Cá nhân độc tài và Đảng độc tài
Trần Trung Đạo
Thỉnh thoảng có một quan điểm cho rằng Việt Nam không cần dân chủ ít nhất trong vài chục năm nữa mà chỉ cần một lãnh đạo yêu nước, sáng suốt, cứng rắn có khả năng đáp ứng với nhu cầu đất nước và biến động quốc tế để tạo sự ổn định và phát triển.
Thoạt nghe, đó là một quan điểm tốt vì ổn định là cần thiết mà ổn định để phát triển đất nước lại càng cần thiết hơn. Việt Nam thật may mắn nếu có một lãnh đạo như thế để đưa đất nước tiến lên trên con đường phát triển và hiện đại hóa.
Tuy nhiên, điều kiện chính trị hiện nay cho thấy không có và không thể có một người như vậy. Việt Nam đang bị cai trị bởi một đảng độc tài toàn trị, không có một kẽ hở nào dành cho sự đóng góp đi ngược với đường lối đảng.
Tập Cận Bình cũng lý luận và chủ trương như vậy nhưng cùng lúc với phát triển kinh tế, tức cho người dân món ăn vật chất, họ Tập xóa bỏ hẳn các khao khát tinh thần mà sáu tỷ người khác ngoài lục địa Trung Quốc đang được hưởng. Con người khác con vật ở chỗ bản năng và lý trí, do đó, chủ trương của họ Tập chỉ có hiệu quả tạm thời. Biến cố Thiên An Môn bùng nổ sau mười năm Trung Cộng phát triển kinh tế vượt bực.
Trong lịch sử nhân loại có một số nhà lãnh đạo cứng rắn với mục đích tạo sự ổn định của đất nước họ trong giai đoạn rất tế nhị và chuyển tiếp như từ đế quốc sang độc lập, từ phong kiến sang cộng hòa.
Những người đó có khi trả giá rất cao cho các chính sách của họ. Nhiều người bị giết qua các cuộc đảo chính lật đổ hay ám sát như trường hợp Phác Chính Hy của Nam Hàn, Anwar Sadat của Ai Cập nhưng cũng có một số ít thành công như Sir Seretse Khama của Botswana, Lý Quang Diệu của Singapore hay Mustafa Kemal Atatürk của Thổ Nhĩ Kỳ.
Điểm khác căn bản đầu tiên là mục đích. Các cá nhân độc tài thường chỉ dựa vào một số chính sách ngắn hạn có tính cách mở đường thôi chứ không dựa vào một hệ thống để thực hiện mục đích muôn năm cai trị bất chấp đà phát triển của văn minh nhân loại.
Mục đích của TT Phác Chính Hy là “phát triển trước, thống nhất sau”, mục đích của TT Mustafa Kemal Atatürk là “ổn định để hội nhập vào trào lưu dân chủ.” Rõ ràng, mục đích của hai vị này vẫn là hướng tới dân chủ tam quyền phân lập nhưng cần một thời gian và không gian để chuẩn bị hành trang sánh vai cùng nhân loại.
Các đảng độc tài toàn trị như đảng CS với các hạn chế do cơ cấu tạo ra không có và cũng không thể có một người trong đảng xứng đáng đứng ngang hàng với những nhà cải cách của Nam Hàn hay Thổ về cả lý thuyết lẫn thực tế.
Sau 1990, Trần Xuân Bách thấy được hướng đi của thế giới nhưng tiếng nói lẻ loi của ông bị cuồng phong CS cuốn đi và bản thân ông bị bộ máy nghiền nát nhanh chóng. Boris Yeltsin chỉ tự do hoạt động khi ông ta rời khỏi đảng CS.
Đảng độc tài CSVN không phải là cá nhân mà là bộ máy, tức cơ chế chính trị. Cơ chế chính trị CSVN với mục tiêu muôn năm cai trị đã được xác định đi và khẳng định lại nhiều lần từ 1930 cho tới nay.
Mỗi khi điều kiện chính trị thế giới thay đổi và tạo nên áp lực, bộ máy chạy khác nhịp, chậm lại một chút nhưng không bao giờ ngưng chạy.
