là một nhân vật khá đặc biệt mà trước 75 chưa bao giờ tôi nghe nhắc đến. Người Nam, khá cao to, mặt mày sáng sủa, đẹp trai. Ngày xưa ông lấy dì Năm của vợ tôi, là dân học trường Tây. Nghe đâu hai người đẹp đôi và rất hạnh phúc nhưng sau đó bà dì bị bệnh và mất sớm, ông buồn tình theo kháng chiến, tập kết ra Bắc, tốt nghiệp Y Khoa. Sau 75, ông trở về, vẫn còn độc thân. Tìm lại được gia đình bên vợ. Ông mừng rỡ như gặp lại chính gia đình mình. Khi mẹ vợ tôi trao lại ông cuốn nhật ký ngày xưa của dì Năm mà bà còn giữ lại, ông cầm lấy và khóc sướt mướt. Ông người tình cảm, ăn nói ngọt ngào, nên dù mới gặp, con cháu đứa nào cũng thương. Ông rất thương thằng con trai của tôi, ông thường bồng và đùa giỡn với nó, ông lấy tay chỉ vào mặt mình và nói: “Việt Cộng già! Việt Cộng già!” Một hôm, thằng nhỏ vào phòng Ông Năm lục phá gì đó, bỗng chạy ra, miệng la lớn:” Việt Cộng già có súng! Việt Cộng già có súng!” cả nhà ôm bụng cười ngất.
Tối đó, bọn tôi ghé ở lại nhà Lê Thượng H., người bạn thân ngày xưa học cùng lớp ở ĐH Sư Phạm, nay đang làm phụ giảng ở ĐH Cần Thơ. Việc đầu tiên, tôi nhờ H. giúp tôi kiếm chỗ bán một khâu vàng để có tiền ăn mừng ngày ra tù. “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại“, phải sống khổ hạnh với cơm trắng, nước tương, nay được nhậu heo quay, uống la de thì phải nói hạnh phúc là đây! Càng đói, càng khổ thì hạnh phúc càng dễ dàng, đơn giản và ngược lại! Có ai dám tin tỷ lệ chán đời tự vẫn của người giàu sang, quyền quý cao hơn thành phần áo rách khố ôm?

Hôm sau, về đến Sài Gòn cũng đã gần chiều, thay vì về thẳng nhà, tôi đưa vợ con về nhà ông anh tôi cách đó không bao xa. Tôi muốn biết tình hình ở nhà ra sao, và cũng muốn tránh gây xúc động cho ba má tôi. Anh chị tôi mừng rỡ khi gặp lại bọn tôi, dù biết rằng chuyến đi thất bại. Mất của nhưng còn gặp nhau, cũng đã là điều may mắn, bao nhiêu người mong cầu nhưng chẳng được! Vì không muốn gây sự chú ý trong khu xóm, nên đến tối, anh tôi mới lấy xe chở bọn tôi về nhà. Ông bà nội tưởng sẽ không bao giờ gặp lại con cháu, nay lại thấy cả đám lù lù xuất hiện. nói sao được nỗi vui mừng, cứ dành nhau ôm thằng cháu cưng, khóc cười lẫn lộn. Lại càng mừng hơn khi nghe tôi đã "cứu" được và mang về nguyên vẹn số vàng đã mang theo!
Sáng hôm sau, bọn tôi lại xách nhau đi trình diện anh Lâm, viên Công An khu vực. Trước đó, má tôi cho biết, trong thời gian bọn tôi vắng nhà, anh CA khu vực, người Bắc, trung niên, tánh tình dễ chịu, đã “đánh hơi” sự vắng mặt bất thường, hay vô ra thăm hỏi. Má tôi trả lời bọn tôi đi công tác ở Trường, đồng thời tìm cách “đấm mỏm” bằng ít quà cáp. Gặp lại bọn tôi, anh ta chỉ cười và hỏi: “Chắc anh chị dẫn cháu đi biển chơi hay sao mà da cháu cháy nắng quá vậy? Tôi cũng cười và nói: “Đâu có! Bọn tôi được trường điều động hướng dẫn học trò làm chông nhọn để hỗ trợ mặt trận biên giới chứ giờ đâu mà đi biển!“. Đây là thời gian bọn Tàu đem quân đánh qua biên giới phía Bắc, nói là để dạy cho VN bài học!

Rồi mọi chuyện cũng trở lại bình thường, với một thay đổi khá lớn: bọn tôi "được" nhà trường cho nghỉ việc vì bỏ dạy cả tháng! Từ nay thầy cô giáo bỗng nhiên mất dạy. Nghe qua tưởng như xui xẻo, nghĩ lại đó là điều... may mắn! Từ nay khỏi thức khuya dậy sớm, khỏi rượt đuổi xe đò, khỏi đem đồ đạc cá nhân đi bán để sống và để phục vụ không công cho một chính quyền mà tôi thấy ngày mỗi xa lạ.
Từ lúc thôi dạy, vợ tôi ở nhà lo chăm sóc con, phần tôi chịu khó chạy lòng vòng kiếm sống lai rai, sở dĩ nói vậy là do bọn tôi may mắn có được sự hổ trợ của gia đình trong những nhu cầu căn bản: ăn uống, nhà cửa. Tuy nhiên nhờ tập tễnh "kinh doanh", mua đầu này, bán đầu kia... mà cũng có thêm chút tiền vô ra, nên tương đối cuộc sống coi ra còn khá hơn thời đi dạy học.

HAI LẦN "THOÁT NẠN" KO KRA
Tuy nhiên, làm gì thì làm, nhưng trong đầu vẫn luôn ngong ngóng tìm đường vượt biên. Vượt biên giống đánh bạc chỗ đó: còn tiền là còn toan tính! Thời gian này có hai nhóm quen đang tổ chức đi, tương đối tin tưởng được. Một nhóm, do gia đình chị bạn làm cũng sở với ông anh, tổ chức cho gia đình đi. Hai vợ chồng chị này trước đây tốt nghiệp ở Mỹ, gia đình có khả năng tài chánh nên đứng ra tổ chức, chủ yếu cho gia đình đi thôi và cũng không có ý mời gọi ai khác tham dự. Tại ông anh tôi khá thân nên biết chuyện và có dẫn tôi xuống nói chuyện và gửi gắm: “Nếu bọn “toi” có đi, nhớ cho “moi” gửi vợ chồng thằng em đi cùng nghe!” Chị bạn cũng ừ è chiếu lệ, nhưng đến lúc đi thì không kèn, không trống, bọn tôi hoàn toàn không hay biết. Cũng không thể trách cứ người ta được, vì người ta đâu có hứa hẹn gì và mình cũng đâu có đóng vàng, đóng bạc gì cho người ta đâu. Thời gian sau có tin là đã đến Thái Lan! Tôi tiếc rẻ, nghĩ mình xui xẻo không được đi cùng! Gần ba tháng sau, có thư từ chị bạn gửi về, cho biết tàu đi không bao lâu bị hải tặc Thái chặn cướp, sau đó đem đàn bà, con nít qua tàu chúng, rồi quây ngược tàu, đâm đắm tàu nhà, toàn bộ đàn ông trên tàu đều tử nạn. Sau đó chúng đưa nhóm đàn bà đến nhốt ở đảo Ko Kra. Đây là một hoang đảo nổi tiếng là địa ngục trần gian, được bọn hải tặc dùng để nhốt các thuyền nhân chúng đã chặn cướp trước đó. Chúng cung cấp lương thực, nước ngọt cho các nạn nhân đủ sống qua ngày. Ban ngày chúng đi đánh cá, tối đến, chúng trở lại, dở trò hãm hiếp các phụ nữ, và đôi khi còn đánh đập, chém giết những ai chống cự hoặc cản trở chúng.

Nhóm thứ hai tổ chức vượt biên, do Trung sĩ H., một đàn em tin cậy của anh tôi, trước đây phụ trách hậu cứ TĐ1 Dù, mà gia đình chúng tôi đều quen biết. Trung sĩ H. đến thăm và cho biết đang tổ chức đi. Anh ta sốt sắng mời gọi vợ chồng tôi tham dự nhưng bọn tôi như chim bị trúng tên, nay thấy cây cong cũng sợ. Thấy bọn tôi không sốt sắng lắm trước lời mời gọi, anh đề nghị bớt giá. Khổ nỗi, càng bớt giá, tôi càng sợ! Đến độ, anh ta nói: “Thôi thì thế này, vợ chồng cô chú cứ đi đi, qua tới đó, Đại Úy gửi lại tiền sau cho tôi sau cũng được!“ Đến vậy mà tôi cũng không muốn đi. Tuy nhiên, bà xã tôi có thằng em trốn nghĩa vụ, nặng vía quá, đi mấy bận đến giờ này vẫn chưa đi được. Trong lúc bí lối, ông bố vợ nhờ tôi dàn xếp cho cậu em đi cùng chuyến với Trung sĩ H. Cũng khoảng gần hơn một tháng sau ngày đi, chị Năm của nó ở Virginia gửi thư cho biết, đã nhận được tin tức nó từ Songkla, Thái Lan. Tuy nhiên trong thư, cô ta nhắc đi nhắc lại mấy lần “Nhắn anh chị Hai khoan đi thăm Năm!“ Về sau mới biết, tàu thằng em cũng bị tàu hải tặc Thái tấn công, chỉ khác biệt là chúng không trực tiếp giết một ai ngay lúc đó, nhưng sau khi cướp bóc, chúng cho ăn uống qua loa rồi rạng sáng, chở đám thuyền nhân đến gần đảo Kra, vì biển động, chúng không vô sát bờ được, bèn xô mọi người xuống biển, sống chết mặc bay! Cậu em vợ tôi may mắn với được thùng nhựa, nên đã an toàn tấp vào bờ. Khoảng 10 người bị chết đuối, một số khác bị thương tích do bị sóng đánh vào ghềnh đá. Đến gần 10 ngày sau, toàn bộ những thuyền nhân bị nhốt trên đảo Kra ở vào nhiều thời điểm khác nhau, mới được máy bay Ủy Hội Quốc Tế đặc trách tỵ nạn phát hiện, và gửi tàu đến cứu. Tổng số thuyền nhân VN bị hải tặc Thái giết hại trên đảo Kra là 160 người, theo thống kê cho biết.
Một câu nói nổi tiếng: “Tout chemin mène à Rome!”, “Mọi con đường đều dẫn về La Mã”, nay xin được đổi lại là: “Tout chemin mène à Kra!”. Nếu không may tham dự bất cứ chuyến đi nào trong hai chuyến trên, chúng tôi hoặc đã là nạn nhân của những thảm cảnh trên đảo địa ngục trần gian đó, hoặc cũng đã âm thầm làm mồi nuôi mập cá Thái Lan rồi! Cuối đời, nhìn lại đoạn đường đã đi qua, tôi nhận thấy cái “số” của tôi không đến nỗi tệ, có thể tóm gọn như sau: Ít may mắn, nhưng trong hoạn nạn, xui rủi, tôi luôn là người may mắn nhất!

JAMAIS DEUX SANS TROIS! (nhị, ắt có tam!)
Cuối năm 80, Đại Tá M., một người bạn khá thân với gia đình tôi, cho biết, ông và đứa con gái út đã đóng tiền và đang chờ ngày đi. Nhóm tổ chức là gia đình chị ruột của Thiếu Tá Đặng Sỹ, một người rất “nổi tiếng“ vì bị buộc tội gây ra vụ nổ ở đài phát thanh Huế, gây thương vong cho một số phật tử vào đầu năm 1963, vụ này đã châm ngòi cho vụ đấu tranh Phật Giáo, và đưa đến vụ lật đổ TT Diệm. Qua lời giới thiệu, cũng như qua tiếp xúc, gia đình tôi nhận thấy đây là chỗ tin cậy được, nên bọn tôi chấp nhận giá cả và điều kiện: 10 cây cho vợ chồng tôi và thằng con, phải đóng tiền đủ, thay vì chỉ đặt cọc như những lần trước. Dù lo sợ bị lừa, nhưng không biết tại sao kỳ này tôi lại chấp nhận tương đối khá dễ dàng. Phải chăng vì trực giác xui khiến hay chỉ vì mệt mỏi, mất kiên nhẫn, nên muốn liều lĩnh đánh ván bài chót? Theo trình bày của gia đình, chuyến đi chủ yếu dành cho gia đình. Hai người chủ chốt trong khâu tổ chức là ông Hai, chồng bà chủ và chàng rễ, tốt nghiệp Phú Thọ. Cả hai cha con ăn dầm ở dề dưới bến bãi đã mấy tháng nay, lo tìm cách hợp tác với một số người địa phương làm nghề biển, để cố nắm vững đường đi nước bước. Tàu bè đã sẵn sàng, chỉ còn một số chuẩn bị giờ chót, ngày xuất phát, theo họ, cũng đã rất gần kề.
Quả thật vậy, chỉ chừng 3 tuần sau chúng tôi được thông báo ngày đi, tôi không nhớ chính xác, nhưng vào khoảng đầu tháng 1 năm 1981. Tổng số người tham dự theo tôi nghe nói, cỡ 7, 8 chục người, được chia thành nhiều toán nhỏ 5, 6 người, có người trong gia đình chủ tàu đích thân hướng dẫn từ Sài Gòn. Việc đưa người sẽ diễn ra trong 2 ngày, nửa toán đầu sẽ xuống trước một ngày, nửa toán sau sẽ xuống đúng ngày xuất quân. Bọn tôi được sắp xếp để đi chuyến sau, cùng ngày với gia đình chủ tàu, có nghĩa là khỏi ở lại đêm, ít nguy cơ bị bắt bớ hơn!

