banner

 

 

Sau 15 năm hoạt động (2008-2023), website Ái hữu Đại học Sư Phạm Sài gòn tạm ngưng việc đăng thêm bài vở và tin tức.

Độc giả muốn lưu giữ bài viết và hình ảnh để làm tư liệu, xin vui lòng truy cập vào các tiết mục đã đăng trên trang web để download.

Xin chân thành cảm tạ sự hợp tác của tất cả các tác giả và độc giả đã dành cho trang web.

20.07.2023
Admin Website Ái hữu Đại học Sư phạm Sàigòn

Tháng Tư & Anh Bích

Mai Thanh Truyết


Thưa Anh Bích,

nguyen ngoc bich

Vừa rời khỏi nhà Chị chiều hôm qua, rời căn nhà lần đầu tiên tôi ghé đến mặc dù đã từng sinh hoạt chung với anh bao nhiêu năm nay. Một căn nhà nhỏ nhắn xinh xinh, phía bên mặt hình ảnh cây dogwood mà anh đã trồng, trong đó chứa hai mái đầu …bạc, và có con tim rộng mở.
Anh đi rồi, để lại trong anh em chúng tôi những nỗi bàng hoàng. Làm việc chung với anh trong nhiều dự án của “đời”, nhưng có hai kỷ niệm còn đọng lại sâu đậm trong tôi.
Đó là buổi ra mắt sách “Những vấn đề môi trường ở Việt Nam” của tôi tại Virginia. Trong phần phát biểu, anh có nói đại ý như sau:”…sự hiểu biết của con người dù sao cũng còn giới hạn, cám ơn anh Truyết đã cho cá nhân tôi biết những sự việc xảy ra ở Việt Nam, những việc làm gọi là phát triển của những người quản lý đất nước hiện tại đã biến quê hương chúng ta thành một bãi rác không được “xử lý”. Hôm nay tôi đã được “học thêm” một vấn nạn mới của Việt Nam, đó là môi trường ô nhiễm do một cơ chế chuyên chính vô sản tạo nên”.
Kỷ niệm thứ hai là buổi hội luận của Nghị Hội Toàn Quốc ở Dallas năm nào. Nhiều bạn bè góp ý với anh là đừng để một tham luận viên “có vấn đề” với cộng đồng phát biểu, nhưng anh vẫn cương quyết không đổi ý, với lý do là…mình cần phải nghe những ý kiến “trái chiều”. Chính ngay lúc đó, tôi cũng không vui với quyết định của anh.
Nhưng, bây giờ, sáng nay khi ngồi tự vấn lại câu chuyện đã qua, tôi thực sự thấy anh Bích là người có một cái tâm không phân biệt, một tâm thiện, một tâm lành trong mọi giao tiếp với người đời.
Tâm anh đã mở trọn vẹn với những việc anh đã làm. Có những việc anh chưa làm xong, nhưng trong đầu anh đã chuẩn bị tiếp những chuyện phải làm sắp tới. Anh mở với tất cả mọi người, từ những cộng sự viên với anh hay những người bạn không giới hạn tuổi tác. Nhưng tôi thấy thực sự nơi anh, anh nhắm nhiều vào giới trẻ và tương lai Việt Nam. Và có lẽ, Nghị Hội là nơi anh trang trải lý tưởng đó nhiều nhứt.

Thưa anh Bích,
nguyen ngoc bichAnh đi rồi, chắc anh đã nhìn thấy tất cả những chuyện đã xảy ra trên trần thế. Thất tình, lục dục vẫn luôn là câu chuyện của người đời của thế gian. Mọi khen chê, phê phán anh đã được anh bỏ ngoài tai, điều mà chính anh cũng đã không để tâm ngay khi còn ở chốn dương trần.
Tim anh luôn rộng mở với mọi người. Anh biết người thích anh, người chê anh, nhưng anh không phân biệt, và luôn vui vẻ với mọi người. Anh có một trái tim lớn trong cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Có lẽ chính vì vậy mà anh ra đi một cách thanh thản giữa khung trời bao la trong không gian mây ngàn, bên cạnh người phối ngẫu…mà không cần nói một lời từ biệt. Anh ra đi mà vẫn giữ trong tâm một sứ mạng do chính anh vạch ra là …hy vọng và tin tưởng đem lại một chút ánh sáng dân chủ cho bà con ruột thịt nơi quê nhà.
Chuyến ra đi của anh thật có ý nghĩa và không kém phần lãng mạn, một loại lãng mạn như…Tuấn, chàng trai nước việt của Nguyễn Vỹ ngày xưa.

