Chuyện vượt biên !
Exodus of Vietnamese Boat People…
Huy Phan
Hay nói cho đúng hơn, đó là một cuộc ra đi khổng lồ của người Việt sau năm 1975, một thảm họa nhân đạo của riêng dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những biến cố di dân đau thương nhất của lịch sử hiện đại.
Đó là một chương sử mà riêng tôi, cũng như rất nhiều người từng trải qua, không muốn nhớ lại. Thế nhưng, có những điều càng muốn quên thì càng không thể quên. Bởi đằng sau hai chữ “vượt biên” không chỉ là một chiếc ghe nhỏ lênh đênh giữa biển cả. Đó là những gia đình bán đi từng món đồ cuối cùng, là những người mẹ ôm con trong đêm tối, là những người cha đem mạng sống của mình đặt cược vào một chuyến đi không biết có ngày trở lại hay không. Và cũng là những người đã ra đi mà không bao giờ tới được bến bờ.
Tôi từng là một trong những người vượt biên sau biến cố tháng Tư năm 1975. Tôi đã đến Philippines và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ. Về sau, tôi cũng là một trong số ít người trở lại làm việc với đồng bào vượt biên thông qua các tổ chức ICMC và UNHCR ở Phi, Mã Lai, Thái lan... trong những năm cuối của một chặng đường đầy nước mắt, mất mát, khổ ải và chết chóc, kéo dài từ năm 1975 đến năm 1995.
Tôi trở lại không phải để kể câu chuyện riêng của mình, mà để chứng kiến và ghi nhớ câu chuyện của những người kém may mắn hơn. Có người sống sót sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, nhưng phải mang theo những vết thương tinh thần suốt đời. Có người đến được trại tị nạn nhưng không còn cha mẹ, vợ chồng hay con cái. Có người chỉ còn nhớ mang máng tên của những người đã mất, bởi tất cả giấy tờ, hình ảnh và kỷ niệm đều đã chìm xuống biển.
Một câu hỏi thường trở lại trong tâm trí tôi là, vì sao một đất nước có lịch sử mấy ngàn năm, vừa bước ra khỏi một cuộc chiến tranh khốc liệt, lại chứng kiến hàng triệu người tìm cách rời bỏ quê hương trong những năm được gọi là thời bình?
Đó là câu hỏi mà có lẽ nhiều người từng đặt ra, rồi cuối cùng chỉ biết thở dài. Bởi muốn trả lời, người ta phải nhìn lại cả một giai đoạn lịch sử đầy đau đớn, một giai đoạn đã đẩy hàng triệu gia đình vào cảnh túng quẫn, ly tán và tuyệt vọng.
Người dân miền Nam đã gánh chịu chiến tranh trong gần hai mươi năm. Họ từng sống giữa bom đạn, từng nhiều lần bỏ nhà cửa chạy loạn, từng phải dựng lại cuộc đời từ những gì còn sót lại. Nhưng trong chiến tranh, dù gian nan đến đâu, nhiều người vẫn còn có cơ hội học hành, làm ăn, nuôi sống gia đình và hy vọng vào một ngày mai tốt đẹp hơn.
Gia đình tôi cũng từng nhiều lần phải chạy giặc, phải bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, công việc và những gì đã gây dựng. Từ Bình Định vào Sài Gòn, chúng tôi đã không ít lần phải làm lại cuộc đời. Thế nhưng sau tháng Tư năm 1975, cảm giác mất mát không còn chỉ đến từ bom đạn. Nó đến từ sự thay đổi đột ngột của cả một đời sống, từ công việc, học hành, tài sản cho tới quyền được tự quyết định tương lai của mình.
Những gì xảy ra sau năm 1975 không thể chỉ được tóm gọn bằng câu nói rằng có “triệu người vui, triệu người buồn”. Với rất nhiều gia đình miền Nam, đó là một thời kỳ mà con đường sống dần dần bị thu hẹp. Các chính sách cải tạo công thương nghiệp, kiểm kê và tịch thu tài sản, đưa dân đi vùng kinh tế mới đã làm đảo lộn đời sống của hàng triệu người. Chế độ phân biệt lý lịch tiếp tục ảnh hưởng đến việc học hành, nghề nghiệp và tương lai của con cái họ.
