banner

Sau 15 năm hoạt động (2008-2023), website Ái hữu Đại học Sư Phạm Sài gòn tạm ngưng việc đăng thêm bài vở và tin tức.

Độc giả muốn lưu giữ bài viết và hình ảnh để làm tư liệu, xin vui lòng truy cập vào các tiết mục đã đăng trên trang web để download.

Xin chân thành cảm tạ sự hợp tác của tất cả các tác giả và độc giả đã dành cho trang web.

20.07.2023
Admin Website Ái hữu Đại học Sư phạm Sàigòn

Văn thơ chữ Hán
và tinh thần yêu nước chống ngoại xâm

 

 

ngocdung

 

Đỗ Quyên là bút hiệu của Nguyễn thị Ngọc Dung, tốt nghiệp ban Việt Hán - Đại học Sư phạm Huế. Bà đã giảng dạy tại trường Nữ Trung học Nha trang Võ Tánh và trường Ngô Quyền (Biên hòa).

Định cư tại Canada từ năm 1983.Tốt nghiệp Cao học Giáo dục tại Đại học Ottawa về ngành counselling. Hiện làm "cố vấn tâm lý gia đình" tại cơ quan MOSAIC, Vancouver.

 

 

Đỗ Quyên

Như đã trình bày ở một bài trước, trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam ta bị ngoại bang xâm lấn, vua tôi đã dốc một lòng, ra tay cứu nước. Và lich sử cũng đã hơn một lần chứng minh, tinh thần đề kháng của dân tộc ta rất cao. Mặc dù trong thời kỳ đô hộ đó, nước ta bị ảnh hưởng Tàu về nhiều phương diện, nhưng dân ta đã biết "khôn khéo" sàng lọc lấy cái hay, giữ làm vốn liếng, để biến nó thành hữu dụng. Ngay cả trong lãnh vực tiếng nói và chữ viết cũng vậy, người Việt ta đã biết cách chuẩn bị để đối phó với Tàu, để chứng tỏ tinh thần tự trọng, và thái độ hiên ngang của mình, trong trường hợp cần thiết, khiến đối phương phải kiêng nể.

Hẳn quý độc giả vẫn còn nhớ một sự kiện khó quên là chữ Hán đã "xâm nhập" từ lâu vào văn hoá Việt, chữ viết cũng như tiếng nói,  từ thời Bắc thuộc , dù muốn dù không. Ảnh hưởng sâu đậm đến độ nhiều khi ta không phân biệt được, đâu là tiếng Việt, đâu là tiếng Hán. Chỉ nguyên những ngôn ngữ hàng ngày thôi, (chứ chưa nói đến những tài liệu về hành chánh hay thư từ ngoại giao, là một thể loại văn chương cần những lới lẽ trịnh trọng ("formal"). Một ví dụ, trong câu nói bình thường như "Xã hội Việt Nam hiện đaị có rất nhiều nhu cầu và vấn nạn cần được giải quyết" (có cả thảy16 chữ thì đã có đến 12 chữ là chữ Hán - những chữ này đã được dùng làm tiếng Việt của ngưòi Việt (Việt hoá) và khi nóí lên ai cũng hiểu.

Và, nếu truy nguyên thêm, thì chính những chữ dùng phổ biến hàng ngày như gia đình, học đường, xã hội, quốc gia, dân tộc, môi trường, đại học, trung học, tiểu học v.v...đều là chữ Hán cả. Nhưng là chữ Hán do người Việt dùng (nên còn gọi là chữ "Hán Việt"). Ngay cả nhân danh, địa danh, chữ Hán cũng chiếm đa số. Những khái niệm về đạo đức như "Công, "Dung", "Ngôn', "Hạnh" mà người Viẹt dung cũng từ chữ Hán mà ra; đồng thời, những tên gọi cũng thế (Mai, Lan, Cúc , Trúc , Đào, Mai v..v….Các cụ ta xưa kể cũng “khôn ngoan”. Dùng nguyên cả chữ lẫn nghĩa của chữ Hán cho tiện vì những chữ này nếu đem dịch ra nghĩa đen của những chữ này ra tiếng Việt thuần tuý thì sẽ dài lê thê, các cụ "chả phải vạ". Những ví dụ thì nhiều không kể "xiết". Nào là Hồng Hà (sông có nước màu đỏ), Cửu Long (9 con rồng"), Thăng Long (rồng bay) v.v... Mấy ai để ý rằng những chữ đó vốn là những chữ Hán mà ra. Va ai dám bảo là chữ Nôm thuần túy đã là đủ. Ngay cả hai chữ "Việt Nam" yêu dấu của ta lại cũng xuất xứ (danh từ "xuất xứ" này cũng là chữ Hán mới "phiền" chứ! "Phiền" mà không phiền. có lẽ phảinói là vui, vì ta đã “lợi dụng” những danh từ này đã từ lâu đời, lâu kiếp, làm từ của mình).

