Văn Học Hải Ngoại sẽ vẫn là… văn học hải ngoại   

Trần Doãn Nho

Từ hư vô, văn học hải ngoại xuất hiện. Hơn năm thập niên, nền văn học bất ngờ này – theo nhiều nhà nghiên cứu – đã trải qua một số giai đoạn, từ chập chững đến hình thành, phát triển, và đạt đến đỉnh cao vào thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990. Từ đó cho đến nay, nhịp độ phát triển chậm dần lại, số lượng tác giả mới cũng như số lượng tác phẩm xuất bản ngày càng giảm, các tác phẩm có giá trị về mặt nghệ thuật càng ngày càng hiếm.

Được hỏi về vấn đề này, qua cuộc trò chuyện với một số nhà văn nhà thơ nhân kỷ niệm 50 năm Văn Học Hải Ngoại do tạp chí Da Màu thực hiện, nhà thơ Hoàng Hưng, từ trong nước, cho biết: “Cũng phải ghi nhận một thực tế: sau khoảng 40 năm phát triển tốt đẹp, với sự ra đi và lão hóa của vài thế hệ người viết và người đọc, sự hội nhập ngày càng sâu vào văn hoá bản địa của thế hệ người gốc Việt trẻ, văn học tiếng Việt hải ngoại đang đối mặt với tình trạng khó duy trì.”
Nhà thơ Ngu Yên, từ Mỹ, trong bài  “Tóm Lược 50 Năm Văn Học Việt Nhập Cư 1975-2025,” nhận xét: “Sự thật hiển nhiên là người đọc càng ngày càng ít. Ở hải ngoại, giới lớn tuổi ra đi mang theo khoảng trống chữ nghĩa, không ai bù vào. Giới lớn tuổi còn lại hoặc ngưng đọc hoặc đọc giới hạn vì mắt già, bệnh già, mệt già… Giới trẻ lớn lên, đọc được tiếng Việt không nhiều. Đọc để hiểu tiếng Việt cao kỳ sâu sắc lại càng hiếm hoi. Thời hết đọc tiếng Việt ở hải ngoại sẽ đến.” [1]

Các nhận định trên đều phản ảnh khá trung thực hình ảnh “lặng lẽ” hiện nay của văn học hải ngoại. Các hình thức sinh hoạt, nói chung, bắt đầu lắng xuống. Vừa qua, nhân Tết Dương Lịch 2026, tôi ghé thăm Quận Cam. Litle Saigon bây giờ vẫn thế, báo chí đủ loại vẫn còn; nhiều sinh hoạt chính trị, văn hóa, tôn giáo, âm nhạc, kể cả sinh hoạt văn học nghệ thuật, cũng sôi nổi kiểu này kiểu khác. Có điều, không gian văn chương quen thuộc của lứa chúng tôi thu hẹp dần trong một vòng tròn thân hữu càng ngày càng nhỏ. Đã không còn những tạp chí văn học giấy như Văn Học hay Hợp Lưu ngày nào, lại thiếu vắng bóng dáng của rất nhiều bạn văn, vắng luôn những “tụ điểm” văn nghệ lao xao ồn ào ngày nào. Tuy vậy, hú nhau, vẫn còn một số bằng hữu trong giới viết lách hăng hái đến gặp ở một nơi mà mà ai cũng quen nhau: tiệm Coffee Factory. Có mặt hôm đó là anh chị Cung Tích Biền, các anh Phạm Phú Minh, Trịnh Y Thư, Phạm Phú Thiện Giao (đài VOA), Lê Hân, Thành Tôn, Nguyễn Đình Thuần (họa sĩ); và có cả chị Diệu Chi, bà xã của Nguyễn Mộng Giác. Tối hôm trước đó, tôi cũng được gặp một số các bạn văn (trẻ hơn) của nhóm Da Màu trong một buổi họp mặt chào đón năm mới ở nhà cô con gái của Nhã Ca, nhà thơ Lê Sông Văn: Bùi Vĩnh Phúc, Trần Chấn Trí, Đặng Thơ Thơ, Hồ Như, Nguyễn Hoàng Nam, Lê Đình Nhất Lang, Đàm Thúy Ngọc, Thúy Vi và anh con trai đầu của nhà văn Thảo Trường (1936-2010).
Đâu cũng như đâu, hễ gặp nhau là sôi nổi với nhiều dự định tràn trề văn chương trước mắt. Dẫu nhìn quanh quanh, ai cũng cảm thấy chút bùi ngùi vì nhiều khoảng trống mà những kẻ đi xa để lại…