Cơ chế chính trị CS giống như một động cơ có đủ các bộ phận và chức năng để bảo đảm sự hoạt động của bộ máy. Cứ thế, chỉ cần đủ xăng, đủ dầu, đủ nhớt là bộ máy chạy. Bộ máy sẽ chạy cho tới khi có một lực cản buộc nó ngừng chạy vì gây ra quá nhiều tai nạn, hay chạy cho tới khi hết xăng dầu. Trường hợp hết xăng dầu rất ít vì lúc nào cũng có một bộ phận nô dịch tình nguyện làm xăng dầu, làm phên dậu.
Các thế hệ CS cai trị giống như những người được thừa hưởng đất hương hỏa của ông bà để lại, ngoại trừ làm hề và làm biếng, họ không làm gì cả, chỉ sống và thu hoạch hoa màu.
Một trong những bộ phận chính giúp bộ máy chạy từ đời này qua đời nọ là hệ thống lý luận và tuyên truyền. Đây là thanh gươm giết người không gớm tay và là bộ phận nguy hiểm nhất.
Sau 1990, ở Châu Âu, nhân loại đã bừng tỉnh, các nhà sử học, các nhà thống kê có cơ hội đánh giá những thiệt hại của nền văn minh con người do ý thức hệ Cộng Sản gây ra. Các sử gia cũng chứng minh rằng chuyện giết người không gớm tay của các lãnh tụ Cộng Sản chẳng phải là tình cờ hay ngẫu nhiên, cũng chẳng phải phát xuất từ bản chất hung ác riêng của họ mà là một đặc điểm mang tính triết học trong hệ tư tưởng Cộng Sản và thực tế chính trị tại các quốc gia Cộng Sản. Lý luận CS giúp cho họ ăn ngon và ngủ yên mà không bị cảm thấy lương tâm cắn rứt sau khi làm công việc giết người tập thể.
Trong thời gian qua, có người kêu gọi đảng CSVN đổi lại danh xưng cũ là đảng Lao động Việt Nam hay đặt một tên nào khác cho dễ nghe. Dù biết đó chỉ là bình mới rượu cũ nhưng đảng cũng không chấp nhận.
“Cộng sản” không chỉ là danh từ mà còn là động từ và tĩnh từ. Nó hàm chứa các đặc điểm của một cơ chế tàn bạo về hình thức lẫn nội dung, về lý luận lẫn thực tế. Giới cai trị biết rằng chỉ hai chữ “Cộng sản” thôi đủ làm người dân Việt Nam mất ăn mất ngủ.
Bản thân của hai chữ “Cộng sản” là một vũ khí kinh người, một mối lo sợ ám ảnh thường trực trong tâm trí người dân Việt. Do đó, việc duy trì tên đảng CSVN là cách để cảnh cáo nhân dân Việt Nam rằng nhà tù vẫn còn đó, súng đạn cũng còn đó, các biện pháp trừng phạt không thương xót, những cách trả thù ghê rợn vẫn còn đó.
Mặc dù các lãnh đạo Cộng Sản thuộc thế hệ 1954 còn đang cầm quyền, con cái và tay chân thân tín, trung kiên đã được đào tạo và cắt cử vào các chức vụ quan trọng trong bộ máy cai trị.
Đặc tính kế thừa trong chế độ Cộng Sản là một tiến trình chọn lọc hết sức tinh vi và cẩn trọng. Họ có thể tranh chấp nhau, phê bình nhau, hạ bệ và thậm chí thanh trừng nhau nhưng giữa họ vẫn có một mẫu số chung căn bản đã đồng thuận từ khi đưa tay tuyên thệ và một quyền lực phải được bảo vệ bằng mọi giá, đó là vai trò lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Vai trò của đảng ngày nay không chỉ đại diện cho ý thức hệ, cho quan điểm chính trị nhưng cụ thể hơn, đại diện sự giàu sang phú quý mà họ đang hưởng thụ, cho nhà cao cửa rộng mà họ đang sở hữu.
Phân tích như vậy để cùng thấy rằng, đất nước đến nay vẫn chưa có một hướng đi đích thực, hướng đi có thể dẫn đến một Việt Nam như cường quốc kinh tế nổi bật vùng Đông Nam Á, một xã hội tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người và một nền văn hóa tươi đẹp nhờ vào các giá trị đặc thù của dân tộc đồng thời phát triển hài hòa vào dòng văn minh nhân loại.