Ra đi lần này tương đối đỡ xúc động hơn lần trước, chắc là do đã có trải nghiệm qua lần trước. Nói thì nói vậy, chứ làm sao tránh được cảnh sụt sùi. Ra đi lúc thành phố vẫn còn yên ngủ. Chúng tôi gặp người hướng dẫn khá dễ dàng tại xa cảng Miền Tây. Sau khi nhận diện, chúng tôi chỉ việc đi theo người hướng dẫn, người ta đi đâu, thì mình chỉ việc đi theo như cái đuôi. Kỳ này người hướng dẫn là phái nữ nhưng coi bộ bình tĩnh hơn người đàn ông trước đây rất nhiều. Để vắn tắt, nhóm chúng tôi dùng xe đò đi Vĩnh Long. Từ đó dùng ghe công cộng đến một điểm hẹn, sau đó chuyển sang ghe Taxi “nhà”. Lúc lên ghe cũng đã có khoảng 7, 8 người. Ghe có mái che kín và trang bị máy đuôi tôm, do hai người còn trẻ, người nam tên Đức, và một nữ điều khiển. Bên trong thuyền khá tối, vả lại, ai nấy phải nhanh chóng ổn định chỗ ngồi, nên tôi chẳng nhận diện được ai. Thuyền rời bến không bao lâu sau.
Tôi ngồi khá chông chênh trên tấm ván hẹp, chạy dọc theo thân thuyền, lưng tựa vào “sườn” gỗ, tay thì ôm thằng con ngồi tựa vào lòng. Trong ghe mọi người có vẻ vừa mệt mỏi, vừa căng thẳng, mặt khác, mấy người tài công đã dặn dò kỷ lưỡng là ráng giữ yên lặng trong lúc di chuyển, nên chẳng thấy ai nói với ai lời nào. Trời tối nhanh, sông nước mênh mông, chiếc ghe trĩu nặng, mạn thuyền chỉ cách mặt nước chưa tới gang tay, càng làm tăng cảm giác bất an. Số mạng của chúng tôi giờ đây nằm trọn trong tay hai người tài công trẻ. Mà phải nói là họ gan lì và rất vững vàng trong công việc của họ. Trong suốt đoạn đường dài, hai người, một người ngồi phía mủi thuyền quan sát, người kia điều khiển máy từ đàng sau, họ vẫn đùa giỡn qua lại. Thỉnh thoảng có ánh đèn pha rọi từ xa, nghe đâu của tàu công an, cũng không làm họ sợ hãi và thay đổi tốc độ. Sau thời gian nhiều tiếng đồng hồ, tàu chạy chậm lại và tấp vào một nơi nào đó tôi không rõ và tắt máy chờ đợi. Thuyền chập chờn theo sóng nước, gió thổi hiu hiu, thật lý tưởng nếu mình không có... “tâm sự“. Tôi đoán chắc cũng đã quá nửa đêm rồi. Vừa mệt mỏi, lưng tê cứng vì tựa quá lâu vào thành ghe, nhưng không tài nào ngủ được vì lo lắng. Thời gian chờ đợi dài lê thê tưởng như vô cùng tận. Đang chập chờn nửa mơ nửa tỉnh, tôi giật mình khi nghe tiếng tài công nam nói: “Không ráp được rồi bà con ơi! Phải trở về lại!” Bọn tôi siết tay nhau, chết lặng người. Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn còn thắc mắc, không hiểu tại sao thời đó không có “Cell phone”, mà cũng không thấy họ xử dụng "walkie talkie", làm sao họ biết được là không "ráp được" và phải rút lui? Hay họ dùng đèn mà mình hổng biết?
Lúc đi đã “teo” mà lúc rút coi bộ... còn teo hơn. Phải chăng niềm hy vọng ban đầu đã là điểm bám víu, giúp bọn tôi cầm cự, chống chỏi với sự mỏi mệt? Niềm hy vọng đó giờ theo mây khói. Tuy nhiên, thái độ điềm tĩnh của cặp tài công đã giúp chúng tôi giữ vững tinh thần không ít. Trong hoàn cảnh bi đát hiện tại, tôi thực sự nhìn thấy ở họ, hình ảnh của những thiên thần hộ mệnh.

Đêm đen như mực, sóng nước trùng trùng, thỉnh thoảng những vệt đèn pha quét ngang mặt nước đen ngòm mang đến sự sợ hãi cùng cực. Chỉ có thằng con là ngon lành, vẫn ngủ say trong tay bố. Thời gian "chém vè" dài như bất tận. Trời tờ mờ sáng, ghe mới tấp vào một bến phà, chúng tôi được tài công cho biết phải dùng phà để về lại Vĩnh Long(?). Tôi lại theo chân người hướng dẫn. Đặt chân lên phà xong, tôi cảm thấy không còn khả năng cưỡng lại giấc ngủ thêm được nữa. Tôi chỉ kịp giao thằng con cho vợ tôi và mắt tôi sụp ngay xuống, tôi nằm lăn xuống sàn phà và "thăng" liền sau đó! Lúc đó, thật tình tôi chẳng còn sợ ma, sợ quỷ gì nữa, công an có đến còng tay tôi lúc này, tôi cũng cóc cần! Ai ngờ cơn thèm ngủ có thể làm con người trở nên bạt mạng đến thế?
Sau lần đầu tiên bị lừa mất 13 cây vàng, lần thứ 2 vừa mất của, vừa tù tội, những tưởng lần thứ 3 chắc sẽ hên hơn, nào ngờ số tôi con rệp, nên thay vì "Nhị bất quá Tam" nó lại là... " Jamais deux sans trois!" (Nhị ắt có Tam!"), chỉ được lần này, may mắn, không bị bắt. Xui xẻo không “ráp“ được với tàu lớn? Hay lại bị lừa gạt thêm lần nữa? Không dễ dàng để có một câu trả lời dứt khoát!
Khoảng 5 giờ chiều là chúng tôi có mặt lại tại Sài Gòn. Khỏi phải nói cũng đoán được sự mừng rỡ của gia đình xen lẫn chút ngỡ ngàng khi gặp lại bọn tôi. Mà cũng đúng thôi, cầu...đi cho “khuất mắt”, mà rồi lại cứ thấy lù lù bò về lại, làm tốn bao tiền bạc và nước mắt của ông bà đưa tiễn con cháu!

Ngày hôm sau, việc đầu tiên tôi thực hiện là xuống Thủ Đức tìm gặp bà chủ tàu để hỏi xem điều gì đã xảy ra? Và xem có cách nào đòi vàng lại được không? Gặp mặt, bà xin lỗi vì đã bị trục trặc kế hoạch giờ chót, vì lý do an ninh và hứa sẽ mau chóng tổ chức trở lại, riêng việc lấy vàng lại thì không thực hiện được, vì đã xử dụng trong việc mua sắm, chi phí cho chuyến đi. Nếu muốn lấy lại, phải đợi thực hiện xong chuyển đi này may ra. Lại kẹt thêm mười cây nữa! Điệu này chắc bọn tôi sẽ phá sản và phải chấp nhận ở lại xây dựng tiếp XHCN?
Gặp lại ĐT Minh, ông cũng rầu rĩ không kém. Ông bảo tôi, ông nghe người ta đồn có bà Thầy bói ở cư xá Kiến Thiết, coi bói bài Tarot hay lắm, và rủ tôi đi coi. Tôi tình nguyện chở ông đi. Đến nơi hỏi thăm căn phố của bà Thầy cũng không khó khăn lắm. Bước vào trong, đã có khá đông khách ngồi chờ la liệt trên sàn nhà. Nhắm mắt cũng đoán biết thân chủ toàn là dân vượt biên, đến xin một quẻ xem có đi được không? Ông Minh xem xong ra về có vẻ không vui. Tôi hỏi thăm, ông nhăn nhó trả lời: “Bà Thầy nói xấu, về đòi lại tiền!“. Tôi tưởng ông đi coi vì tò mò rồi thôi, ai ngờ ông đổi ý, rút lui thiệt, không đi nữa dù vàng vẫn còn kẹt, chưa lấy lại được! Nghe vậy, tôi cũng thấy trong lòng bồn chồn không ít!

VẬN HÊN? VẬN XUI?
Vừa ăn Tết Tân Dậu xong, chủ ghe thông báo ngày đi sẽ là ngày Chủ Nhật 22 tháng 2 năm 1981, tức ngày 18 Tết. Tôi tiếp nhận tin, vừa mừng, vừa lo! Mừng vì chủ tàu rõ ràng không có ý lừa gạt, còn lo vì nhớ lại những nhọc nhằn thể chất, nỗi lo sợ, hồi hộp của chuyến đi hụt vừa qua!
Kỳ đi lần này, ngoài một ít đồ ăn vặt, má tôi có làm sẵn một lon Guigoz đựng đường có vắt chanh, để bọn tôi mang theo, nhằm trường hợp khát nước dọc đường.
Chuyến đi này có chút thay đổi: cậu em út bà xã tôi, vừa 19 tuổi, đang học khóa Trưởng tàu do công ty Đường Sắt Sài Gòn tổ chức, cũng chính thức nhập cuộc.
Cũng như chuyến trước, nhóm Sài Gòn được chia làm 6 toán, 3 toán sẽ được hướng dẫn xuống điểm hẹn ngày thứ bảy 21/02/1981, tức một ngày trước ngày đi. Riêng vợ chồng tôi sẽ đi cùng 3 nhóm sau, sẽ rời Sài Gòn vào ngày chủ nhật 22/02/1981, cùng ngày với gia đình chủ tàu.
Tôi chở cậu em vợ xuống nhà bà Hai vào ngày thứ sáu, để sáng mai đi sớm, theo 3 toán đầu. Vào nhà thấy đông người hơn mọi lần, trong đám có một cô người Huế khá xinh. Qua giới thiệu của bà Hai, tôi được biết cô là con đỡ đầu của bà, chồng cô tên Lang, quận trưởng, vừa tù cải tạo về, sẽ đi cùng vợ, hai đứa con, và hai đứa em, cũng vào ngày chủ nhật. Gặp tôi, cô ta hỏi: “Xin lỗi, anh tuổi chi?“. Tôi trả lời: “Tôi tuổi Sửu”. “Rứa là anh cùng tuổi với tôi". Cô ta hỏi tiếp: “Anh có đi coi bói không?“. Tôi cười trả lời: “Không, tôi không tin bói toán! Thế chị có đi không?”. Cô ta nói: “Có, tôi đi coi ông Thầy mù ở... Ông ta nói không tốt! Anh nhớ lần vừa rồi mình đi hụt không, ông cũng đã nói trước là đi không được!“ Tôi nhủ thầm: cô này coi bộ mê tín dị đoan quá, nhưng cũng nói lời động viên: “Hơi đâu mà tin chuyện bói toán, trong tàu có 7, 8 chục người, chứ đâu phải mình chị đâu, chẳng lẽ đều số con rệp hết cả sao?". Câu chuyện chỉ dừng tại đó! Chắc có người thắc mắc tại sao tôi lại dài dòng kể một chuyện, không đâu vào đâu? Thưa không, sở dĩ tôi nhắc tới nhân vật này vì một lý do thật đặc biệt, khiến hình ảnh bà ta cứ mãi ám ảnh tôi suốt 38 năm qua! Các bạn có đủ kiên nhẫn để chờ tôi kể tiếp câu chuyện về nhân vật này trong phần sau không?