Hàng trăm ngàn sĩ quan, viên chức, cán bộ và những người từng phục vụ cho chính quyền miền Nam bị đưa vào các trại tù được gọi bằng cái tên nhẹ nhàng là “học tập cải tạo”. Nhiều người được hứa rằng họ sẽ trở về trong một thời gian ngắn, nhưng rồi phải ở lại nhiều năm. Gia đình họ sống trong cảnh chờ đợi, thiếu thốn và bất an. Không ít người trở về với sức khỏe suy kiệt, cũng có người không bao giờ trở về.
Trong hoàn cảnh đó, vượt biên đối với nhiều người không phải là một cuộc phiêu lưu, càng không phải là một lựa chọn dễ dàng. Đó là quyết định được đưa ra sau khi mọi cánh cửa khác gần như đã đóng lại.
Người ta ra đi vì sợ không còn tương lai cho con cái. Người ta ra đi vì không thể tiếp tục sống trong cảnh thiếu thốn, bị kiểm soát và không nhìn thấy lối thoát. Người ta ra đi vì muốn tìm một nơi mà công sức của mình có thể đổi lấy một đời sống bình thường.
Có người ra đi bằng đường biển. Có người vượt biên qua Campuchia, qua Lào hoặc theo những con đường bí mật khác. Có người đi theo các chương trình di dân có tổ chức, đoàn tụ gia đình, chương trình HO và những chương trình nhân đạo quốc tế. Nhưng trong ký ức của thế giới, hình ảnh tiêu biểu nhất vẫn là những chiếc thuyền mong manh chở đầy người trên biển Đông, những con người đặt sinh mạng vào tay sóng gió.
Theo các thống kê quốc tế và những nghiên cứu lịch sử, trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1995, khoảng 1,5 đến hơn 2 triệu người Việt đã rời khỏi đất nước bằng nhiều con đường khác nhau. Con số chính xác khó xác định, vì nhiều chuyến đi không được ghi nhận, nhiều người mất tích không để lại danh sách, và cách thống kê của từng quốc gia, từng tổ chức cũng không hoàn toàn giống nhau.
Riêng số người sống sót và đến được các trại tị nạn thường được ước tính vào khoảng gần 800.000 người. Họ đến các trại tị nạn ở Đông Nam Á và một số nơi khác, trong đó có Malaysia, Indonesia, Philippines, Hồng Kông, Thái Lan và Singapore. Từ những trại tị nạn ấy, nhiều người được định cư tại Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Đức và các quốc gia khác. Một bộ phận khác phải hồi hương theo các chương trình quốc tế hoặc vì không còn con đường nào khác.
Nhưng những con số ấy chỉ nói được một phần của sự thật. Không có bảng thống kê nào ghi đủ tên những người chết vì đói khát, bệnh tật, bão tố, đắm tàu hay hải tặc. Không ai biết chính xác bao nhiêu người đã bị ném xuống biển, bao nhiêu phụ nữ bị hãm hiếp, bao nhiêu trẻ em đã chết trong vòng tay cha mẹ. Nhiều người mất tích không bao giờ được tìm thấy. Nhiều gia đình đến được bến bờ nhưng đã mất một nửa, hoặc hơn một nửa, những người thân cùng đi.
Một số nghiên cứu ước tính số người chết hoặc mất tích trên biển lên đến hàng trăm ngàn. Những con số khác nhau không làm cho sự mất mát nhẹ đi. Dù là vài chục ngàn, hàng trăm ngàn hay một con số nào khác, mỗi người mất đi vẫn là một cuộc đời, một gia đình và một khoảng trống không gì bù đắp được.
Riêng trong đợt di tản cuối tháng Tư năm 1975, khoảng 125.000 người đã rời khỏi Việt Nam. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu của một cuộc ra đi kéo dài suốt hai thập niên. Sau đó là những đợt vượt biên âm thầm, diễn ra trong đêm, ở các bến sông, bến biển và những vùng ven biên giới. Người ra đi không biết mình sẽ tới đâu. Người ở lại không biết bao giờ sẽ nhận được tin. Có những gia đình chờ đợi nhiều năm chỉ để biết rằng người thân của mình đã không còn.