Văn học hải ngoại được hình thành qua các biến cố lịch sử, do đó, chịu tác động mạnh mẽ của chúng, lúc thịnh thời cũng như lúc thoái trào: di tản, thuyền nhân, biến cố Đông Âu, chương trình ra đi có trật tự… So với không khí hào hứng thuở chập chững ra đời mấy thập niên trước, văn học hải ngoại bây giờ đã là chuyện “một ngày như mọi ngày” trong đời sống xứ người, thiếu hẳn cái động lực thúc đẩy viết lách của ngày tháng cũ.
Nhiều lý do:
Một là, không có những biến động chính trị nào bên ngoài đủ mạnh thôi thúc người viết;
Hai là, cuộc sống mỗi ngày mỗi ổn định, những phẫn uất, đau thương nguôi ngoai dần đối với thế hệ thứ nhất, còn các thế hệ tiếp sau, họ có những băn khoăn và ưu tư mới;
Ba là, trong lúc số độc giả đọc sách tiếng Việt giảm dần theo tuổi tác thì những tài năng văn chương trẻ chỉ phát triển trong môi trường mới với số độc giả mới, không mấy nồng nàn với tiếng Việt;
Bốn là, sự xuất hiện của văn chương mạng – một chiếc cầu hợp lưu trong, ngoài không cần phong trào – đã chuyển các sáng tác theo một chiều hướng khác;
Năm là, giao lưu trong và ngoài nước bây giờ dễ dàng hơn, hai chữ “hải ngoại” nghe không mấy “nhạy cảm” như xưa;
Sáu là, nhiều người trở về tái định cư ở cố hương, kể cả một số tác giả hải ngoại;
Bảy là, một số tác giả hải ngoại xuất bản sách và thậm chí, ra mắt sách ở trong nước;
Tám là, các cây bút “lão hóa,” dần dần nối bước nhau “ra đi” theo tuổi tác.

Người định cư thì tăng nhưng nguồn nhân lực cho văn chương Việt hải ngoại, cả viết lẫn đọc, đều giảm sút.
Khác với văn học miền Bắc xã hội chủ nghĩa mang tính áp đặt và văn học miền Nam tự do bung nở thời kỳ trước 1975, thì văn học hải ngoại, hiểu theo bất cứ cách nào, cũng là một tai nạn. Là hậu quả nặng nề của một biến cố lịch sử. Thậm chí, là một nghịch lý. Bởi lẽ, một nền văn học không thể phát sinh và phát triển bên ngoài nguồn sữa dân tộc. Lúc đầu, văn học hải ngoại có vẻ như là một đứa con hờ, con ngoại hôn hay con ngoài kế hoạch. Tưởng chỉ như là một vết mực nhòe vô giá trị, sẽ tự động tan đi hay dễ dàng tẩy xóa. Xét cho cùng, sự kiện lịch sử hay văn hóa nào cũng vậy, lúc đầu, chỉ là chuyện tình cờ, có thể chóng qua, không để lại một di chứng nào. Cũng xét cho cùng, lẽ ra văn học hải ngoại không nên/không thể có. Nhưng rồi do những điều kiện không ai ngờ tới hỗ trợ, nó không còn là chuyện trà dư tửu hậu. Nó đã hiện diện, đã phát triển, trở thành hiện thực, dồi dào, mạnh mẽ, đầy ý nghĩa. Nó đã đến không do ai áp đặt, nó đã phát triển không do ai chỉ đạo. Thành thực mà nói, trong một hoàn cảnh cô cùng bất thường như thế, văn học hải ngoại đã thực hiện nhiều điều phi thường, vượt qua cả chính sức vóc của mình: hình thành một dòng văn học không kém bất cứ một dòng văn học chính thống nào.  Không những đã không làm sức mẻ, mất mát chút nào mà ngược lại, nó còn làm phong phú thêm văn học Việt Nam.