Chủ nhật, đến lượt nhóm tôi, cùng hai nhóm nhà chủ tàu rời Sài Gòn. Xin được bỏ qua những chi tiết của giờ phút chia tay đầy bịn rịn và nước mắt... vì nội dung cũng tương tự hai lần từ giã trước. Chúng tôi gặp người hướng dẫn ở bến xe lúc trời vẫn chưa kịp sáng. Anh ta khoảng 30 tuổi và là con trai chủ tàu. Ngoài chúng tôi ra, kỳ này nhóm tôi có thêm một cặp vợ chồng có lẽ lớn hơn tôi một, hai tuổi, mà tôi chưa từng gặp trước đây. Hai người ăn mặc xập xệ, với hai con, trông nhỏ hơn con tôi; về sau tôi mới được biết đó là vợ chồng BS Tấn, cũng người Huế. Mọi chuyện đi đứng kỳ này khá tốt đẹp, với một vài thay đổi về lộ trình. Sau khi đến Vĩnh Long, chúng tôi cũng dùng tàu công cọng để đến điểm hẹn ghe taxi. Bước xuống bến, bọn tôi nhanh chân bước theo anh dẫn đường. Khu bến tàu này tương đối vắng vẻ, ít người, tôi không thấy có nhiều nhà cửa, dân cư sinh hoạt tấp nập như lần trước, cạnh bến chỉ có một quán cóc nhỏ, ở đó, có chừng 3, 4 thanh niên đang ngồi nhâm nhi cà phê, mà tôi nghi chắc là công an? BS Tấn tay bồng thằng con, tay xách túi đồ, hấp tấp đi trước với vợ, cách tôi chừng mươi bước. Tôi hơi lo khi nhìn thấy có cây cầu khỉ, không có tay nắm, bắt ngang qua cái mương nhỏ trước mặt. Chị Tấn xách túi bước qua trót lọt với đứa con gái. Đến phiên anh Tấn, tôi chỉ kịp nghe một tiếng huỵch và thấy anh với thằng nhỏ đã rớt tõm xuống đáy mương, may mà mương cạn và bùn, nên hai cha con may mắn không bị thương tích. Anh hốt hoảng ôm con đứng dậy, vừa phủi bùn đất dính đầy người, rồi tất tả bỏ đi, như bị ma rượt, bỏ luôn cả cái nón đội đầu đàng sau. Vào dịp nào khác, chắc tôi cũng đã ôm bụng cười một trận cho thỏa, chỉ kẹt, tôi liếc xéo, thấy mấy người thanh niên ở quán đang nhìn ra và cũng đang cười hô hố. Phần tôi cũng đang lên ruột vì cái cầu khỉ mắc toi này, phải cẩn thận vượt cầu, chứ để té một lần nữa là có chuyện, chứ không đơn giản đâu. Lo thì lo, nhưng tôi cũng ráng làm bộ, vừa cười vừa nói lớn, cốt cho đám kia nghe:” Cha nội này ngộ quá hén! “ Nói xong, tôi dành lấy túi đồ khỏi tay vợ tôi và bảo vợ tôi cẩn thận bước qua trước, sau đó tôi mới ôm thằng con, tay xách túi bước qua sau. Chắc tại thấy gương BS Tấn “đo đất”, nên bọn tôi cẩn thận hơn, do đó đã không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra.
Đi bộ thêm chừng 15 phút nữa thì tôi thấy một chiếc ghe đã đậu sẵn ở một chỗ khá kín đáo của nhánh sông và mấy người trong nhóm tôi đã có mặt đầy đủ. Bọn tôi mừng rỡ nhập bọn. Không chần chờ, tài công cho nổ máy và ghe rời bến, lúc đó tôi đoán chừng cũng khoảng hơn 4 giờ chiều. Tiếng là đường sông, nhưng sao trông lồng lộng, mênh mông, tưởng chừng đứng bên này bờ không nhìn thấy phía bên kia, nước lại đục ngầu, một mầu phù sa đầy đe dọa, đã vậy sóng gió lại chập chùng, ghe thuyền chao đảo càng làm tăng thêm sự lo lắng, sợ hãi cho những người đang trên đường trốn chạy như chúng tôi. Chỉ cần một tai nạn nhỏ, là coi như... thủy táng cả đám chứ chẳng phải chuyện chơi, vì chẳng ai trong ghe có phao cấp cứu, mà bọn tôi cũng chẳng có ai biết lội! Chuẩn bị vượt biển mà để bỏ mạng trên sông thì thật lãng nhách!

Trời bắt đầu tối khi tài công mừng rỡ cho biết là đã nhận diện được tàu lớn và yêu cầu mọi người bình tĩnh và giữ yên lặng, trong lúc chuẩn bị cho ghe tiến vào điểm hẹn. Chúng tôi mừng rỡ tiếp nhận tin vui dù không nhìn thấy gì từ trong khoang thuyền kín mít. Chừng 20 phút sau, ghe giảm dần tốc độ và tắt hẳn máy. Chúng tôi nghe có tiếng cọ xát giữa hai thân tàu, tiếng đối đáp từ bên ngoài và cuối cùng chúng tôi được lệnh rời ghe để lên tàu. Một cái thang nhỏ bằng sắt được móc vội vào thân tàu, trẻ em và phụ nữ được lên trước, với sự giúp đỡ của một số người đã ở sẵn trên boong, trong đó tôi mừng rỡ nhận ra có thằng em vợ. Đứng từ ghe, mạn tàu cao cỡ ngang vai tôi, trong bóng đêm, sự quan sát rất hạn chế về kích thước của tàu. Chúng tôi được lệnh tuyệt đối im lặng và nhanh chóng bước xuống khoang chứa hành khách bên dưới. Tôi thấy một số khá đông người đã hiện diện. Không khí nói chung có vẻ khá nặng nề, khi ông chủ tàu và người con rể tập họp hành khách lại để báo cáo tình hình. Bằng một giọng ngập ngừng, lo lắng, ông cho biết hiện còn hai ghe taxi thất lạc, chưa đến được điểm hẹn và đó lại là hai ghe chở gia đình ông, gồm vợ con, cháu chắt và những người thân quen của gia đình, lý do chậm trễ cho đến giờ này vẫn chưa xác định được. Ông cho biết điều xui xẻo là hai ghe đó, ngoài số hành khách, còn có nhiệm vụ mang theo hải bàn, hải đồ, cũng như toàn bộ lương thực và nước uống của chuyến hải hành! Với những lý do đó, ông đề nghị cùng hành khách đã có mặt trên tàu, đồng ý cho tạm hoãn lại chuyến đi cho tới tối mai, để chờ đợi tin tức của hai ghe mất tích kia, vả lại, theo ông, bây giờ muốn khởi hành cũng không được vì không có dụng cụ đi biển. Số người có mặt nhốn nháo hẳn lên, thậm chí tôi nghe có người muốn nhảy sông, kiếm cách lội vào bờ. Riêng tôi, sau khi nghe báo cáo của ông Hai, tôi thấy lạnh cả người! Chẳng lẽ cứ xui xẻo mãi thế này sao? Đã an toàn lên được tàu lớn mà không khởi hành được, thì đúng là số “ăn mày”. Một ý nghĩ lóe lên, tôi mau chóng lấy lại bình tĩnh và bước lên boong tàu, tìm gặp hai người lính Hải Quân, mà tôi nghe nói sẽ phụ trách điều động tàu vượt biển. Tôi gặp hai anh đang đứng thầm thì bên trên. Ba mươi tám năm sau, thật lạ lùng là tôi vẫn còn nhớ tên của cả hai anh: Anh Lưu, đi một mình, mặt mày sáng sủa, đẹp trai, còn anh kia tên Dưỡng, có đem theo thằng con trai chừng 5 tuổi, thấp người, da đen sậm. Tôi bắt chuyện với hai anh, tôi hỏi: “Hai anh nghĩ sao về đề nghị của Ông Hai?” Anh Lưu cười cười nói: “Ông Hai bảo sao tui làm vậy”. Quay qua anh kia, tôi hỏi: “Còn anh thì sao?” Anh ta trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi nói: “Phải đi tối nay”. Tôi hỏi anh: ”Không có hải bàn làm sao định hướng mà đi?“ Anh nói: “Tui có mang theo một cái địa bàn dùng để chỉnh cái hải bàn lúc cần”. Tôi hỏi lại: “Lấy lương tâm mà nói, theo anh, chỉ với cái địa bàn, anh nghĩ có khả năng đưa tàu ra khỏi cửa biển và đến nơi đến chốn không?“ Anh lại trầm ngâm một lát rồi gật đầu: “Được, tui nghĩ có thể được“.
Tôi nói tiếp: “Nếu tôi thuyết phục được ông Hai. hai anh đồng ý đi tối nay không? “ Dưỡng quả quyết gật đầu. Tôi vội vã bước xuống bên dưới, và trước khi nói chuyện với ông chủ tàu, tôi ráng tìm sự ủng hộ của những nhóm nhỏ khác nhau, bằng cách rỉ tai họ: “Bà con yên tâm, có hải bàn rồi, tôi sẽ tập họp bà con lại và đề nghị ông Hai cho tàu rời đi tối nay, ở lại đây thêm một đêm là tiêu tùng hết, bà con nhớ ủng hộ nghe”. Sau khi đạt sự đồng ý của một số lớn hành khách, tôi tập họp họ lại và yêu cầu nói chuyện lại với chủ tàu. Trước mặt tất cả, tôi trình bày: “Trước tiên, bọn tui xin thành thật chia sẽ sự lo lắng của Ông Hai về số phận của hai ghe mất tích mà trong đó phần lớn là gia đình của ông Hai. Bọn tui cũng biết là gia đình ông Hai đã bỏ rất nhiều công sức để tổ chức chuyến đi này, tuy nhiên, tui đã hội ý với số đông bà con ở đây và tất cả đều đồng ý là nếu ở lại đây thêm một đêm, chắc chắn tàu sẽ bị phát hiện, vì như ông Hai và bà con thấy, khúc sông này khá hẹp, ai cũng nhận thấy nhà dân cư ở không cách bao xa. Đợi thêm một ngày, chắc chắn họ sẽ phát hiện và đi báo công an, kết quả là bọn tui sẽ bị bắt, tàu sẽ bị tịch thu. Vì vậy bọn tui đề nghị ông Hai cho phép tàu rời ngay tối nay!”

Phải nói ông Hai là người rất đàng hoàng, bình tĩnh và biết lắng nghe, dù tôi biết, ruột gan ông đang rối bời như mớ bòng bong. Tôi biết chắc trong thân tâm, ông cũng có cùng suy nghĩ như tôi, nhưng nỗi lo lắng cho người thân đã làm ông ngập ngừng không dám quyết định. Ông phát biểu một cách khí khái: “Như bà con biết, tàu này bây giờ là của bà con, vì bà con đã đóng đủ tiền, tuy nhiên lý do trì hoãn như tui đã trình bày lúc nãy, ngoài việc an nguy của gia đình, còn do không có hải bàn và lương thực“. Tôi cắt ngang: “Ông Hai yên tâm, bọn tui đã có “đồ chơi“ rồi“. “Vậy lương thực và nước uống thì bà con tính sao?” Ông ta hỏi lại. Có người trong đám trả lời: “Hiện tại trên tàu có 1 bao gạo, riêng nước uống, mình sẽ súc sạch mấy thùng dầu trống, để chứa tạm nước sông, chịu khó uống tạm”. Mọi người nhao nhao ủng hộ ý kiến ra đi tối nay. Ông Hai thấy vậy đành nói: ” Nếu bà con đã muốn vậy thì được, đúng 10 giờ tối nay tàu sẽ lên đường! Tuy nhiên tui xin bà con một điều, cho hai cha con tui được ở lại, để lo tìm kiếm và lo liệu cho gia đình, hiện sống chết ra sao cũng chưa biết?” Tôi lại giật mình, đúng là “đạp vỏ dưa thấy vỏ dừa mà sợ“. Tôi tự hỏi: việc gì nữa đây? Họ có toan tính gì không đây? Có họ, mình còn “nắm” được cái gì, để họ đi, nhỡ có chuyện gì? Tôi vội có ý kiến: “Đồng ý là gia đình ông Hai đang có chuyện, cần người giải quyết, nhưng tui xin đề nghị, một trong hai người đi theo tàu, hoặc ông Hai, hoặc rể ông Hai, nhỡ có chuyện gì, có người thẩm quyền giải quyết vẫn hơn”. Ý kiến đó cũng được số đông hỗ trợ. Tội nghiệp hai cha con nhìn nhau, coi chừng không ai muốn ra đi trong hoàn cảnh bi đát này. Ông Hai hai tay chắp lại nói với thằng con rể: “Ba xin con cứ bình tâm theo tàu, mọi chuyện ở nhà đã có ba lo. Con còn trẻ, có chuyện gì kẹt lắm". Ông con rể lau nước mắt, miệng chỉ ầm ừ.
Thế là nhóm người trẻ bắt tay tiến hành kế hoạch vừa được đề ra. Hai người lẹ làng nhảy xuống sông, số còn lại chuyền tay những thùng nhựa trống chứa dầu máy xuống sông để hai anh kia súc, rồi cho nước vào đầy, cột dây thừng lôi lên lại tàu. Toàn bộ công tác kéo dài khoảng một giờ đồng hồ. Trong thời gian đó, toàn bộ hành khách cũng đã tạm ổn định chỗ nằm ở dưới khoang tàu.
Tôi đếm nhẩm tổng số người hiện diện cũng trên dưới 70 người. Khoảng trống dành cho mỗi người rất giới hạn, vừa đủ để nằm theo kiểu “cá hộp“. Nếu hai ghe Taxi kia không trục trặc, số hành khách cũng sẽ xấp xỉ gần trăm, không biết chỗ đâu mà nhét?