Thưa anh Bích,
Hôm qua, đứng trước di ảnh anh, nhìn nụ cười hiền hòa luôn rộng mở như ngày nào, tôi thấy anh vẫn còn hiện diện quanh quẩn đâu đây trong căn nhà anh đã từng chia xẻ bao năm với chị, một người đồng hành không mệt mỏi.
Và tôi xin hứa với anh rằng, bạn bè và tôi vẫn tiếp tục con đường dang dở của anh cho đến khi nào đóa hoa Ưu Đàm nở rộ trên Đất và Nước thân yêu của chúng ta.
Anh Bích ơi!
Nhìn những cuốn sách được sắp xếp ngang dọc trong một căn phòng nhỏ, và qua lời chị kể lại về mối ưu tư của anh lúc còn sinh tiền vẫn là làm thế nào chuyển những sách nầy đến một nơi có nhiều đồng hương đến tham khảo. Anh từng nói với chị là mang tặng cho Thư viện Quốc hội, nhưng rồi lại e không có nhiều người đến… đọc! Nhìn những sách báo, tài liệu hiếm quý, tôi vẫn chưa hết bâng khuâng.
Gia tài của anh chỉ chừng nấy, mà sao quá to lớn!
Nó lớn như cái Tâm Thiện, Tâm Lành của anh!
Nó lớn và tỏa rộng, che phủ, bao bọc luôn cả những lời ong tiếng ve, những tiếng thị phi của người đời vì không làm được như anh.
Thật là Tài mệnh tương đố !
Anh đi mà vẫn không yên, để lại cho chị quá nhiều dự án mà chính chị tâm sự không biết phải làm gì bây giờ.
Đi hay Ở là chuyện của Trời. Nhưng hôm nay viết những lời nầy, tôi cảm thấy thương anh hơn. Anh đã về với cát bụi, anh đã đi trọn vẹn của một kiếp người đúng nghĩa…Anh đã vạch rạch ròi con đường cho tuổi trẻ Việt Nam, con đường về Quê Hương tươi sáng.
Anh Bích ơi!
Anh đi nhưng dường như anh vẫn còn luyến tiếc, vì, qua lời chị kể lại trong giấc mơ vừa xảy ra đêm trước khi chúng tôi đến thăm chị là “anh đã về nhắn với chị là “chúng” đã lấy mất cây bút của anh”. Số là khi tẩm liệm, chị quên để cây bút anh thường cầm đi theo anh”! Và chị cũng không hiểu ý anh nói “chúng” là ai?
Thưa chị Bích,
Xin được biện giải dùm người anh tinh thần của tôi là: “Chúng” chính là cộng sản Bắc Kỳ, quyết giữ cây bút của anh lại để anh không còn tiếp tục viết lên tiếng nói của những người yêu chuộng tự do, khắc tinh của những con người xã nghĩa vô thần.

Lời cuối cho anh Bích,
Tâm Thiện! Tâm Minh! Tâm lành…Kính xin anh tiếp tục phù hộ cho chúng tôi có một ngày về trong tay cầm chặt đóa hoa Tự Do cấy vào lòng đất khô cằn ở Đồng bằng sông Cửu Long, xóa tan nạn “Bắc kỳ thuộc” sau Đại hội XII, tiếp tay cho quốc nạn Hán hóa lần thứ 5 của Trung Cộng.
Chúng tôi không quên anh, không quên một trái tim rộng mở, không hề biết nói câu “chối từ” với mọi người. Trái tim anh chính là trái tim “Xá lợi” đích thực trong tôi và bè bạn đã từng làm việc chung với anh.
Giã biệt anh Bích!

