Chuyện ruồi bu

Võ Hưng Thanh

Người Việt có cụm từ "chuyện ruồi bu" để chỉ việc không đâu vào đâu, lẩn tha lẩn thẩn. Nay có lẽ phải viết theo cách "dzuồi" bu nếu đọc kiểu âm tiết Hà Nội, hay "juồi" bu nếu đọc theo vài âm sắc Quảng Nam. Đây chính là bài báo tựa đề “F, J, W, Z không thể nằm ngoài bảng chữ cái” được tờ Tuổi trẻ đưa lên tựa lớn hôm nay 10/8/11. Bài báo lấy nguồn từ khẳng định của ông Quách Tuấn Ngọc, cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Bộ GD-ĐT) – chung quanh việc thêm ký tự cho bảng chữ cái tiếng Việt. Ông Ngọc mặc dầu còn nhấn mạnh việc này không nhằm sửa cách cách phát âm, chữ viết tiếng Việt. Một ông cục trưởng công nghệ thông tin mà nói như thế quả thật ngang phè. Đưa vào mà không sửa, thế đưa vào làm chi. Còn lửa gần rơm mà không bén, thế mới điều lạ. Lâu ngày dần dần có người cứ tự tiện sửa lung tung, hỏi ông làm chi được nữa. Đúng là cái chính xác của công nghệ thông tin nó như thế đó.

Chúng ta biết ngày xưa nước ta chỉ có tiếng Việt cổ, viết theo kiểu chữ Thái Mường hiện giờ, nhưng không may đã hoàn toàn thất truyền, mai một mất đi rồi. Sau đó ông cha chúng ta phải sử dụng chữ Hàn Việt, rồi tiến tới chữ Nôm, cũng chỉ là hình thức bất đặc dĩ, không thật sự toàn bích hay hoàn chỉnh, tiện lợi, bởi chữ Nôm thật sự cũng gần phức tạp, bừa bộn như chữ Hán. Đó là ý nghĩa của ngôn ngữ Hán Nôm. Nhưng khi văn minh phương Tây đến với chúng ta, sự xuất hiện của chữ quốc ngữ theo cách viết La tinh hóa, mà công đầu là của vị linh mục Alexandre Rhodes, quả thật là một cuộc cách mạng cho tiếng Việt ngàn năm một thuở. Kể từ đó tiếng Việt phát triển cho tới ngày nay, hoàn toàn chuẩn xác, hiện đại, đầy đủ, là do công lao của bao nhiêu bậc tiền bối của chính nước ta.

Bởi thế cho nên, bản chữ cái tiếng Việt ngày nay là hoàn toàn đầy đủ, chuẩn xác, không cần phải thêm bất kỳ một ký tự vay mượn nào khác. Bởi vì thay vào là hoàn toàn không tự trọng, là lai căng, là thiếu ý thức, vô trách nhiệm, hoàn toàn nông cạn, hời hợt, kém tự chủ, hoặc ngay cả là tùy tiện. Cho nên ý tưởng thêm vào các chữ cái F, J, W, Z, cho dù có xuất phát từ ‘tâm tình’ của Bộ giáo dục hay chỉ từ ‘tâm tư’ cái nhìn riêng của ông Cục trưởng vẫn hoàn toàn không ổn. Ông Ngọc nại ra yêu cầu sử dụng tiếng Việt trong môi trường máy tính và hệ thống giáo dục. Nói như vậy thật phản lại công nghệ thông tin và phản lại giáo dục. Bởi vì thông t yêu cầu sử dụng tiếng Việt trong môi trường máy tính và hệ thống giáo dục. Nói như vậy thật phản lại công nghệ thông tin và phản lại giáo dục. Bởi vì thông t yêu cầu sử dụng tiếng Việt trong môi trường máy tính và hệ thống giáo dục. Nói như vậy thật phản lại công nghệ thông tin và phản lại giáo dục. Bởi vì công nghệ thông tin chỉ là kỹ thuật phục vụ cho đời sống, tự nó không hề có mục đích riêng. Giáo dục là sự chuẩn xác, là vẻ đẹp, là sự hoàn thiện, không thể tùy tiện xoay xở lung tung ben loạn xà ngầu. Cứ nhìn vào bảng chữ cái 24 ký tự đã có từ nguyên thủy, mà ai cũng thấy là đã thật sự hoàn chỉnh, không thể thêm, không thể bớt, để so sánh với 4 chữ râu ria, lai căng, gốc thuần túy tiếng nước ngoài, hoàn toàn không cần thiết, quả thật mọi người đều thấy ‘nhột’, và ngỡ ngàng, lạ lẫm, quái dị như thế nào rồi.

