Một làn sóng phẫn uất mới từ miền Nam Việt Nam

Mai Thị Mùi

Chưa bao giờ có làn sóng kỳ thị “Bên kia vĩ tuyến” mạnh mẽ như bây giờ!
Suốt từ 75 đến giờ, dân Nam đã ăn đủ mùi tráo trở, xảo quyệt, lọc lừa rồi. Họ ấm ức, họ tức tưởi, họ chán ngán quá nhiều rồi. Người dân Nam nào lên tiếng sẽ bị cho là kỳ thị. Một người Bắc 54 lên tiếng cũng bị cho là mất gốc nên mới nói. Còn một người Bắc 75 lên tiếng thì họ cho là vào hùa với dân Nam. Tôi, một con Bắc kỳ 1985 lên tiếng thì bị cho là cố xóa vết tích Bắc kỳ, muốn chứng minh mình là thượng đẳng. Bác sĩ Nhàn Lê, Bắc kỳ 2000 lên tiếng bị cho là nói lấy lòng dân miền Nam.

Đến bao giờ, bao giờ người miền Bắc mới chịu nhìn nhận lại bản thân? Trên Facebook, tôi và Bs Nhàn Lê là hai người lên tiếng mạnh mẽ và thẳng thắn nhất về các thói hư tật xấu của người miền Bắc. Tại sao?

Chúng tôi đã sống ở cả hai miền, chúng tôi đã nếm trải cái khốn nạn, lưu manh của miền Bắc và sự tử tế, nhân hậu của miền Nam. Chúng tôi thấy cần thiết phải lên tiếng. Chúng tôi cất lên tiếng nói là để mọi người biết được cái xấu của mình mà sửa. Chúng tôi là người Bắc thì tiếng nói nhất định là công tâm. Mồ mả cha ông tôi còn ngoài Bắc, họ hàng tôi còn ở Nam Định, anh em cha bác nhà bà Nhàn còn đang xúm xít đâu đó ở một tỉnh miền núi phía Bắc, chúng tôi đâu có thần kinh mà nói xấu quê hương, đồng hương mình.
Và khi bài viết đăng lên cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Những người đồng tình đầu tiên tất nhiên là người Nam, sau đó là Bắc 54, Bắc 75 hoặc các năm sau đó, hoặc có những người chỉ mới vào Nam mấy năm nhưng họ phải nhìn nhận đó là sự thật, vì họ đã thấy, đã trải nghiệm và hơn nữa là họ có nhận thức.

Những người phản ứng là ai? Là những người vừa vào Nam chơi mấy hôm rồi về hoặc đa phần là những người chưa bao giờ bước chân vào miền Nam.
Họ chưa chứng kiến những người đi phát đồ từ thiện cúi người cảm ơn những người đi nhận quà.
Họ chưa từng thấy một gã xăm trổ chặn đứa bé bán vé số lại chửi “đụ mẹ, ba má mày đâu để mày lang thang vầy?” rồi mua cho nó tô mì hoành thánh, sau đó mua hết xấp vé số của nó.
Họ chưa thấy một thằng nhóc phì phèo điếu thuốc trên cặp môi thâm sì nhưng hét vào mặt con mẹ tỉnh lẻ lên thành phố đang lớ ngớ hỏi đường “Thôi nói hoài bà cũng không biết, chạy theo sau tui đi tui dẫn tới địa chỉ đó”.

Cái mà người miền Bắc có trong đầu là gì? "Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng, Có sách mới áo hoa đây là nhờ ơn Đảng ta, Đảng là kim chỉ nam cho mọi hành động, Tình bác sáng đời ta..." Nên trong một comment phản biện em ếch kia mới hỏi một câu hết sức thanh niên cách mạng đồng chí hội: “Chị đã kết nạp đảng chưa?”

Trong đầu thanh niên miền Bắc thì đầy những khái niệm: "Miền Nam ăn bơ thừa, sữa cặn của Mỹ, bọn Công giáo theo ông Diệm vào Nam, bọn ba sọc đu càng, không có miền Bắc thì miền Nam giờ này vẫn còn dưới ách kìm kẹp của Mỹ-Ngụy..." Chả vậy mà một cô sinh viên tuổi đời chưa tròn 20 mới phơi phới đòi đi giải phóng miền Nam lần nữa...!
Chính vì vậy mà họ luôn mang tâm thế của kẻ thắng cuộc, trịch thượng, thượng đẳng. Với lối giáo dục sai lệch và bóp méo lịch sử, họ không biết phân biệt phải trái và ăn nói như những kẻ vô giáo dục. Đọc tất cả các status, các comment phản biện thì cảm giác chung đều là ngụy biện, lấp liếm, đổ lỗi, giận hờn, trách móc và trên tâm thế của kẻ ban ơn. Tất cả những điều đó chỉ gây cho người đọc một cảm giác khinh khi, chán ngán và nếu nhân văn, độ lượng một chút thì có thể nói rằng chỉ thấy thương cho những kẻ kém hiểu biết và tự ti mà thôi.