Nói một cách khác, ngày nào cơ chế chính trị độc đảng, độc tài, độc quyền như hiện nay tại Việt Nam chưa được thay đổi ngày đó sẽ không có một hướng đi đích thực nào dành cho dân tộc Việt Nam.
Việt Nam sẽ không bao giờ trở thành hưng thịnh như Nam Hàn, Đài Loan, Mã Lai hay tương đối ổn định như Thái Lan, Philippine nếu nhân dân Việt Nam không đập vỡ được chiếc vỏ sắt đang siết chặt họ.
Đừng ngồi chờ hay hy vọng đảng CS sẽ tự thay đổi. Trong lịch sử phong trào CS quốc tế, chưa có một đảng CS nào tự chuyển hóa từ độc tài toàn trị sang tam quyền phân lập để phục vụ cho quyền lợi của nhân dân.
Nhìn lại tám nước CS Đông Âu, mười lăm nước “cộng hòa xã hội chủ nghĩa” thuộc Liên Sô, trong đó có ba nước vùng Baltic, CS Ethiopia ở Phi Châu, CS Mông Cổ ở Á Châu, tất cả đều sụp đổ do cách mạng dân chủ.
Cách mạng có thể ôn hòa như tại Hungary, Tiệp Khắc hay đẫm máu như tại Romania, tùy thuộc vào áp lực của nhân dân hay mức độ ngoan cố của giới cầm quyền, nhưng đều là cách mạng.
Mikhail Gorbachev được xem như là người đã mang tự do dân chủ đến cho các nước “cộng hòa xã hội chủ nghĩa” thuộc Liên Sô, nhưng đừng quên ông đã áp dụng nhiều cách vẫn không cứu được đảng.
Chiều ngày 25 tháng 12, 1991, Mikhail Gorbachev từ chức chủ tịch Liên Sô giữa sự thờ ơ của đa số dân Nga và các nước trong khối Liên Sô. Bởi vì cách mạng dân chủ đã diễn ra khi Boris Yeltsin đứng trên xe tăng trước Quốc Hội Nga ngày 19 tháng 8, 1991. Lịch sử Nga đã sang trang từ hôm đó chứ không phải đợi tới ngày 25 tháng 12, 1991 khi Gorbachev từ chức.
Bắt đầu từ đâu?
Trước hết phải từ người đặt câu hỏi. Chỉ có những người yêu nước bằng một tình yêu trong sáng, một quan điểm chính trị dứt khoát mới làm được công việc tháo gỡ cơ chế CS và đưa đất nước đi lên.
Thời đại nào và quốc gia nào cũng cần có một tập thể những người vượt qua được chính mình và thấy được nhu cầu đích thực của đất nước. Quần chúng đông đảo sẽ tự động đứng dậy đi theo.
Đừng nói chi là Việt Nam, nước Đức sản sinh ra nhiều thiên tài khoa học và văn hóa, nhưng đại đa số dân Đức thời đệ nhị thế chiến cũng đã bị bộ máy tuyên truyền Đức Quốc Xã vận dụng tâm lý dễ dàng.
Sử gia Richard Overy trong tác phẩm “The Dictators: Hitler's Germany and Stalin's Russia” đối chiếu tâm lý người dân Đức thời Hitler và Liên Sô thời Stalin, cho thấy Hilter được dân chúng Đức ủng hộ cao nhất khi Đức chiếm Paris và Stalin được dân chúng Liên Sô ca ngợi nhiều nhất trong thời kỳ Khủng Bố Đỏ (Red Terror) 1936-1937. Cả hai hành động đều là tai họa của nhân loại nhưng không hẳn phản ảnh đúng trong nhận thức của người dân thường, những người dễ bị lung lạc và vận dụng.
Tại Việt Nam hôm nay, nếu ai đó lên các thôn làng vùng núi cao, xa xôi hẻo lánh mời người dân địa phương một bữa cơm thịnh soạn với cao lương mỹ vị từ nhiều nơi trên thế giới nhưng trong đó lại có một đĩa cá rô chiên dầm mắm tỏi ớt, chắc chắn họ sẽ ăn hết con cá rô chiên “ổn định” ngay và không dám đụng tới cao lương mỹ vị “dân chủ” xa lạ kia.