Chúng ta ai cũng biết là ở đời hễ có vay mượn thì có trả. Nhưng có những cái "mượn" mà không cần phải trả, mà cũng không sợ bị ... đòi. Đó là trưòng hợp tiếng Việt Nam ta. Ngôn ngữ, văn tự một khi đã mượn, đã dùng làm phương tiện, nhất là lại đã được Việt Nam hoá thì chả tội gì ta phải trả lại. Người Trung Hoa cũng không "đòi" lại, thì tại sao ta phải "trả" ? (Đối với hai chữ "Việt Nam" thì "Việt nghĩa là "vượt". "Nam" phương Nam. Cả nguyên ý là những người (tiến) vượt về phương Nam để định cư) chính là người Việt ta ngày nay. Như thế thì dù bị “thiệt thòi” vì bị đồng hoá lúc đầu, dân ta vẫn "vùng lên", chứ có chịu thua "ai" đâu? Dân ta vẫn là dân Việt, và danh từ "Việt Nam" vẫn là tên gọi của nước ta. Không phải là củaTàu, dù rằng trong hoàn cảnh ấy, ta phải tạm dùng thứ chữ của họ.  Nay xét cho cùng, cũng chẳng thiệt thòi gì...

Tình trạng ảnh hưởng về ngôn ngữ này là tình trạng chung cho nhiều nước, không riêng gì nước Việt Nam ta. Nhật Bản, Đại Hàn chẳng hạn, trong chữ viết của họ không thiếu gì chữ Hán.  Nước ta cũng không tránh khỏi việc "chung đụng" với Hán tự. Điều này dễ hiểu. Nước ta đã mấy ngàn năm bị đô hộ bởi Tàu, bị "nhiễm" khá nhiều ảnh hưỏng, cả về văn hoá, phong tục cho đến ngôn ngữ. Nhưng nói thế không phải “nhất nhất” cái gì cũng đều chịu ảnh hưỏng Tàu. Hơn nữa, văn hoá nào cũng có cái "trùng hợp" giống nhau, mà các nưóc lân cận ở châu nào cũng không tránh khỏi ảnh hưỏong của “nưóc láng giềng”. Và điều này không đáng để ta phải bận tâm.

Trong lịch sử, dân ta đã nhiều lần nổi lên chống lại sự đô hộ của Tàu.  Dưới ách thống trị ấy, dân ta chắc chắn phải chịu ảnh huởng ít nhiều bởi chính sách đồng hoá của họ, về nhiều phương diện, kể cả ngôn ngữ, phong tục, cách ăn mặc, lối suy nghĩ v.v...Nhưng không vì thế mà ta bị mất gốc. Trái lại, chính vì biết chữ Tàu mà ông cha ta có thể xử dụng nó làm vũ khí cho mình, để, khi cần, có thể đối đáp với "chúng", khiến chúng phải... gờm : Một hình thức phản kháng hữu hiệu, đem "gậy ông đập lưng ông", khi ông cha ta ..."không còn gì để mất".

Ấy thế mà nhiều phen người mình đã khiến quân Tàu phải nể phục.

Chúng ta chưa quên một danh tuớng nhà Lý, LýThuờng Kiệt, khi vừa đánh bại quân Chiêm và phá tan quân nhà Tống, thế kỷ 12, 13 đã dùng những lời lẽ dõng dạc, đanh thép vừa để đuổi quân xâm luợc, vừa xác định chủ quyền của đất nước ta:

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư "

(Đất nước Việt Nam vua Nam ở, Rành rành định phận tại sách trời)

Hai câu tiếp theo, vỏn vẹn cũng chi có 7 chữ đã gói ghém trọn cái ý muốn nhắn nhủ cho quân giặc biết rằng:

"Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"
(Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm? Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Bài thơ ngắn, gọn, nhưng đủ mạnh để làm quân sĩ lên tinh thần và làm quân giặc nể sợ.