Thôi thì bò đội nón ta sẽ gỡ nón cho bò, bị nhồi sọ thì ta sẽ tẩy não. Nhưng còn những người hiểu thời sự, thời cuộc thì sao? Đó là những người lớn, những DLV, ĐHV, kols. Những người này thừa hiểu biết về thời cuộc, sự thật và lịch sử nhưng vì nhiều lẽ, tự ái có, tự ti có, cố chấp có, bẻ lái có, vì tiền cũng có, mà cố lái sự việc sang hướng khác.
Và nói chung là vì không được giáo dục tính khiêm nhường, biết nhận lỗi nên khi nghe chỉ trích là họ sửng cồ, xù lông, cố bảo vệ cái sai của mình. Và cái bế tắc trong luận điệu của họ thể hiện ở việc quay ra đổ lỗi cho nạn nhân. Tôi đã hai lần đọc status của hai phụ nữ miền Bắc chửi dân miền Nam ngu mới để mất VNCH vào tay CS. Thú thật, tôi thấy thương các bạn vô cùng.

Khi mới dành được độc lập, Hàn Quốc không lung linh như các bạn thấy bây giờ đâu. Một đất nước hoang tàn, đổ nát, lạc hậu và ngu dốt sau chiến tranh. Nhưng họ đã dẹp bỏ tự ái nhập cả bộ sách giáo khoa của Nhật, là kẻ thù xâm lăng mà họ vừa đánh đuổi, về dịch ra để học. Và hiện nay có một Hàn Quốc với Samsung, Deawoo, Huyndai mà thế giới biết đến.

Khi công nghệ chưa phát triển, hàng hóa của Hàn Quốc xếp trên kệ chỉ để vui mắt chứ không mang lại lợi ích kinh doanh gì. Một lần có du khách Phương Tây ghé thăm quầy hàng xem qua món hàng lưu niệm thủ công rồi bỏ đi. Cô nhân viên khi ấy đã khổ sở dùng hết khả năng ngôn ngữ lẫn chân tay của mình, thậm chí là cả van lạy và nước mắt chỉ để người khách kia mua món hàng đó. Lợi nhuận món hàng có thể không phải là chuyện sống chết nhưng cô đang cố gắng giới thiệu quốc gia mình ra thế giới.
Du khách kia ra về, có thể không hài lòng với món đồ lưu niệm thô kệch, xấu xí đó, nhưng chắc chắn ấn tượng về một cô nhân viên cầu thị, có tinh thần tự tôn dân tộc sẽ khó phai mờ, và biết đâu trong những lúc trà dư tửu hậu, gã mắt xanh mũi lõ đó không vô tình quảng bá hình ảnh người Hàn Quốc chịu thương, chịu khó, nhẫn nhục, tự tôn đó cho bạn bè năm Châu.

Tất nhiên không phải ngẫu nhiên mà có một Hàn Quốc như ngày hôm nay. Không phải ai cứ sinh ra cũng sẽ có lòng tự tôn dân tộc như cô nhân viên bán hàng kia. Tất cả là do giáo dục. Giáo dục không chỉ từ nhà trường và gia đình, mà còn từ xã hội và tự giáo dục. Tự giáo dục tức là các hình thức thay đổi bản thân thông qua quan sát, học hỏi từ sách báo, ứng xử của những người xung quanh và nhận thức.

Trên 18 tuổi là chỉ còn tự giáo dục. Nhưng hình như thanh niên miền Bắc không có được kỹ năng này. Họ đi du lịch chỉ để chụp hình khoe facebook chứ không phải tìm hiểu đời sống, con người, tập tục, văn hóa của một vùng đất lạ. Họ dùng internet chỉ để giải trí, facebook của họ chỉ dùng để mua hàng online, khoe của và chát chít. Nếu không, họ đã không hớn hở đòi đi giải phóng miền Nam một lần nữa.

Làm thế nào để dư luận không đào xới thêm chuyện Bắc-Nam nữa? Rất đơn giản, các anh chị miền Bắc vốn văn hay chữ tốt, chữ nghĩa một bồ thế nào chả có cách viết. Có điều các anh chị chỉ lo chữa lửa bằng xăng vì các anh chị không biết cúi đầu.
“Bắc kỳ 1985” này cũng không thiếu chữ. Nhưng tôi đâu có đòi giải phóng miền Nam nên mắc mớ chi tôi phải viết. Tại sao tôi phải ngửa váy hứng dừa...?