Có người gọi họ là “bỏ chạy”. Có người gọi họ là “phản bội”. Nhưng trước khi phán xét, hãy thử hình dung một gia đình phải bán căn nhà cuối cùng, giao mạng sống cho một người tổ chức xa lạ, rồi chen chúc trên một chiếc ghe nhỏ giữa biển đêm. Không ai biết chắc mình sẽ sống hay chết. Không ai ra đi vì nghĩ rằng phía trước là dễ dàng. Họ ra đi vì phía sau đã trở nên quá tuyệt vọng.
Đó là lý do cuộc vượt biên của người Việt cần được nhìn như một thảm họa nhân đạo, chứ không chỉ như một sự kiện chính trị. Trong thảm họa ấy có những nguyên nhân lịch sử, chính sách và xã hội cụ thể. Nhưng bên dưới tất cả vẫn là những con người bình thường muốn được sống, được làm việc, được nuôi con và được giữ lấy phẩm giá của mình.
Ngày nay, hàng triệu người Việt đang sống ngoài quê hương. Nhiều cộng đồng được hình thành từ những chuyến ra đi năm xưa. Những ngôi nhà, cơ sở kinh doanh, trường học, hội đoàn và thế hệ trẻ ở hải ngoại là kết quả của biết bao hy sinh. Nhưng không nên chỉ nhìn thấy thành công sau cùng mà quên cái giá đã phải trả.
Đằng sau mỗi gia đình định cư được là một chuyến đi đầy hiểm nguy. Đằng sau mỗi người sống sót là những người đã nằm lại dưới lòng biển. Đằng sau mỗi cuộc đoàn tụ là những năm tháng trong trại tị nạn, những lá thư thất lạc, những cuộc chờ đợi mỏi mòn và những nấm mồ không tên.
Tôi viết lại những điều này không phải để khơi thêm hận thù, cũng không nhằm phủ nhận nỗi đau của bất cứ ai trong chiến tranh. Tôi chỉ muốn nhắc rằng lịch sử không nên bị thu gọn thành những khẩu hiệu của bên thắng hay bên thua. Lịch sử còn là tiếng khóc của những đứa trẻ mất cha, là người mẹ đứng bên bến cảng chờ tin con, là người tù cải tạo trở về sau nhiều năm, và là những người đã chết giữa biển khơi mà không có một nấm mồ.
Những người đã nằm xuống giữa biển cả không phải là những con số vô danh. Mỗi người trong họ từng có một mái nhà, một gia đình, một công việc, một ước mơ và những người thương yêu đang chờ đợi. Họ đã mất mạng trong hành trình tìm lấy một đời sống bình thường, một tương lai cho con cái, một cơ hội được sống với phẩm giá của con người.
Vì vậy, khi nhắc đến cuộc vượt biên sau năm 1975, xin đừng chỉ gọi đó là một cuộc di dân, một làn sóng tị nạn hay một biến cố chính trị. Hãy nhớ rằng đó còn là một thảm họa nhân đạo, một vết thương sâu trong lịch sử dân tộc và là nỗi đau của hàng triệu con người.
Huy Phan
https://www.facebook.com/baovietluan/
Những mũi giáo đâm vào chế độ VNCH...
Đỗ Hồng
Sự sụp đổ của một chế độ nhân bản VNCH không phải chỉ do người Mỹ quay lưng và “đồng minh tháo chạy,” mà còn do những mũi giáo đâm thẳng sau lưng dân tộc.
Những mũi giáo oan nghiệt đâm sau lưng, từ Dinh Độc Lập, có các cố vấn của Tổng Thống VNCH như Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ… Điều đáng lưu ý là những tên này cùng đồng bọn gồm 20 tên khác từng bị bắt nhốt bởi Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung phối hợp với Ty Công An Huế thời Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng đến ngày 1/11/1963, Hội Đồng Cách Mạng của Tướng Dương Văn Minh thả ra và sau đó họ đã len lỏi vào các cơ quan trọng yếu của VNCH.