Tàu nổ máy và khởi hành lúc cũng gần nửa đêm. Trên tàu mọi người tuy mừng rỡ nhưng vẫn còn căng thẳng. Tiếng máy nổ giòn giã và tàu lướt đi theo hướng sông Cổ Chiên (?) hướng về Biển Đông, trong bóng đêm dày đặc.
Chỉ có một số ít người ở cabin phía trên, đặc trách điều động tàu, số còn lại, trong đó có tôi, đều nằm ở khoang dưới. Ai ai cũng thầm thì cầu xin cho chuyến đi được xuôi chảy, bình yên, trước mắt là bình yên khỏi sự bắt bớ của Công An, sau là bình yên khỏi cơn sóng dữ và nạn cướp bóc của hải tặc, đang xảy ra như cơm bữa trên các lộ trình vượt biên. Ngoài ra còn phải kể đến khó khăn hay gặp phải, khi lái tàu trên sông ban đêm, tài công phải rành rẽ thủy lộ, con nước lên xuống, thông thường phải chọn lúc nước ròng, men theo dòng nước mà đi, xui xẻo nhằm lúc nước rút, tàu mắc cạn, thì như cá nằm trên thớt, đành nằm đó chờ Công An Biên Phòng đến rước. Chưa hết, tài công kinh nghiệm còn phải quen thuộc khúc sông, biết tránh né các cồn cát làm tàu bị mắc cạn nếu ủi phải, cùng những nơi có giăng đáy, vô tình để chân vịt dính mắc lưới thì đúng là tới số. Tôi có nghe nói, ông Hai, ngoài hai anh lính Hải Quân, còn có thêm mấy người tài công địa phương, hy vọng với sự hiểu biết rành rẽ đoạn sông này, sẽ giúp tránh được các vấn đề trên. Vậy mà đến khoảng 3 giờ sáng, trong lúc nửa mơ, nửa tỉnh, tôi cảm nhận một chấn động nhẹ và sau đó tiếng lao xao trên boong tàu. Hỏi ra, mới biết, tàu vừa ủi vào cồn cát, cũng may là chưa dính sâu lắm, nên sau khi một nhóm người trẻ nhảy xuống nước phụ đẩy và hướng dẫn, tàu thoát ra được và chạy tiếp. Thật hú hồn!
Cũng may, sau trục trặc vừa qua, tàu chạy khá êm ả trong suốt nhiều giờ. Tuy nhiên, lúc nào mà tàu chưa ra khỏi cửa biển, thì lúc đó vẫn còn những bất ngờ đáng sợ. Càng ra gần cửa biển, nước có vẻ dậy sóng hơn, một số bà con cố dỗ gìấc ngủ, số khác đã bắt đầu nôn oẹ, khoang tàu chật hẹp, đã ngột ngạt, nay thêm mùi ói mửa, cộng thêm mùi dầu gió xanh quyện lại... thật muốn bệnh.
Tàu vừa ra tới cửa biển thì trời đã hừng sáng, có thể nhìn thấy các tàu cá đang trên đường ra biển kiếm sống. Tuy nỗi sợ hãi có nguôi ngoai đôi chút, nhưng còn quá nhiều vấn đề để có thể ăn mừng.

Một điều đáng nói là ra tới cửa biển, tôi mới biết là cả hai cha con ông chủ tàu đã âm thầm leo xuống ghe nhỏ để trở về mà tôi hoàn toàn không hay biết. Điều này thật ra cũng dễ dàng thông cảm. Cầu xin gia đình ông Hai được bình an!

Tàu chạy thêm chừng 3, 4 tiếng đồng hồ nữa, bỗng thấy xuất hiện ở hướng 1 giờ một chiếc tàu sắt sơn trắng. Một số người trên tàu mừng rỡ và nhao nhao ngỏ ý muốn làm dấu kêu gọi cầu cứu. Tôi, với sự đồng tình của một số anh em khác, nhanh chóng cản lại, với lý do, có thể tàu mình chưa ra khỏi hải phận Việt Nam, và tàu kia cũng có thể của Liên Sô hay của khối Cộng Sản, cứu đâu không thấy, nó còng tay, giải giao cho công an thì bỏ mẹ!
Cứ thế tàu chạy suốt cho tới tối không một trở ngại, giờ này chúng tôi có thể yên tâm tàu đang ở hải phận quốc tế, không còn nỗi sợ công an biên phòng nữa, còn chăng là nỗi sợ hải tặc Thái và sóng gió. Chủ đích của chúng tôi là đưa tàu theo hướng Nam Dương, nếu được vậy, hy vọng sự đe dọa bởi hải tặc sẽ được giảm đi đáng kể! Thú thật lúc tính chuyện ra đi, tôi sợ nhất và luôn cầu nguyện, xin cho thoát cảnh cướp biển! Không phải tôi sợ mất của vì tôi làm gì có của để mà mất, nhưng tôi chỉ sợ mất mạng! Tự thâm tâm, tôi biết chắc, nếu xui xẻo gặp hải tặc, tôi sẽ không toàn mạng. Tôi biết rõ tánh khí của tôi, tôi không thể bàng quan chịu trận, nhìn chúng tấn công, chặt chém, cưỡng hiếp phụ nữ... mà không có phản ứng chống trả, đấy là tôi chỉ mới nói tới người xa lạ, huống hồ người đó là vợ tôi, là em tôi. Tôi sẽ không có một chọn lựa nào khác là thí mạng với lũ súc sinh đó! Chứng kiến cảnh cướp của, có thể tôi nhịn được, nhưng trước cảnh bạo hành, nhất là với phụ nữ thì chắc là không nhịn nổi! Kẹt một nỗi, tôi chẳng phải là Lý Tiểu Long, mà cũng chẳng phải Rambo và như vậy, số phận của tôi đã quá rõ: tôi sẽ lảnh một nhát búa và bị thảy xuống biển làm mồi cho cá! Ngay cả trong trường hợp, vì lý do nào đó, lúc xảy chuyện, tôi không phản ứng, do sợ hãi đổi ý, hoặc do bị kềm chế, tôi tự hỏi, dù thoát nạn, làm sao mà sống nổi với cái ám ảnh kinh hoàng đó? Chỉ có chết trước hoặc chết sau mà thôi!

Số lượng người VN được ghi nhận tại trại tỵ nạn các quốc gia lân cận

Trời thương, trong suốt thời gian hải hành không thấy bóng dáng tàu hải tặc, có vài lần nhìn thấy những chiếc tàu sắt khổng lồ như một khu phố, chạy ngang qua, tôi có thể thấy rõ thủy thủ từ trên cao đặt ống nhòm nhìn xuống, nhưng hoàn toàn phớt tỉnh, làm ngơ trước sự cầu cứu của tàu chúng tôi, đã không cứu mà còn tạo những đợt sóng nguy hiểm cho con tàu bé bằng hạt mít của chúng tôi, khi họ thình lình đổi hướng khi đến gần.


Một tàu tỵ nạn VN may mắn chờ được cứu vớt

Điều may mắn khác là biển lặng sóng như mặt hồ trong suốt thời gian qua! Người ta thường nói: “Tháng Ba bà già đi biển.” Tuy vừa mới qua Tết mấy chục ngày, năm nay chắc "Bà Già " đi biển sớm hơn!
Thời gian ở trên tàu, hành khách được phân phát cháo trắng “đặc biệt”, vì cháo có mùi dầu cặn diesel, tuy nhiên, cũng chẳng thấy ai chê khen, ai cũng ráng ăn để cầm hơi. Nước uống cũng có mùi dầu máy, vì như đã kể, nước uống được chứa trong các thùng đựng dầu được súc vội vàng giờ chót trước khi đi. Nhờ có mang theo hộp đường vắt chanh của má tôi, nên nhấm nháp cũng đỡ khổ.

Bước sang ngày thứ ba trên biển, mọi sự vẫn bình yên, tàu chạy ngon lành, không một trục trặc kỷ thuật nào. Các hành khách trên tàu cũng mạnh khỏe, không có ai bệnh hoạn nào đáng kể, chỉ hơi mệt mỏi vì thiếu vận động và ăn uống thiếu thốn mà thôi. Màn nôn mửa cũng đã ngưng, vì biển êm và mọi người cũng đã dần quen với nhịp sóng! Hôm nay là ngày mà nhóm phụ trách tàu hy vọng sẽ “thấy” được đất liền! Thời gian qua, tôi thường lên boong tàu để hít thở gió biển, và cũng để chuyện trò với một số bạn mới quen, trong số đó có H., em của Th, một người bạn khá thân của tôi, gốc Quảng Trị, tốt nghiệp QGHC. Đúng ra tôi đã biết và gặp H. trước đây. H. là biên tập viên Cảnh Sát, sau 75 H. đi “cải tạo” nhưng may mắn vượt ngục được nhờ sự tiếp tay của một nữ đồng chí công an của trại đã phải lòng anh chàng! Thật là chuyện hy hữu, tưởng chỉ có trong tiểu thuyết! Chuyện trớ trêu là người đóng tiền tham dự chuyến đi là vợ chồng Th. với thằng con đầu lòng, nhưng sau chuyến “đổ quân “ thất bại tháng trước, vợ chồng Th., phần mất tin tưởng, phần lạnh cẳng, nên rút lui, “nhường” chỗ cho thằng em đang bị truy nã. Tối qua,tôi ngồi nói chuyện với H. trên boong tàu, trời tối đen như mực, sẵn dịp, tôi lấy cái áo mưa Không Quân màu xanh sậm tính nhúng nước biển cho sạch các dấu vết của những lần say sóng mấy ngày rồi. Tôi cầm cổ áo, nghiêng mình thả áo xuống nước dọc theo hông tàu, bỗng một đợt sóng kéo đến bất ngờ, áo mưa bị sóng giật tuột khỏi tay tôi và bị cuốn đi trong tích tắc vào lòng biển tối om! Tôi nhìn theo, một cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống, không tiếc của, nhưng tôi có cảm giác như một phần của mình vừa bị nuốt chửng, lôi tuột xuống biển. Một sự việc thật bình thường, nhưng đã tạo một cảm giác bất chợt, kinh hoàng và đáng để lạnh người! Tôi chợt nghĩ đến bao oan hồn của rất nhiều thuyền nhân xấu số, cũng đã sống qua giây phút hãi hùng đó, đã mãi mãi ôm hận dưới lòng biển u ám này!