Mai Thị Mùi 

https://www.namkyluctinh.org/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/mai-thi-mui.html


Nước mắt nhạt nhòa

Phạm Thạch

Hôm nay ngày 30 tháng 4. Nhớ mãi hình bóng bà nội ngày này cách đây 51 năm hớt ha hớt hãi bước vào nhà kiệt 6 Hoàng Diệu Đà Nẵng, hỏi ba tôi: “SG giải phóng rồi, con có nghe tin tức chi thằng Lân không…”
Bà mất đã 36 năm. Ba cũng theo về với bà. Còn lại chú Lân - Lan Pham - (hay gọi là chú Chín) 84 tuổi, một thời đẹp trai, đào hoa, đàn hát hay, rất khéo tay…
Đăng lại bài viết ngày 21/4/2020 

***

Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung
(Xuân Diệu)

Có một nơi mà chẳng ai muốn đến là nhà tù, dù chỉ để ghé thăm. Sau 30/4/1975 hầu hết các gia đình phía Nam, bên thua cuộc, đều có người thân bị bắt đưa đi học tập ở trại cải tạo, mà thực chất là nhà tù. Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Người chú ruột, đại uý cảnh sát, nằm trong số những tù nhân chiến tranh ấy. Lần đầu tiên trong đời, chẳng đặng đừng, tôi vào tù thăm chú. 

Chiến tranh tàn cuộc. Bà nội tôi chưa hết mừng vui khi biết cô con gái tập kết ra Bắc còn sống, thì lại lo đứng lo ngồi, khóc hết nước mắt vì bặt tăm tin tức chú con trai út. Lính tráng thời loạn lạc, biết đâu mà tìm. Khi biết chú bị giam ở trại Kim Sơn, tỉnh Nghĩa Bình, bà thở phào, dù nỗi lo vẫn còn y nguyên. Thư chú gửi về báo tin là nửa trang giấy vở học trò xé vội nham nhở. Tính ra phải hơn hai tháng từ ngày gửi thư mới đến tay bà. Cuối thư ghi “Đứa con đi hoang của mẹ, PĐL”. Năm ấy chú 33 tuổi. 

Dĩ nhiên không ai thương con bằng mẹ, và bà nội là người nằng nặc đòi đi thăm chú trước nhất. Ba tôi viết cho bà ‘Đơn xin tạm vắng’ và ‘Đơn xin đi thăm nuôi’. Nộp lên Công An phường, một tuần sau mới được duyệt. Suốt đời bà chưa bao giờ đi ra khỏi đường biên Gò Nổi - Hội An - Đà Nẵng, mỗi đoạn không quá 30km. Nay tuổi già sức yếu, một thân một mình đi xa, chắc chắn sẽ gặp rầy rà. Những người lớn lo chạy ăn từng bữa nên không ai còn thời gian đưa bà đi. Phải cân nhắc lắm ba mẹ tôi mới để tôi, thằng cháu đích tôn ốm yếu 12 tuổi, là trai tráng lớn nhất trong gia đình, đi cùng bà thăm chú.