Trong hàng ngũ sĩ quan cao cấp quân lực VNCH, có Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát, Nguyễn Hữu Hạnh… và vô số binh sĩ cũng như sĩ quan VNCH âm thầm làm việc tiếp tay cho CSVN, như Nguyễn Thành Trung, thượng sĩ nhất Nguyễn Văn Minh…
Nằm vùng tại Quốc Hội VNCH có cái gọi là “thành phần thứ ba” và Dân Biểu Đối Lập như Dương Văn Ba, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Ngô Bá Thành (Phạm Thị Thanh Vân), Kiều Mộng Thu, Hồng Sơn Đông, Nguyễn Văn Hàm, Đinh Văn Đệ…
Một số phần tử này cũng là những nhà báo thiên tả như Ngô Công Đức (Tin Sáng), Hồng Sơn Đông (Điện Tín) hợp cùng Chân Tín (Đối Diện), Họa Sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành), Phạm Xuân Ẩn (các báo ngoại quốc như Time, New York Herald Tribune…) Vào đầu năm 1970, có khoảng 36 tờ báo tư nhân ở miền Nam, nhưng có rất ít báo của nhà nước, chẳng hạn như tờ Tiền Tuyến. Lợi dụng tự do báo chí, nhiều nhà báo thiên tả đã công khai đả phá chính phủ VNCH và cá nhân của TT Nguyễn Văn Thiệu. Thậm chí họ còn tổ chức diễn biến “ký giả xuống đường đi ăn mày” vào ngày 10/10/1974 để phản đối sắc luật 007 qui định về tiền ký quỹ ra báo.
Những mũi giáo đâm sau lưng còn phát xuất từ những kẻ đội lốt nghệ sĩ mà điển hình là Kim Cương, kẻ được cho là mang cấp bậc Thượng Tá của VC mặc dù bà ta phủ nhận điều này, nhưng có lẽ chẳng mấy ai tin. Ngoài ra, còn có một số nhạc sĩ nổi tiếng phản chiến như Trịnh Công Sơn, Trương Quốc Khánh, Tôn Thất Lập… Riêng TCS được xem là thiên tài âm nhạc và phù thủy ngôn ngữ, nhưng rất tiếc những tinh hoa đó lại phục vụ cho chế độ cộng sản.
Mặc lớp áo thầy tu, những mũi giáo đó đã lũng đoạn hàng ngũ quốc gia miền Nam.
Những tay nổi bật trong thành phần này từ Thích Trí Quang cho tới Thích Nhất Hạnh, Chân Tín, ni sư Huỳnh Liên, Phan Khắc Từ, Trần Hữu Thanh… đều tích cực nối giáo bằng mọi hình thức như xách động xuống đường, tuyệt thực, tự thiêu… dưới chiêu bài chống độc tài gia đình trị (thời đệ nhất Cộng Hòa), đòi quyền sống, đòi hòa bình, viết báo công kích chính phủ, chống tham nhũng (thời đệ nhị Cộng Hòa)…
Thành phần trí thức thiên tả miền Nam góp phần phá nát chính thể dân chủ của người quốc gia có khá nhiều, tiêu biểu như: Trương Bá Cần, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Vũ Hạnh, Thế Uyên, Thế Nguyên, Duy Lam, Nguyễn Hữu Chung, Lê Văn Hảo, Lê Khắc Quyến (ông này là cha của ông Lê Khắc Nhàn tức Hằng Trường. Đại lão Hòa Thượng Tuyên Hóa đã đuổi ra khỏi Tăng Đoàn Vạn Phật Thành vì âm mưu chiếm chùa Vạn Phật và không được lấy pháp danh họ Hằng nữa), Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên…
Thành phần năng động nhất ở miền Nam gây khó khăn cho chính phủ VNCH ở hậu phương Sài Gòn là các học sinh sinh viên thiên tả như: Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Võ Như Lanh, Phan Kim Hạnh, Dương Văn Đầy, Trịnh Đình Ban…
Ở miền Trung có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…
Ngoài ra, còn có một số lãnh tụ sinh viên ở Sài Gòn chuyên cầm đầu những cuộc xuống đường rầm rộ ở Sài Gòn như Nguyễn Văn Thắng (cựu SV Sư Phạm Sài Gòn), Đoàn Kỉnh (Đại Học Khoa Học SG) mà lý lịch không rõ là người quốc gia hay thân cộng.
Những mũi giáo đâm sau lưng dân tộc còn có vô số những tay nằm vùng hành nghề lao động tay chân như lái tắc xi, đạp xích lô… và thậm chí còn có những kẻ được gọi bằng danh xưng mỹ miều “bà mẹ chiến sĩ.”