Đêm đã khuya mà vẫn chưa thấy bóng dáng đất liền! Nhiều người trong chúng tôi bắt đầu lo sợ tàu đã đi lạc hướng. Đến khoảng mười một giờ tối, lúc ấy tôi đang có mặt trên boong tàu, giữa lúc mà mọi niềm hy vọng mỗi lúc mỗi nhạt nhòa, bỗng từ rất xa, trên nền trời tối đen, nháng lên một gợn sáng màu hồng chập chờn giữa các cụm mây. Nhiều phỏng đoán được đưa ra, theo tôi, đó có thể là ánh sáng của một thành phố nào đó đang phản chiếu ánh đèn ngược lên đám mây. Tất cả đồng ý là cứ nhắm hướng đó mà chạy. Niềm hy vọng được mau chóng phục hồi! Tàu chạy mãi nhưng đám mây hồng vẫn còn xa tít mù khơi! Đến gần 3 giờ sáng tàu mới đến được ở khoảng cách cho phép chúng tôi nhận diện được nguồn sáng, đã được ơn trên xử dụng thay ngọn hải đăng, hướng dẫn tàu chúng tôi khỏi lạc lối: đó là một giàn khoan dầu cao sừng sững đang khạc lửa, chẳng khác gì một con rồng trong chuyện cổ tích! Chúng tôi mừng rỡ đánh thức cả tàu dậy để chứng kiến giờ phút lịch sử. Phải nói quang cảnh lúc đó thật huyễn hoặc, ánh lửa đỏ như máu được phun ra từ ống dẫn khí đốt của giàn khoan, phản chiếu xuống mặt biển nhấp nhô, đen ngòm. Đã thế, không biết từ đâu bỗng xuất hiện một đàn cá thật to lớn, dũng mãnh, mà mới thoạt nhìn, chúng tôi cứ ngỡ là cá mập, nhưng mãi về sau, mới đoán ra là cá heo, chúng hăm hở lượn vòng, lặn ngụp quanh tàu, nửa như mừng đón, nửa như đe dọa.


Một giàn khoan dầu ở biển Nam Dương về đêm. Cảnh tượng khá tương tự với những gì tôi đã thấy

Tất cả những chi tiết: cảnh vật, màu sắc, ánh sáng... cọng thêm tâm lý xúc động, hồi hộp lúc ấy của chúng tôi, nếu được một họa sĩ tài ba cỡ Théodore Géricault, một họa sĩ người Pháp nổi tiếng của thế kỷ thứ 19, với bức danh họa "Le radeau de la méduse", gom lại thành một tác phẩm hội họa, tôi sẽ đặt tên bức tranh đó là “Le dernier jugement“ (Ngày phán xét cuối cùng). Không biết tại sao cái tên đó đã đến với tôi ngay trong giờ phút đó, chứ không phải bây giờ hồi tưởng lại và đặt tên. Tôi chẳng biết tại sao tôi lại liên tưởng đến ngày phán xét cuối cùng trong giờ phút bất thực đó? Phải chăng do cảm nhận thân phận nhỏ bé, bọt bèo, đang chờ đợi sự phán xét cuối cùng, trong bối cảnh vĩ đại không cùng của trời nước mênh mông, bao phủ bởi cái thứ ánh sáng màu đỏ của máu, của lửa, chập chờn ma quái trên sóng biển đen ngòm với bầy “quái ngư” đang biểu diển một vũ điệu chào đón bên dưới.

“Cầu Nại Hà”?
(Theo tin tưởng của nhân gian, những người chết sẽ bước qua cầu “Nại Hà”, ăn chén cháo lú, quên hết mọi chuyện, trước khi được tái sinh...)


“Le radeau de la méduse” của danh họa Théodore Géricault

Tàu chúng tôi tiến thẳng vào địa điểm giàn khoan. Toàn khu vực được hệ thống đèn rọi sáng như một khu phố về đêm. Tuy còn xa khoảng gần nửa cây số, chúng tôi đã có thể nhìn thấy một dáng người đang đứng tuốt trên cao, đang quơ hai tay ra dấu không cho chúng tôi tiến lại gần. Thấy làm dấu không kết quả, người đó lấy một ống nước xịt xuống, như muốn cảnh cáo chúng tôi không được lại gần. Chúng tôi như người điếc nên chẳng sợ súng, vẫn cứ nhắm mắt tiến tới, bỗng không biết từ đâu, một tàu sắt xuất hiện và tiến lại gần tàu chúng tôi, họ dùng loa ra lệnh cho chúng tôi chạy theo họ. Bây giờ chúng tôi mới chịu buông bỏ giàn khoan để chạy theo tàu sắt. Chúng tôi được họ hướng dẫn đến đậu sát một tàu phà, lớn như một sân banh, đang thả neo không xa đó bao nhiêu, mà tôi đoán được xử dụng làm nơi trú ngụ cho nhân viên công tác tại giàn khoan. Họ cho phép chúng tôi leo lên tàu phà. Mấy ngày liền nằm trên tàu gỗ, ít có dịp để hình dung sự nhỏ bé của tàu mình, giờ đây đậu sát chiếc phà, ai ai cũng nhận thấy tàu mình như con cá lòng tong bên cạnh con cá lóc. Do đậu sát nhau, sóng đẩy tàu nhỏ chòng chành một cách đáng sợ, mọi người phải thật thận trọng lúc chuyển tàu, nếu không muốn bị té xuống nước, hoặc bị tàu kẹp gây thương tích.
Hôm đó là rạng sáng của ngày 26 tháng 2 năm 1981, sau ba ngày bốn đêm vượt biển, chúng tôi đã đến được bến bờ Tự Do, bình yên vô sự. Đây là giây phút hạnh phúc nhất trong suốt cuộc hành trình. Xin cảm tạ Trời Đất.
Số người đứng ra để “chiêu đãi” chúng tôi lúc bước lên phà, là một số các kỹ sư và chuyên viên giàn khoan người Nam Dương. Họ rất dễ thương và nói tiếng Anh khá lưu loát. Họ mang cho chúng tôi nước ngọt, trái cây như chuối, táo và bánh mì. Sau mấy ngày thèm khát vì chỉ húp cháo trắng và uống nước nặng mùi dầu cặn, ai cũng hăm hở với các thức ăn mới có chất lượng hơn. Sau chừng hai tiếng đồng hồ nghỉ ngơi ăn uống, đang vui vẻ yêu đời vì tưởng sẽ được cho ở lại luôn trên phà trong lúc chờ đợi phương tiện đưa chúng tôi đến trung tâm tỵ nạn, chúng tôi bỗng cảm thấy hụt hẫng khi được yêu cầu xuống trở lại tàu. Họ trấn an chúng tôi là mọi chuyện sẽ tốt đẹp, vì họ sẽ cung cấp cho chúng tôi dụng cụ đi biển gồm hải bàn và hải đồ, lương thực, nước uống... để tự lái đến đảo KUKU, nơi có văn phòng đại diện của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đặc trách người tỵ nạn (United Nations High Commissioner for Refugees), cách đây cũng không xa lắm. Rầu thúi ruột, nhưng biết làm sao hơn?
Lúc mọi người đã trở lại tàu và đã ổn định xong, tài công cho nổ máy và gài số cho tàu chạy, đang ngon trớn bỗng tàu bị chấn động mạnh do va chạm kèm theo một tiếng động khô khan, làm tất cả chúng tôi giật nẩy mình. Chắc do vô ý nên tài công đã để mũi tàu đụng mạnh vào dây neo của tàu phà, làm phần trên mũi tàu bị bung ra, nhưng xem ra không nặng lắm. Tài công giật mình và hấp tấp chỉnh lại hướng đi, nhưng cũng như lần đầu, mũi tàu lại đụng mạnh vào dây neo một lần nữa, mà đường kính móc xích dây neo bự bằng cỗ chân bằng sắt, mũi tàu lại bị bể ra nhiều hơn. Trên tàu, hành khách nhốn nháo hẳn lên. Tội nghiệp mấy ông bạn Nam Dương trên phà cũng hốt hoảng không kém, họ bắt loa kêu gọi tàu chúng tôi không được đi nữa mà hãy quay trở lại. Người đại diện yêu cầu chúng tôi giữ trật tự và chờ đợi họ xin chỉ thị của chính quyền địa phương. Không bao lâu sau, anh chàng kỹ sư, mà tôi đã làm quen lúc còn ở trên tàu phà, tiến lại và ra dấu bảo tôi lại gần. Y nói, cách hay nhất để họ có thể mau chóng giúp đỡ và cho phép chúng tôi trở lại tàu phà là... đục thủng đáy thuyền để nước vô, rồi viện lý do tàu bị nạn có nguy cơ chìm, bọn họ có thể cứu chúng tôi, mà không cần đợi các thủ tục rườm rà. Tôi mừng rỡ cám ơn, nhưng đồng thời nêu vấn đề: trên tàu có đàn bà, con nít, tôi chỉ sợ, nếu đục đáy tàu, khi nước tràn vào, sẽ gây hốt hoảng, sẽ có màn chen lấn, tranh nhau rời tàu, trong lúc tàu đang chòng chành sẽ rất nguy hiểm, vì vậy tôi đề nghị xin cho đàn bà, trẻ em được chuyển lên phà trước, đàn ông, thanh niên sẽ lên sau khi đục thủng đáy tàu. Viên kỹ sư nghe thấy cũng hợp lý, nên bảo để y đi xin ý kiến của cấp trên. Lát sau, y trở lại và cho biết đề nghị của chúng tôi đã được chấp thuận. Chúng tôi mừng rỡ cám ơn và nhanh chóng giúp đỡ phụ nữ và trẻ em lên tàu phà trở lại. Tiếp theo, nhóm tài công tình nguyện thực hiện việc đục đáy tàu. Nghe đâu đục đáy tàu không nổi, nên cuối cùng họ chỉ có thể cắt một ống dẫn bằng cao su để nước tràn vào. Thú thật tôi không rành mấy vụ đó, nên cũng chỉ hiểu mù mờ, không biết ống đó là ống gì và nằm ở đâu? Tưởng nước sẽ mau chóng nhận chìm con tàu, nhưng chờ hoài chờ mãi chưa thấy tới đâu. Thay vì phải chờ đợi đến phút chót, tất cả chúng tôi đều được phép lên tàu phà trở lại. Mãi đến khoảng 9 giờ sáng, có nghĩa là sau khoảng 5 tiếng, con tàu mới bị nuốt chửng vào lòng biển. Chứng kiến tận mắt chiếc tàu đã cưu mang mình trong những ngày qua, từ từ biến dạng dưới mặt nước âm u gây cho tôi cái cảm giác rờn rợn khó tả.
Thời gian ở trên tàu phà tuy ngắn ngủi, nhưng thật hạnh phúc, thư giãn. Dù nằm mơ cũng không dám nghĩ sẽ có ngày được thảnh thơi, giữa trời biển mênh mông, ngút ngàn, sau một chuyến đi tử sinh bất định!
Sau khi được cho ăn uống, tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi đứng tựa lan can phà, hít thở gió biển, vừa nhìn những người Nam Dương câu cá với dây cước mà không dùng cần. Họ móc mồi cá rồi thả xuống biển, cá cắn câu, họ giật mạnh và dùng tay cuộn dây cước lôi cá lên, một người khác dùng dao làm cá tại chỗ và chắc ăn không hết nên tôi thấy họ phơi nắng làm khô cá. Cá câu được con nào cũng bự và thật tươi ngon.
Tôi cũng hay bắt chuyện với mấy anh kỹ sư, đại khái cũng hỏi thăm chuyện gia đình, công việc của họ và đồng thời cũng kể cho họ hay về hoàn cảnh của Việt Nam thời “hậu chiến”, về gia đình. Người Nam Dương rất dễ thương và tình cảm. Nghe tôi nói giờ này chắc ba má tôi trông ngóng tin tức của bọn tôi lắm, không chút do dự, anh chàng kỹ sư tôi quen đề nghị tôi thảo một bức điện tín gửi cho gia đình, cuối tuần anh đi phép ở Singapore, anh sẽ gửi dùm cho (*). Tôi rất biết ơn sự giúp đỡ và vội vã viết một bức điện gửi bà chị Hai của tôi đang cư ngụ tại Houston, Texas, với nội dung cho biết gia đình vợ chồng tôi, em vợ tôi và T. em bạn tôi đến Nam Dương bình yên, tin cho Linh, em gái vợ tôi đang ở Virginia và ba má hay kẻo trông. Bức điện tín đó, về sau chị tôi cho lại tôi, và 38 năm sau, giờ này tôi vẫn còn giữ.


Bức điện tín nặng tình người, được gửi đi ngày 30/3/81 từ Singapore, chỉ vỏn vẹn 8 ngày kể từ khi tôi rời Sài Gòn. Vô địch!