Khuynh hướng thêm này chứng tò không những là sự khiếm khuyết trong sự hiểu biết về ngôn ngữ, mà còn cho thấy tính ngụy biện, tùy tiện, vô ý thức, ‘ruồi bu’ của bất kỳ ai chủ trương như thế. Bởi vì chữ viết là hình tượng cụ thể của một ngôn ngữ, không phải chỉ là chuyện chốc lát hay chuyện đùa. Bởi ngôn ngữ là cái hồn của một dân tộc, một đất nước. Ngôn ngữ bao gồm cả nội dung và hình thức. Hình thức là sự cân đối, nhịp nhàng, trang trọng, và là vẻ đẹp tự nhiên, thẩm mỹ, nghệ thuật, nhìn vào ai cũng thấy chỉnh đốn, đàng hoàng, đẹp đẽ, trang trọng. Đó là cái đặc sắc hiện đại của chữ Việt trong tiềng Việt. Còn nội dung là cái đủ, cái tiện lợi, không dư thừa, không thiếu sót. Thêm một cái từ ngoài vào, đem râu ông nọ cắm cằm bà kia là hoàn toàn ngớ ngẩn, lung tung, loạn xạ.

Bởi tiếng Việt từ lâu song tiết ph hoàn toàn tương đương với f trong tiếng Âu Mỹ, còn các ký tự j,w,x thì trong tiếng Việt hoàn toàn không có âm tiết vốn có, vậy thì đưa vào bảng mẫu tự cốt để làm gì ? Ngôn ngữ là của lịch sử, của dân tộc, của toàn dân, của mọi người, không phải chỉ của riêng ai, cá  nhân hay tập thể nào, để có thể hoàn toàn tùy tiện, theo cảm hứng nhất thời, theo yêu cầu biệt lệ, bốc đồng, vũ đoán nào đó.

Từ lâu thỉnh thoảng có người viết nhân dzân, viễn dzu, dzân chủ … là hoàn toàn kém ý thức và vô nghĩa. Đó chỉ là khuynh hướng cá nhân, không thể đưa được vào chỗ đại trà, phổ biến, hay thậm chí hoàn toàn chính thức. Bây giờ nếu lại có một ‘Ban soạn thảo’ nào đó thì quả là chuyện trời gầm. Lại nói đến ‘chủ trương’, ‘đặt vấn đề’ của các Ủy ban nào đó trước đây nữa, thì thật đúng là miệng nhà quan có gan có thép, mặc dầu nó chẳng có cơ sở khoa học, chính đáng, sự hiểu biết hay cần thiết nào hết, mà thậm chí, chỉ là điều ngược lại. Chưa thấy có ‘nhà chuyên môn’ nào lên tiếng đây là yêu cầu đúng đắn hay khả thi cả. Bởi nếu chuyên môn như thế thì cũng không rõ chuyên môn thế nào. Vì bản thân sự vật là khác, còn công cụ nhất thời là khác. Từ Trung Ương là từ chính thức. Còn muốn viết TW chẳng qua chỉ là cách viết gọn, viết tắt để tiết kiệm công sức, khỏi dài dòng một cách quy ước. Không thể đã viết TW rồi thì phải thêm chữ W vào cho tiếng Việt. Đây quả thật là quan điểm quan quyền. Vua đã phán rồi thì cứ phải thích ứng theo ‘mệnh vua’. Đó chính là các bậc ‘chuyên gia’, các nhà ‘chuyên môn’ của thời đại. Quả đúng là bé cái lầm, hay tinh thần ngây ngô theo kiểu thời sự.

Bây giờ cứ chờ các nhà ngôn ngữ học lên tiếng, để xem quả ai là dỏm hay ai là thật. Ai là nhà ngôn ngữ học thật, hay ai là nhà ‘ngôn ngữ học’ cuội, ai là người vì khoa học, vì ngôn ngữ đích thực, vì sự trong sang, đẹp đẽ của tiếng nói dân tộc, ai là người chỉ nhìn không qua cái lổ rốn của mình. Cứ chờ xem mọi sự tranh luận, mọi sự bàn thảo, và chờ các dư luận báo chí đăng lên như sao, hay theo tinh thần và ý hướng nào.