Sau ngày 30/4, bọn này xuất đầu lộ diện thành những tên “cách mạng 30” mang băng đỏ trên cánh tay chỉ đường cho CSBV tiến vào Sài Gòn và sau đó giữ những chức vụ tại hạ tầng cơ sở hay trung ương.
Trên đây là những mũi giáo đâm sau lưng được người dân nhận diện ra tại Sài Gòn, không kể đến những kẻ khác hoạt động bí mật rải rác khắp miền Nam.
Những kẻ nối giáo cho cộng sản sau năm 1975 đều bị vắt chanh bỏ vỏ một cách không thương tiếc.
Một số đấm ngực ăn năn thì đã quá muộn màng.
Ngay cả sau biến cố 30/4, trong làn sóng tị nạn ra hải ngoại cũng có không ít phần tử cộng sản trà trộn hay hoạt động ngầm cho VC dưới hình thức tôn giáo vận, văn hóa vận…
Ngoài làn sóng người Việt tị nạn vượt biển vượt biên ra hải ngoại bằng thuyền hoặc đường bộ sau ngày 30.4.1975, còn có thêm những người khơi khơi xách va-li lên máy bay sang Mỹ.
Nào đoàn tụ gia đình, nào bảo lãnh thân nhân, nào hôn nhân (thật lẫn giả), nào “HO,” nào du sinh, nào đại gia VC và con cháu VC gộc, cùng nhau cấu kết với cựu tị nạn trở cờ… tạo thành một “đội ngũ” rộng lớn dưới sự chỉ đạo giấu tay của các sứ quán VC, đã xâm nhập mọi sinh hoạt chính trị, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, báo chí, truyền thông … trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại.
Hậu quả như thế nào?
Có lẽ không cần dẫn chứng.
Những ai còn quan tâm tới sinh hoạt cộng đồng và chưa quên bài học xương máu ngày 30.4.1975 thì không thể không nhìn thấy những gì đang diễn ra trước mắt.
Đỗ Hồng
facebook Hoa Pham
https://www.facebook.com/DaiHoiChienSiVoDanh
Trịnh Công Sơn: suốt đời lạc bước...
Matthew NChương
Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ đầu tiên của Miền Nam được người Bắc tiếp xúc sớm nhất, với những bản tình ca lạ lẫm từ nhạc tới lời, khác hoàn toàn với những ca khúc cách mạng ngự trị hàng mấy thập niên, những bản tình ca ngọt ngào vẫn cứ phải thấm đẫm chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ý chí chiến đấu, vì thế, “nhạc Trịnh” trở thành lựa chọn hàng đầu với sở thích nghe nhạc của dân Bắc cực đoan trong cả yêu và ghét khi văn hóa miền Nam giải phóng tâm hồn miền Bắc.
Trong khi đó ở miền Nam, vốn có một nền âm nhạc nói riêng và nền văn nghệ nói chung vô cùng phóng khoáng, hiện đại, trữ tình, vừa nối tiếp mạch tân nhạc tiền chiến với những tài hoa di cư từ Bắc vào Nam sau 1954, vừa nở rộ tài năng từ mảnh đất châu thổ Cửu Long Giang, từ phố núi Đà Lạt… – với những tên tuổi rực rỡ như Phạm Duy, Anh Bằng, Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trần Thiện Thanh, Trúc Phương, Lam Phương, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Nguyễn Văn Đông, Tuấn Khanh, Duy Khánh, Phạm Đình Chương, Cung Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Trường Sa… khiến cho người dân miền Nam có nhiều lựa chọn.
Và Trịnh Công Sơn được yêu, ghét qua từng giai đoạn lịch sử; gắn liền những nhạc phẩm của ông theo từng khúc đoạn thời gian và theo cả cảm quan chính trị được cho là mơ hồ (trước 1975), xu thời (sau 1975).
Cuối đời, Trịnh Công Sơn có một nhạc phẩm mà không ca sĩ nào hát thấm hơn chính ông: “Tiến thoái lưỡng nan”. Đó có thể coi là bản tổng kết bằng âm nhạc cho cuộc đời của nhạc sĩ tài năng này. Đâu phải chỉ có lúc bấy giờ, Trịnh Công Sơn mới tiến thoái lưỡng nan. Dường như, cả cuộc đời ông là sự lưng chừng, lỡ cỡ, hai chân đặt ở hai con thuyền, không tiến không lui, không tà không chính, lập trường chính trị không rõ ràng, ngay cả âm nhạc cũng là sự bội phản, phủ định lẫn nhau.