(*) Tôi nhớ lại khoảng năm 1980, một đêm, sau khi ăn tối xong, nghe trong xóm chộn rộn, ra xem thấy người trong xóm bu quanh, nói chuyện với một người còn trẻ chống cặp nạng, mặc bộ đồ lính khá rách rưới, chân phải anh ta băng bó và hình như đang phát mùi hôi thum thủm. Anh ta cho biết vừa “cải tạo” được thả ra. Chân anh bị thương tích nặng do phải mìn nổ, trong thời gian tù tội. Về đến nơi, mới biết gia đình đã đi định cư ở Pháp, nhà cửa bị tịch thu, không nơi nương tựa. Ai nghe cũng mủi lòng, kẻ cho gạo, người cho tiền, người cho quần áo cũ, cọng thêm những lời an ủi. Tôi cho anh mấy lon gạo và hỏi anh có địa chỉ người thân ở Pháp không? Anh lục túi đưa tôi tên tuổi, địa chỉ. Tôi ghi vội vào giấy và hứa với anh tôi sẽ liên lạc với gia đình anh để cho họ biết tin tức về anh. Thư tôi gửi đi được một vài tuần và bị gửi trả lại, với lý do... không có ai tên đó ở địa chỉ trên! Đến giờ phút này, tôi vẫn không rõ anh ta đã nói thật, hay đã lừa gạt mọi người! Nếu anh đã lừa gạt. anh quả thật là một thiên tài, xứng đáng nhận giải Nobel về óc sáng tạo và giải Oscar về tài đạo diễn lẫn diễn xuất! Nhưng dù gì đi nữa, giờ này nghĩ lại, tôi có cảm tưởng mình cũng đã nhận lại được “Quả” tốt với bức điện tín đầy tình người như đã kể trên.

Thời gian ở tàu phà rất ngắn vì khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, chúng tôi được điều động lên chiếc tàu sắt nhỏ của người Nam Dương để đến chỗ hẹn với một tàu khác, gồm thủy thủ đoàn người Đức tình nguyện, với nhiệm vụ cứu giúp người vượt biển. Chúng tôi rất ấn tượng khi nhìn thấy tàu FLORA vì tàu thuộc loại tàu sắt lớn, mũi tàu nhọn và cao hẳn khỏi mặt biển, trông rất hùng tráng. Sau khi hai tàu tiến sát lại gần nhau, tàu FLORA cho hạ xuống một thang sắt có tay vịn, chưa xong, họ còn cẩn thận cho giăng một cái lưới bằng dây thừng bên dưới để hứng, trong trường hợp có người trợt chân té, vì tàu chúng tôi đang chòng chành dữ dội, và tai nạn có thể dễ dàng xảy ra. Nhìn sự chuẩn bị chu đáo của thủy thủ đoàn, tôi thật cảm động và tự nghĩ: Những con người xa lạ, khác màu da, khác chủng tộc này, đã bỏ lại tất cả, công việc làm ăn, mái ấm gia đình... để đến vùng biển hoang dã này, tìm cách cứu vớt những kẻ cùng đường kẹt lối dám đem mạng sống mình để đánh đổi hai chữ tự do. Họ hết lòng lo lắng cho sự an toàn của từng người trong nhóm chúng tôi, hốc hác tiêu điều như một đám cái bang, trong lúc những người “anh em” ruột thịt, cùng dòng máu của chúng tôi thì luôn tìm dịp hãm hại trù dập chúng tôi một cách không thương tiếc!
Tôi phát hiện rất sớm là người trưởng nhóm tàu Flora tuy người Đức, nhưng nói được tiếng Pháp khá trôi chảy. Ông ta ngỏ ý muốn nhờ tôi phụ việc cho nhóm nấu bếp, tôi vui vẻ nhận lời. Tối đó bọn tôi được ăn một bữa cơm "sống" (theo tiêu chuẩn VN) ,với thịt hộp và cá khô! Tuyệt diệu!

Trên đường đến đảo Kuku, giữa đêm tối, chúng tôi được thông báo tàu Flora sẽ tạm ngừng ở một điểm hẹn, để tiếp nhận một nhóm thuyền nhân khác, đã được cứu vớt vài ngày trước ở một đảo nhỏ, nay xin quá giang tàu Flora để đi Kuku. Trong đám người lếch thếch đang đặt chân lên tàu, tôi ngạc nhiên lẫn mừng rỡ khi nhận ra “Cu” Trúc, một người quen thân mà tôi biết chắc đã ra đi trước tôi khoảng hơn tuần lễ! Gia đình Trúc ngày xưa thuê nhà của ba má tôi, hai gia đình sống gần và qua lại cả mười mấy năm, nên xem nhau còn hơn cả bà con ruột thịt. Trúc nhỏ hơn tôi chừng ba, bốn tuổi và nếu tôi nhớ không lầm, Trúc được sinh ra trong căn nhà thuê đó, bọn tôi thường gọi là “Thằng Cu”. Lớn lên “Thằng Cu” cao to, đẹp trai, lại là phi công A37 nữa, nên được gọi lại bằng cái tên Trúc cho nó lịch sự. Trước ngày đi, Trúc có lại chào gia đình tôi, lúc đó tôi vẫn còn chưa biết ngày đi. Sau này nghe Trúc kể lại, tàu bị hỏng máy nên lênh đênh nhiều ngày trên biển, may mà không chết, vì vậy mà đi trước đến sau! Kể từ giây phút đó, Trúc gia nhập nhóm tôi cho đến ngày rã đám lên đường định cư.
Đảo Kuku là một trong 18,300 đảo trong quần đảo Nam Dương. Vì tứ bề được che chắn bởi những đảo khác, nên mặt biển luôn ít sóng trông như mặt hồ. Vào những năm 79, 80, với phong trào vượt biên “bán chính thức”, Kuku là một trung tâm đón nhận thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam lớn nhất vùng, với con số lúc cao điểm, lên đến nhiều ngàn người. Từ một hoang đảo, Kuku trong thời gian đó, đã trở nên một khu tập trung đông đúc của người tỵ nạn Việt Nam, với rất nhiều dãy nhà tuy thô sơ vá víu nhưng đủ để che nắng che mưa do thuyền nhân tự xây cất, hoặc thuê người khác xây cất, bằng cây rừng của đảo, hoặc thậm chí sang lại của người khác với giá cả có thể lên đến cả cây vàng!

Ngày 01 tháng 3 năm 1981, chúng tôi đặt chân lên đảo Kuku, ai cũng đi đứng nghiêng ngã như người say rượu, nhưng đúng ra là “say đất”, vì đã khá lâu chưa có dịp đạp đất lại. Trên đảo vào thời điểm 1981, chỉ còn lẻ tẻ chưa tới vài trăm người. Họ túa ra bến tàu tìm cách nhận diện xem trong đám người mới tới có ai quen biết không? Không khí nhộn nhịp, vui vẻ hẳn lên. Tuy nhiên, bọn tôi còn phải trải qua một số thủ tục, rất may trong đó không có thủ tục... “đầu tiên” (= tiều đâu). Đại khái ghi danh, "khám" vệ sinh và sức khỏe, trước khi được chính thức cho gia nhập trại. Tuy gọi là khám sức khoẻ, nhưng trên thực tế, theo nhận xét của một số người, chỉ là khám chiếu lệ và được thực hiện một cách thiếu tế nhị, nhất là đối với các nữ thuyền nhân. Cũng may, không có gì đáng tiếc đã xảy ra! Nghĩ cho cùng, với thân phận tỵ nạn lấy tư cách gì mà đòi với hỏi? Người ta mở cửa cứu vớt đã là may rồi!


Đảo Kuku với những túp lều của người tỵ nạn

Lúc đó trên đảo vẫn còn rất nhiều “lều chõng” xiêu vẹo, bỏ trống đã nhiều tháng, chúng tôi mặc sức chọn lựa và tự tu bổ lại, với vật liệu thu góp từ những căn bỏ trống khác. Bây giờ, nhóm chúng tôi chính thức tăng lên 6 người: hai vợ chồng tôi với thằng con, Quý, em út bà xã, cọng thêm hai thằng em nuôi Tâm và Trúc. Cũng nhờ vậy mà suốt thời gian ở đảo thật vui nhộn và đầy đủ nhân lực cho mọi nhu cầu sinh hoạt của nhóm. Trên đảo tôi gập lại anh Lưu, thuộc nhóm phóng viên chiến trường, bạn ông anh tôi, người đã giúp chụp hình đám cưới cho vợ chồng tôi 8 năm trước. Ngoài ra tôi còn phát hiện trên cùng chuyến tàu định mệnh với tôi, có Lan Phương, cùng tốt nghiệp ĐHSP Sài Gòn cùng năm 71 với tôi, ban Anh Văn, cùng chồng là họa sĩ Bửu Khải tức Nguyên Khai, hiên định cư tại California. Ngoài ra còn có anh Hoàng Ngân Hà và chị Tâm, bạn anh Hai tôi, hai giáo sư Anh Văn tốt nghiệp ĐHSP Huế.

Chúng tôi chọn được một căn mặt tiền, chỉ cách bờ biển không tới 50 mét, đủ rộng cho 6 mạng. Chúng tôi bắt tay dẹp dọn, vệ sinh chổ ở, đi nhận đồ tiếp liệu: nồi niêu, chén đũa, lò bệ, gạo, đồ hộp, mùng mền... đại khái những thứ thiết yếu cho thời gian tạm trú.
Với số gạo nhận được khá dư dả, qua sự chỉ vẻ của nhóm người đến trước, chúng tôi dùng để đổi lấy cá tươi, từ những người ngư dân địa phương, mỗi chiều khi họ đi lưới cá về, trên những chiếc ghe nhỏ nhắn đủ cho hai người, chứ không phải loại thuyền lớn đi xa. Ôi, nhìn mấy xâu cá tươi xanh còn vùng vẫy mà thèm. Chỉ tiếc trong phần thực phẩm phân phối không thấy muối, xì dầu, hay nước mắm. Trong khó khăn mới vận dụng đến sáng kiến, tôi đề nghị với mấy chú em lấy nước biển về nấu làm muối. Thế là chúng tôi có thể thưởng thức cá hấp, cá “kho”... Trong phần nhu yếu phẩm nhận được có: đậu xanh hột, mật ong, thịt vịt hộp, mì gói, vậy mà bà xã tôi cũng đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ “chị nuôi” của nhóm, bằng cách biến chế các món ăn độc đáo: Chè đậu xanh nấu với mật ong (vì không có đường), mì vịt tiềm.


Gia đình bé nhỏ của tôi trên đảo Kuku

Trong không khí cắm trại, biển trời lồng lộng, đầu óc thảnh thơi, không còn nỗi lo sợ canh cánh như lúc còn ở ngay trên chính quê hương của mình và với một tương lai tươi sáng đang chờ đợi ... phải nói là ăn gi mà chẳng ngon và đó là những ngày vui, hạnh phúc khó quên. Bữa tối, dưới ngọn đèn dầu hoặc ánh trăng, ngồi lại với nhau, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện, cười ngặt nghẽo, hoặc nghe Cu Trúc hát. Trúc tánh tình vui nhộn, có máu văn nghệ với giọng hát khàn khàn nghe thật truyền cảm. Vừa lên đảo được một hai ngày là cu cậu đã tán được một em y tá Nam Dương khá xinh, đã nói được vài câu tiếng địa phương, với nước da ngâm đen, tóc quăn tít, nhìn vào ai cũng tưởng cu cậu là thỗ dân chính gốc. Trúc mượn đâu được cây đàn guitar, thế là tối nào cũng có màn văn nghệ bỏ túi. Điều duy nhất đáng phàn nàn trên đảo Kuku là chuột! Chắc đó là hậu quả của sự tập trung quá tải của các thuyền nhân trước đây và rác rến của họ đã để lại.

Trong thời gian ngắn ngủi ở trên đảo này, đại diện của UNHCR đã đến tiếp xúc và lập danh sách của chúng tôi. Một điều thật thiếu sót nếu không nhắc đến, khi nói về đảo Kuku: đây không những là nơi tiếp nhận những thuyền nhân may mắn đã đến được bến bờ tự do mà còn là nơi yên nghỉ nghìn thu của nhiều thuyền nhân VN, sau khi đã đặt chân lên đất liền, do bệnh hoạn, đuối sức trong suốt chuyến hải hành gian nan hoặc do mắc phải bệnh sốt rét rừng khi đã lên tới đảo. Cho tới thời điểm 2019 này, hình như một số mộ vẫn còn ở đó, một số khác được thân nhân dời cốt về gần nơi gia đình định cư.
Tưởng cần nói đão Kuku thời điểm đó, được đặt dưới sự chỉ huy của một sỹ quan Nam Dương, Thiếu Tá SOHARDJO, thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, ông ta đã từng ở Việt Nam trước 1975, là thành viên trong Ủy Ban Liên Hợp 4 bên. Có dịp tiếp xúc với ông, tôi nhận thấy ông ta rất dễ thương và tế nhị.