Văn học hải ngoại, tự nó, không chỉ là văn học. Mà còn là một thông điệp. Một mặt, nó là sự sống còn của những người thua cuộc; mặt khác, là một vết thương tự-gây (self-inflicted) của dân tộc. Nó không phải là nguyên nhân, mà là hậu quả của một chính sách, một lý thuyết. Là sự thất bại của một chiến thắng.
Đã xuất phát từ một tai nạn lịch sử thì nó chỉ có thể biến mất, hay thay đổi, chỉ khi một/những “tai nạn” lịch sử khác diễn ra. Nói khác đi, khi những điều kiện thúc đẩy nó có mặt, biến mất.
Hiện nay, dù nhà nước Việt Nam đã có một số điều chỉnh chính sách khá tích cực, bản chất chuyên chế của chế độ, trong thực tế, vẫn thế. Vẫn sáng nắng chiều mưa. Vẫn xin-cho. Vẫn áp đặt. Vẫn chủ yếu là gây sợ hãi. Cứ nhìn cách chọn lựa những người lãnh đạo quốc gia qua một chuỗi những cuộc bầu bán với kết-quả-hoàn-toàn-tiền-chế  đầu năm 2026 vừa qua, ta sẽ thấy ngay tính cách “nhất quán” của một chế độ: chuyện quốc gia đại sự là chuyện của chỉ một nhóm người. Có khi là cha truyền con nối.

Mới đây nhất (21 Tháng Tư, 2026), trong nước diễn ra một sự kiện xã hội “buồn cười,” trông thì chẳng văn học chút nào, nhưng mà hết sức văn học.  Đó là câu chuyện phái đoàn Văn Việt từ Sài Gòn ra Đà Nẵng thăm nhà văn Nguyên Ngọc, người sáng lập Văn Đoàn Độc Lập và tạp chí Văn Việt, hiện đã 95 tuổi, nhưng bị cơ quan an ninh tìm mọi cách ngăn cản, rốt cuộc, không được gặp, đành phải quay về. Tôi email hỏi một người quen trong nước về sự kiện này, được anh trả lời: “Việt Nam đã thế, nay vẫn thế và mai còn thế, anh ơi!”
Hoàng Hưng không ngần ngại gọi cách hành xử này là “vô pháp vô thiên vô đạo vô nhân vô văn hoá (…) đi ngược hoàn toàn với tinh thần của ‘kỷ nguyên vươn mình’ mà ông chủ tịch Hội Nhà văn VN gọi là ‘Kỷ Nguyên Người.’” [2]

Tóm lại, nhà nước vẫn tiếp tục xem văn chương là một canh bạc cần phải thắng, thắng mãi, thắng tiếp, luôn luôn thắng. Có thay đổi, có cởi trói, có nới, có dễ dãi, có chấp nhận đôi chút khác biệt, nhưng vẫn chỉ là màu mè, sơn phết. Chỉ thích đe nẹt, dọa nạt và bắt bớ. Cả ngàn tờ báo, kể cả “70 tờ báo về văn học ở Việt Nam,” [3] buồn thay, vẫn chỉ có một tổng biên tập: Trưởng Ban Khoa Giáo Trung Ương. Cởi thì có cởi, nhưng cần trói là trói ngay. Dây thừng luôn đặt một bên, sẵn sàng đối phó với… thằng bướng bỉnh.
Người viết hải ngoại, ai chẳng muốn phổ biến tác phẩm trong nước để được hòa mình với dân tộc, để đến với một lượng độc giả rộng lớn hơn gấp bội so với vài ba triệu người phân tán khắp nơi trên thế giới. Nhưng phải sàng, phải lọc, phải chọn từng từ, lựa từng chữ, dè dặt sửa tới sửa lui cho khỏi “phạm húy” thì có, cũng bằng không. Văn chương gì mà khổ thế!

Văn chương là sự kiện, là cuộc sống, một tiến trình sống động, không phải là một màn trình diễn. Càng không phải là một cuộc chạy đua nước rút, ai đến trước thì đoạt giải, ai đến sau thì bị loại. Có bao giờ trễ nải đâu mà phải vội vã tranh giành.
Người ta viết văn vì người ta thích viết văn chứ không phải để viết một kiệt tác văn chương. Kiệt tác xuất hiện không phải vì một ai đó thai nghén kiệt tác. Kiệt tác là sản phẩm cá nhân nhưng gốc rễ được un đúc trong cộng đồng văn chương, một thế giới pha tạp, đa dạng. Xuất sắc, hay, dở, làng chàng… đều có chỗ đứng của nó. Một nền văn chương cần kiệt tác, nhưng kiệt tác tự nó, không đủ đại diện cho văn chương. Nếu tác phẩm nào cũng là kiệt tác, thì văn chương sẽ là cái gì…