Trong đời, ông mâu thuẫn trong các mối quan hệ bạn bè, xã hội.
Trước 1975, ông thân thiết với Đại tá Lưu Kim Cương, một sĩ quan không quân tài hoa có tâm hồn nghệ sĩ. Cũng chính vì đam mê âm nhạc, Lưu Kim Cương mới mời Trịnh Công Sơn- Khánh Ly vào hát ở câu lạc bộ sĩ quan Không quân, còn gọi là câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc, và Trịnh Công Sơn đã kết thân với Đại tá Lưu Kim Cương từ dạo đó. Khi Đại tá tử trận, Trịnh Công Sơn đã có bài hát nổi tiếng “Hát cho một người nằm xuống” để bày tỏ nỗi tiếc thương.
Mặt khác, ông lại thân thiết với Ngô Kha, một sinh viên theo Cách mạng và sau 1975 là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, những người khá có “uy thế” với văn nghệ miền Nam nói chung và xứ Huế nói riêng sau ngày thống nhất.
Trong âm nhạc, Trịnh Công Sơn mâu thuẫn với chính ông.
Ở đề tài nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn thể hiện rất rõ sự mâu thuẫn này. Ông không theo Cộng Hòa, dù sống trong chính thể Cộng Hòa. Ông sợ cảnh đại bác đêm đêm dội về thành phố, ông thương những kiếp người lầm than điêu linh trong bom đạn nhưng không đặt ra câu hỏi: “Ai đêm đêm nã đại bác vào thành phố?” Đại bác hồi đó thường dội vào những khu gia binh, bởi lính VNCH hay mang theo gia đình, có vợ và con nhỏ, dội đại bác vào đó để gây bấn loạn tinh thần của binh sĩ...
Ông viết những ca khúc phản chiến, và tự đặt mình đứng ra ngoài, đứng lên trên, cao hơn cuộc chiến, cho dù ông đau nỗi đau của thân phận người dân trong một đất nước đầy bom đạn. Phản chiến, nhưng không nhận thức một cách rõ ràng vì sao có chiến tranh và cần làm gì để kết thúc nó.
Nhiều người gọi Trịnh Công Sơn là Bob Dylan của Việt Nam. Tôi cho rằng, so sánh như vậy là khập khiễng. Bob Dylan không chỉ phản đối chiến tranh, ông còn viết những ca khúc đòi nhân quyền, chống kỳ thị chủng tộc, và hơn thế, tâm thế mà người Mỹ tham chiến trên chiến trường Việt Nam, Triều Tiên khi đó hoàn toàn khác cuộc chiến trong lòng đất nước Việt Nam.
…
Có câu chuyện thế này. Thầy Bửu Ý trước khi vào Sài Gòn dự đám tang Trịnh Công Sơn có hỏi anh Đ.N.P.H., một guitarist có tiếng, dạy Học viện Âm nhạc Huế: “Thầy vào dự đám tang, em có gửi gì không?” thì anh Đ.N.P.H. đã trả lời, “Âm nhạc của anh ta đã giết chết một thế hệ thanh niên mới lớn như tụi em. Những ca khúc trong tuyển tập Da Vàng đã sinh ra một thế hệ thanh niên yếu đuối và hèn nhát”. Có thể, đó chỉ là suy nghĩ của một cá nhân, trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, nhưng không phải là không có lý.
Trịnh Công Sơn, cũng như hàng triệu người Việt lúc bấy giờ ước mơ, hi vọng về một đất nước thống nhất hòa bình; từ tâm lý đó, có thể hiểu được tại sao ông đọc lời kêu gọi Văn nghệ sĩ trên đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975 (có người đã viết rằng: “vào 11g30 ngày 30/4: có một nhạc sĩ thiên tài qua đời và một nhạc sĩ ba phải ra đời”).