Phổ Lập Mai Thanh Truyết
Virginia, 29/3/2016


Nỗi buồn tháng Tư

thay truyet

Không biết tự lúc nào sau ngày 30 tháng tư năm 1975, mỗi năm vào dịp nầy lòng tôi dường như chùng xuống. Trước khi về hưu vào năm 2012, công việc hàng ngày vẫn chu toàn 8 giờ để trả nợ áo cơm, một vài giờ cho dịch vụ tư vấn về môi trường của tôi, cũng như thì giờ cho các buổi phỏng vấn hay ngồi suy tư và viết bài hoặc đi đó đi đây…t ôi đã cảm nhận được một nỗi niềm u uẩn nào đó trong tôi. Nhưng bây giờ, mặc dù đã giã từ nợ áo cơm, nhưng niềm u uẩn trên vẫn tiếp tục còn trong tôi ngày càng…dai dẳng hơn thêm.
Tại sao lại có hiện tượng như vậy trong tôi?
Có lẽ, vì tuổi đời ngày càng cao, và niềm hy vọng về một ngày mùa xuân nở hoa trên quê hương còn xa vời vợi… cho nên nỗi buồn của tôi càng thêm ray rứt và điểm thêm đôi nét tuyệt vọng trong tâm tư?
300475Bỏ qua những ngày tháng nghiệt ngã còn lại ở Việt Nam trước khi vượt biên sau 30/4/1975, phải thành thật mà nói, lúc đó tôi không có thì giờ để “buồn” như hôm nay, vì miếng cơm manh áo và mãi lo “tìm đường ra đi” (cứu nước?) cho một gánh nặng với 4 đứa con dại…
Bỏ qua những năm đầu tiên sống đời tị nạn, tôi cũng chưa thực sự quan tâm gì mấy cũng như không có thì giờ để buồn…như nỗi buồn hôm nay vì một đời sống tạm dung nơi xứ người.
Nhưng chỉ trong vòng 25 năm trở lại đây, khi gia đình tương đối ổn định và sau khi bắt đầu bước vào con đường tranh đấu cho Việt Nam qua ngã môi trường, tôi mới thực sự cảm thấy buồn. Và mỗi năm nỗi buồn đó càng se sắt hơn, ngậm ngùi hơn.
Buồn để mà buồn một mình!
Không thể nào nói tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn được. Mà tôi hiểu và hiểu rất rõ nỗi buồn thực sự của tôi vì hai lý do:
– Đất Nước còn điêu linh
– và Bà con mình vẫn còn chìm đắm trong nỗi nhục nhằn làm công dân hạng hai cho một chế độ phản dân tộc chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam.

Nhìn lại những ngày bắt đầu từ giữa tháng tư năm 75, có thể nói cả thành phố Sài Gòn đang lên cơn sốt. Nào là chạy đôn chạy đáo thăm dò tình hình…mặc dù biết rằng miền Nam đang trong cơn hấp hối, nhưng cũng mong tìm và hy vọng một phép lạ. Nào là, đối với những người có chút tiền, lo chạy đi đổi tiền, làm…áp phe, hay do là tin tức tìm đường ra đi.
Tin tức đồn đãi nhiều khi trái ngược nhau, tin vui lẫn với tin buồn.300475
Nhưng nỗi buồn của tôi thực sự buồn khi rời trụ sở USAID ở đường Lê Văn Duyệt sau khi làm “thủ tục”…ra đi. Cầm tấm thẻ vô tri có hình của một “ông giáo trẻ” đầy nhiệt huyết, mà khi về lại Việt Nam năm 1973, nguyện sẽ làm một cái gì cho thanh niên Việt Nam. Tôi không thiết ăn cơm chiều hôm đó. Nếu tôi nhớ không lầm, đó là ngày thứ tư 09/4/1975.
Tới thứ hai tuần sau đó vào khoảng tuần lễ thứ hai của tháng tư, lên Đại học Cao Đài Tây Ninh, tôi lại được mấy anh chàng “CIA” trẻ đóng trên đài phát tuyến ở đỉnh Núi Bà cho tôi biết rằng ngày mai, họ sẽ rút về Mỹ và khuyên tôi nên rời bỏ quê hương qua một giọng Bắc rất rành rọt. Suốt các buổi lên lớp sau đó, tôi nói như người mất hồn, một tâm trạng mà chính giờ phút viết lên dòng chữ nầy, tôi lại thêm một lần “phiêu diêu” nữa.

Đi? hay Ở?
Hai chữ nầy ám ảnh mãi nơi tôi trong suốt thời gian còn lại cho đến ngày 30/4 năm đó.