Văn chương là một nỗi. Nỗi chữ.
Văn chương hải ngoại, nói cho cùng, là nỗi chữ của người xa xứ.
Nỗi chữ cũng chính là nỗi quê!
Vì nỗi chữ và nỗi quê mà một nền văn học hình thành.
Văn học hải ngoại.
Cứ thế… [hp]

Trần Doãn Nho

https://thekymoi.media/author/tran-doan-nho/

https://damau.org


Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước         

Trần Doãn Nho

Cũng như Văn Học Miền Nam, trong thời gian đầu, Văn Học Hải Ngoại không được cả nhà cầm quyền lẫn văn giới trong nước tiếp nhận. Thái độ này được Đỗ Minh Tuấn, nhà văn-đạo diễn, diễn tả như sau:
“Khi đặt bút viết bài này, trong tôi xuất hiện một cảm giác hình như mình đang bước vào lãnh địa thuộc chủ quyền của người khác. Cái mặc cảm đó là hệ quả của những kinh nghiệm văn hóa trong quá trình tiếp xúc, nhận biết và tiếp cận văn học hải ngoại của cá nhân tôi với tư cách một người viết, một độc giả trong nước. Nhưng bản thân sự hiện diện của nó đã phát lộ tình trạng bị chiếm hữu, bị dán nhãn của văn học hải ngoại. Nó tạo ra những người sở hữu khác nhau: ghẻ lạnh, hắt hủi hoặc mơn trớn, a dua. Nó cũng tạo ra những vùng cấm trong nhận thức và tiếp xúc. Hệ quả của tất cả những cái đó là, nó đã từng trở thành ốc đảo xa vời, nó tạo ra cái cảm giác ngoại đạo cho nhiều người trong nước, kể cả những người muốn quan tâm đến nó.” (Hà Nội, 7.5.1998) [1]

Người đầu tiên đề cập đến văn học hải ngoại là nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi trong bài “Vài cảm nhận văn học việt nam hải ngoại” đăng trên tạp chí Văn Học (Hà Nội), Tháng Hai, 1994. Từ đó trở đi, số người quan tâm đến văn học hải ngoại một ngày mỗi nhiều. Dù vẫn còn có phần thiên kiến, nhưng nói chung, thái độ nghiên cứu và cái nhìn về văn học hải ngoại của giới cầm bút trong nước càng ngày càng khách quan và thực tế hơn. Để hiểu rõ quá trình, từ thái độ “ghẻ lạnh, hắt hủi” (theo cách nói của Đỗ Minh Tuấn) cho đến sự thừa nhận một cách tương đối khách quan nền Văn Học Hải Ngoại, mời đọc nhận định của một số nhà nghiên cứu văn học trong nước qua các trích đoạn sau (lưu ý: con số nằm trong ngoặc đơn để chỉ năm bài viết xuất hiện):

Nguyễn Huệ Chi (1994): “Có một dòng văn học Việt Nam hải ngoại hay không? Câu hỏi đó đối với khá nhiều người cầm bút trong nước hôm nay chắc đã không thành một điều trăn trở nữa. Vì lẽ, dù sách báo của người xa xứ gửi về còn rất… thưa thớt, trong chúng ta, mấy ai lại không được một đôi lần ghé mắt vào một số báo Hợp Lưu, Trăm Con, Văn, Văn Học, Văn Uyển, Làng Văn, Đoàn Kết, Diễn Đàn, Thế Kỷ 21… ở đâu đó, dù chỉ một đôi lần. (…) Không nghi ngờ gì nữa, bên ngoài dòng chảy của nền văn học trong nước, trong 18 năm qua vẫn có những dòng chảy khác của văn chương người Việt, phát nguyên từ nhiều chân trời khác nhau. Chúng lặng lẽ và tiềm tàng, từ tốn hay mạnh mẽ, chảy xuyên qua rất nhiều xứ sở, tích lũy trong đó tiếng gào réo của thác của ghềnh, cũng như cả những tiềm năng thanh lọc rất dữ.” [2

Hoàng Ngọc Hiến (2001): “Đánh giá một tác phẩm văn học hải ngoại, câu hỏi đầu tiên là giá trị văn học của nó (nó có đáng là một tác phẩm văn học không?), không mấy ai đặt câu hỏi về tính chất hải ngoại của nó, hoặc đó chỉ là câu hỏi phụ. ‘Văn học Việt Nam hải ngoại trước hết là văn học’ có nghĩa là như vậy.” [3