Phương tiện di chuyển thuận tiện nhất cho chuyến đi là tàu chợ, chọn tuyến khởi hành từ Ga Đà Nẵng lúc 3 giờ sáng, vào đến ga xếp Bồng Sơn 1 giờ chiều. Đoạn đường 230km tàu chạy hết 10 tiếng đồng hồ. Lộ trình vạch ra là vào đến Bồng Sơn đón xe thồ đi tiếp lên trại Kim Sơn. Chuyện mua vé tàu tăng thêm nỗi phiền phức, cực nhọc. Xếp hàng dài từ sáng sớm. Phòng vé làm việc lúc 8 giờ. Duy nhất một ô cửa tò vò mở ra, bán vé cho tất cả các chuyến. Sau khi bán xong cho ‘thành phần ưu tiên’, đến người có ‘giấy giới thiệu’, rồi mới tới phần dân đen. Không có con người sinh ra bình đẳng ở quầy bán vé mà chỉ có trong tuyên ngôn độc lập của ông Ké! Cuối cùng bà cháu cũng thoát khỏi đám đông chen lấn, mồ hôi ướt như chuột lột với hai tấm vé trong tay. Thời đó tấm vé tàu nhỏ như quân bài tứ sắc. Sợ rớt mất, bà nhét vào sâu trong cái đảy tiền, gài kim băng thật chặc. Đến nửa khuya, hai bà cháu tay nải tay xách đi bộ ra ga cho kịp chuyến tàu xuôi vô Nam.
Để an toàn, hai bà cháu chọn chỗ ngồi trong góc toa. Chờ sáng ra bảnh mắt mới lôi mấy củ khoai lang nấu ra ăn. Trưa ăn cơm mua trên tàu. Khó mà quên được miếng đầu cá ngừ ươn ình phủ kín dĩa cơm nhỏ như miệng chén! Cảnh tượng khiếp nhất là khi tàu dừng ở ga Nông Sơn. Dân đi củi toa rập với nhân viên kiểm soát, củi bó củi bi ném rầm rầm lên sàn tàu, bất chấp tính mạng hành khách đứng ngồi chen chúc. Mấy tay bặm trợn quát nạt hành khách tránh chỗ, xếp đống củi ngay cửa lên xuống, chờ đến điểm tập kết lăn củi xuống cho nhanh. Lúc tàu chạy chậm vào ga Quảng Ngãi, những kiện hàng lậu được ném tung qua cửa sổ như ong vỡ tổ. Chạy bộ tất tả dọc theo đường tàu bên duới, đám người nhà vừa nhặt vừa giành giựt, chửi nhau inh ỏi. Trên tàu, dân bán hàng rong đi tới đi lui, rao liên hồi ồn như cái chợ. Cái tên ‘tàu chợ’ thật là chính xác. Ăn cắp móc túi nhiều như rươi. Ngay cả ba lô đựng hài cốt cải táng cũng bị lấy! Sợ mất đồ, tôi ôm chặc ba lô vào bụng, chân không dám hớ ra đôi dép nhựa. Ngẫm lại, chưa từng thấy tàu nào khủng khiếp bằng tàu chợ Việt Nam. Tốc độ chậm hơn xe đạp. Nhà vệ sinh thải trực tiếp xuống đường ray. Dơ dáy tợn! 

Cà rịch cà tang cả ngày, ‘tàu Việt Nam ôm chặc đất anh hùng’ rồi cũng ghé ga Bồng Sơn. Bà cháu rời tàu, mày mò hỏi đường đi đến trạm xe thồ đón khách lên trại. Bà già yếu, di chuyển chậm, thêm thằng cháu lớ ngớ, đến được trạm thì đã xế chiều. Hơn chục người thăm nuôi khác đến sau, trải bạt nằm như phơi cá chuồn ngoài hiên. Nửa đêm trời mưa to, nước mưa tạt tơi bời. Mọi người ngồi nép thu lu vào một góc, chẳng ai ngủ được. Họ xầm xì câu chuyện tháng rồi có ông đại uý cảnh sát hay quân cảnh gì đó trốn trại, bị bắt lại đánh đến chết. Bà tôi nghe được, than vắn thở dài suốt đêm.
Sáng ra có toán xe thồ tấp vào trạm. Giá cả trả treo như mấy ông bán chiếu. Một người thắp hương van vái tứ phía trước khi lên đường. Từng chiếc xe nổ máy nặng nhọc nối đuôi nhau hướng về phía tây, chở khách lên trại. Đó là những chiếc Honda 67, 69, móc sẵn 2 giỏ cần xé bên hông đựng đồ thăm nuôi. Trên miệng giỏ buộc một tấm ván gác ngang làm chỗ ngồi. Bà cháu níu chặc tay nhau ngồi vắt vẻo hai bên anh tài xế. Con đường băng rừng dài hơn 30 km, đất lộn sình nhầy nhụa. Qua nhiều đoạn loang lỗ ổ gà ngập nước, xe nhảy chồm chồm như ngựa, dằn xóc đến hẫng người, thốn tới tận ruột gan. Nhiều đoạn lên dốc hoặc qua suối, bà cháu phải xuống xe hè nhau đẩy. Quần áo bê bết bùn. Anh tài xế cũng phải nể phục sức chịu đựng bền bỉ của bà già...