Bài này hầu như người dân Việt ta ai cũng đều đã biết cả, có nhắc lại cũng dễ trở thành "nhàm" nhưng người viết vẫn thấy cần thiết phải nhắc lại, với tất cả niềm thán phục và tự hào. Nhất là trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam hiện nay: Một tinh thần bất khuất, vô uý trước ngoại xâm là rất cần thiết .

Lại nữa, không thiếu gì trong văn chương cũng như lịch sử, những bậc tài hoa nổi tiếng uyên bác về văn chương chữ Hán, luôn chứng tỏ cho ngoại bang biết cái "dũng" của một ngưòi VN yêu nước, là cương quyết không chịu sống hèn. Dùng văn chuơng chữ Hán đễ đối phó với quân Tàu rõ ràng đã có một hiệu quả cao.  Một Trần Hưng Đạo thủa trước với "Hịch Tướng Sĩ Văn", khích động lòng quật khởi, làm phấn chấn tinh thần quân sĩ; một Nguyễn Trãi với "Bình Ngô Đại Cáo" nói lên hùng khí của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước và có tác dụng đấu tranh...

Tất cả những sự kiện đó cho thấy dân tộc ta, cha ông ta đã không chỉ đánh giặc bằng súng ống, mà còn bằng ngôn ngữ, văn tự. Người xưa đã lấyngôn ngữ- dù có bị ảnh hưởng Tàu đi nữa, làm phương tiện để bày tỏ tư tưởng của mình - làm vũ khí để đối lại với địch . Đó chính là bản sắc của dân tộc Việt; và chính vì thế mà chúng ta không mất gốc... Phải chăng đó chính là niềm tự hào cho dân tộc ?

Trong lịch sử văn học VN, chúng ta hẳn cũng chưa quên một nữ lưu tài sắc vẹn toàn, từ cuộc đời, lối hành xử, cho đến đức độ đã để lại tiếng khen cho người đời. Người viết cũng từng được nghe những giai thoại văn chương rất lý thú về bà. Đó là Bà Đoàn thị Điểm. Qua tài đối đáp bằng chữ Hán, nữ sĩ họ Đoàn- với danh hiệu là "Hồng Hà Nữ Sĩ" đã chứng tỏ một phẩm chất thông minh, một tư cách cao quý và thái độ đưòng hoàng, thẳng thắn. Tuy chân yếu tay mềm nhưng không hề tỏ ra run sợ, khiếp nhược trước kẻ ngoại bang. Giai thoại văn chương về nữ sĩ họ Đoàn không phải chỉ có một, nhưng ở đây ngưòi viết chỉ xin giới hạn ở một khía cạnh là văn chương chữ Hán và tác dụng tranh đấu của nó. 

Tương truyền rằng vào thời vua Lê,  nhân một dịp có sứ giả Trung Hoa sang nước ta, bà Đoàn Thị Điểm có dựng một quán nước bên đường, với dụng ý thử tài văn chương của các sứ giả Tàu. Một hôm, có sứ giả Tàu vào quán uống nưóc, biết bà chủ quán cũng là một bậc nữ nhi có nhan sắc, nên đã ra một câu đối có ý trêu chọc bà như sau: “An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh” nghĩa là “Nước Nam nhỏ bé một tấc đất, chẳng biết có mấy người cày” (xin hiểu theo nghĩa bóng).

Bà Đoàn Thị Điểm liền ứng khẩu ngay “ Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất ”, nghĩa là “các vị đại trượng phu Nước Bắc (Trung Hoa) đều từ con đường đó mà chui ra cả”. Chữ "đồ" của bà Đoàn thị Điểm dùng cho cả hai nghĩa. Với nghĩa đen là: "Các bậc đại trượng phu phương Bắc (Trung Hoa) đều do "con đường ấy" mà vào nưóc Viêt Nam (Chữ "đồ" nghĩa đen là "con đường"). Nhưng nghĩa bóng lại ám chỉ tất cả các đại trượng phu của Trung Hoa đều xuất xứ từ đó mà ra. (Chính nghĩa bóng của câu này mới là quan trọng. Xin hiểu chữ "đồ" ở đây theo nghĩa bóng của miền bắc).