Hình chụp ở đảo Kuku. Từ trái: Quý, Trúc, NDung, Thuận, Cu Huy, TT. Sohardjo, Tâm. Xa xa có thể nhìn thấy bóng dáng  tàu Seasweep

Ở Kuku được gần 3 tuần, ngày 20 tháng 3 năm 1981, chúng tôi lại phải thu xếp hành trang để được đưa đến trại tỵ nạn chính thức ở đảo Pulau Galang. Phương tiện chuyên chở là tàu Sea Sweep, được bảo trợ bởi nhóm Nhà Thờ Tin Lành World Vision. Dù bản thân rất tình cảm, nhưng thú thật, tôi chẳng có chút cảm xúc nào khi nhắc đến nhóm thiện nguyện trên chuyến tàu này. Lý do dễ hiểu là chúng tôi hầu như đã không có bất cứ tiếp xúc nào với nhóm người hiện diện trên tàu, ngoại trừ nhận được từ họ một cuốn Kinh Thánh bỏ túi bằng tiếng Việt lúc vừa bước chân lên tàu. Trong suốt chuyến đi, chỉ thấy một nhóm trai gái người Á Đông, không rõ là người Đài Loan hay Singapore, lượn qua lượn lại, tụm năm tụm ba đấu hót với nhau, không một lời thăm hỏi nhóm người “tỵ nạn khốn khổ” chúng tôi! Tôi nghĩ số người này đã tình nguyện... cho một cuộc hải hành vui chơi trên biển thì đúng hơn.
Lòng nhân đạo, với tôi, hình như vẫn là món hàng hiếm, khó kiếm thấy ở người Á Đông chúng ta chăng? Cũng có thể tôi hơi khó tính?


Dung nhan chiếc SEASWEEP


Trại tỵ nạn Galang với các dãy barrack

Trại tỵ nạn Galang rộng lớn gồm có 2 khu: Galang 1 và Galang 2, nhóm tôi được đưa vào Khu 1. Mỗi nhóm đều mang cùng một số hiệu được cắp cho mỗi tàu được Nam Dương tiếp nhận, chẳng hạn nhóm tôi mang số hiệu IN.15129. Mỗi khu có chừng mấy chục “barrack”, mái tôn, với những dãy giường gỗ nằm san sát nhau.


“Chị nuôi” Ngọc Dung luôn xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ

Khi đặt chân đến đây, tôi có cảm tưởng như mình vừa đến một thành phố nhỏ, nghèo nàn, đất đỏ nào đó của VN vì nhìn quanh, thấy toàn người Việt, đi đâu cũng nghe toàn tiếng Việt, với cảnh sinh hoạt buôn bán khá nhộn nhịp. Cũng tụm năm tụm ba, mua bán đổi chác, cà phê thuốc lá giống hệt cảnh một chợ trời “chồm hổm” nhỏ tại quê nhà. Vừa qua đến, bọn tôi đem bán ngay một khâu vàng. Có được “rupiah”, đơn vị tiền tệ của Nam Dương trong tay, bọn tôi mặc sức ăn hàng quà, chè trái cây làm từ những hộp "fruit cocktail", cà phê, thuốc lá... cho bù lại thời gian thèm khát vừa qua. Thuốc lá Nam Dương có tên Djarum Black, khá nặng, có mùi hồi (anis), lúc hút chất nhựa cháy phát ra tiếng kêu răng rắc rất đặc biệt.
Phải nói người Việt mình thật giỏi, một số người vì lý do nào đó chưa được nơi nào nhận cho đi định cư, sợ ở lại lâu tiêu hết tiền, bèn kiếm cách mua bán, kinh doanh kiếm thêm tiền để tiêu thêm.
Ở đây, sau thời gian ổn định, nghỉ ngơi, thủ tục giấy tờ, chụp hình căn cước, cũng đã hoàn tất, thuyền nhân giờ chỉ còn chờ đợi phái đoàn các nước đến phỏng vấn.


Hình căn cước thuyền nhân của tàu IN.15129 trông giống phạm nhân bị FBI truy nã

Một số người đã liên lạc được với thân nhân ở ngoại quốc, nhận được quà cáp, tiền bạc ủy lạo rủng rỉnh, họ nhanh chóng lấy lại được phần nào phong độ ngày trước, sắc diện coi tươi tắn hơn, áo quần coi cũng bảnh bao hơn. Trên đảo còn có chùa và nhà thờ Công Giáo. Vị Linh mục chánh là Cha Gildo Dominici, một linh mục Dòng Tên, đã từng gắn bó với VN từ năm 1967, với một cái tên Việt Nam rất dễ thương là Đỗ Minh Trí. Ngài đã tình nguyện về phục vụ tại trại tỵ nạn Galang ở Nam Dương từ năm 1979, lúc cao điểm, nghe đâu số người tỵ nạn lên đến trên 10 ngàn người. Không những Cha Dominici phục trách nhu cầu phần hồn cho giáo dân, ngài còn là người giúp tổ chức các sinh hoạt của trại, xông xáo tranh đấu với UNHCR và chính quyền địa phương cho quyền lợi của người tỵ nạn... Bên cạnh ngài, còn có cha Tiền, một LM Việt Nam, còn khá trẻ, làm phụ tá. Nghe đâu cha này về sau hoàn tục, đổi chức “cha” để nhận lấy chức “Ba”. Nhà thờ có ca đoàn VN, và khỏi cần nói, chủ nhật nào giáo dân cũng đi lễ rất đông và sốt sắng, để cảm tạ Ơn Trên đã cho đến được bến bờ bình yên.

Qua đến đảo, một số người trong nhóm tôi được tin của gia đình chủ tàu gửi qua cho biết: trong hai chiếc ghe mất tích ngày khởi hành, một chiếc bị hỏng máy, trong đó có vợ con cháu chắt nhà chủ, chiếc kia bị lật chìm, ba, bốn người tử nạn, trong đó có Bà Lang, người mà tôi đã nhắc đến trong đoạn trước, cùng với hai đứa con và một người em. Người chồng Quận Trưởng nghe đâu “may mắn” sống sót và bị bắt trở lại. Tôi xúc động mạnh khi nhận được tin buồn này. Mới gặp mặt và nói chuyện ngày trước, ai biết được ngày hôm sau bà tử nạn. Ông Thầy bói mù nói thế mà đúng, chỉ có tôi là sai: Trong bảy, tám chục người cùng tham dự chuyến đi, định mệnh của mỗi người không nhất thiết bị cột chặt vào nhau như trường hợp mà đạo Phật thường gọi là cộng nghiệp. Theo tôi, trong đời mỗi người, có những sự kiện hoặc biến cố không nhất thiết liên quan trực tiếp đến mình nhưng đã để lại dấu vết thật lâu dài. Đã 38 năm rồi, thế mà cái chết của bà Lang và hai con cứ mãi ám ảnh tôi cho đến tận bây giờ. Tôi chúa lười đọc kinh cầu nguyện, thế mà mỗi khi có dịp, tôi luôn nghĩ đến người đàn bà xấu số đó!
Một bất ngờ thích thú khi đến Galang là gặp lại Trần Q. Phục, người bạn thân đã học cùng lớp, cùng ban Pháp Văn với tôi tại ĐHSP Sài Gòn.


Ngày tiễn Phục rời Trại GALANG đi định cư ở Mỹ

Phục rời VN trước tôi khá lâu, nhưng hình như đi theo hướng Thái Lan. Sau khi ở Thái một thời gian, lại được chuyển sang Phi Luật Tân, trước khi đến Galang 2. Vừa gặp lại không bao lâu, thì tôi đã vội đưa tiễn Phục rời đảo đi định cư ở Mỹ.


Những người đi cùng chuyến tàu. Hình còn thiếu nhiều người, trong đó có gia đình người viết. Lưu HQ (1), Dưỡng HQ (2), BS Tấn (3), Trang, phu nhân BS Tấn (4), Lan Phương SP (5) và phu quân Bửu Khải tức HS Nguyên Khai (6)


Hình ảnh tiêu biểu của một gia đình tỵ nạn, thiếu thốn mọi thứ nhưng thật vui và hạnh phúc

Một nhân vật thật đặc biệt khác mà vợ chồng tôi nhớ mãi, mỗi khi nhắc tới thời gian ở Galang là Lê Trung. Trung sinh sống tại Pháp, tình nguyện tham gia hội Hồng Thập Tự Pháp (Croix Rouge) đến công tác thiện nguyện tại đảo Galang trong thời gian tôi ở đó. Trung là một thiện nguyện viên Việt Nam hiếm hoi, nếu không nói là duy nhất có mặt tại trại tỵ nạn Galang.


Lê Trung, người thiện nguyện viên Việt Nam hiếm hoi ở Galang

Trung chắc trẻ hơn tôi một hai tuổi, đẹp trai, trắng trẻo, hiền lành kiểu “Con nhà lành “ và còn độc thân. Qua chuyện trò, biết vợ chồng tôi là giáo sư Pháp Văn, Trung mừng rỡ đề nghị chúng tôi tham gia mở lớp dạy tiếng Pháp cho những người định cư ở Pháp mà Trung dự tính tổ chức. Gặp bọn tôi như bắt đúng “tần số“, Trung hay lui tới chuyện trò thân thiết, chỉ tiếc thời gian bọn tôi ở đảo không đủ lâu, chuyện mở lớp chưa xong thì bọn tôi đã đi định cư ở Mỹ. Ngày bọn tôi rời đảo bằng tàu sang Singapore, Trung tình nguyện tháp tùng. Nhờ có Trung hướng dẫn, nên bọn tôi có dịp tham quan Singapore, chụp hình, ngoạn cảnh, đi chơi lòng dòng ở các thương xá, và đi ăn hàng quán, mọi chi phí Trung dành chi trả hết. Nói cho ngay, cũng không có gì tốn kém lắm nhưng trong hoàn cảnh tỵ nạn của bọn tôi, sự đối xử tình nghĩa đó là những món nợ “ân tình“ mà bọn tôi trân quý và không bao giờ quên! Sang đến Mỹ, hơn một năm sau, tôi vẫn thường xuyên thư từ thăm hỏi Trung và có nhã ý mời Trung qua chơi một chuyến. Trung vui vẻ hứa sẽ kiếm dịp. Lá thư chót gửi thăm Trung vào khoảng năm 83, tôi nhận được thư trả lời, có điều thư không phải do Trung viết mà do thân nhân viết, trong thư chỉ ngắn gọn đau buồn báo tin là Trung đã mất! Không một lời giải thích nào khác! Phải nói là vợ chồng tôi bàng hoàng, hụt hẫng!
Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn thắc mắc, ấm ức. Tại sao một người trẻ trung khỏe mạnh, yêu đời yêu người... như Trung, lại có thể ra đi bất chợt như vậy? Lại thêm một mất mát cứ mãi ám ảnh tôi!


Chụp với Lê Trung tại Singapore May 1981

Lá thư cuối không ngày tháng, nhận được từ Lê Trung, người bạn vắn số

Thời gian ở đảo, các anh chị em của tôi cũng như của bà xã tôi, định cư ở Mỹ từ năm 75, thỉnh thoảng gửi tiền về ủy lạo, đồng thời luôn căn dặn: nhớ đừng dại dột xin đi định cư ở Pháp, bảo ở Pháp cực lắm chứ không như ở Mỹ. Mà mấy anh chị lo và dặn dò cũng đúng thôi, bọn tôi đã quá quen thuộc với những gì của Pháp, từ ngôn ngữ đến lịch sử, văn hóa và nhất là con người. Văn bằng của bọn tôi cũng được Pháp công nhận, nếu qua Pháp, chắc bọn tôi sẽ không bị bở ngỡ, mà có thể mau chóng làm lại cuộc đời. Khỏi cần nói, cám dỗ đó rất thật, tuy nhiên vào lúc đó tôi chỉ nghĩ: Ruột thịt ở đâu thì mình ở đó. Đơn giản vậy thôi! Với tôi vật chất không nhất thiết là yếu tố quyết định! Đến lúc phái đoàn Mỹ đến phỏng vấn, bọn tôi đã được chấp nhận dễ dàng, phần vì đã có thân nhân cư ngụ tại Mỹ, mặt khác, căn bản tiếng Mỹ bọn tôi chắc không đến nỗi tệ, bằng chứng là sau khi phỏng vấn tôi, viên trưởng đoàn Mỹ ngỏ ý muốn tôi giúp phiên dịch cho đoàn. Hơi ngạc nhiên nhưng tôi vẫn vui vẻ nhận lời.