Rồi cũng đến được trại Kim Sơn đìu hiu heo hút giữa rừng. Trình giấy tờ ngay cổng trại, hai bà cháu riu ríu tuân lời cán bộ qua nhà chờ ngồi đợi kêu tên. Nét lo âu hồi hộp hiện rõ lên khuôn mặt mệt mỏi bơ phờ của hầu hết những người đi thăm nuôi. Lần lượt từng tù nhân được dắt ra, kêu tên người nhà vào thăm. Chờ mãi không nghe tên chú, nhớ lại câu chuyện hồi đêm ở trạm dừng chân, tôi bắt đầu lo sợ... Cuối cùng, một cán bộ đến chỗ hai bà cháu, thông báo chú tôi không còn trong trại nữa. Nghe đến đây bà tôi ngồi ngã ngửa ra như muốn ngất. Tôi khóc không thành tiếng. Bình tĩnh lại, rồi cũng hiểu ra tiếng được tiếng mất từ anh cán bộ giọng Bình Định vùng sơn cước. Do chú tôi thuộc danh sách tình nghi trốn trại nên bị chuyển lên trại Nước Nhóc, nằm sâu trong rừng thêm 30km nữa. Biết chú vẫn còn sống, hai bà cháu mừng như được tái sinh, vội vàng ra khỏi cổng trại, hỏi đường đi lên Nuớc Nhóc. Vì các phương tiện di chuyển dân sự bị cấm trên đoạn đường rừng này nên chỉ còn cách duy nhất là cuốc bộ. Bà tôi cương quyết không bỏ cuộc, đi tới cùng. Để động viên thằng cháu, bà so sánh quãng đường chỉ bằng từ quê mình xuống Hội An. Ngày xưa nuôi chú ăn học, tháng nào bà cũng gánh gạo đi đi về về. Thái độ dứt khoát của bà làm tôi vững tâm, dẫu biết đoạn đường sắp tới chắc chắn sẽ nhiều gian truân. 
Lẽ ra còn trẻ, tôi phải xăng xái đi đầu. Nhưng vì nhút nhát èo uột nên có sự phân vai lại. Lần này bà dẫn đường dắt cháu đi! Với bản năng của một người nhà quê lâu năm, bà nhanh chóng tìm được thanh tre làm đòn gánh, quơ quào bứt dây rừng làm sợi buộc mấy xách đồ thăm nuôi vào hai đầu. Tiếp đến, bà bẻ thân cây sắn mọc hoang làm gậy, chia mỗi người một cây để phòng thân. Ướm chiếc gánh tạm lên vai, nhấc lên đôi lần thử cho cân, bà bước đi uyển chuyển như cô gái nhà quê đi gánh thóc. Thương cháu, sợ cháu mang vác nặng, bà chỉ bỏ cho tôi cặp đường bát quấn rơm vào ba lô, dặn đi theo sát sau bà. Thương con phận tù đày, bà như lột xác, sức lực tăng lên bội phần trên từng bước chân sải vội, thu ngắn dần khoảng cách mẹ đang về với con.
Đường rừng vắng tanh, lạnh người. Trước khi đi, có người dặn dò gặp cọp thì đứng yên đừng chạy, nghe đâu mùa này cọp hay ra suối uống nước. Đi hồi lâu mới thấy một chiếc xe công nông cũ kỹ phọt phẹt khói, chở gỗ chạy ra. Không có bất kỳ một hàng quán nào dọc đường. Mỗi lần đói, bà cháu dừng lại lấy bao nếp rang và lon gui gô ruốc sả bới cho chú, trích ra ăn. Có những lúc mệt muốn đứt hơi, phải ngồi lại nghỉ ngơi dưỡng sức. Mỗi lần như vậy, nghĩ đến câu chuyện cậu bé đi bộ cả chục cây số làm khán hộ cho cha trong ‘Tâm hồn cao thượng’, tôi như được khích lệ tinh thần để ngồi dậy đi tiếp. Đến trưa, tôi khát nước đến cháy họng. Bi đông rót nước ra còn đúng một nắp. Bà nín nhịn, nhường hết phần cho cháu. May mắn gặp được dàn ống tre nứa đang trổ nước từ con suối vào thửa ruộng nhỏ, lúa cấy bừa bãi chẳng thèm ngay hàng thẳng lối, cỏ bói lùm lùm mọc quanh bờ be bùn cẩu thả. Trong lúc tôi trữ nước vào bi đông, bà chụm hai bàn tay hứng từng ngụm uống ngon lành. Xế chiều mới thấy có người từ xa đi bộ ngược lại. Đến đủ gần nhận ra là người dân tộc, khuôn mặt lạnh tanh, lưng mang cái gùi đầy măng, tay cầm chặc cán rựa, lưỡi rựa sáng loáng bén ngót. Hai bà cháu nép vào vách núi chờ anh ta qua hẳn mới dám đi tiếp. Có đoạn một con khỉ con đu bám theo sau bà cháu khá lâu. Hình như nó đánh hơi được mùi thức ăn. Đi thêm đoạn nữa, thấy con rắn bò ngang đường ở một khoảng cách xa. Như sợ điềm gở, bà xoay ngang đầu gánh chặn tôi lại, phun vội miếng trầu đang nhai, đứng yên, mắt nhắm nghiền, chắp tay khấn niệm...