Rồi, hơn ai hết, Trịnh Công Sơn âm thầm đau xót trong nỗi cô đơn, thất vọng không dễ gì bày tỏ của một người luôn chọn tránh đạn bằng cách cúi mình giữa hai làn đạn, và cả hai phía đều nhìn ông bằng con mắt hoặc thù địch, hoặc nghi ngờ. Dường như Trịnh Công Sơn chưa bao giờ chọn cho mình một tâm thế đứng thẳng, rạch ròi, mà thường nghiêng ngả theo thời cuộc, theo những nhân vật của thời cuộc và trở thành nạn nhân của chính mình.
Có những câu hỏi chưa có lời giải đáp thỏa đáng:
Tại sao một người từng viết “Ca dao Mẹ”, “Gia tài của Mẹ”, “Bà mẹ Ô Lý”… lại có thể viết “Huyền thoại Mẹ”? Hồi Tết Mậu Thân 1968, Trịnh Cộng Sơn phải trốn chui trốn nhủi, suýt chết dưới tay những người tấn công thành phố Huế, mà sau 1975, ông lại viết rất ngọt, mượt về một bà mẹ đứng dưới mưa “ngăn từng bước chân thù”.
Thù nào? Lẽ nào lại là những người bạn từng che chở, cưu mang khi ông trốn chui trốn nhủi? Lẽ nào ông không nhìn thấy những người mẹ, người vợ mỏi mòn chờ con chờ chồng đi cải tạo mãi mãi không về? Lẽ nào ông không nhớ những lời mình từng viết “Xác người nằm trôi sông, trôi trên ruộng đồng. Trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co. Xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa. Trong giáo đường thành phố, trên thềm nhà hoang vu…”? Xác người từ đâu ra, chắc Trịnh Công Sơn hiểu hơn ai hết.
Tại sao nhạc Trịnh viết về thân phận con người thấm thía như thế, nhưng khi đồng bào miền Nam trên các vùng kinh tế mới, thiếu ăn thiếu mặc, chết đói chết rét, phải chấp nhận đánh cược tính mạng làm mồi cho cá để vượt biên… thì ông lại không viết được một bài nào về những phận người mong manh đó? Ông vẫn thong dong hát: “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, chọn những bông hoa và những nụ cười”. Tệ hơn, ông còn hồn nhiên hát: “Em ra đi nơi này vẫn thế”.
Sau rất nhiều hứng khởi của “Hoa xuân ca”, “Em ở nông trường em ra biên giới”, “Khăn quàng thắp sáng bình minh”, “Huyền thoại mẹ”, “20 mùa nắng lạ”…, có lẽ ông bắt đầu thấm mệt với trò chơi đu bám thời cuộc. Hoặc giả, khi đó xã hội bắt đầu có sự cởi mở hơn với những đề tài sáng tác, thì Trịnh Công Sơn bộc lộ sự chán chường không thể che đậy.
Hàng loạt ca khúc sau này chính là nỗi lòng ông. Có lẽ, đó là những bản nhạc thật lòng nhất. Hãy nghe “Tôi ơi đừng tuyệt vọng”. Đâu phải chỉ tuyệt vọng vì người con gái ông yêu bỏ đi lấy chồng. Nó còn là sự an ủi chính mình khi tuyệt vọng về một con đường ước mơ, một xã hội đẹp đẽ trong trí tưởng nay đã thành tuyệt lộ.
Hãy nghe “Mẹ bỏ con đi, đường xa vạn dặm”, đâu chỉ là người mẹ thương yêu ông hết lòng, đó còn là Mẹ Việt Nam đã bỏ đi, bỏ những đứa con lai căng và bội tình.
“Tiến thoái lưỡng nan” có thể nói là bài hát cuối cùng mà Trịnh Công Sơn trút tất cả nỗi niềm. Một sự bơ vơ, bế tắc, biết sai lầm nhưng không thể còn thời gian để kịp sửa chữa. Dù đi về cuối ngõ nơi quê nhà hay đi về nơi cuối trời vĩnh hằng, thì sống hay chết, cũng không thể lựa chọn lại. Nên mới bơ vơ, hoang mang, không đi đâu nữa, chỉ ngồi để tôi tìm lại tôi.
Có thể nào tìm lại? Có tìm được không?
Matthew NChương
https://www.facebook.com/ngoccong.le.522
Đăng ngày 12 tháng 10.2026