300475

Hình ảnh Ba tôi lẩn quẩn trong đầu. Hình ảnh một ông giáo già đã về hưu từ lâu, căm cụi viết thư cho con mình đi du học mỗi buổi sáng thứ năm trong tuần, để rồi, sang sáng thứ bảy đem thư ra Bưu diện gữi đi cho kịp chuyến máy bay Air France bay về Pháp, để cho con mình nhận được thư đúng ngày thứ hai. Việc nầy xảy ra đúng như in, không hề sai sót suốt hơn hai năm trời sau khi tôi du học bên Pháp cho đến khi Ba tôi mất. Ba tôi mất ngày chủ nhựt và thứ hai sau đó tôi vẫn nhận được thư ba viết trước khi nhận được điện tín của anh tôi.
Còn Má tôi. Một người mẹ già gặp lại và sống với con chưa đầy hai năm…Mà cũng chính trong thời gian nầy, tôi luôn bận bịu với những “đam mê” cho cuộc sống, chuẩn bị cho con đường “công danh” của mình… thì làm sao tôi có thì giờ chăm sóc hay hỏi han đến mẹ già. Và mỗi khi nhìn lại mình, chính tôi cũng phải tự thú rằng mình cũng không có thì giờ để nghĩ đến mẹ mình nữa trong thời gian nầy. Tôi thật có lỗi với má tôi nhiều và nỗi ân hận vẫn còn ray rứt mãi trong tôi. Và giờ đây, khi viết những dòng chữ nầy, tôi chỉ còn biết mỗi đêm nhìn ảnh mẹ để sám hối.
Trở lại thời gian giữa tháng 4 năm xưa. Tâm trí tôi luôn bị ray rứt với tâm trang nửa Ở nửa Đi.
Đi không đành cũng vì mẹ già đơn côi.
Đi không đành cũng vì bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ níu kéo lại để làm một “cái gì” cho quê hương.
Và đi cũng không đành vì một suy nghĩ non dại (mà chắc cũng có nhiểu người suy nghĩ như tôi), đó là “Mình có thể đối thoại với người cộng sản, vì trước khi họ là cộng sản, họ cũng là người Việt Nam với đầy đủ dân tộc tính; vì vậy mình có thể hợp tác được”.


Khi biết sai lầm thì đã muộn, tôi phải trả cái giá gần 8 năm trong nhà tù lớn Việt Nam dưới chế độ nầy. Biết là sai lầm trong giai đoạn đó, nhưng tôi không bao giờ hối hận vì quyết định trên. Vì sao? Vì chính cái sai lầm oa300475n nghiệt nầy đã làm cho tôi hiểu được người cộng sản Bắc Kỳ như thế nào…và chính điều sau nầy làm cho tôi dứt khoát hơn là chúng ta, những người con Việt hiền hòa không thể nào sống chung với những người luôn mang não trạng chuyên chính vô sản và không có tình người.
Cái sai lầm nầy cũng giống như cái sai lầm của người thầy giáo Tạ Ký khi đi học tập về cùng ngồi uống rượu với Gs Tôn Thất Trung Nghĩa và tôi tại Chợ Đuổi nằm tại góc đường Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp năm 1981 như sau:
Hai mươi năm mới biết chuyện xưa lầm.
Thì tuổi trẻ đã biến thành uất hận!”

Chiều thứ hai 28/4, khi một tên phi công (tôi không muốn nhắc tới tên nầy lên đây, vì làm sao tôi quên được tên những kẻ phản bội quê hương) dội bom dinh Độc Lập, và từ đó lịnh giới nghiêm 24/24 được ban hành. Tôi liền chạy lên nhà một người bạn vong niên trên cư xá giáo chức ở đường Tự Đức.
Tôi đã chứng kiến được gì và đã học được gì?
Xin ghi lại vài dòng để chiêm nghiệm nỗi đau thương, nhục nhằn của những đứa con Việt trước cảnh quốc phá gia vong. Đó là:

  • Hình ảnh một Trung tá TQLC chạy từ Đà Nẵng về nhà người anh cũng ở cùng cư xá, hình ảnh giọt nước mắt lưng tròng khi anh cổi chiếc áo trận và cắt từng nút áo cũng như hai bông mai bạc trên cầu vai. Anh nói với người anh qua giọt nước mắt và trong từng tiếng nấc “Anh xem như em đã chết ngày hôm nay”.
  • Hình ảnh từng đoàn trực thăng Mỹ chiếu đèn sáng rọi vào mặt chúng tôi trên sân thượng của cư xá trong lúc tháo chạy và chở người đi ra hạm đội.
  • Hình ảnh những người lính tôi không còn nhớ Dù hay Thủy Quân Lục Chiến tiếp tục chiến đấu ở cầu Phan Thanh Giản trên con đường đi ra Ngã tư Hàng Xanh. Tiếng súng bắt đầu ngay sau khi tướng Minh tuyên bố đầu hàng lúc 10 giờ 37 phút sáng 30/4. Và tiếng súng chỉ im lặng lúc xế trưa, có nghĩa là tất cả anh em binh sĩ đã chiến đấu cho đến quả lựu đạn cuối cùng.