Mặt trời vừa khuất núi thì hai bà cháu lên đến trại. Cổng trại đóng kín. Tay công an bảo vệ trên chòi cao leo xuống, mang súng AK ra chặn lại, bảo quá giờ thăm nuôi, sáng mai mới tiếp nhận giấy. Rồi xua tay đuổi bà cháu đi. Thấy trên mỏm đồi trước trại có cái chòi như điếm canh, bốn phía trống hoác. Dù tay chân rã rời, sức tàn lực kiệt, hai bà cháu cũng cố lết lên đó ngồi chờ qua đêm. Tính ra đi bộ ròng rã cả ngày trời, vượt qua bao suối bao đồi cùng nhiều rủi ro rình rập. Một hành trình vất vả quá sức chịu đựng của một bà già ngoài 70 tuổi, quá sức tưởng tượng của thằng con nít ở nhà được ba mẹ bảo bọc cưng chìu. Suốt đêm hôm đó gió thổi thông thốc, sương núi tràn xuống lạnh buốt. Bà tháo khăn trùm đầu đắp cho tôi, bảo duỗi hai chân để bà xoa dầu. Mệt quá tôi lăn ra ngủ như chết. Quả là đoạn trường ai có qua cầu mới hay! 

Sáng hôm sau, giây phút thăm nuôi rồi cũng tới. Một quản giáo xốc nách dìu chú tôi đi ra, áo quần xác xơ, thân hình tiều tuỵ, tóc rụng trơ da đầu, đôi mắt vàng khè, hai má tóp rọp... Mắt tôi loè nhoè, chỉ thấy thoắt ẩn thoắt hiện một khuôn mặt như dấu hình đầu lâu. Bà tôi nhào tới ôm chú. Hai mẹ con khóc nấc nghẹn ngào. Vừa ngồi xuống chú bảo thèm ngọt. Tôi lôi từ trong ba lô đưa liền bát đường non. Cắn cộp một phát, chú nhai ngấu nghiến ngay và luôn. Bà tôi nhìn chú nước mắt chảy dài, miệng bệu bạo nói không nên lời. Chú vừa ăn vừa kể ngắt quãng trong cơn nấc cụt. Do có người làm chung trong toán bỏ trốn vào rừng, dù không liên can, những người còn lại vẫn bị quản giáo trói lại đánh đập dã man. Chú bị đánh đến độ đi không được, nhưng vẫn phải lết đi làm. Sau đó sốt cao, ho ra máu. Đưa vô trạm xá thì bất tỉnh. Y tá tưởng chết, khiêng ra bỏ nhà xác. Nửa đêm tỉnh dậy, đói quá bò về lán trại xin ăn. Rồi bị đưa lên đây nhốt hầm đất. Lúc cán bộ báo có người nhà đến thăm, bò ra khỏi hầm chú muốn ngất vì mắt bị loá ánh nắng mặt trời. Chú nhe hàm răng ra, chỉ cho thấy lớp men chiếc răng cửa bắt đầu bong tróc... Đến khi tay quản giáo báo hết thời gian thăm nuôi hạn định trong 20 phút là lúc chú vừa ăn hết sạch bát đường...

Sau này tôi có đi thăm chú thêm một lần với ông anh họ. Do anh có thẻ ngành công an nên việc thăm nuôi thuận lợi hơn, nói chuyện được lâu hơn. Lần thăm này ở trại Kim Sơn. Nhờ chú có tay mộc giỏi nên được chuyển trở về lại. Thỉnh thoảng được ra khỏi trại làm giàn cửa gỗ cho ngôi nhà mới của tay trại trưởng cất cách đó không xa. Đúng là nước sông công tù... Có hai thứ tôi vẫn còn nhớ trong lần đó. Một là câu nói sặc mùi căm thù của tay cán bộ quản giáo khi lên mặt dạy đời chấn chỉnh anh tôi: “Ông làm công an sao để cậu mình đi theo Mỹ Nguỵ làm ác ôn!” Hai là anh em phải đu bám cửa chiếc xe đò chạy bằng than suốt đoạn đường hơn trăm cây số từ Quảng Ngãi ra Đà Nẵng. Cũng vì cái phát minh được ca ngợi là đỉnh cao trí tuệ thời đó mà phải mất cả buổi tôi mới rửa sạch được cái mặt bị bụi than bám đen thùi lùi. 