Vương Trí Nhàn (2003): “Những tìm tòi trong việc mở rộng ngôn ngữ văn chương của các bạn viết đang sống nơi xa, dù thành công, dù thất bại, theo tôi, đều đáng quý. Mặt khác, theo đánh giá của tôi, khi sống ở nước ngoài, cảm hứng về tiếng Việt của một số tác giả càng nhạy bén và chính xác hơn khi họ ở trong nước. Tôi cảm thấy mình có thêm những người đồng hành gần gũi trong những quan sát và tìm tòi ngôn ngữ mỗi khi cầm bút.” [4]

Lý Hoài Thu-Nguyễn Thu Trang (2016): “Phản ánh cuộc sống, thân phận của người Việt xa xứ là một hướng khám phá mang chiều sâu nhân bản. Đọng lại trên từng trang viết, vượt lên mọi biến cố dồn dập, vượt lên cả những bi kịch của sự vỡ mộng, khổ đau, qua những mảnh đời và những năm tháng nhọc nhằn, chúng ta cảm thấu được một tinh thần Việt trong hành trình sống, đối mặt và nếm trải những thăng trầm của đời tha hương. Đó là “kênh giao tiếp” để chúng ta hiểu sâu sắc hơn đời sống cũng như thân phận của người Việt xa xứ – một phần máu thịt của cộng đồng dân tộc. Văn học hải ngoại nói chung và tiểu thuyết với đề tài tha hương nói riêng đang ngày một xác lập vị trí không thể thiếu trong bản đồ văn chương Việt Nam đương đại.” [5]

Thư Vũ (2021): “Văn học di dân ngày nay có thể vẫn còn gây nhiều tranh cãi liên quan đến tính địa-chính trị hay quan điểm cá nhân, nhưng không thể phủ nhận, trong những trang viết của bộ phận văn học này, bản sắc dân tộc vẫn giữ vai trò cốt yếu, đã và đang là một tiếng nói cần được lắng nghe nhiều hơn trong không gian nghiên cứu phê bình đương đại. Đó không chỉ là câu chuyện về tác phẩm nghệ thuật, mà còn là về cuộc đời, về số phận con người.” [6]

Đỗ Thị Phương Lan (2024): “Những trang truyện ngắn đầu tiên ở hải ngoại gần như đều tập trung phản ánh và khắc họa nỗi đau rời bỏ quê hương của những người Việt di tản. Dù ra đi vì lý do gì, nỗi mất mát đớn đau nhất là lạc mất quê hương. […] Bi kịch thuyền nhân với nhiều trang truyện ngắn chân thực và xúc động về những chấn thương vượt biển đã là một trong những nội dung viết đặc thù của nhà văn di dân trong những năm đầu của văn học hải ngoại. Viết về sự kiện thuyền nhân đã khiến cho văn học hải ngoại lớn mạnh thêm về lực lượng cầm bút, sâu sắc thêm về tính nhân văn và đậm tính thời sự về nội dung phản ánh. […] Từ những sự ngẫu nhiên nhưng mang tính quy luật và lịch sử của những dòng chảy xã hội cuộc đời, truyện ngắn Việt Nam hải ngoại nói riêng và tự sự trong nước những năm cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những gặp gỡ bất ngờ và mang tính thời đại ở những cách nhìn nhận và thể hiện về nỗi đau của con người trong văn chương. Từ “chỗ đứng và trạng thái tinh thần” rất riêng của nhà văn di dân, văn học Việt Nam hải ngoại đã góp vào văn học Việt một mạch chảy rất khác biệt của một kiểu “tự sự hiện chứng”, gióng lên tiếng nói nhân bản của những trạng thái tinh thần bị chấn thương từ những bến bờ lạ… ” [7]
Trong lúc đó, một tác giả có bút danh Tao Đàn (2019), dù không phủ nhận, nhưng nhìn văn học hải ngoại với đôi mắt đậm mùi “tuyên giáo”:
“Nhìn nhận một cách công tâm, sự nghi kỵ hay rào cản đặt ra đối với “văn học hải ngoại” thời kỳ đầu cũng không hẳn xuất phát từ tâm lý bài ngoại, nặng nề phân biệt chính trị ở trong nước. Trong giai đoạn từ sau 1975 đến 1980, văn học hải ngoại chủ yếu được viết với tâm thức lưu vong, hằn học dân tộc, bởi chủ thể viết là những quan chức, nhà văn miền Nam đang ân hưởng bổng lộc từ chế độ cũ. Sự chống phá, bôi nhọ cách mạng, xuyên tạc đường lối xây dựng đất nước là hiện trạng đã xảy ra, chúng ta không thể phủ nhận dẫu từ quan điểm nào chăng nữa. Tuy vậy từ sau 1986 đến nay, tâm thế của lực lượng sáng tác mới ở hải ngoại đã khác trước rất nhiều, điều này cũng đòi hỏi những chính sách, quan niệm văn học khác về khu vực này từ phía các cấp quản lí và các nhà nghiên cứu văn học. Nhờ đường lối hội nhập cởi mở, hòa hợp dân tộc, Đảng và Nhà Nước đã dần thu phục nhân tâm, hóa giải đối địch cũ, lấy đại đoàn kết dân tộc làm trọng, đã làm cho hai khu vực văn học trong và ngoài nước xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. […] Văn học Việt Nam ở nước ngoài như vậy, là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của văn học dân tộc Việt Nam.” [8]