Gạt thành phần phên dậu qua một bên, trách nhiệm của một người Việt ý thức có khả năng hướng dẫn dư luận, do đó, đừng để chính mình rơi vào chiếc bẫy “ổn định” của đảng mà phải vạch ra cho người dân biết để họ từ bỏ thói quen vâng lời đảng, vươn qua cánh cửa hẹp của cuộc đời họ để tiếp xúc với những cái hay, cái đẹp, cái mới, vươn lên cùng nhân loại vì tương lai của họ và con cháu họ.
Con đường đạt đến dân chủ cho Việt Nam không ai nói sẽ dễ dàng hay sẽ đến nay mai mà có thể sẽ khó khăn và còn dài. Nhưng khó hay dài đều bắt đầu và tùy thuộc vào nỗ lực của mỗi người Việt Nam. Phương pháp của một người đang hoạt động trong vòng cơ chế sẽ khác với phương pháp của một người đấu tranh bên ngoài cơ chế, nhưng nếu họ có cùng mơ ước về một Việt Nam tự do dân chủ rồi một ngày họ sẽ gặp nhau. Hãy nỗ lực cho ngày đẹp trời đó.
Trần Trung Đạo
(Trích trong Chính Luận Trần Trung Đạo)
https://www.facebook.com/trantrungdao/?locale=vi_VN
“Status Quo” trên biển Đông là gì?
Trần Trung Đạo
(Bài này còn có tựa “Tập Cận Bình Chủ Trương Độc Chiếm Biển Đông”)
Người viết xin lỗi dùng tiếng Latin trong bài viết nhưng mục đích là để bàn về khái niệm này trong chủ trương của Tập Cận Bình trên Biển Đông.
Ngôn ngữ Latin có một danh từ kép đã trở thành quen thuộc và được dùng nhiều trong chính trị học là “status quo.” “Status quo” chỉ tình trạng của các điều kiện thực tế trước khi có sự thay đổi.
“Status quo” trong sinh hoạt xã hội
Vào thế kỷ thứ 14, danh từ này dùng để chỉ tình trạng hòa bình trước khi chiến tranh bùng nổ giữa hai nước nhưng dần dần được áp dụng trong hầu hết các lãnh vực. Trong các cuộc thảo luận hay tranh luận các bên thường có khuynh hướng chấp nhận một “status quo” và đôi khi còn được xem đó như là một giới hạn mà nếu bị vượt qua sẽ tạo nên nhiều bất trắc.
Trong nhiều trường hợp “status quo” còn dùng để chỉ một tình trạng xã hội tiêu cực, lạc hậu. Khẩu hiệu của các phong trào cách mạng xã hội trong thế kỷ 17 và thế kỷ 18 nhằm thay đổi “status quo” qua đó hạn chế quyền của thiểu số như các quyền dành cho phụ nữ, quyền bầu cử, ứng cử và các tiêu chí xã hội thành văn hay bất thành văn.
Trong đàm phán chính trị, khi hai bên đồng ý duy trì “status quo” có nghĩa là hai bên chấp nhận tình trạng hiện đang là của một điều kiện về quân sự, địa lý, xã hội hay chính trị.
“Status quo” trong hai cuộc chiến tranh thế giới
Việc chấp nhận “status quo” thường diễn ra trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ. Lý do, cả hai bên tranh chấp đều muốn phần lợi về mình nhưng đều không đủ bằng chứng thuyết phục bên kia hay quốc tế và cuối cùng chấp nhận tình trạng thực tế và chỉ thảo luận vào các điểm mới thôi.