Câu hỏi của sứ giả Tàu hàm ý vửa thanh, lại vừa tục thì câu đối đáp của bà Đoàn Thị Điểm cũng vừa "tục", lại vừa "thanh". Đó là về ý. Còn về lời, thì cũng đối rất chỉnh. Chẳng hạn, trong câu trả lời đối lại, bà Điểm đã dùng chữ "Bắc quốc": để đối với "An Nam". Nhóm chữ "chư đại phu"(các đấng đại trượng phu) để đối với nhóm "nhất thốn thổ"(một tấc đất) của An Nam thật là tuyệt.

Câu đáp lại của bà Đoàn Thị Điểm đã khiến cho sứ giả Tàu vừa thẹn vì nghĩa bóng của câu đối, vừa phục tài của một phụ nữ Việt Nam. Nhờ các cuộc đối đáp và thử tài văn chương nầy mà triều đình ta được các sứ giả Trung Hoa hết sức kính nể. Tài văn chương đối đáp thông minh của Hồng Hà Nữ Sĩ cũng ngày càng lừng danh khắp nước. Nói như thế đủ thấy văn chương là một phương tiện đấu tranh vô cùng sắc bén ngay cả trong thời kỳ chiến tranh ở nước ta. Đặc biệt, lại được viết bằng chữ Hán, một thứ chữ tuy được du nhập từ TrungHoa, nhưng nhờ tài xử dụng khéo léo của các trí thức Việt Nam yêu nước, đã trở nên một vũ khí lợi hại khiến quân Tàu phải nể sợ.

Thêm vào đó, cha ông ta ngày trước đã đem tinh thần sáng tạo trong khi học ngôn ngữ Tàu, bằng cách lợi dụng những tiếng của Tàu để cải tiến thành của riêng mình. Và hầu như tất cả những gì ảnh hưởng của Tàu khi sang đến ta đã trở thành “tài sản” của ta, một cách sáng tạo. Từ lời nói đến cách ăn mặc. Được biết răng ngay cách ăn mặc của ta cũng thế, chiếc aó dài của ta với hai vạt như của Tàu, gài khuy một bên, những khác ở chỗ ngưòi mình làm hai vạt xẻ hai bên dài xuống và kèm theo chiếc quần dài, vừa kín đáo vừa thướt tha. Trong khi áo xuờng xám của người Trung Hoa, mặc cũng ôm sát người và xẻ dài một bên nhưng không đi với quần, nên không đặc biệt bằng. Về cách dùng chữ, ta thuờng hay dùng tiếng "nhân viên", hay "viên chức" để chỉ những ngưòi làm việc ở văn phòng, nhưng chữ Tàu thì dùng chữ "chức viên". Một ví dụ khác, chữ “đáo để” của Tàu nghĩa đen là "đến đáy" ("đáo":đến; "để" là đáy) khi dùng theo lối nói của người Việt thi "đáo để” lại có nghĩa là một người khó bị bắt nạt, có nghĩa là một người không được hiền lành cho lắm.

Tác dụng Yêu Nước

Những ví dụ vừa nêu về ảnh hưởng chữ Hán đến ngôn ngữ của ta kế không sao hết. Văn chương chữ Hán được người xưa xử dụng trong trường hợp đối đáp - ngay cả phó - với quân Tàu chẳng khác nào ta xử dụng tiếng Anh, tiếng Pháp ngày nay, trong chủ trương "quốc tế vận". Hơn nữa, văn thơ hay thường có tác dụng vô cùng lợi hại. Văn chương yêu nước như thế mới là "văn chương" có giá trị. Giá trị đó là giá trị cải tạo. Cũng có thể gọi là "Văn dĩ tải đạo".

Điều quan trọng trước khi có chữ quốc ngữ nhu ngày nay thì cha ông ta đã phải học mượn viết nhờ chữ Hán. Thành ra những cảm nghĩ, tư tưởng của người xưa đều được diễn đạt bằng thứ chữ này. Những tư tưởng, tình cảm đó biểu lộ qua thơ văn thuở ấy thì chỉ có ngưòi Việt có, mặc dù dùng chữ Tàu ( tức "chữ Nho", hay còn gọi là chữ "Hán"), Chắc chắn đó không phải là của người Tàu. Thành thử, nếu khi khảo sát văn chương của người Việt thời xưa, chúng ta không thể không kể bộ phận văn học chữ Hán (như bài thơ chữ Hán của Lý Thường Kiệt nêu trên là một ví dụ) . Vì thế nếu chỉ xét hình thức văn tự, mà ta muốn "tẩy chay" hết cả những gì của cha ông thuở trước thì thật là "oan', vì vô hình chung ta đã loại bỏ phần giá trị thơ văn và tinh thần của dân tộc.