Bà nội tôi, do đã rõ đường đi nước bước, sau này cứ vài ba tháng một lần, tự bới đồ ăn, áo quần, thuốc men, một mình quang gánh ròng rã đi thăm con cho đến ngày chú ra tù. Chỉ có tấm lòng người mẹ mới bao la như trời biển vậy. Ngay cả anh chị em ruột 5 người, cũng chỉ thu xếp đi thăm chú được đôi ba lần. Trái tim người mẹ luôn dành phần nhiều cho đứa con sa cơ thất thế, bất hạnh nhất. Nhưng trời cao vẫn không thấu lòng bà. Số khổ đeo bám bà suốt đời, đến chết cũng không chịu buông. Ngày bà mất, chú đi làm xa, không kịp về nhìn mẹ lần cuối. Đám tang trong mưa gió sụt sùi. Cơn lụt vừa rút ra, con đường đất đưa tang về nghĩa trang Gò Nổi ngập bùn, lầy lội, trơn trượt, xe tang leo dốc không nổi. Cái hòm đặt trên thân cây chuối mấy lần muốn trụt ra ngoài xe! Huyệt mộ ngập đầy nước, tát mãi không vơi. Cả đoàn tang trắng bùn đất lấm lem đến tận đầu. Hình như bà tôi còn nuối điều gì với chú nên chưa nguôi. Đến giây phút cuối, chú tôi vẫn mãi là thằng con đi hoang của bà... 

Trong tâm trí tôi, bà nội đích thực là người phụ nữ vĩ đại. Chồng chết sớm, một chữ bẻ đôi cũng không biết. Thế mà tay gánh tay gồng, vượt làn lửa đạn, đưa cả nhà từ quê ra tỉnh, buôn bán đắp đổi qua ngày, gắng gượng nuôi dạy bầy con nên người. Con đàn cháu đống sinh sôi nảy nở lan đi khắp nơi. Câu hát bà thường ru cháu tưởng đã quá vãng, nay bỗng lại về văng vẳng bên tai:
“Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ nồi cơm nguội nhớ niêu nước chè
Nhớ hồi thượng mã lên xe
Nhớ bát nước chè nhớ chén đường non...”
Ngày giỗ bà, hương khói bay tỏa cả chục nơi, từ quê đến tận Mỹ. Chắc dưới suối vàng bà cũng mãn nguyện khi được con cháu nhớ thương, tưởng niệm và tri ân rộng khắp như vậy. 

Cũng cần kể thêm trong thời gian 7 năm tù đày, thím có đi thăm chú một lần. Đó cũng là lần duy nhất và cuối cùng. Chồng bị nhốt tù không kêu án, chẳng biết ngày nào ra. Ba đứa con thơ dại, đứa nhỏ nhất còn đỏ hỏn trên tay người phụ nữ 28 tuổi một thời đẹp nức tiếng An Cựu. Gia đình lâm vào cảnh khốn khó cùng cực. Tương lai mù mịt, vô vọng. Thím buộc phải tìm đến bến khác để nương thân. Chiếc nón cời luống cuống vụng về không che được cái bụng lùm lùm qua mắt người tù nhạy cảm... Và cũng không che nổi tai ương trút lên đầu đàn con. Các cô bác con cái bầy đàn, không đủ sức nhận nuôi thêm ba đứa cháu bơ vơ. Đầu óc thơ dại bị lý lịch xấu bôi bẩn, mấy em phải bỏ học, lang thang ăn nhờ ở đậu. Phúc bất trùng lai họa vô đơn chí. Cha tù đày, mẹ đi lấy chồng khác, con trôi sông lạc chợ. Tan đàn xẻ nghé!
Mà cũng không riêng gia đình chú, hàng triệu gia đình khác ở miền Nam cũng tan tác từ sau 30/4. Tư thù được dịp trả đũa. Phân cấp lên ngôi. Tha hồ thao túng bao nhiêu số phận con người vô tội. Sức công phá còn hơn bom rải thảm. Thật nhẫn tâm khi bắt đám con trẻ thơ ngây phải hứng chịu những tấm miểng vô hình đầy sát thương do ý thức hệ của người lớn gây ra. 