Trong thế kỷ hai mươi, trải dài suốt hai thế chiến, “status quo” được sử dụng nhiều nhất trong tranh chấp lãnh thổ tại Châu Âu. Sau Thế Chiến thứ Nhất, các quốc gia bại trận trong đó có Đức mất phần lớn lãnh thổ chiếm được trong các cuộc chiến tranh trước đó, bao gồm chiến tranh Pháp-Phổ. Sau khi lên nắm quyền, mục đích đầu tiên của Hitler là phục hồi lãnh thổ mà ông ta cho là vùng sinh tồn của Đức (Lebensraum)
Các nước mạnh, tự mình hay qua hình thức liên minh, đều nhắm tới việc hủy bỏ các “status quo” và thiết lập các “status quo” mới có lợi cho họ. Đức chiếm Tiệp Khắc. Ý chiếm Albany. Liên Xô tìm cơ hội mở rộng vùng ảnh hưởng phía Tây. Hiệp ước bí mật Bất Tương Xâm (German-USSR Non-Aggression Pact) giữa Đức Quốc Xã và Liên Xô năm 1939 âm mưu chấm dứt “status quo” lãnh thổ và xẻ châu Âu làm hai, mỗi bên chiếm một phần. Đức chiếm Tiệp Khắc, Ba Lan, Liên Xô chiếm một phần Ba Lan và các quốc gia Baltic (Estonia, Latvia, Lithuania). Sau Thế Chiến thứ Hai, Stalin lẽ ra phải bị xử như một tội phạm chiến tranh, tuy nhiên, kẻ thắng trận bao giờ cũng đóng vai quan tòa và tội ác của quan tòa thường bị bỏ qua hay che lấp.
Anh và Pháp muốn bảo vệ “status quo” của Châu Âu nên đã nhiều lần lên tiếng phản đối hành động của Đức, Ý khi vi phạm một cách trắng trợn chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia nhỏ yếu bị xâm lược. Tuy nhiên, Anh và Pháp, ngoài những lời tuyên bố và biểu dương lực lượng qua vài cuộc tập trận nhỏ, không có một hành động quân sự cụ thể nào chứng tỏ quyết tâm bảo vệ nguyên trạng lãnh thổ Châu Âu như đã phân định trong hiệp ước Versaille.
Chính sách chuột đồng của Trung Quốc
Mặc dù bộ máy tuyên truyền Trung Quốc luôn rêu rao chủ quyền Biển Đông không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã chứng minh qua hai ngàn năm lịch sử, giới lãnh đạo CSTQ cũng biết những lý luận đó chỉ để đun nồi nước sôi dân tộc cực đoan Đại Hán chứ không thể dùng để thuyết phục các quan tòa một khi cuộc tranh chấp được đưa ra trước một tòa án quốc tế.
Bằng chứng, tháng 1 năm 2013, chính phủ Philippines chính thức đệ trình hồ sơ kiện Trung Quốc trước Tòa Án Quốc Tế. Hồ sơ của Philippines nộp lên gồm mười bộ với gần bốn ngàn trang tài liệu chứng minh chủ quyền của Philippines và phản bác các luận cứ cũng như quan điểm đường lưỡi bò chín đoạn của Trung Quốc. Trung Quốc từ chối tranh tụng trước tòa.
Chính sách truyền thống của Trung Quốc là gặm nhắm từng phần của Biển Đông. Sau Hoàng Sa, tháng 8 năm 1988, lần đầu tiên Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa sau trận Gạc Ma. Từ năm 1989 đến năm 1992, Trung Quốc chiếm một số đảo nhỏ khác của Trường Sa. Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc chiếm đảo Vành Khăn (Mischief Reef) và một đảo khác do quân đội Philippines đóng.
Tập Cận Bình, một Mao mới trong thời đại toàn cầu hóa
Nhà bình luận Doug Bandow của Newsweek đưa ra câu hỏi liệu Tập Cận Bình sẽ trở thành một Mao thứ hai không phải là không có lý do.
Khác với các lãnh tụ CSTQ sau Mao, Tập Cận Bình là nhà độc tài đầy tham vọng quyền lực. Nạn sùng bái cá nhân tại Trung Quốc tạm lắng trong ba chục năm qua đã bắt đầu tái phát. Bộ máy tuyên truyền CSTQ đang đánh bóng họ Tập như một lãnh tụ có quyền hạn tối thượng và tuyệt đối trong tập thể lãnh đạo Trung Quốc. Báo chí bắt đầu gọi y là “Lãnh tụ Trung tâm” (The CORE), một danh hiệu chỉ dành để chỉ Đặng Tiểu Bình.