Chuyện Đi và Ở đã được tôi quyết định ở khúc quành định mệnh nầy, không khác chi khúc quành của nhân vật Thiệu “phải” rời bỏ khúc quành của con sông Đuống đầy kỷ niệm tuổi thơ với Yến, người bạn thời trẻ thơ mà sau nầy trở thành…người tình muôn thuở cho đến cuối đời, để di cư vào Nam tìm tự do. (trong quyển tiểu thuyết “Dòng sông định mệnh” của nhà văn Doãn Quốc Sĩ).
Qua ngày thứ năm 1/5, lệnh trên radio yêu cầu (bắt buộc thì đúng hơn) mọi công chức phải đến trình diện tại trụ sở làm việc của mình. Sáng đó, tại cư xá có mặt Ông Khoa trưởng, Ông Phó Khoa trưởng và một số giáo sư, tôi và một giảng nghiệm viên tình nguyện vào Trường Sư phạm xem tình hình.
Mọi sự có vẻ êm xuôi vì “họ” chưa có người vào tiếp quản, ngoài một số “cơ sở” địa phương thôi. Nhưng một hình ảnh khác làm bẽ bàng và làm đão lộn những suy nghĩ tốt đẹp trong tôi khi nhìn thấy một số đồng nghiệp của mình mới chỉ vừa cách đây một ngày, nay đã mang “băng đỏ cách mạng” từ cung cách hướng dẫn chỗ để xe, cho tới thái độ trong lúc nói chuyện. Đáng phỉ nhổ nhứt là những người nầy ngày nào thưa anh, xưng em với tôi, mà nay trở mặt dương dương tự đắc tự xưng tôi, tôi, anh, anh một cách trơ trẻn.
Có những chị giáo sư thướt tha, dịu hiền trong khi lên lớp mà nay ngoài băng đỏ, thậm chí còn để lá cờ vàng ba sọc đỏ dưới chân bàn đạp ga xe nữa. Và hơn nữa, có giáo sư trong suốt thời gian chưa đầy hai năm ngắn ngủi của tôi, đã xem tôi như “thần tượng” mặc dù biết tôi đã lập gia đình rồi, thường xuyên đi ăn uống chung; thậm chí đã dám cùng tôi “nhậu thịt chó” nữa… Người đó bây giờ là một “công thần” của chế độ.
Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt I ngày 22/9/1975, đổi 1đ tiền “chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam” tức tiền “ngân hàng Việt Nam” lấy 500 đ tiền Việt Nam Cộng Hòa hay “tiền Ngân hàng Quốc gia Việt Nam”. Người dân chỉ đổi được mỗi gia đình 100.000 đ mà thôi.
Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt II ngày 3/5/1978, đổi 1 đ “tiền thống nhứt XHCN” tức tiền “ngân hàng nhà nước” lấy 1 đ tiền “ngân hàng Việt Nam” và mỗi gia đình chỉ được đổi 100 đ mà thôi.
Làm sao tôi quên được lần đổi tiền đợt III ngày 14/9/1985, đổi 1 đ tiền ngân hàng nhà nước cũ lấy 1đ tiền ngân hàng nhà nước mới (tiền thống nhứt Bắc Nam).
Làm sao tôi quên đượt lần đánh tư sản đợt I ngày 11/9/1975, cướp của và tịch thu nhà những người được cho là tư sản cùng bắt đi vùng kinh tế mới. Chiến địch nầy gọi là X1.
Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt II, tức chiến dịch X2, từ tháng 3/1978 tới cuối năm 1990 nhắm vào tư sản tiểu thương, những nhà tiểu thủ công nghệ, ước tính trên 14.000 gia đình tại Sài Gòn.
Làm sao tôi quên được lần đánh tư sản đợt III tức chiến dịch X3, song hành với chiến dịch X2 tại Sài Gòn nhằm mục đích trục xuất người cũ ra khỏi nơi ở và điền khuyết vào bằng gia đình cán bộ ngoài Bắc vào. Đây là một âm mưu thâm độc nhằm “Bắc kỳ hóa” thành phố Sài Gòn. Tính đến tháng 9/1989, ước tính có đến 950.000 người bị đuổi khỏi Sài Gòn, và có khoảng 150.000 gia đình cán bộ Bắc kỳ được điền khuyết vào.
Làm sao tôi quên được những đợt học tập cải tạo, đáng kể nhứt là đợt cuối cùng vào tháng 6/1975, kêu gọi công quân cán chính tập trung mang theo lương thực cho một tháng…để rồi tất cả bị lường gạt và phải chịu lao động khổ sai từ một hai năm cho đến hơn 17 năm đối với những cán bộ hành chánh và quân đội cao cấp của Việt Nam Cộng hòa….