Thời gian hội nhập sau khi ra tù, chú tôi mất hết niềm tin vào nguời thân. Mỗi khi hỏi thăm nhờ cậy, họ lánh mặt, tránh tiếng liên lụy sĩ quan chế độ cũ. Kể cả những người ơn nghĩa cứu mạng trước đây, bây giờ trở mặt lật lọng. Nhà cửa không còn. Hai bàn tay trắng trở về quê quán cũ xin xác nhận giấy tờ lý lịch, chỉ nhận được nguệch ngoạc dăm chữ ‘thành phần nguy hiểm’ từ tay chủ tịch xã là người cháu trong họ. Công ăn việc làm chẳng ra đâu vào đâu. Đành phải vác cưa vác bào vào Nam ra Bắc xin làm thuê cho mấy xưởng mộc. Rồi một ngày bưu điện phát về bộ hồ sơ HO. Lòng người thủ đoạn, nham hiểm. Biết đâu được đó là chiêu thức nhứ nhá thăm dò thái độ người chế độ cũ để tiếp tục bắt bớ giam cầm. Như chim sợ nhánh cây cong, chú trì hoãn việc nộp hồ sơ đi Mỹ, chờ xem động tĩnh ra sao. Mãi đến năm 1994 chú mới rời Sài Gòn đi Cali định cư cùng người vợ sau và hai đứa con trai riêng. Đứa con gái đầu lấy chồng sớm, sinh con đẻ cái, sống chật vật chợ đò An Cựu. Bổ sung riết hồ sơ, gia đình mới được bảo lãnh qua Mỹ sau này. Nhưng sự đoàn tụ gia đình cũng không trọn vẹn. Thằng cháu ngoại lớn nhất của chú phải rớt lại vì quá tuổi. Không đủ kiên nhẫn với giấc mơ Mỹ, nó đã thăng cấp cho chú lên làm ông cố một đứa cháu gái kháu khỉnh.

Chú tôi qua Mỹ, trở thành cứu cánh cho bao người. Đứa con trai đầu bảo lãnh mẹ. Rồi làm giấy tờ bảo lãnh luôn gia đình hai đứa em cùng mẹ khác cha. Cũng chính cậu này về Việt Nam lấy hai lần vợ, bảo lãnh hai cô lần lượt qua Mỹ cách nhau chừng 15 năm. Cậu con trai út cũng về Sài Gòn cưới vợ. Qua Mỹ rồi dang dở. Đến phiên người vợ sau của chú bảo lãnh cả gia đình người em ruột, đem hết qua bảo bọc trong nhà. Cứ thế mà tiếp tục dắt díu nhau đi định cư cả bầy. Bán anh em xa mua láng giềng gần. Nước lã có khi hơn cả máu đào... Suy cho cùng, nước Mỹ thật hào hiệp với dân mình. Ở chiều ngược lại, giả sử sau này Bắc Hàn bị Nam Hàn giải phóng, không biết có còn diện XY nào đó tương tự HO để nước đàn anh Nga, Trung Quốc ra tay cứu vớt đồng minh, cưu mang hàng triệu sinh linh tỵ nạn!
Kinh qua bao đận chết đi sống lại, giờ đây chú tôi như triết gia thời đại. Cuộc đời thăng trầm, lên voi xuống chó, biết bao nỗi niềm riêng. Ghi lại sẽ là câu chuyện dài không thua kém hồi ký lãnh tụ kách mệnh. Chú vẫn sống với tinh thần nhân văn và độ lượng, không để bụng những ai từng xem mình là thù địch. Mỗi khi nói về con người, về thời cuộc chú có những nhận xét rạch ròi, xác đáng. Không hề một lời trách cứ người vợ cũ phụ bạc. Không giận hờn oán thù hoặc đổ lỗi cho bất cứ ai. Và cũng chưa hề than thở biện minh cho số phận của mình, một tù nhân chiến tranh, bị đày ải, bị tước đoạt mất hết thời thanh xuân trai trẻ. Lúc nào thấy chú cũng lạc quan, nói cười sang sảng. “... Công ước Genève về đối xử nhân đạo với tù binh, hàng binh chỉ có trên giấy tờ. Lý của kẻ mạnh là lý thắng. Người thắng cuộc chiếm đoạt tất cả. Ngay cả khi tàn trận, hàng binh phất cờ trắng vẫn còn bị bắn. Sống sót đến hôm nay là may lắm rồi!”. Có lần chú nói như vậy. 

Những nguời con cùng một mẹ, nước mắt chưa kịp khô sau cuộc trùng phùng Bắc Nam, lại phải tuôn trào từ những lần chia ly. Em tù đày, anh vượt biên, chị di tản... Thời thế đưa đẩy. Người ở lại, kẻ ra đi. Hơn 40 năm qua, thế hệ cha chú lần lượt khuất núi. Để lại con cháu hai bên bờ đại dương ướt đẫm nước mắt tại các cổng đưa đón phi trường. Hạnh ngộ, chia ly. Nước mắt nhạt nhoà...

Phạm Thạch

https://www.facebook.com/people/Pham-Thach/61587320060149/

 

Đăng ngày 18 tháng 5.2026