Trong một bài bình luận đầu tháng Hai năm 2016 trên The New York Times, nhà bình luận Chris Buckley nhắc đến sự kiện ngày càng đông các lãnh đạo địa phương tuyên bố trung thành với họ Tập. Vai trò lãnh đạo tập thể của Ban chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị và Ban Thường trực Bộ Chính trị bị đặt qua bên. Lãnh đạo mới được hiểu theo hình tháp và trên đỉnh là duy nhất Tập Cận Bình giống như trước đây chỉ có Mao.
Quách Kim Long (Guo Jinlong) tân bí thư thành ủy Bắc Kinh vừa tuyên bố một câu rùng rợn trên Bắc Kinh Nhật Báo, “Trật tự thế giới mà chúng ta sống đang tiến hành một sự điều chỉnh và về đối nội, đây là giai đoạn quan trọng của những thay đổi sâu sắc. Hơn bao giờ hết, chúng tôi cần một lãnh đạo tối cao.” Cho đến nay, ít nhất 14 trong số các lãnh đạo cao cấp của đảng tuyên thệ trung thành trước họ Tập.
Việc các viên chức cao cấp Trung Quốc tuyên thệ trung thành, thoạt nhìn chỉ là chuyện nội bộ của Trung Quốc, tuy nhiên, điều này cũng nhắc lại sự kiện các viên chức cao cấp và tướng lãnh Đức phải tuyên thệ trung thành với Hitler khi ông ta vừa nhậm chức Quốc Trưởng Đức và sau đó phát động chiến tranh thế giới. Không phải nhân dân Trung Hoa mà nhân dân các nước nhỏ láng giềng như Việt Nam, Philippines sẽ là những nạn nhân đầu tiên của “Lãnh tụ Trung tâm” này.
Tập Cận Bình muốn thiết lập một “status quo” mới trên Biển Đông
Theo Andrew Chubb trong một phân tích khá chi tiết trên The Diplomat, The South China Sea: Defining the 'Status Quo', trước 2013, khái niệm “status quo” rất ít được sử dụng. Phía Trung Quốc chẳng những không dùng mà còn kết án.
Lý do?
Trong tình trạng hiện nay của quần đảo Trường Sa, số lượng đơn vị đảo do Trung Quốc chiếm (5 đơn vị) vẫn còn ít hơn số đảo Việt Nam đang giữ (21 đơn vị). Đơn vị được xác định theo tiêu chuẩn đảo, vùng đá nổi hay vùng đá chìm. Nếu một “status quo” chỉ dựa trong tình trạng hiện nay, chắc chắn không phải là một hiện trạng mà Trung Quốc muốn.
Trung Quốc có ý định phá vỡ “status quo” đang có để thiết lập một “status quo” mới phù hợp với quan điểm bành trướng đã phác họa trong “đường lưỡi bò 9 đoạn” và sau đó vào tháng 6, 2014 lại tự ý bổ sung thêm một đoạn nữa. Trung Quốc tuyên bố khoảng 90% Biển Đông thuộc về Trung Quốc và đó cũng là “status quo” mới mà Tập Cận Bình đang nhắm tới.
Để đạt được “status quo” mới đó, Tập Cận Bình đưa ra chủ trương gồm hai mặt. Mặt đối ngoại, Tập Cận Bình kêu gọi các bên tranh chấp tự chế các hành động quân sự và giải quyết mọi xung đột bằng các phương tiện hòa bình. Mặt đối nội, họ Tập chỉ thị cấp tốc quân sự hóa các vùng đã chiếm được. Thoạt nghe, hai mặt, vừa thảo luận song phương hòa bình mà vừa lại quân sự hóa, dường như mâu thuẫn. Không, với họ Tập chủ trương hai mặt lại hỗ trợ cho nhau một cách hữu hiệu. Các cường quốc cũng như các nước đang tranh chấp không có một phản ứng thích hợp trước các hành động bành trướng ngang ngược của Trung Quốc.