Phái đoàn Mỹ đang phỏng vấn thuyền nhân Việt Nam tại trại Galang


Thời gian ở đảo đúng ra phải là thời gian tuyệt vời nhất, vừa thoát khỏi "thiên đàng XHCN", chỉ có ăn và chơi, chẳng có gì đáng phải lo lắng, chỉ còn chờ ngày đi định cư, vậy mà hình như ít ai hưởng được những phút giây hạnh phúc có thực và gần kề đó. Với những người chưa được phỏng vấn thì cứ thấp tha thấp thỏm, người khác phỏng vấn rồi, nhưng vì khai báo bất nhất, chờ hoài chưa thấy kết quả lại thở dài thở vắn, khắc khoải. Ngay cả những người đã xong xuôi thủ tục chờ ngày đi, cũng có nổi bâng khuâng, lo lắng cho tương lai bất định! Vài năm sau khi đã định cư, khi đầu tắt mặt tối vì phải cày quá độ, ai cũng nghĩ lại thời gian ở đảo để tiếc rẻ.

Vợ chồng tôi xin về Houston, Texas, ở đó tôi có hai bà chị. Ông anh kế tôi ở Cali cũng muốn tôi về trên đó nhưng rồi đành phải nhượng bộ hai bà chị. Riêng thằng em vợ tôi lúc đầu xin về Virginia theo chị Năm và anh kế của nó, nhưng một năm sau lại đổi ý và xin về Houston với bọn tôi. Trúc cũng xin về Texas giống tôi, nhưng sau lại định cư ở Seattle. Tâm thì về Arkansas với người anh.

Vợ chồng tôi và Trúc được đi định cư trước. Ngày lên đường, lúc chia tay cũng nhiều bịn rịn, nhất là bà xã tôi, vì thằng em út còn kẹt lại. Nhóm người chúng tôi được tàu cao tốc bốc đi từ bến tàu đảo Galang, trực chỉ Singapore. Hôm lên đường, tôi bước đi khập khiễng, vì cách đó vài ngày, trong lúc đùa giỡn với Trúc trên bãi biển gần trại, tôi bị Cu Trúc dẫm mạnh lên bàn chân, làm rách toạc khoảng da giữa ngón chân cái và ngón kế. Tôi được tháp tùng về bệnh xá để khâu lại. Đến ngày rời đảo, vết khâu vẫn chưa kịp cắt chỉ.

Qua Singapore chúng tôi được đưa vào một trại bỏ trống, điều kiện ăn ở không có gì khả quan hơn nếu không nói là tệ hơn Galang, vì phải trải chiếu nằm đất, được cái là ban tổ chức phát cho bọn tôi tiền mỗi ngày để mua lương thực và luôn cả bia Tiger nữa. Thời gian ở trại tỵ nạn tuyệt đối cấm uống bia rượu, vì Nam Dương là quốc gia Hồi Giáo. Cũng may, như tôi đã nói phần trước, bọn tôi được anh bạn Lê Trung đến đón đi tham quan đảo quốc nguyên một ngày. Điều làm tôi ấn tượng ở đảo quốc này là sự vệ sinh công cộng và màu xanh của cây cỏ. Nơi nào cũng sạch sẽ, không một cọng rác, cây cỏ xanh tươi và được cắt tỉa cẩn thận. Thành phố với những cao ốc, thương xá, kiến trúc tân kỳ, đường sá rộng lớn, trật tự và chỉ toàn xe hơi, hoặc xe bus loại lớn chứ không thấy xe gắn máy hoặc các loại xe khác. Taxi phần lớn là Mercedes. Hàng hóa trong các thương xá đầy dẫy, sang trọng và đặc biệt là tax free. Chỉ mới có 6 năm sống trong chế độ "bao cấp" mà giờ đây tôi cảm thấy choáng ngợp lẫn ngưỡng mộ trước một đảo quốc mà chỉ chừng chục năm trước đây, thủ tướng họ Lý đã từng ước ao: biết ngày nào Singapore này mới bằng được Sài Gòn?

Hôm lên đường đi Mỹ, chúng tôi được chở đến phi trường Singapore, trên tay chúng tôi ai cũng cầm một phong bì lớn màu vàng, trong đó có hồ sơ tỵ nạn và bệnh lý của mỗi người, đồng thời có hình X-ray phối. Trong lúc chờ đợi chuyến bay, tôi bắt chuyện với một người đàn ông Pháp đang đứng kể bên với một bé gái chừng bốn, năm tuổi. Ba mươi tám năm sau tôi vẫn còn nhớ tên ông ta, Mr. Frantoni, ông ta đang làm việc trong một ngân hàng của Pháp tại Hồng Kông. Trong lúc nói chuyện, ông biết vợ chồng tôi là người tỵ nạn Việt Nam, lại là giáo sư Pháp Văn, vừa rời trại tỵ nạn Nam Dương và đang trên đường đi định cư. Ông ta có vẻ xúc động và hỏi tôi có thể cho ông tên và địa chỉ của tôi ở Mỹ, và nếu tôi cho phép, ông sẽ liên lạc thăm hỏi. Tôi không tiện từ chối, nhưng tôi nghĩ thầm, chắc ông ta cũng chỉ hỏi lấy lệ vậy thôi. Tôi hoàn toàn không nghĩ nhiều đến cuộc gặp gỡ đó nữa, cho đến chừng một tháng sau khi đặt chân đến Mỹ, tôi nhận được một lá thư của ông Frantoni với những lời lẽ thật cảm động, đại khái: "Tôi đã gặp bạn và gia đình trong một hoàn cảnh thật trớ trêu, tôi thì đang đưa con gái đi nghỉ hè, phần bạn và gia đình thì vừa rời trại tỵ nạn và đang trên đường đi định cư ở một vùng đất mới xa lạ với một tương lai đầy dẫy khó khăn, bất định. Xin thành thật cầu chúc bạn và gia đình gặp được nhiều may mắn, thành công trong cuộc sống mới. Xin cho phép tôi được gửi tặng bạn một năm nguyệt san Le Magazine Littéraire.
Tôi thật cảm động trước những lời nói đầy chân tình từ một người "xa lạ". Một “Good Samaritan”.

Chiếc Boeing 747 của hãng Trans World Airlines (TWA), sau một chuyến bay dài bất tận, cuối cùng đã đưa chúng tôi đến San Francisco, sau chặng dừng ở Alaska. Đến phí trường SF khoảng hai, ba giờ chiều. Một lần nữa, chúng tôi lại bị choáng ngợp bởi tầm vóc vĩ đại của phi trường, cái gì cũng sang trọng đẹp đẽ. Một đại diện Việt Nam của cơ quan thiện nguyện Công Giáo đã có mặt để chào đón nhóm tỵ nạn chúng tôi.
Anh ta trao cho chúng tôi một bịch lương thực gồm có sandwich và trái cây. Sau đó chúng tôi được hướng dẫn lên xe ca lớn về ở qua đêm tại một trại lính cũ, nay được xử dụng làm nơi tạm trú của người tỵ nạn, trong lúc chờ đợi chuyến bay vào sáng mai, sẽ đưa tiếp mỗi người chúng tôi về nơi định cư chính thức.
Từ trên xe ca, nhìn ngắm giòng xe cộ chạy bên dưới, tôi chợt chú ý đến một người đàn ông trẻ Á Đông, mà tôi đoán chắc là người Việt Nam, anh ta đang lái một chiếc xe Mustang mui trần, mái tóc dài bay nhẹ trong gió, dáng vẻ thoải mái tự tin. Tự nhiên, tôi nhìn anh ta như nhìn một thần tượng và tiu nghỉu tự hỏi: biết bao giờ mình mới được như vậy? Chỉ tiếc anh ta sẽ không bao giờ biết được rằng, 38 năm về trước, đã có một tên tỵ nạn nhìn anh... với tất cả sự thán phục!
Đi qua những cầu xa lộ (Loop) với những đoạn cầu chồng chất lên nhau trông thật ngoạn mục, tôi tự hỏi: giả dụ bất chợt thấy cha mình đang đứng ở cầu dưới, biết cách nào mà leo xuống gặp được?

Trại lính dù đã đóng cửa nhưng vẫn còn ngăn nắp, sạch sẽ. Chúng tôi được hướng dẫn đi xem những nơi cần biết. Trại vẫn còn đầy đủ tiện nghi như giường nệm, phòng tắm có nước nóng. Chúng tôi được thông báo sẽ gặp lại nhau ở phòng ăn lúc 19:30 giờ.
Việc đầu tiên tôi làm là hỏi cách thức gọi điện thoại, cho anh tôi biết tôi đã đến nơi bình yên và hiện đang ở SF, tôi cũng nhờ anh gọi báo cho chị Hai tôi biết giờ đến của tôi tại Houston để chuẩn bị đi đón. Anh tôi mừng rỡ và hứa sẽ bay xuống thăm bọn tôi trong vài ngày tới. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, chúng tôi xuống phòng ăn chuẩn bị ăn tối. Bữa ăn đầu tiên của chúng tôi ở nước Mỹ là thịt gà đút lò với xà lách. Chưa bao giờ tôi thấy nhiều thịt gà như vậy, cả mấy khay sâu đựng đầy thịt. Tôi chợt nhớ lại thời gian đi dạy học sau năm 75, cứ vài tháng thầy cô được mua một con gà hợp tác xã, nhưng con gà lại được nuôi theo phương pháp Đức Quốc Xã nuôi người Do Thái trong các trại tập trung: con gà cầm trong tay thật “dễ thương” vì... nhẹ như một món đồ chơi bằng bông gòn, chỉ còn lông và xương, không biết bằng phép lạ nào mà họ làm thịt biến đi đâu mất? Ở Mỹ “nuôi” gà kiểu đó mà bị phát hiện là bị đi tù ngay, với tội danh “animal cruelty”. Vậy mà chỉ cần hai con gà như vậy, với ba bốn bắp cải thật lớn là bảy, tám thầy cô có món gỏi gà ăn mệt nghỉ. Nhóm tỵ nạn chúng tôi được dịp phá giới, căng bụng ra ăn một trận đến nơi đến chốn để... trả thù "Đế Quốc Mỹ". Vậy mà cũng chưa hết được nửa số thịt!
Ăn uống no say xong, chúng tôi ra sân bách bộ. Ôi San Francisco thật kỳ lạ, đã gần 9:30 tối mà trời vẫn còn sáng. Tháng sáu mùa Hè mà trời lại mát lạnh! Một cảm giác hạnh phúc tràn ngập lấy tôi! I left my heart in San Francisco!

Ngày hôm sau, chúng tôi đáp máy bay của hãng hàng không Continental để đi Houston, Texas. Lúc máy bay chuẩn bị đáp, nhìn qua cửa sổ, tôi rất ngạc nhiên nhìn thấy một màu xanh tươi bao phủ bên dưới. Vậy mà trong đầu tôi cứ nghĩ Texas, vùng đất của cao bồi và mọi da đỏ qua phim ảnh, chắc phải là đất sa mạc với toàn xương rồng!

Ba mươi tám năm trước, vào ngày 05 tháng 6 năm 1981, tôi chính thức trở thành cư dân Houston, Texas.

Sum họp cùng các anh chị tại Houston. June 1981

Giấy nợ đầu tiên nhưng không phải là giấy nợ cuối cùng, khi đến đất Mỹ. Tiền máy bay 800 USD cho 3 người, trả trong 18 tháng. Đáng tiếc không ít người VN đã quịt món nợ này.

Hình chụp tại bãi biển Trại Galang. May 1981

Chụp tại nhà Thờ Trại Tỵ Nạn Galang. Người đứng góc trái là Cha Tiền

Chụp cùng gia đình nhân kỷ niệm 45 năm Sinh nhật ngày cưới. ( Oct.2018)

Chụp tại bến tàu Trại Galang

 

(*) Trước năm 1975, tốt nghiệp ĐHSP 4 năm hoặc có văn bằng Cử Nhân Giáo Khoa, phụ trách các lớp 10, 11, 12 được gọi là Giáo Sư Đệ Nhị Cấp. Tốt nghiệp Trường SP cơ sở, chương trình đào tạo phụ trách cấp Tiểu Học, được gọi là Giáo Viên. Sau năm 1975 được gọi đồng hạng là Giáo Viên cấp 1 (Tiểu Học), cấp 2 (Đệ Nhất Cấp), cấp 3 (Đệ Nhị Cấp).

 

Viết xong ngày 18 tháng 6 năm 2019, 38 năm trọn kể từ ngày đến Houston, Texas.

Trần Văn Thuận

 

 

Đăng ngày 11 tháng 10.2019