Một tác giả khác, Vũ Thành Sơn (2018), thì hơi… mập mờ chữ nghĩa:
“Cũng như có người đã chỉ ra một cách chí lý Việt kiều là khái niệm chỉ một đối tượng không có thực, khi trong thực tế chỉ có người Mỹ, người Úc, người Pháp,… gốc Việt chứ không hề tồn tại cái gọi là Việt kiều. Việt kiều là một khái niệm đã bị chính trị hóa. Văn học hải ngoại cũng không khác: chỉ có tác giả hải ngoại, chứ không hề có văn học hải ngoại. Duy trì danh xưng văn học hải ngoại là một hành động có màu sắc chính trị, để rồi sau đó tiến hành cái gọi là hòa hợp, hòa giải văn học, lại là một hành động chính trị khác. Hãy trả lại cho văn học những gì thuộc về văn học.” [9]

Tương đối khách quan nhất là bài viết của Anatoly Sokolov (2010), một nhà nghiên cứu văn học Việt Nam thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nga. Đây là một trích đoạn:
Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy rằng sách báo của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì có thể dễ dàng tìm thấy trong các thư viện và hiệu sách (chủ yếu của Việt kiều) ở Mỹ, còn tác phẩm của các tác giả người Việt ở hải ngoại thì rất hãn hữu được xuất bản ở Việt Nam, và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này trước hết là nguyên nhân ý thức hệ. […] Nhà thơ Ba Lan nổi tiếng Milos Forman, giải thưởng Nobel, nhiều năm sống lưu vong ở Mỹ và cuối đời đã trở về Tổ quốc, từng nói về số phận của nhà văn lưu vong: “Chúng ta không nghe thấy tiếng nói của nhà văn lưu vong, đó chỉ là một động tác mà thôi”, tức là nhà văn đó và tác phẩm của anh ta trên thực tiễn không đến được với độc giả của mình ở trong nước. Song vào những năm gần đây tình hình trên thế giới đã thay đổi: đã xuất hiện Internet vốn vượt qua những khoảng cách khổng lồ và những biên giới quốc gia. Hiện nay tồn tại không ít kiểu xuất bản Internet, qua đó văn học Việt Nam ở hải ngoại đã tới được Việt Nam. Tất nhiên nó không thể thay thế được kiểu xuất bản in ấn; ngoài ra, ở Việt Nam còn có sự kiểm duyệt khắt khe và sự giám sát của nhà nước đối với Internet vốn có thể cung cấp thông tin và sự tiếp cận với các tác phẩm văn học.” [10]
Nhận xét này từ 2010 vẫn còn đúng cho đến bây giờ. [hp]

[1] Đỗ Minh Tuấn, Văn Học Hải Ngoại Nhìn Từ Trong Nước.
[2] Nguyễn Huệ Chi, Vài Cảm Nhận Văn Học Việt Nam Hải Ngoại.
Tạp chí Văn Học (Hà Nội), tháng 2-1994; in lại ở tạp chí Văn Học (Cali), số 99, tháng 7/1999.
[3] Hoàng Ngọc Hiến.

Trần Doãn Nho

https://damau.org

https://thekymoi.media/author/tran-doan-nho/