Vả lại, như đã trình bày ở trên, ngưòi viết cũng xin nhắc lại, chữ Hán vì hoàn cảnh mà ta phải xử dụng nó, rồi cũng nhờ tinh thần sáng tạo và độc lập của dân tộc, chữ Hán đã bị ta "lợi dụng" để diễn đạt làm phương tiện đã dần dần trở thành tiếng Việt một cách tự nhiên, đã từ bao nhiêu năm rồi. Chúng ta không thể quay ngược bánh xe lịch sử để đòi trả lại tiếng Hán cho Tàu khi nó đã được dùng bởi người Việt, theo văn cảnh Việt và ý nghĩa Việt. Nhất là cũng nhờ đó mà văn chưong ta đuợc phong phú hoá, để khỏi thành quá nôm na, nhất là trong nhũng văn kiện hành chánh, hay trong những lãnh vực chuyên môn.

Những chữ như "phi cơ trực thăng" ta đã nghe quen mà lại dịch thành "máy bay lên thẳng" thì cũng khó nói. Những chữ như "Thủy quân lục chiến" mà biên cho thuần tiếng Việt "lính thủy đánh bộ" thì nghe cũng "dễ hiểu" và có vẻ thật thà; nhưng chưa chắc đã trang trọng. Bởi ngôn ngữ nước nào cũng có hai bộ phận: văn học NÓI và VIẾT, để tùy trường hợp mà xử dụng.

Ấy là chưa kể tinh thần độc lập, tự chủ ấy càng được chứng tỏ rõ rệt qua việc sáng tác chữ Nôm (một thứ chữ nhìn sơ qua thì giống chữ Hán (tức chữ Nho) nhưng nhìn kỹ lại thì người Tàu phải lấy làm lạ và có thể nói là "không giống ai". Ấy thế mà kỳ thực chính chữ Nôm mới chứng tỏ rõ nhất tất cả lòng tự trọng, nỗi uất ức và tâm trạng bất mãn của người xưa khi phải học mượn, viết nhờ. Cho nên, chúng ta cũng không vội tưởng rằng ông cha ta chỉ biết "nhai văn nhá chữ" mà không "lý" gì đến việc nước thì tội nghiệp cho nổ lực chống ngoại xâm của cha ông ta.

Khi có dịp, ngườì viết sẽ xin trở lại vấn đề liên quan đến Chữ Nôm. Ở đây, trong hoàn cảnh đất nước bị Tàu đe doạ, cưỡng chiếm, "êm thắm" từ trong đất liền đền ngoài lãnh hải như hiện nay, lòng dân ai mà không bất mãn ? Đã là dân Việt, chúng ta làm sao quên được bài học ngoại xâm bốn ngàn năm lịch sử.

Những điều phân tích trên là để chứng tỏ ý thức độc lập tự chủ được thể hiện rõ ràng trong văn học viết ngày xưa của cha ông ta.

Tưởng cũng không nên quên là ngôn ngữ, văn tự chẳng qua chỉ là phương tiện để diễn đạt cảm xúc, bày tỏ quan điểm của con người.

Ở vào thời buổi dân ta chưa có văn tự (chữ viết) riêng, và tiếng nói (ngôn ngữ) cũng còn thô sơ, lại bị chính sách đồng hoá của ngoại bang thì tránh sao cho khỏi phải xử dụng tiếng của nước người. Nhưng điu quan trọng chính là tinh thần dân tộc. Tinh thần bất khuất chống ngoại xâm, óc sáng tạo, v.v...thì dân ta có sẵn. Còn bảo rằng dân ta "xấu xí", "hèn hạ", một cách vô thưởng, vô phạt thì cũng dễ. Nhưng làm thế nào để dân ta khỏi "hèn hạ", khỏi "xấu xí" mới là điều quan trọng.