Tập Cận Bình thúc đẩy “status quo” mới không chỉ bằng số lượng đảo chiếm được hay mở rộng vùng biển rộng mà còn qua mức độ của việc xây dựng các đảo nhân tạo, phi trường, công trình dân sự, quân sự. Những phát triển này bị Hoa Kỳ kết án là vi phạm “status quo.” Lãnh đạo Trung Quốc lý luận việc xây dựng các phương tiện dù dân sự hay quân sự cũng chỉ xây dựng trên “lãnh thổ” Trung Quốc như họ đã làm từ nhiều năm nay chứ không xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào và lập đi lập lai sẽ không dùng các phương tiện này để xâm lược các quốc gia khác.
Tập Cận Bình quân sự hóa Biển Đông
Việc Trung Quốc quân sự hóa những vùng chiếm được trên Biển Đông đã quá rõ ràng. Đô Đốc Harry Harris, Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương của Mỹ xác nhận “Điều đó quá rõ, trừ phi bạn nghĩ rằng trái đất nầy là một mặt bằng, bạn mới nói là là không.” Đô Đốc Harry Harris cũng tin rằng Trung Quốc đã đặt các giàn hỏa tiễn địa không trên đảo Woody (Phú Lâm). Sau hỏa tiễn, Trung Quốc phối trí các phi cơ chiến đấu cũng trên đảo Phú Lâm. Khác với những lần trước, lần này có vẻ các chiến đấu cơ này sẽ là phần của căn cứ không quân thường trực.
Sự hiện diện quân sự của Trung Quốc hiện nay trên Biển Đông chưa phải là một đe dọa trực tiếp đối với an ninh và quyền tự do hàng hải của Mỹ. Với sự chênh lệch còn quá xa về kỹ thuật và phương tiện chiến tranh nghiêng về phía Mỹ, nếu một xung đột quân sự xảy ra, những giàn hỏa tiễn và vài chiến đấu cơ đó sẽ nằm trong đáy biển trong vòng vài phút.
Tuy nhiên, với các quốc gia nhỏ trong vùng, sự hiện diện của chúng là những đe dọa trực tiếp. Sự ràng buộc và phụ thuộc vào nhau trong quan hệ kinh tế thương mại vô cùng sâu sắc và phức tạp giữa các cường quốc trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay, khả năng để Hoa Kỳ có thể can thiệp vào các xung đột giữa hai nước sẽ rất thấp.
Biết điều đó nên lập trường giải quyết xung đột của Trung Quốc từ trước đến nay vẫn là giải quyết song phương thay vì đa phương để nếu có leo thang cũng chỉ leo thang giữa hai nước. Không có liên minh quân sự, Việt Nam hay Philippines đều không phải là đối thủ của Trung Quốc.
Ngoại Trưởng Trung Quốc Vương Nghị nói rằng việc Trung Quốc phối trí quân sự trên Biển Đông cũng không khác gì Mỹ phối trí quân sự trong khu vực Hawaii. Câu nói ngang ngược và ngu xuẩn vì không có nước nào tranh chấp chủ quyền với một tiểu bang của Hoa Kỳ, nhưng phản ảnh chủ trương của Tập Cận Bình không chỉ lấn chiếm mà còn dân sự hóa, quân sự hóa lâu dài, nói rõ hơn là thiết lập một “status quo” mới trên Biển Đông và đặt không chỉ riêng Hoa Kỳ mà cả thế giới trước một tình trạng đã rồi.
Rất tiếc, như lịch sử thế giới đã chứng minh, các thay đổi “status quo” về lãnh thổ đều dẫn đến chiến tranh. Con đường thoát duy nhất mà một nước nhỏ, trong trường hợp này là Việt Nam, phải chọn là thực hiện cho bằng được các điểm mà Trung Quốc né tránh và khai thác tối đa các điểm yếu của Trung Quốc, trong đó có (1) dân chủ và hiện đại hóa đất nước, (2) nhanh chóng chiến lược hóa vị trí Việt Nam, (3) liên kết với các nước bất đồng quyền lợi với Trung Quốc để bao vây và cô lập Trung Quốc, và (4) chuẩn bị chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
Trần Trung Đạo
(Trích trong Chính Luận Trần Trung Đạo)
https://www.facebook.com/trantrungdao/?locale=vi_VN
Đăng ngày 8 tháng 4.2026