300475
Hình chụp cảnh "đổ quân" lên "vùng kinh tế mới" của các nạn nhân bị cộng sản Hà nội cướp nhà

Trên đây, xin diễn lại bức tranh vân cẩu chập chùng những ý nghĩ lộn xộn trong những ngày quốc phá gia vong. Xin chia xẻ cùng bà con.
Đây không phải là lời tự thú hay than thở, hay nói về mình.
Nơi đây tôi chỉ muốn nói lên vài điều suy nghĩ của một người con Việt mà thôi.
Đó là:

  • Truyết, mầy đừng bao giờ mơ tưởng những người Việt cộng sản Bắc kỳ là người Việt Nam.

Và để thoát khỏi ý nghĩ tiêu cực trong những ngày đau thương của Đất và Nước, tôi tự điều hướng cho chính mình cần phải hành xử trong tương lai như:

  • Đứng trước quá khứ, hãy ngả mũ. Đứng trước tương lai, hãy XẮN TAY ÁO (H.L.Mencken) và chúng ta phải tiếp tục giữ lửa Quê Hương trong lòng mãi mãi.
  • Lời ca của cố nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang đã kéo tôi về với thực tại, bài “Không phải là lúc”, bắt đầu bằng “Không phải là lúc ta ngồi đặt vấn đề”, để rồi kết thúc bằng một quyết tâm dứt khoát “…Làm việc đi không lo khen chê, làm việc đi hãy say và mê, cứ bắt tay gan lỳ, chúng ta giải quyết. Mình chậm chân đi sau người ta, mà ngồi đây nghĩ lo viễn vông, thắc mắc ngại ngùng biết khi nào mới làm xong!”

Và cũng chính vì mang quyết tâm trên mà tôi vẫn “Không đặt vấn đề với anh em, nhưng chắc chắn đứa con Việt nầy dứt khoát đặt vấn đề những người đang tàn phá Ðất và Nước của Ông Cha để lại.
Tôi ”đặt vấn đề” với người Cộng sản Bắc Kỳ, kẻ thù ở phương Bắc đang tiếp tay đóng vai trò “thái thú biết nói tiếng Việt” cho Trung Cộng thực thi “Ðại Họa Mất Nước” để hoàn tất công cuộc Bắc thuộc lần thứ V.
Nhưng tôi cũng không quên dứt khoát đặt vấn đề với những kẻ cuối đời vẫn còn bon chen danh lợi, bất kể cố ý hay vô tình, bị rơi vào cái bẫy lợi danh của Cộng sản, cái bẫy của “cây gậy và củ cà rốt” với cây gậy đập trên đầu mà củ cà rốt vẫn không cho ăn, cái bẫy của Cộng sản muốn mượn tay người Quốc gia “bôi đen” người Quốc gia chống Cộng, cái bẫy “gây rối cộng đồng” do những tay ăn bã của cộng sản; những kẻ dễ đánh mất thân phận làm “người” của mình, bất kể đó là loại “người” gì; lắm khi đó là những con “ếch” muốn làm con “bò”, cho dầu “ếch” hay “bò”, “nhỏ” hay “lớn”, vẫn không phải là... “người”.
Xin ghi lại và góp phần vào những Ngày Buồn Tháng Tư của những người con đất Việt.

Mai Thanh Truyết
Nỗi buồn tháng tư năm 2016

 

do muoi
Không nuôi hận thù, nhưng xin ĐỪNG QUÊN

 

Đăng ngày 06 tháng 04.2016