Đến đây chúng ta hãy tạm dừng một phút để suy nghĩ. Trách nhiệm chống ngoại xâm là trách nhiệm chung của cả một dân tộc, tùy theo khả năng mỗi người, không phải của riêng ai. Với kiến thức hẹp hòi của mình, ngưòi viết tự bảo ta không thể thờ ơ, như một kẻ bàng quang mà tự nhủ lòng rằng mình chỉ là một trong những người được may mắn sống trong một xã hội văn minh, có chút ý thức về thời cuộc, nhưng không vì thế mà vội quên mất văn hoá và những giá trị muôn đời của tổ tiên. Lại càng không thể quên rằng đất nước ta hiện đang bị dày xéo dưới nhiều hình thức. Nếu không làm được gì thì trước hết cũng xin tôn trọng những gì người đi trước, hoặc người sống đồng thời với mình đã và đang làm, với tất cả tâm huyết của mình. Một bản nhạc, một bức họa, một tấm hình, một áng thơ văn, một cuộc biểu tình, một buổi hội thảo, một lời phát biểu nói lên thái độ thẳng thắn và một lập trường vững vàng v.v...đều nói lên một thái độ chính trị đứng đắn. Và nếu việc làm chính đáng được biểu lộ bằng tất cả tâm huyết của mình thì giá trị đấu tranh cũng không khác gì người lính cầm súng chiến đấu bảo vệ chính nghĩa và quê huơng.

Điều đáng trách là những ai đã và đang tâm làm tay sai cho đối phương, không đếm xỉa gì đến những người đã chiến đấu, đã hi sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc, từ trước đến sau. Làm như thế là đồng lõa với tội ác. Làm như thế là không đếm xỉa gì đến hai chữ "liêm sĩ". Làm như thế là chỉ cốt được "vinh thân, phì gia". Và đó chính là cả một nỗi buồn lớn cho dân tộc.

Chúng ta đang sống trong một chế độ dân chủ, tự do. Đành rằng chúng ta có quyền chọn lựa theo ý thích của mình. Nhưng nếu có ai hỏi muốn chọn lựa gì, thì người viết chỉ xin chọn làm một người chân chính, và làm điều chân chính. Người viết sẽ không để bị cám dỗ bởi bả lợi danh. Và, chỉ mong làm một điều gì không trái với lương tâm, không phản lại nguyện vọng của những  người hiện đang còn bị bắt cầm tù. Nếu có làm truyền thông, cũng sẽ cố gắng sáng suốt để không dùng văn chương, khuyến dụ mọi người đi theo những gì phản lại công cuộc đấu tranh của toàn dân. Ngay cả chuyện đơn giản là giải trí, nếu được mời đi xem một buổi văn nghệ giao lưu thì người viết cũng quyết không để cho vô minh che lấp đến độ không biết làm như thế là một hình thức tiếp tay với tội ác, Làm như thế để khỏi bị xấu hổ khi nhìn lại mình. Chả dại gì mà để cho người đời mai mỉa:

"Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!"

Thế mà tiếc thay, trên đời vẫn có những ngưòi "vô tư' tiếp tay với những kẻ đấy mưu chước, khiến người ý thức phải bất mãn. Phải chăng đó là những người nhẹ dạ (?), sẵn sàng đi theo tiếng gọi của đồng tiền. Ta không ngạc nhiên khi ngày nay trong xã hội vẫn còn cái cảnh:

"Mồi phú quý nhử làng xa mã
Bả vinh hoa lừa gã công khanh"

Người không có nghề nghiệp thì còn có thể hiểu được vì cần công ăn việc làm. Khổ thay, ngay cả những người có ăn học, đã biết thế nào là "di cư", "di tản", đã hơn một lần "tỵ nạn CS"... Vậy mà bỗng dưng cảm thấy cần phải ra hợp tác với những người mà trước đây họ đã trốn chạy....Phải chăng để mưu cầu thêm chút lợi danh; dù mình đã có bằng cấp, địa vị, tiền bạc, đủ cả. Thật không thể nào hiểu nổi !

Kể cũng tội nghiệp. Hình như con người nhiều lúc u mê, nên đã không hiểu được thế nào là đúng là sai, và càng không biết được rằng tất cả chỉ là phù du. Người ta lao vào lợi lộc chẳng khác gì con thiêu thân. Đến khi tỉnh ngộ thì đã muộn, vì tất cả chì là KHÔNG. Và cuộc đời, nói cho cùng, chẳng qua chỉ là giấc mộng:

"Giấc Nam Kha khéo bất bình (*)
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không"

Ôi, nhân sinh là thế ấy !...

Đỗ Quyên