Ngay cả cách viết chữ "hòa" hay "hoà", "i" chang hay "y" chang, cũng là chuyện ruồi bu để chờ đưa ra thảo luận. Đây có lẽ cũng là “mục đích của việc soạn thảo thông tư” mà bài báo in chữ đậm. Thật sự, người ta đã dựa bừa bãi hay nhân danh yêu cầu ‘tin học hóa’ để phá hoại ngôn ngữ. Mà phá hoại ngôn ngữ cũng chính là phá hoại lịch sử, phá hoại đất nước, phá hoại dân tộc. Bởi vì thực tế, chỉ có kẻ dốt nát hay viết ẩu, viết càn cho qua, viết bất chấp chính tả, bất chất mỹ thuật, viết kiểu cẩn tắc mới viết ‘hoà’. Còn người có óc mỹ thuật, có tinh thần nghiêm túc, cân đối, chỉ có thể viết ‘hoà’ mà thôi. Chữ viết phải mỹ thuật, cân đối, nghiêm chỉnh là như thế. Không thể nào chỉ tùy tiện là như thế. Còn ký tự I ngắn hay Y dài cũng thế. I ngắn chỉ thuần túy ký âm, còn Y dài đã từ lâu mang tính chất ký nghĩa, từ nguyên thủy nó vốn đã như thế. Thậm chí có người còn nói từ nào có gốc tiếng Hán Việt phải viết bằng y dài, cũng là điều hoàn toàn chính đáng và có cơ sở lịch sử. Chẳng hạn : nguyên thủy, nguyện vọng, ý nghĩa, thú y, lý do, phân tích … Tất nhiên nếu viết đổi lại theo kiểu âm tiết thuần túy (không theo âm ngữ hay âm nghĩa) sẽ thấy nó rất hoàn toàn kỳ quặc, khó nhìn, khó đọc : nguiên thủi, nguiện vọng, í nghĩa, thúi i, lí do, fân tých … Đó là chưa nói tiếng Việt thuần không phải gốc Hàn việt cũng như thế : thay vì viết Thúy đã đi rồi, loay hoay sẽ viết Thúi đã đi rồi, loai hoai, hoặc thay vì viết hý hoáy theo cách bình thường, truyền thống, người ta sẽ tùy tiện và vô lối viết thành hí hoái. Nên nói gọn lại mẫu tự i ngắn chỉ nên dùng thuần cho âm tiết, tức không chuyên chỡ ý nghĩa ngôn từ gì, ngoài ý nghĩa ký âm thuần túy. Như ngựa hí, nói lí nhí, con chí, tĩ mĩ … còn các tiếng nào có mang ngữ nghĩa của ngôn ngữ, phải viết cách đầy đủ, trong trạnh bằng y dài. Như chủ ý, ý chí, nước Mỹ. Tất nhiên không thể viết chủ ý, í chý, tỹ mỹ, nước Mĩ bởi nó thành lạ lùng, trái truyền thống, hoàn toàn kỳ quặc.

Vậy kết luận, ngôn ngữ là thể trang trọng, lịch sử, thói quen, truyền thống, di sản, có nguyên tắc khoa học, có ngoại lệ, có sự chuẩn xác, có yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật, có yếu tố thẩm mỹ nói chung, có sự hoàn chỉnh, thông thường, có đặc thù, linh hoạt, nhưng phải trong vòng chuẩn mực, hoàn toàn không thể bốc đồng, hời hợt, nông cạn, hoặc tùy tùy. Người xưa có nói nôm na cha mách qué là như thế. Nôm na tức xé rào, không giống ai, nhất thời, buông tuồng, thiếu suy nghĩ, không nghiêm tức, không chính đáng. Như thế mà không gọi cha mách qué thì cũng lạ. Đó cũng là ý nghĩa của lịch sử, của truyền thống về tất cả mọi mặt trong đời sống xã hội cũng thế, trong đó tất nhiên có mặt ngôn ngữ tự nhiên như trên đây chúng ta đã phân tích. Có nghĩa ngôn ngữ luôn luôn biến đổi, đó là ý nghĩa và nguyên lý chung của mọi tồn tại trên đời. Nhưng biến đổi có nghĩa là tiến hóa đến chỗ tốt hơn, hoàn chỉnh hơn, phổ quát và phổ biến hơn, có giá trị đa dạng và toàn mỹ hơn, không phải biến hóa là nhảy múa loạn xạ lung tung như kiểu ông đồng bà cốt. Đó là lý dó chỉ có thể viết : lửa cháy, chạy nhảy, vui vẻ, ngày chày, chài lưới, nói kháy, rung rinh, dềnh dàng, vòng tròn, giáo dục, suy vi, vui tươi, chịu chơi, ruồi bu … nhưng không thể viết : lửa chái, chại nhải, vuy vẻ, ngài chài, chày lướy, nóy khái, jung jinh, dzung dzinh, dzềnh djàng, wòng tròn, gyáo dzịc, sui vy, zuy tươy, chỵu chơy, dzuồy bu …

Đúng là :  Quả nhiên mọi chuyện trên đời
Du di phải phép không thời ngây ngô !

Không thể tự tiện, hay nổi hứng, để vào một ngày nào đó viết thành như tiếng dân tộc ýt ngườy :

Quả nhyên mọy chuiện trên đờy
Dzu dzy fảy fép chông thờy ngâi ngô !


Ts Võ Hưng Thanh
(10/8/11)